Tin Tức Về Một Vụ Bắt Cóc

Lượt đọc: 174 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

❊ ❊ ❊

Chỉ còn lại một mình ở trong phòng, Maruja mới nhận ra rằng bà đang ở trong tay những người mà có thể chính họ đã giết chết Marina và Beatriz, họ nhất định từ chối không trả lại chiếc vô tuyến và chiếc radio để bịt tin tức.

Bà đòi họ phải trả lại những thứ ấy, bà đối mặt với những tên gác và thét tướng lên cố tình để những người hàng xóm nghe thấy, bà không đi tập nữa và dọa sẽ tuyệt thực. Tên quản gia và những tên gác giật mình thấy xẩy ra một tình huống thật bất ngờ, họ không biết cần phải làm gì. Họ thì thầm với nhau trong một cuộc họp kín, vô ích khi đi gọi điện thoại trở về họ càng thêm bối rối. Họ ra sức xoa dịu Maruja bằng những lời hứa hão huyền hoặc dọa nạt bà bằng những lời đe dọa, nhưng họ không thể nào làm nhụt được ý chí của bà, bà kiên quyết tuyệt thực. Không khi nào bà thấy tự tin như lúc này. Tất nhiên những người chịu trách nhiệm canh giữ bà đã nhận được chỉ thị là không được ngược đãi bà, bằng bất kỳ giá nào phải giữ bà sống. Đó là sự tính toán chính xác. Ba ngày sau khi trả lại tự do cho Beatriz, một hôm rất sớm, cửa mở, không có lời công bố nào, người quản gia với chiếc radio và chiếc tivi, nói: “Bây giờ có một điều bà cần biết”. - Hắn nói với Maruja, liền sau đó, với giọng bình thản hắn báo tin: - Bà Marina Montoya đã chết rồi. Trái với điều mà bà đang chờ đợi. Maruja nghe tin ấy như thể bà biết tin ấy đã từ lâu. Bà tỏ vẻ ngạc nhiên, nhưng đối với bà thì bà xem Marina như hãy còn sống. Tuy nhiên, khi sự thật đến với trái tim bà thì bà mới nhận ra rằng bà yêu quý Marina, và muốn tin đó không phải là sự thật.

- Quân giết người! Bà nói với tên quản gia. Tất cả lũ chúng bay là những tên giết người.

Giữa lúc đó thì vị bác sĩ xuất hiện ở ngoài cửa, ông muốn trấn an Maruja với tin: Beatriz hiện đang hạnh phúc với gia đình tại nhà, nhưng bà không tin chừng nào bà chưa được nhìn thấy Beatriz trên vô tuyến hoặc nghe thấy tiếng nói của Beatriz qua đài phát thanh. Bà tưởng người vừa được cử tới đây là để nghỉ ngơi.

- Ông không nên vác mặt tới đây nữa - bà nói. Tôi quá hiểu ông rồi, ông phải biết xấu hổ về những gì mà ông đã làm với Marina chứ.

Ông ta cần một phút mới hết ngạc nhiên.

- Có chuyện gì đó? - Ông ta hỏi Maruja.

- Có phải chính ông đã ra lệnh giết Marina? Khi đó hắn giải thích rằng giết Marina để trả thù một sự phản bội đúp.

“Nhưng trường hợp bà thì lại khác” - hắn nói. Tôi xin nhắc lại điều tôi đã nói lần trước: “Đó là chính trị”. Maruja nghe hắn nói như bị thôi miên lẫn lộn giữa tư tưởng về cái chết với sự cảm nghĩ của người sắp bị chết.

- Ít ra thì ông cũng cần cho tôi biết sự việc đã xẩy ra như thế nào - bà nói - Marina có nhận ra điều đó không?

- Tôi xin thề với bà là không - hắn nói.

- Nhưng tại sao lại không, tại sao bà ta lại không biết!

- Họ nói với bà rằng chuyển bà tới một địa điểm khác - hắn nói nhưng sợ bà không tin vào điều đó. Họ ra lệnh cho bà xuống xe, bà đi về phía trước được mấy bước thì chúng bắn chết bà từ phía sau. Bà ta không hề biết gì.

Hình ảnh Marina, với tấm vải che mặt bước đi lảo đảo về phía một trang trại tưởng tượng nào đó đã ám ảnh Maruja trong nhiều đêm trong những giấc mơ. Hình ảnh ấy còn sợ hơn chính cái chết, có lẽ bà sợ đến giờ phút cuối cùng của cuộc đời, nhưng đầu óc bà vẫn tỉnh táo. Điều duy nhất mà bà muốn chuyển tới Marina là một lời an ủi và muốn nói với bà rằng cái hộp thuốc ngủ mà bà đã tiết kiệm như những viên ngọc quý để nuốt một nắm trước khi bị chúng lôi bà tới lò sát sinh.

