Thần Thoại Và Truyền Thuyết Hy Lạp Và La Mã Cổ Đại

Lượt đọc: 472 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sự Trở Về Của Các Chiến Binh Hy Lạc Từ Troy.

❊ ❊ ❊

Trong cuộc tàn phá thành Troy, người Hy Lạp, giữa giờ phút chiến thắng, đã phạm nhiều hành vi báng bổ và tàn ác, điều này đã giáng xuống đầu họ cơn thịnh nộ của các vị thần, vì lý do đó mà hành trình trở về quê hương của họ đã gặp muôn vàn nguy hiểm và tai hoạ, và nhiều người đã bỏ mạng trước khi đặt chân đến đất mẹ.

Nestor, Diomedes, Philoctetes, và Neoptolemus nằm trong số những người đã cập bến Hy Lạp an toàn sau một chuyến hải trình thuận lợi. Con tàu chở Menelaus và Helen đã bị những trận cuồng phong thổi dạt đến bờ biển Ai Cập, và phải sau nhiều năm lang thang mệt mỏi cùng vô số thăng trầm, họ mới thành công trở về quê nhà ở Sparta.

Ajax Kẻ tiểu nhân, sau khi xúc phạm Pallas-Athene bằng cách báng bổ đền thờ của nữ thần vào đêm thành Troy sụp đổ, đã bị đắm tàu ngoài khơi mũi Caphareus. Tuy nhiên, ông đã bám được vào một mỏm đá, và mạng sống của ông lẽ ra đã được tha nếu không vì lời kiêu ngạo vô đạo rằng ông không cần sự giúp đỡ của các vị thần. Ngay khi ông vừa thốt ra những lời phạm thượng đó thì Poseidon, nổi giận trước sự táo tợn của ông, đã dùng cây đinh ba chẻ đôi mỏm đá mà người anh hùng đang bám lấy, và Ajax bất hạnh đã bị những con sóng nhấn chìm.

Số phận của Agamemnon.—Hành trình trở về quê hương của Agamemnon khá bình yên và thuận lợi; nhưng khi ông đặt chân đến Mycenae, bất hạnh và lụi tàn đang chờ đón ông.

Vợ ông là Clytemnestra, để trả thù cho việc đứa con gái yêu dấu Iphigenia bị đem làm vật hiến tế, đã lập một liên minh bí mật trong thời gian ông vắng nhà với Aegisthus, con trai của Thyestes, và khi Agamemnon trở về, cả hai đã âm mưu hãm hại ông. Clytemnestra giả vờ vô cùng vui mừng khi nhìn thấy chồng mình, và bất chấp những lời cảnh báo khẩn thiết của Cassandra, lúc này đang là tù binh trong đoàn tùy tùng của ông, ông vẫn đón nhận những lời tỏ bày tình cảm của bà bằng sự tin tưởng tuyệt đối. Trong nỗi lo lắng được giả tạo hoàn hảo cho sự thoải mái của người lữ hành mệt mỏi, bà đã chuẩn bị một bồn tắm nước ấm để ông giải khuây, và theo một hiệu lệnh định sẵn từ người hoàng hậu phản bội, Aegisthus, kẻ đang ẩn nấp trong căn phòng bên cạnh, đã lao ra tấn công người anh hùng không tấc sắt và hạ sát ông.

Trong cuộc tàn sát những tùy tùng của Agamemnon diễn ra sau đó, con gái ông là Electra, với sự nhanh trí tuyệt vời, đã xoay sở cứu được người em trai nhỏ Orestes. Cậu trốn chạy đến nương náu nơi người bác Strophius, vua xứ Phocis, người đã nuôi dưỡng cậu cùng với con trai riêng của mình là Pylades, và một tình bạn nồng cháy đã nảy nở giữa hai thiếu niên, thứ tình nhân ái và vị tha ấy đã trở thành một giai thoại.

Khi Orestes trưởng thành thành một nam nhân, khao khát lớn nhất và chiếm trọn tâm trí cậu là trả thù cho cái chết của người cha. Được đồng hành bởi người bạn trung thành Pylades, cậu cải trang đến Mycenae, nơi Aegisthus và Clytemnestra đang đồng trị vì vương quốc Argos. Để xoá bỏ mọi sự nghi ngờ, cậu đã cẩn trọng phái một sứ giả đến gặp Clytemnestra, giả mạo là người do vua Strophius cử đến, nhằm thông báo cho bà về cái chết bất đắc kỳ tử của con trai bà là Orestes trong một tai nạn đua xe ngựa ở Delphi.

Khi đến Mycenae, cậu thấy người chị gái Electra đang chìm đắm trong đau thương trước tin tức về cái chết của em trai, nên cậu đã tiết lộ thân phận thật của mình với chị. Khi nghe từ chính miệng chị kể về việc cậu đã bị người mẹ đối xử tàn nhẫn ra sao, và tin tức về cái chết của cậu được đón nhận với sự hân hoan thế nào, ngọn lửa giận bị kìm nén bấy lâu nay trong lòng Orestes đã bùng lên áp đảo hoàn toàn, và lao thẳng vào điện của nhà vua và hoàng hậu, cậu đã đâm thẳng vào tim Clytemnestra đầu tiên, và sau đó là kẻ đồng loã tội lỗi của bà.

Nhưng tội ác sát hại chính mẹ ruột của mình đã không thể tránh khỏi sự báo thù từ các vị thần lâu dài. Vừa lúc hành động chí tử ấy được thực hiện thì các nữ thần Báo Thù (Furies) xuất hiện và không ngừng săn đuổi Orestes bất hạnh đi bất cứ đâu. Trong hoàn cảnh khốn cùng này, cậu tìm đến đền thờ ở Delphi để nương náu, nơi cậu tha thiết cầu xin Apollo giải thoát cho mình khỏi những kẻ hành hạ tàn nhẫn. Vị thần truyền lệnh cho cậu, để chuộc lại tội lỗi của mình, phải đến Taurica-Chersonnesus và mang bức tượng của Artemis từ nơi đó về vương quốc Attica, một cuộc viễn chinh đầy rẫy hiểm nguy tột cùng. Chúng ta đã thấy trong một chương trước cách Orestes thoát khỏi số phận giáng xuống tất cả những người tha hương đặt chân lên bờ biển Tauris, và cách cậu, với sự trợ giúp của người chị gái Iphigenia, nữ tư tế của đền thờ, đã thành công mang bức tượng của nữ thần về quê hương.

Nhưng các nữ thần Báo Thù không dễ dàng từ bỏ con mồi của họ như vậy, và chỉ nhờ sự can thiệp của vị nữ thần công lý và quyền năng Pallas-Athene, Orestes cuối cùng mới được giải thoát khỏi sự bức hại của họ. Cuối cùng, khi sự bình yên trong tâm hồn đã được khôi phục, Orestes lên nắm quyền cai trị vương quốc Argos, và kết hôn với nàng Hermione xinh đẹp, con gái của Helen và Menelaus. Trao tặng cho người bạn trung thành Pylades bàn tay của người em gái yêu dấu, nàng Electra hiền hậu và chung thủy.