Trong bản tin giữa trưa của đài truyền hình, cuối cùng bà đã thấy Beatriz xuất hiện, nhiều người quây quần xung quanh trong một căn hộ đầy hoa, mặc dầu căn phòng có nhiều thay đổi nhưng bà nhận ra ngay, đó là căn phòng của chính bà. Tuy nhiên, vui mừng vì được nhìn thấy căn phòng của chính mình, nhưng bà cụt hứng và bất bình vì sự trang trí mới của căn phòng. Thư viện mới như vậy là được, đặt đúng chỗ bà mong muốn, nhưng màu sắc của những bức tường và những tấm thảm thì không thể chịu được, con ngựa đời Đường đặt ở nơi khó nhìn thấy nhất. Không quan tâm tới hoàn cảnh của bà, bà nổi cơn thịnh nộ với chồng và các con, như thể họ nghe thấy lời phàn nàn của bà qua màn ảnh nhỏ.

“Một lũ ngốc, tất cả đều làm trái với những điều tôi đã nói”.

Trong giây lát, nguyện vọng được trở lại với cuộc sống tự do ở trong bà đã dần dần trở thành sự tức giận, vì cảnh trang trí mới đã làm xấu cả căn hộ. Sự tức giận này còn ở lại trong bà những ngày và đêm vô tận. Bà có ấn tượng như đang nằm ngủ trên chiếc giường của Marina, phủ bằng tấm chăn của Marina, bà cảm thấy đau đớn vì cái mùi của Marina để lại, khi bắt đầu ngủ bà nghe thấy tiếng nói của Marina trong đêm tối, Marina cùng nằm trên giường với bà, nói chuyện rì rầm với bà như tiếng kêu của một con ong. Một đêm, không phải là một ảo giác mà là một điều kỳ diệu của cuộc sống thực tế. Marina nắm cánh tay bà bằng một bàn tay của một người sống, có hơi ấm và dịu hiền, bà ghé sát vào tai bà gọi “Maruja”.

Bà không xem đó là một ảo giác, vì khi còn ở Jakarta bà đã trải qua một kinh nghiệm siêu nhiên tương tự. Tại một cuộc triển lãm đồ cổ bà mua một tác phẩm điêu khắc hình một đứa trẻ, to gần bằng đứa trẻ thật, một chân nó đạp lên người đứa trẻ khác bị thua. Pho tượng có một vầng hào quang ở trên đầu như một vị thánh công giáo, nhưng cái vòng hào quang làm bằng sắt tây, với chất liệu của vầng hào quang khiến bà nghĩ đó là một vật trang trí chẳng có giá trị gì. Chỉ ít lâu sau bà đặt nó ở nơi tốt nhất trong nhà, vì biết tác phẩm điêu khắc đó là thần chết.

Một đêm Maruja nằm mê thấy bà đã ra sức vứt bỏ cái vòng hào quang bằng sắt tây đó ra khỏi bức tượng, vì nhìn nó rất xấu, nhưng không sao vứt ra được, vì chính nó được đúc bằng đồng. Khi tỉnh dậy Maruja thấy rất mệt vì kỷ niệm xấu này. Bà chạy vội ra xem bức tượng đặt ở phòng khách thì thấy vì thánh không còn vòng hào quang ở trên đầu mà rơi trên mặt đất đúng như trong giấc mơ.

Maruja là người theo thuyết duy lý và thuyết bất khả chi luận - bà bằng lòng với tư tưởng cho rằng bức tượng đó chính là bà, trong một chương không thể nhớ được của bệnh mộng du, người nào đó đã gỡ cái vòng hào quang đó ra khỏi thần chết.

Thời gian đầu của cảnh tù đầy bà thấy tức giận về sự ngoan ngoãn phục tùng những tên gác của Marina, nhưng sau bà lại đồng cảm với số phận của cay đắng của bà, lại cổ vũ bà để sống. Bà hình dung ra một sức mạnh không có thật khi Beatriz bắt đầu mất trí, cần thiết duy trì sự cân bằng mỗi khi nỗi bất hạnh đè nặng lên số phận bà. Người nào đảm nhận chức chỉ huy để khỏi bị nhấn chìm, người đó chính là bà trong một khoảng không gian buồn thảm, hôi thối, chiều dài không quá 3m, chiều rộng 2,5m, bà phải ngủ trên mặt đất, ăn những thức ăn thừa của nhà bếp và cứ luôn sống trong tình trạng thấp thỏm không biết mình có sống đến giờ phút sắp tới hay không. Khi chỉ còn một mình bà ở trong phòng thì không có gì phải giả vờ nữa, chỉ có mình bà sống với chính mình.