Hành trình trở về của Odysseus.—Với mười con tàu chở đầy những báu vật khổng lồ, thu được trong cuộc tàn phá thành Troy, Odysseus giương buồm ra khơi với một tâm hồn nhẹ nhõm để trở về hòn đảo quê hương Ithaca. Cuối cùng thì giờ phút hạnh phúc mà người anh hùng đã mộng mị chờ đợi suốt mười năm dài đằng đẵng cũng đã đến, và ông ít ngờ rằng phải mất thêm mười năm nữa trôi qua trước khi ông được các Nữ thần Vận mệnh cho phép ôm xiết người vợ và đứa con yêu dấu vào lòng.

Trong hải trình trở về, hạm đội nhỏ của ông đã bị thời tiết khắc nghiệt thổi dạt đến một vùng đất mà cư dân ở đó hoàn toàn sống nhờ vào một loài cây kỳ lạ gọi là sen (lotus), có vị ngọt như mật ong, nhưng lại gây ra hiệu ứng lãng quên hoàn toàn về quê hương xứ sở, đồng thời nảy sinh niềm khát khao không thể cưỡng lại được ở lại mãi mãi trên xứ sở của những kẻ ăn hoa sen. Odysseus và những người đồng hành đã được cư dân ở đây tiếp đón nồng hậu, họ thết đãi những vị khách món ăn đặc trưng và vô cùng ngon lành của mình; tuy nhiên, sau khi thưởng thức xong, những người đồng đội của người anh hùng nhất quyết từ chối rời khỏi vùng đất này, và chỉ bằng vũ lực tuyệt đối, cuối cùng ông mới thành công đưa họ trở lại tàu.

Polyphemus.—Tiếp tục cuộc hành trình, điểm đến tiếp theo của họ là xứ sở của người Cyclops, một chủng tộc người khổng lồ nổi tiếng với việc chỉ có một con mắt duy nhất nằm ngay giữa trán. Tại đây, Odysseus, với bản tính ưa mưu hiểm phiêu lưu lấn át cả sự thận trọng, đã để lại hạm đội của mình neo đậu an toàn trong một vịnh của hòn đảo lân cận, và cùng mười hai người đồng hành được tuyển chọn lên đường thám hiểm vùng đất này.

Gần bờ biển, họ tìm thấy một hang động rộng lớn, và mạnh dạn bước vào bên trong. Cảnh tượng bên trong khiến họ vô cùng ngạc nhiên khi thấy những chồng phô mai khổng lồ cùng những thùng sữa lớn được xếp dọc theo các bức tường. Sau khi thoải mái thưởng thức số lương thực này, những người đồng hành đã cố gắng thuyết phục Odysseus quay trở lại tàu; nhưng vì tò mò muốn làm quen với chủ nhân của chốn ngụ cư kỳ lạ này, người anh hùng đã ra lệnh cho họ ở lại và chờ đợi ý muốn của ông.

Gần chiều tối, một tên khổng lồ hung dữ xuất hiện, vác trên vai một khối lượng củi khổng lồ và lùa trước mặt một đàn cừu lớn. Đó chính là Polyphemus, con trai của Poseidon, chủ nhân của hang động. Sau khi toàn bộ đàn cừu đã tiến vào trong, tên khổng lồ lăn một tảng đá khổng lồ bịt kín lối vào hang, thứ mà sức mạnh hợp lại của một trăm người cũng chẳng thể lay chuyển nổi.

Sau khi nhóm lên một đống lửa bằng những khúc gỗ thông lớn, hắn chuẩn bị soạn bữa tối thì ánh lửa soi rọi cho hắn thấy những vị khách lạ đang nép ở một góc hang, những kẻ lúc này đã bước ra và thông báo rằng họ là những người thủy thủ bị đắm tàu, đồng thời nhân danh thần Zeus để đòi hỏi sự hiếu khách từ hắn. Nhưng tên quái vật hung ác lại mắng chửi vị thủ lĩnh tối cao của xứ Olympus—bởi chủng tộc Cyclops vô pháp vô thiên này chẳng hề biết sợ các vị thần—và hầu như chẳng thèm đáp lại yêu cầu của người anh hùng. Trong sự bàng hoàng của Odysseus, tên khổng lồ chộp lấy hai người đồng đội của ông, và sau khi đập mạnh họ xuống đất, hắn ngấu nghiến phần thi thể còn lại, nốc cạn bữa ăn rùng rợn ấy bằng những ngụm sữa khổng lồ. Sau đó, hắn duỗi cái thân hình vạm vỡ khổng lồ xuống đất và nhanh chóng chìm vào giấc ngủ say cạnh đống lửa.

Nhận thấy đây là thời cơ thuận lợi để giải cứu bản thân và đồng đội khỏi kẻ thù khủng khiếp, Odysseus rút gươm ra, rón rén bước tới và chuẩn bị hạ sát tên khổng lồ thì bỗng nhớ ra rằng lối ra vào hang đã bị tảng đá khổng lồ bịt kín hoàn toàn, khiến việc thoát thân trở thành bất khả thi. Do đó, ông đã khôn ngoan quyết định chờ đến ngày hôm sau, và trong lúc ấy vắt óc suy tính một kế hoạch để ông và các đồng đội có thể tẩu thoát.

Khi sáng sớm hôm sau, tên khổng lồ thức dậy, thêm hai người đồng đội bất hạnh nữa của người anh hùng bị hắn túm lấy và ăn tươi nuốt sống; sau đó Polyphemus thong thả lùa đàn cừu ra ngoài, không quên cẩn thận bịt kín lối vào hang như trước.

Chiều hôm sau, tên quái vật lại nuốt chửng thêm hai nạn nhân nữa, và khi hắn đã kết thúc bữa ăn gớm ghiếc của mình, Odysseus bước lên phía trước và dâng tặng hắn một lượng lớn rượu mà ông đã mang theo từ tàu trong một chiếc túi da dê. Vui sướng trước thức uống tuyệt vời, tên khổng lồ hỏi tên người biếu. Odysseus đáp rằng tên ông là Không Ai (Noman), nhân đó Polyphemus bày tỏ lòng tốt rằng hắn sẽ thể hiện sự biết ơn bằng cách ăn thịt ông cuối cùng.

Tên quái vật, hoàn toàn gục ngã trước thứ rượu mạnh nặng đô, chẳng mấy chốc chìm vào giấc ngủ sâu, và Odysseus không chớp thời cơ đưa kế hoạch của mình vào thực thi. Trong ngày, ông đã cắt một đoạn lớn từ cây gậy ô-liu của chính tên khổng lồ, lúc này đem hơ nóng trong lửa, và với sự trợ giúp của các đồng đội, họ thọc thẳng nó vào con mắt duy nhất của Polyphemus, qua đó làm hắn mù lòa hoàn toàn.

Tên khổng lồ khiến hang động vang dội những tiếng tru tréo vì đau đớn và cuồng nộ. Những tiếng gào thét của hắn đã lọt vào tai các huynh đệ Cyclops của hắn, những kẻ sống trong các hang động không xa hang của hắn là mấy, nên họ nhanh chóng kéo lũ lượt qua các ngọn đồi từ mọi phía, bao vây cửa hang để hỏi han về nguyên nhân của những tiếng gào thét và rên rỉ. Nhưng vì câu trả lời duy nhất của hắn là, "Không Ai đã hại ta," họ liền kết luận rằng hắn đang trò gì bịp bợm, và do đó đã bỏ mặc hắn tự sinh tự diệt.

Tên khổng lồ mù lòa lúc này khua khoắng quờ quạng trong hang với hy vọng tóm được cổ vài kẻ đã hành hạ mình; nhưng cuối cùng kiệt sức vì những nỗ lực vô ích ấy, hắn lăn tảng đá bịt lối ra đi, nghĩ rằng các nạn nhân của hắn sẽ nháo nhào chạy ra cùng bầy cừu, khi ấy việc tóm gọn họ sẽ trở nên dễ dàng. Nhưng trong khoảng thời gian đó, Odysseus không hề ngồi yên, và sự mưu trí của người anh hùng lúc này được phát huy, tỏ ra vượt trội hơn hẳn sức mạnh của tên khổng lồ. Đàn cừu rất lớn, và Odysseus, bằng những dây liễu lấy từ chuồng của Polyphemus, đã khéo léo cột chúng lại với nhau thành từng nhóm ba con một, và dưới mỗi con ở giữa, ông buộc cố định một người đồng đội. Sau khi đảm bảo an toàn cho các chiến hữu, chính Odysseus chọn ra con cừu đực đẹp nhất đàn, và bằng cách bám vào bộ lông của con vật, ông đã trốn thoát. Khi đàn cừu đi ra khỏi hang, tên khổng lồ cẩn thận sờ soạng khắp lượt trên lưng chúng để tìm kiếm nạn nhân, nhưng không thấy ai trên lưng lũ vật nên hắn đành để chúng đi qua, và nhờ thế tất cả bọn họ đều trốn thoát.

Họ nhanh chóng lên tàu, và Odysseus, nghĩ rằng bản thân đã ở một khoảng cách an toàn, bèn cất cao giọng gọi tên thật của mình và buông lời chế giễu thách thức tên khổng lồ; ngay lập tức Polyphemus chộp lấy một tảng đá khổng lồ, nhắm theo hướng phát ra âm thanh và ném mạnh về phía con tàu, suýt chút nữa đã giáng họa diệt vong cho nó. Hắn sau đó cất tiếng cầu xin cha mình là Poseidon báo thù cho hắn, van nài ngài nguyền rủa Odysseus với một chuyến hải trình dài đằng đẵng và đầy mệt mỏi, phá hủy toàn bộ tàu thuyền cùng tất cả đồng đội của ông, và khiến cho hành trình trở về của ông trở nên muộn màng, bất hạnh và tiêu điều nhất có thể.

Những cuộc phiêu lưu tiếp theo.—Sau khi lênh đênh trên những vùng biển lạ trong một khoảng thời gian, người anh hùng cùng các thuộc hạ đã thả neo tại hòn đảo của Aeolus, vị chúa tể các loài Gió, người đã chào đón họ nồng nhiệt và thết đãi họ thịnh soạn suốt cả một tháng trời.

Khi họ từ giã ra đi, ông trao cho Odysseus tấm da bò, bên trong đã nhốt tất cả những ngọn gió trái chiều nhằm đảm bảo cho họ một chuyến hải trình an toàn và nhanh chóng, rồi sau đó, sau khi dặn dò ông tuyệt đối không được mở nó ra, liền ra lệnh cho ngọn gió Tây Zephyrus hiền hòa thổi để đưa họ đến các bờ biển Hy Lạp.

Vào buổi tối của ngày thứ mười kể từ khi khởi hành, họ đã nhìn thấy những ngọn lửa canh gác của đảo Ithaca. Nhưng tại đây, ngặt nỗi Odysseus vì đã hoàn toàn kiệt sức nên đã chìm vào giấc ngủ, và các đồng đội của ông, nghĩ rằng Aeolus đã cất giấu một báu vật trong chiếc túi mà ông hằng gìn giữ cẩn mật ấy, liền chộp lấy cơ hội này để mở nó ra, ngay lập tức tất cả những ngọn gió nghịch hướng ào ạt thổi thốc ra, đẩy ngược họ trở lại hòn đảo của Aeolus. Tuy nhiên, lần này Aeolus không chào đón họ như trước nữa, mà xua đuổi họ đi với những lời trách móc cay đắng và mắng nhiếc vì đã phớt lờ những lời dặn dò của ông.

Sau sáu ngày hải trình, cuối cùng họ cũng nhìn thấy đất liền. Quan sát thấy thứ có vẻ như là làn khói bốc lên từ một thị trấn lớn, Odysseus phái một sứ giả cùng với hai người đồng đội đi tiền trạm để kiếm lương thực. Khi đến thành phố, họ bàng hoàng phát hiện ra mình đã đặt chân lên xứ sở của người Laestrygones, một chủng tộc ăn thịt người khổng lồ và hung dữ, cai trị bởi vị vua Antiphates của chúng. Người sứ giả bất hạnh bị vua tóm lấy và sát hại; nhưng hai người đồng đội của ông kịp thời tháo chạy, đã thành công quay trở lại tàu an toàn và tha thiết nài nỉ vị thủ lĩnh hãy nhổ neo ra khơi ngay lập tức.

Nhưng Antiphates cùng bầy lũ người khổng lồ đã truy đuổi những kẻ trốn chạy ra tới bờ biển, nơi lúc này chúng xuất hiện với số lượng đông đảo. Chúng chộp lấy những tảng đá khổng lồ ném thẳng vào hạm đội, đánh chìm mười một con tàu cùng toàn bộ thủy thủ đoàn trên khoang; chiếc tàu dưới quyền chỉ huy trực tiếp của Odysseus là chiếc duy nhất thoát khỏi thảm họa diệt vong. Trên con tàu này, cùng với số ít thuộc hạ còn sống sót, Odysseus giương buồm khởi hành, nhưng lại bị những cơn gió ngược đẩy dạt đến một hòn đảo có tên là Aeaea.

Circe.—Người anh hùng và các đồng đội đang lâm vào cảnh thiếu thốn lương thực trầm trọng, nhưng rút kinh nghiệm từ những thảm họa trước, Odysseus quyết định chỉ một số lượng thành viên thủy thủ đoàn nhất định được cử đi thám thính vùng đất này; và qua kết quả rút thăm giữa Odysseus và Eurylochus, vận rủi đã rơi vào người sau khi phải đảm nhận vai trò dẫn đường cho tốp nhỏ được tuyển chọn cho nhiệm vụ này.

Họ nhanh chóng tiến đến một cung điện cẩm thạch tráng lệ, tọa lạc trong một thung lũng quyến rũ và màu mỡ. Nơi đây cư ngụ một nữ phù thủy xinh đẹp tên là Circe, con gái của thần mặt trời và nữ thần biển Perse. Lối vào chốn ngụ cư của nàng được canh gác bởi những con sói và sư tử, thế nhưng, trước sự ngạc nhiên tột độ của những kẻ lạ mặt, chúng lại hiền lành và vô hại như những chú cừu non. Kỳ thực, đó chính là những con người đã bị biến đổi hình dạng bởi những thuật phép độc ác của nữ phù thủy. Từ bên trong, họ nghe thấy giọng ca say đắm của nữ thần, người đang cất lên một giai điệu ngọt ngào khi ngồi làm việc, dệt một tấm vải mà chỉ có các vị thần bất tử mới có thể làm ra. Nàng ân cần mời họ bước vào, và tất cả ngoại trừ Eurylochus thận trọng khôn ngoan đều nhận lời mời.

Khi họ bước qua những sảnh đường rộng lớn và thênh thang lát đá hoa cương khảm xà cừ, những vật phẩm xa hoa và xinh đẹp đập vào mắt họ từ mọi phía. Những chiếc ghế bành mềm mại và xa xỉ mà nàng mời họ ngồi được khảm bạc, và bữa tiệc nàng dọn ra để thiết đãi họ được bày biện trong những chiếc bình làm bằng vàng ròng. Nhưng trong khi những vị khách không chút nghi ngờ đang đắm chìm trong những thú vui của bàn tiệc, thì mụ phù thủy độc ác đang ngầm thao túng sự diệt vong của họ; bởi vì chiếc cốc đựng rượu mời họ đã bị pha thứ thuốc mê có dược lực mạnh, và sau khi họ nhấp môi, mụ phù thủy chạm chiếc đũa thần lên người họ, ngay lập tức họ biến thành những con lợn rừng, tuy nhiên vẫn giữ nguyên trí khôn của con người.

Khi Odysseus nghe Eurylochus kể về số phận khủng khiếp giáng xuống các đồng đội của mình, ông lập tức lên đường, bất chấp hiểm nguy bản thân với quyết tâm thực hiện bằng được sứ giả giải cứu họ. Trên đường đến cung điện của mụ phù thủy, ông gặp một thiếu niên khôi ngô cầm chiếc đũa thần bằng vàng, người đã tự tiết lộ mình chính là Hermes, sứ giả thần thánh của các vị thần. Vị thần nhẹ nhàng quở trách sự liều lĩnh của người anh hùng khi cả gan bước vào chốn ngụ cư của Circe mà không mang theo thuốc giải chống lại những bùa chú của ả, đồng thời trao cho ông một loại thảo dược kỳ lạ gọi là Moly, quả quyết rằng nó sẽ vô hiệu hóa hoàn toàn những ma thuật độc ác của mụ phù thủy hiểm độc. Hermes cảnh báo Odysseus rằng Circe sẽ mời ông một ly rượu pha thuốc với ý định biến ông thành lợn giống như những đồng đội của ông. Vị thần bảo ông cứ uống cạn ly rượu ấy, tác dụng của nó sẽ bị triệt tiêu hoàn toàn bởi thứ thảo dược mà ông đã được trao, rồi sau đó hãy dũng mãnh lao vào mụ phù thủy cứ như thể muốn tước đoạt mạng sống của ả, khi ấy quyền năng của ả đối với ông sẽ chấm dứt, ả sẽ nhận ra chủ nhân của mình và ban cho ông bất cứ điều gì ông mong muốn.

Circe đón tiếp người anh hùng với tất cả vẻ duyên dáng và quyến rũ vốn có, rồi dâng lên ông ly rượu trong một chiếc cốc vàng. Ông sẵn lòng đón lấy, đặt trọn niềm tin vào hiệu lực của thứ thuốc giải. Rồi, tuân theo lời dặn dò của Hermes, ông rút gươm khỏi vỏ và lao bổ vào mụ phù thủy như thể muốn hạ sát ả.

Khi Circe nhận ra mưu đồ độc ác của mình lần đầu tiên bị phá sản, và một kẻ phàm trần lại dám tấn công ả, ả biết rằng đó chính là vị anh hùng vĩ đại Odysseus đang đứng trước mặt, người có chuyến viếng thăm chốn ngụ cư của ả đã được Hermes tiên đoán từ trước. Theo lời khẩn khoản của ông, ả đã khôi phục lại hình hài con người cho các đồng đội của ông, đồng thời hứa hẹn rằng kể từ nay người anh hùng và các chiến hữu sẽ được an toàn khỏi những bùa phép của ả.

Nhưng mọi lời cảnh báo và kinh nghiệm quá khứ đều bị Odysseus phớt lờ khi Circe bắt đầu trổ tài quyến rũ và ve vãn ông. Theo thỉnh cầu của ả, các đồng đội của ông chuyển đến cư ngụ trên đảo, còn bản thân ông trở thành khách quý kiêm nô lệ của mụ phù thủy suốt cả một năm trời; và chỉ đến khi có những lời khuyên can khẩn thiết từ các bằng hữu, ông mới rốt cuộc bị thuyết phục để tự giải thoát mình khỏi những vòng vây của ả.

Circe đã quá gắn bó với vị anh hùng hào hoa nên ả phải mất rất nhiều nỗ lực mới có thể dứt áo chia tay ông, nhưng vì đã thề không dùng bùa phép chống lại ông nên ả lực bất tòng tâm chẳng thể giữ ông lại thêm nữa. Nữ thần lúc này cảnh báo ông rằng tương lai phía trước sẽ rập rình muôn vàn hiểm nguy, đồng thời ra lệnh cho ông phải đến thỉnh cầu nhà tiên tri mù già nua Tiresias,[52] chốn âm phủ Hades, về định mệnh tương lai của mình. Nàng sau đó chất đầy lương thực lên con tàu của ông cho chặng đường hải trình, và lưu luyến cất lời tiễn biệt.

Vương quốc của những bóng ma.—Dù có phần kinh hãi trước viễn cảnh phải tìm kiếm những cõi giới kỳ bí và u ám cư ngụ bởi các linh hồn người chết, Odysseus vẫn tuân lệnh nữ thần, người đã cung cấp cho ông đầy đủ chỉ dẫn về lộ trình, cùng những lời dặn dò quan trọng mà ông phải thực hiện với sự chú ý tuyệt đối đến từng chi tiết nhỏ.

Do đó, ông giương buồm cùng các đồng đội hướng thẳng đến vùng đất tăm tối và u ám của người Cimmeria, nằm ở tận cùng thế giới, phía bên kia dòng sông lớn Oceanus. Được phù trợ bởi những luồng gió nhẹ nhàng, họ chẳng mấy chốc đã đến đích ở miền viễn tây. Khi đặt chân đến địa điểm mà Circe đã chỉ dẫn, nơi dòng nước đục ngầu của các con sông Acheron và Cocytus hòa quyện tại cửa ngõ hạ giới, Odysseus bước lên bờ mà không có các đồng đội đi cùng.

Sau khi đào một cái hào để chứa máu của các vật tế, ông dâng một con cừu đực và một con cừu cái màu đen cho các thế lực bóng tối, ngay lập tức hàng đàn vong linh trồi lên từ vực sâu thăm thẳm, tụ tập quanh ông, háo hức quắp lấy dòng máu tế lễ, thứ sẽ khôi phục lại cho chúng sự minh mẫn về tinh thần trong một khoảng thời gian ngắn. Nhưng ghi nhớ lời dặn của Circe, Odysseus vung gươm khua khoắng, không cho bất kỳ ai đến gần cho đến khi Tiresias xuất hiện. Vị đại tiên tri lúc này lê bước chầm chậm tới dựa vào cây gậy vàng của ông, và sau khi nhấp ngụm máu tế lễ liền tiến hành truyền đạt những bí mật ẩn giấu về số phận tương lai của Odysseus. Tiresias cũng cảnh báo ông về vô số hiểm nguy sẽ chực chờ tấn công, không chỉ trong suốt hành trình trở về mà còn cả khi đã đặt chân về đến Ithaca, rồi sau đó hướng dẫn ông cách né tránh chúng.

Trong khi đó, vô số các vong linh khác đã uống cạn ngụm nước đánh thức giác quan từ vật tế, trong số đó Odysseus bàng hoàng nhận ra người mẹ Anticlea yêu dấu dịu dàng của mình. Từ bà, ông hay tin bà đã qua đời vì đau buồn trước sự vắng bóng kéo dài của con trai, và người cha già Laertes của ông đang mòn mỏi héo mòn cuộc đời trong những nỗi ngóng trông vô vọng và lo âu cho sự trở về của ông. Ông cũng trò chuyện với những con người bất hạnh Agamemnon, Patroclus, và Achilles. Vị anh hùng sau cùng than khóc cho sự tồn tại mờ ảo và phi thực của mình, và tha thiết giãi bày với người chiến hữu cũ rằng thà ông làm kẻ làm thuê mướn bần cùng nhất trên trần gian còn hơn phải làm vua cai trị tối cao trên vương quốc của những bóng ma. Chỉ riêng Ajax, kẻ vẫn đang chìm đắm trong nỗi hận thù, đứng tách biệt ra xa, từ chối trò chuyện với Odysseus, và lủi thủi quay lưng khi được người anh hùng cất lời.

Nhưng rốt cuộc quá nhiều vong linh bu quanh bủa vây khiến lòng dũng cảm của Odysseus suy sụp, và ông hoảng sợ tháo chạy trở lại con tàu của mình. Sau khi hội ngộ các đồng đội, họ một lần nữa nhổ neo ra khơi, tiếp tục hải trình trở về quê hương.

Các nàng Sirens.—Sau vài ngày giương buồm, lộ trình đưa họ lướt qua hòn đảo của các nàng Sirens.

Lúc này Circe đã cảnh báo Odysseus tuyệt đối không được lắng nghe những giai điệu quyến rũ của những nữ thần xảo trá này; bởi vì tất cả những ai chú ý lắng nghe khúc ca dụ dỗ của chúng đều nảy sinh khao khát không thể kìm chế là lao xuống biển để đến với chúng, khi ấy họ hoặc sẽ bỏ mạng dưới tay chúng, hoặc bị những con sóng nhấn chìm.

Để thủy thủ đoàn của ông không nghe thấy tiếng hát của các nàng Sirens, Odysseus đã nhét đầy sáp ong nóng chảy vào tai họ; nhưng bản thân người anh hùng vì quá đỗi ưa chuộng phiêu lưu nên không thể cưỡng lại sự cám dỗ khi muốn thách thức hiểm nguy mới này. Theo mong muốn của chính mình, ông bị trói chặt vào cột buồm, và các đồng đội của ông nhận lệnh nghiêm ngặt tuyệt đối không được cở trói cho ông cho đến khi họ đã khuất tầm nhìn khỏi hòn đảo, bất chấp ông có van xin họ cởi trói thế nào đi nữa.

Khi họ tiến gần đến bờ biển định mệnh, họ nhìn thấy các nàng Sirens đang ngồi sát bên nhau trên những sườn đồi xanh tươi của hòn đảo; và khi những khúc ca ngọt ngào đầy mê hoặc của chúng lọt vào tai, người anh hùng bị tác động mạnh mẽ đến nỗi, quên sạch mọi hiểm nguy, ông khẩn khoản nài nỉ các chiến hữu hãy cởi trói cho mình; nhưng các thủy thủ, tuân thủ mệnh lệnh, kiên quyết từ chối tháo dây cho đến khi hòn đảo bị yểm bão đã biến mất khỏi tầm mắt. Khi hiểm nguy qua đi, người anh hùng biết ơn cất lời ngợi khen sự vững vàng của các thuộc hạ, điều đã cứu mạng ông.

Hòn đảo của thần Helios.—Họ lúc này tiến đến vùng nguy hiểm chí mạng của Scylla và Charybdis, nơi Circe đã dặn dò họ phải đi qua. Khi Odysseus điều khiển con tàu luồn qua bên dưới tảng đá lớn, Scylla lao xuống tóm gọn sáu thủy thủ đoàn khỏi boong tàu, và những tiếng kêu thảm thiết của các nạn nhân khốn khổ vang vọng bên tai ông hồi lâu. Cuối cùng họ cũng đến được đảo Trinacria (Sicily), nơi thần mặt trời chăn thả những đàn gia súc và cừu của ngài, và Odysseus, sực nhớ lại lời cảnh báo của Tiresias về việc phải tránh xa hòn đảo linh thiêng này, suýt nữa đã lái tàu lướt qua và bỏ mặc vùng đất không thám hiểm. Nhưng các thủy thủ của ông nổi loạn và khăng khăng đòi lên bờ. Do đó Odysseus buộc phải nhượng bộ, nhưng trước khi cho phép họ đặt chân lên bờ, ông bắt họ phải tuyên thệ không được đụng đến đàn gia súc thiêng của Helios, và phải sẵn sàng nhổ neo lên đường vào sáng hôm sau.

Ngặt nỗi, thời tiết khắc nghiệt lại buộc họ phải lưu lại trọn vẹn một tháng trời ở Trinacria, và kho dự trữ rượu cùng thực phẩm do Circe ban tặng khi chia tay đã cạn kiệt hoàn toàn, họ buộc phải sống qua ngày nhờ số cá và chim chóc mà hòn đảo cung cấp. Thường thì số lượng ấy chẳng đủ để lấp đầy cơn đói, và vào một buổi tối nọ khi Odysseus, kiệt quệ vì lo âu và mệt mỏi đã chìm vào giấc ngủ, Eurylochus bèn xúi giục những người đàn ông đang đói cồn cào phá vỡ lời thề và hạ sát một số con bò thiêng.

Cơn thịnh nộ của Helios thật kinh hoàng, ngài khiến lớp da của những con vật bị làm thịt động đậy nhúc nhích và các khúc thịt trên xiên quay rống lên như thể gia súc còn sống, đồng thời đe dọa rằng nếu Zeus không trừng phạt đám thủy thủ phạm thượng kia, ngài sẽ rút ánh sáng của mình khỏi thiên đàng và chỉ chiếu rọi xuống âm phủ. Lo lắng xoa dịu vị thần đang nổi trận lôi đình, Zeus cam đoan với ngài rằng tội ác đó sẽ được trả thù. Do đó, khi Odysseus và các đồng đội lại nhổ neo lên đường sau bảy ngày yến tiệc, vị chúa tể xứ Olympus đã giáng một cơn bão kinh hoàng xuống đầu họ, trong lúc đó con tàu trúng sét và vỡ tan thành từng mảnh. Toàn bộ thủy thủ đoàn chết đuối ngoại trừ Odysseus, bám vào một cột buồm, lênh đênh giữa biển khơi suốt chín ngày trời, để rồi sau khi một lần nữa thoát khỏi việc bị hút vào xoáy nước của Charybdis, ông trôi dạt vào bờ biển đảo Ogygia.

Calypso.—Ogygia là một hòn đảo phủ đầy những khu rừng rậm rạp, nơi tọa lạc cung điện hang động quyến rũ của nữ thần Calypso, con gái của vị thần Titan Atlas, nằm giữa một lùm cây bách và dương liễu. Lối vào hang được đan cài bởi giàn dây leo xanh mướt, từ đó rủ xuống những chùm nho tím và vàng óng ả; tiếng suối chảy róc rách mang lại cảm giác mát mẻ tuyệt vời cho bầu không khí vốn ngập tràn tiếng chim hót, và mặt đất được thảm hoa violet cùng rêu phong phủ kín.

Calypso nồng nhiệt chào đón vị anh hùng khốn khổ đắm tàu và ân cần chăm sóc các nhu cầu của ông. Dần dà theo thời gian, nàng đem lòng gắn bó sâu sắc với ông đến mức đề nghị ban cho ông sự bất tử và tuổi trẻ vĩnh cửu nếu ông chấp nhận ở lại cùng nàng mãi mãi. Nhưng trái tim Odysseus lại hướng về người vợ yêu dấu Penelope và đứa con trai bé bỏng của mình với bao niềm khắc khoải. Do đó, ông từ chối đặc ân ấy và tha thiết nài nỉ các vị thần cho phép ông được trở về thăm lại quê nhà. Nhưng lời nguyền của Poseidon vẫn bám đuổi người anh hùng bất hạnh, và suốt bảy năm dài đằng đẵng ông bị giam cầm trên hòn đảo bởi Calypso, hoàn toàn trái với ý muốn của mình.

Cuối cùng Pallas-Athene đã lên tiếng cầu xin người cha quyền năng của mình cho ông, và Zeus, nhỉnh theo thỉnh cầu của nàng, lập tức phái vị thần chân nhanh Hermes đến gặp Calypso, truyền lệnh cho mụ phải cho phép Odysseus rời đi đồng thời cung cấp phương tiện di chuyển cho ông.

Nữ thần, dẫu luyến tiếc chẳng nỡ rời xa người khách quý, nhưng không dám cãi lại mệnh lệnh của vị thần Zeus quyền năng. Do đó, nàng hướng dẫn người anh hùng cách dựng một chiếc bè, thứ mà chính tay nàng đã dệt buồm cho nó. Odysseus lúc này cất lời tiễn biệt nàng, một thân một mình đơn độc bước lên chiếc bè mỏng manh để hướng về quê hương đất mẹ.

Nausicaa.—Trong suốt mười bảy ngày, Odysseus xoay sở điều khiển chiếc bè khéo léo vượt qua mọi hiểm nguy của biển khơi, định hướng theo những chỉ dẫn của Calypso và được dẫn đường bởi các vì sao trên thiên đàng. Vào ngày thứ m, ông vỡ oà vui sướng khi nhìn thấy đường nét mờ xa của bờ biển Phaeacia và bắt đầu tràn trề hy vọng về một chốn nghỉ ngơi cùng mái che tạm thời. Nhưng Poseidon, vẫn sục sôi căm hận người anh hùng từng làm cho con trai hắn mù lòa và sỉ nhục, đã triệu tới một cơn bão kinh hoàng, trong lúc đó chiếc bè bị sóng đánh chìm, và Odysseus chỉ có thể cứu lấy mạng sống bằng cách bám chặt vào một mảnh vỡ của tàu.

Suốt hai ngày hai đêm, ông lênh đênh trôi dạt hết hướng này sang hướng khác giữa những ngọn sóng cuồng nộ, cho đến tận lúc, sau bao phen chết hụt trong gang tấc, nữ thần biển Leucothea đến cứu giúp, và ông trôi dạt vào bờ biển Scheria, hòn đảo của những con người Phaeacia xa hoa. Kiệt quệ vì những gian truân và hiểm nguy vừa trải qua, ông bò vào một bụi cây để tìm sự an toàn, nằm xuống trên tấm thảm lá khô và chẳng mấy chốc chìm vào giấc ngủ say.

Tình cờ thay, Nausicaa, cô công chúa xinh đẹp của vua Alcinous và hoàng hậu Arete, đã đi xuống bờ biển cùng các tỳ nữ để giặt những tấm vải lanh vốn được định sẵn làm một phần của hồi môn cưới xin cho nàng. Khi hoàn tất công việc, họ tắm giặt và ngồi xuống thưởng thức bữa ăn, sau đó tự giải trí bằng cách ca hát và chơi bóng.

Những tiếng hò reo vui vẻ của họ cuối cùng đã đánh thức Odysseus, người từ chỗ ẩn nấp bước ra, bỗng nhiên thấy mình đứng giữa nhóm người vui tươi ấy. Hoảng hốt trước vẻ ngoài hoang dã của ông, các tỳ nữ của Nausicaa hoảng sợ tháo chạy; nhưng vị công chúa, thương xót cho hoàn cảnh khốn cùng của kẻ lạ mặt, đã cất lời bằng những từ ngữ ân cần và đồng cảm. Sau khi nghe ông kể lại câu chuyện về vụ đắm tàu và những gian khổ khủng khiếp mà ông đã gánh chịu, Nausicaa gọi các tỳ nữ quay lại, trách mắng họ vì thiếu tinh tế, và bảo họ cung cấp cho người lữ hành thức ăn, nước uống cùng y phục phù hợp. Odysseus sau đó để các thiếu nữ tiếp tục trò chơi, trong khi ông đi tắm rửa và mặc lên mình những bộ quần áo mà họ đã chuẩn bị sẵn. Athene lúc này xuất hiện trước người anh hùng và ban cho ông một vóc dáng uy nghi tráng lệ, cùng vẻ đẹp vượt trên cả phàm trần. Khi ông xuất hiện trở lại, vị công chúa trẻ tuổi ngỡ ngàng đầy ngưỡng mộ, và ngỏ lời mời người anh hùng đến thăm cung điện của phụ vương nàng. Nàng sau đó ra lệnh cho các tỳ nữ cày ách la vào xe và chuẩn bị quay về hoàng cung.

Odysseus được nhà vua và hoàng hậu đón tiếp nồng hậu, họ thết đãi ông bằng sự hiếu khách xa hoa lộng lẫy, và để đáp lại lòng tốt của họ, người anh hùng đã kể lại cho họ nghe câu chuyện về chuyến hải trình dài đằng đẵng đầy biến động của mình, cùng bao nhiêu cuộc phiêu lưu kỳ lạ và những phen thoát chết kỳ diệu đã giáng xuống ông kể từ khi rời khỏi bờ biển Ilion.

Khi cuối cùng ông từ giã những người chủ nhà hoàng gia, Alcinous chất đầy những món quà đắt giá lên người ông và ra lệnh đưa ông về Ithaca trên một trong những con tàu của chính mình.

Đặt chân đến Ithaca.—Hành trình trở về ngắn ngủi và thuận lợi. Theo chỉ dẫn của vua Alcinous, những tấm thảm lông thú sang trọng đã được trải lên boong tàu để vị khách quý được thoải mái, trên đó người anh hùng, phó mặc việc điều khiển con tàu cho các thủy thủ Phaeacia, chẳng mấy chốc chìm vào giấc ngủ sâu. Khi sáng hôm sau con tàu cập bến cảng Ithaca, các thủy thủ suy đoán rằng một giấc ngủ say sưa bất thường như vậy hẳn phải do các vị thần ban phơi, liền bồng ông lên bờ mà không đánh thức, tại đó họ nhẹ nhàng đặt ông nằm dưới bóng mát lạnh của một gốc ô-liu.

Khi Odysseus tỉnh giấc, ông chẳng hay mình đang ở đâu, bởi vì vị nữ thần bảo hộ luôn dõi theo ông Pallas-Athene đã bao bọc ông trong một màn sương mù dày đặc nhằm che khuất tầm nhìn. Nàng lúc này xuất hiện trong lốt một người chăn cừu, thông báo cho ông hay rằng ông đã ở trên chính quê hương đất cha ông; rằng người cha Laertes, còng lưng vì tang tóc và tuổi già, đã rời khỏi triều đình; rằng con trai Telemachus đã trưởng thành và đã lên đường đi tìm tung tích cha; và rằng người vợ Penelope đang bị quấy rầy bởi sự nài nỉ dai dẳng từ vô số những kẻ cầu hôn, những kẻ đã chiếm đoạt dinh thự của ông và ngấu nghiến tài sản của gia tộc. Để kéo dài thời gian, Penelope đã hứa sẽ kết hôn với một trong những kẻ theo đuổi nàng ngay sau khi nàng dệt xong một tấm áo cho người già Laertes; nhưng bằng cách lén lút tháo gỡ vào ban đêm những gì nàng đã làm ban ngày, nàng đã vô hiệu hóa thành công tiến độ hoàn thành công việc, qua đó trì hoãn câu trả lời cuối cùng. Đúng vào lúc Odysseus đặt chân lên Ithaca, những kẻ cầu hôn tức giận đã phát hiện ra mưu kế của nàng, và kết quả là chúng trở nên hống hách hơn bao giờ hết. Khi người anh hùng nghe tin đây quả thực là quê hương của mình, nơi mà sau hai mươi năm vắng bóng, các vị thần rốt cuộc cũng cho phép ông được chiêm ngưỡng một lần nữa, ông liền sụp xuống đất, ôm hôn nó trong nỗi ngây ngất tột độ của niềm vui.

Nữ thần, người lúc này đã tiết lộ thân phận thật với Odysseus, giúp ông cất giấu những món quà quý giá của vị vua Phaeacia vào một hang động lân cận. Sau đó, ngồi xuống bên cạnh ông, nàng bàn tính với ông về phương án tốt nhất để tống khứ những kẻ cư ngụ vô liêm sỉ ra khỏi cung điện.

Để ngăn chặn việc bị nhận dạng, nàng biến ông thành hình hài một lão khất già nua. Các khớp xương của ông còng quắp, những lọn tóc nâu bay biến, đôi mắt trở nên mờ đục và kèm nhèm, và những bộ y phục vương giả do vua Alcinous ban tặng được thay thế bằng bộ áo rách rưới tối màu, rộng thùng thình treo lủng lẳng trên thân hình gầy guộc. Athene sau đó bảo ông tìm nơi nương náu trong túp lều của Eumæus, người chăn lợn trung thành của chính ông.

Eumæus tiếp đón lão ăn mày vô cùng nồng hậu, ân cần chăm lo các nhu cầu của ông, thậm chí còn thổ lộ với ông nỗi buồn khổ của mình trước sự vắng mặt kéo dài đằng đẵng của người chủ cũ yêu dấu, cùng nỗi niềm tiếc nuối khi bị buộc phải sát hại những con lợn béo bở và đẹp nhất đàn để làm thức ăn cho lũ kẻ xâm lược ngỗ ngược trong nhà.

Tình cờ thay, sáng hôm sau Telemachus trở về sau chuyến tìm kiếm cha dài ngày vô vọng, và khi ghé vào túp lều của Eumæus trước tiên, cậu nghe ông kể câu chuyện về lão ăn mày lạ mặt và được hứa hẹn sẽ đối xử tốt với lão. Athene lúc này giục Odysseus hãy tự tiết lộ thân phận với con trai; và theo cái chạm tay của nàng, những chiếc giẻ rách của lão ăn mày biến mất, và ông đứng trước mặt Telemachus trong bộ y phục vương giả cùng sức mạnh vạm vỡ sung mãn của một nam nhân trưởng thành. Vẻ ngoài của người anh hùng đường bệ đến mức ban đầu vị hoàng tử trẻ tuổi tưởng rằng đây hẳn phải là một vị thần; nhưng khi nhận ra đó thực sự là người cha yêu dấu, người có sự vắng mặt kéo dài đã gây cho cậu biết bao đau khổ, cậu nhào vào cổ cha ôm trầm lấy với mọi biểu hiện của tình yêu thương trọn đạo hiếu.

Odysseus giao nhiệm vụ cho Telemachus giữ kín sự trở về của mình, đồng thời vạch ra kế hoạch để họ có thể tống khứ lũ kẻ cầu hôn đáng ghét. Để thực hiện điều đó, Telemachus sẽ thuyết phục mẹ mình hứa trao tay cho kẻ nào giương nổi cây cung danh tiếng của Odysseus, món vũ khí mà người anh hùng đã để lại khi lên đường sang Troy, cho rằng nó quá trân quý để mang theo bên mình. Odysseus lúc này khoác lại bộ dạng lão ăn mày rồi cùng con trai bước về cung điện, trước cửa nhà nằm chú chó trung thành Argo của ông, dẫu đã cằn cỗi và yếu ớt vì tuổi già cùng sự bỏ bê, vẫn ngay lập tức nhận ra chủ nhân. Trong niềm vui sướng tột độ, con vật tội nghiệp cố gắng lần cuối để chào đón ông; nhưng sức lực đã cạn kiệt, nó trút hơi thở cuối cùng dưới chân chủ.

Khi Odysseus bước vào những sảnh đường tổ tiên, ông bị chế nhạo và lăng mạ bởi lũ kẻ cầu hôn ngổ ngáo, và Antinous, kẻ vô liêm sỉ nhất trong số đó, chế giễu ngoại hình thảm hại của ông, trịch thượng ra lệnh cho ông cút đi; nhưng Penelope nghe được hành động tàn nhẫn của chúng, động lòng trắc ẩn và bảo các tỳ nữ đưa lão ăn mày tội nghiệp vào diện kiến. Nàng ân cần nói chuyện với ông, gặng hỏi ông là ai và từ đâu tới. Ông kể rằng mình là em trai của vua xứ Crete, trong cung điện của vị vua đó ông đã từng nhìn thấy Odysseus, người lúc bấy giờ đang chuẩn bị khởi hành về Ithaca, và từng tuyên bố ý định sẽ cập bến nơi đây trước khi năm hết tết đến. Hoàng hậu, vui sướng khôn tả trước tin lành, liền ra lệnh cho các tỳ nữ chuẩn bị giường ngủ cho người lạ, đối xử với ông như một vị khách quý. Nàng sau đó sai người vú già Euryclea cung cấp y phục phù hợp cho ông và lo liệu mọi nhu cầu.

Khi người đầy tớ già đang rửa chân cho ông, mắt bà chạm phải một vết sẹo mà Odysseus từng nhận được thời niên thiếu từ nanh của một con lợn rừng; và ngay lập tức nhận ra người chủ yêu dấu mà bà từng bế ẵm thuở nhỏ, bà suýt cất tiếng kêu to trong niềm hạnh phúc, nhưng người anh hùng đặt tay lên miệng bà, tha thiết nài nỉ bà đừng bán đứng ông.

Ngày hôm sau là lễ hội tôn vinh thần Apollo, và lũ kẻ cầu hôn nhân dịp này yến tiệc linh đình với sự cuồng hoan vượt mức thường lệ. Sau khi bữa tiệc tàn, Penelope lấy xuống cây cung lớn của Odysseus từ chỗ treo, bước vào sảnh đường và tuyên bố rằng bất kỳ kẻ nào trong số những người theo đuổi nàng có thể giương nổi nó và bắn một mũi tên xuyên qua mười hai chiếc nhẫn (một kỳ tích mà nàng từng chứng kiến Odysseus thực hiện rất nhiều lần) sẽ được nàng chọn làm chồng.

Tất cả bọn chúng đều thử sức nhưng vô vọng; chẳng một ai sở hữu nổi sức mạnh cần thiết để giương cung. Odysseus lúc này bước lên xin phép được thử sức, nhưng đám quý tộc ngạo mạn chế giễu sự táo tợn của ông, và sẽ chẳng đời nào cho phép nếu không có sự can thiệp của Telemachus. Lão ăn mày giả danh cầm lấy cây cung, và với sự dễ dàng tột độ, bắn một mũi tên xé gió xuyên qua các vòng nhẫn; đoạn quay sang Antinous, kẻ đang nâng ly rượu lên môi, ông đâm thẳng vào tim hắn. Thấy vậy, lũ kẻ cầu hôn vùng dậy tìm kiếm vũ khí; nhưng theo hướng dẫn của Odysseus, Telemachus đã dọn sạch chúng đi từ trước. Cả hai cha con lao vào tấn công đám yến tiệc ngổ ngáo, và sau một trận giao tranh quyết liệt, không một ai trong cả bọn sống sót.

Tin tức vui mừng về sự trở về của Odysseus được truyền đến tai Penelope, nàng bước xuống sảnh đường nhưng từ chối nhận ra, trong thân hình lão ăn mày già nua, người chồng hào hoa của mình; nhân đó ông lui vào phòng tắm, và bước ra với toàn bộ vẻ sung mãn cùng vẻ đẹp mà Athene từng ban phơi cho ông nơi triều đình Alcinous. Nhưng Penelope, vẫn còn hoài nghi, quyết định thử thách ông bằng một phép thử chắc chắn. Nàng liền ra lệnh ngay trước mặt ông rằng chiếc giường ngủ của chính ông phải được khiêng ra khỏi phòng. Ngặt nỗi chân giường ấy đã được chính tay Odysseus đẽo gọt từ gốc một cây ô-liu vẫn còn bám rễ sâu dưới đất, và xung quanh nó ông đã xây nên những bức tường phòng ngủ. Do đó, biết thừa chiếc giường chẳng thể dịch chuyển đi đâu được, ông liền thốt lên rằng việc sai vặt ấy là vô ích, bởi chẳng một phàm nhân nào có thể lay chuyển nó khỏi vị trí. Khi ấy Penelope mới hay rằng chính là Odysseus đang đứng trước mặt nàng, và một cuộc hội ngộ vô cùng cảm động, ngập tràn tình cảm diễn ra giữa người vợ và người chồng xa cách bấy lâu.

Ngày hôm sau, người anh hùng lên đường tìm người cha già Laertes, người mà ông tìm thấy ở một trong những điền trang của ông ở vùng nông thôn đang cặm cụi đào bới một gốc ô-liu non. Lão cụ tội nghiệp, mặc bộ y phục khiêm nhường của một người lao động, hằn in những dấu vết đau thương sâu sắc trên vương miện khuôn mặt nhăn nheo, và con trai ông bàng hoàng đến mức suýt chút nữa phải quay mặt đi để giấu đi những giọt nước mắt trước sự thay đổi ở ngoại hình của cha.

Khi Odysseus hé lộ thân phận với cha rằng mình chính là đứa con trai mà ông đã mòn mỏi khóc thương như đã chết, niềm vui của cụ già tội nghiệp lớn đến mức suýt vượt quá sức chịu đựng. Với sự chăm sóc đầy yêu thương, Odysseus dìu cha vào nhà, nơi cuối cùng, lần đầu tiên kể từ ngày con trai rời đi, Laertes một lần nữa khoác lên mình bộ y phục vương giả, thành kính tạ ơn các vị thần vì hạnh phúc lớn lao bất ngờ này.

Nhưng người anh hùng vẫn chưa được phép tận hưởng sự nghỉ ngơi xứng đáng, bởi họ hàng và bè bạn của lũ kẻ cầu hôn lúc này nổi dậy chống lại ông và truy sát ông đến tận dinh thự của cha ông. Cuộc chiến, tuy nhiên, diễn ra chớp nhoáng. Sau một trận giáp công ngắn ngủi, các cuộc đàm phán hòa bình được mở ra giữa Odysseus và các thần dân của ông. Nhận ra sự chính nghĩa trong lập trường của ông, họ làm hòa với vị thủ lĩnh, người đã tiếp tục trị vì họ trong nhiều năm tiếp theo.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 25 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.