Bà thắc mắc không biết Beatriz có nói với gia đình cách thức để chuyển tới bà những thông điệp qua tivi và radio, mà bà luôn chăm chú theo dõi. Quả nhiên, Villamizar đã xuất hiện vài ba lần với những lời nhắn nhủ cổ vũ, và những đứa con đã an ủi bà với chính hình ảnh và những lời nói đáng yêu của chúng. Thế rồi, không được báo trước, đột nhiên mọi sự tiếp xúc qua tivi và radio bị cắt đứt suốt hai tuần lễ. Khi đó bà bị phong tỏa bởi một cảm giác rằng mình đã bị bỏ rơi. Bà bị quỵ, lại trở lại những buổi đi tập. Bà ngồi úp mặt vào tường, xa lánh mọi người, ăn uống chỉ đủ để khỏi chết đói. Bà lại trở lại với những cảm giác đau đớn như hồi tháng 12, bị chuột rút, đau buốt ở chân, cần được bác sĩ khám. Nhưng lần này bà không biết kêu cùng ai. Những người gác, bị mắc míu vào những sự xung đột cá nhân và sự bất hòa nội bộ, không quan tâm gì tới bà. Bữa ăn luôn nguội lạnh, cả người quản gia và vợ ông ta đều không biết gì.

Những ngày rất dài và buồn thảm. Cứ như thế cho tới lúc đôi khi làm bà nhớ lại những ngày đau khổ đầu tiên, không muốn sống nữa. Bà khóc. Một buổi sáng, khi tỉnh dậy bà sợ hãi nhân ra rằng tay phải bà tư nhiên giơ lên. Sự phát hiện của những người gác hồi tháng hai là đúng lúc. Để thay thế cho toán của Barabas, họ cử tới 4 thanh niên mới, đứng đắn, có kỷ luật và hay chuyện. Họ có cách cư xử tốt, cởi mở, do đó Maruja cảm thấy nhẹ nhõm. Thoạt đầu họ mời bà chơi bài và những trò chơi giải trí khác trên vô tuyến. Qua những trò chơi làm cho họ gần nhau hơn. Ngay từ đầu bà nhận ra rằng giữa bà và những người gác có tiếng nói chung, dễ dàng nói chuyện với nhau. Rõ ràng họ được chỉ thị để khắc phục sự chống đối của bà, động viên tinh thần bà bằng cách đối xử tử tế khác với cách đối xử thô bạo của những người gác trước. Trước hết họ thuyết phục bà, theo lời khuyên của bác sĩ, bà nên tiếp tục đi bộ ở trong vườn, hãy nghĩ tới chồng tới con, không nên buồn phiền tuyệt vọng, bà sẽ sớm được gặp lại chồng con vẫn mạnh khỏe. Nói chung bầu không khí thuận lợi cho việc nghỉ ngơi. Bà có ý thức rằng chính những người gác cũng là những người tù. Có thể họ cũng cần đến bà. Maruja kể cho họ nghe về những kinh nghiệm của bà trong việc nuôi dậy ba cậu con trai đã tới tuổi vị thành niên. Bà kể những câu chuyện có ý nghĩa trong việc nuôi nấng và giáo dục chúng, những thói quen và những sở thích của chúng. Những người gác cũng tin yêu bà hơn, họ kể với bà về cuộc sống của chính họ. Tất cả đều có bằng tú tài, một trong số họ đang học hàm thụ ở trường đại học. Trái với những người gác trước, họ nói gia đình học thuộc giai cấp trung lưu, bằng cách này hay cách khác gia đình họ chịu ảnh hưởng nền văn hóa của các làng xã của Medellin. Người lớn nhất trong số họ mới 24 tuổi, anh ta nên là Hormiga, anh ta cao ráo, dáng điệu hiên ngang, tính tình kín đáo. Anh phải bỏ dở việc học hành tại trường đại học khi bố mẹ anh bị chết do tai nạn giao thông. Không có lối thoát nào khác nên phải lao vào con đường làm nghề đâm thuê chém mướn. Một người khác tên là Tiburon, anh kể rằng anh đã thi xong bán phần tú tài, anh đe dọa những giáo sư của mình bằng một khẩu súng đồ chơi. Anh là người vui tính nhất trong cả đội gác, mọi người đều gọi anh với cái tên Trompo (con quay), đúng anh giống như một con quay thật. Anh rất béo, chân ngắn, mảnh dẻ có vẻ dễ gẫy, anh ham thích nhẩy múa đến mức điên loạn. Đôi khi người ta đặt chiếc máy ghi âm một băng nhạc nhẩy điệu salsa sau bữa ăn sáng, anh nhẩy liên tục với khí thế cuồng nhiệt cho tới khi hết tua. Người ưa chuộng hình thức nhất là một chàng trai, con một bà giáo trường làng, ham đọc sách báo và là người am hiểu và nắm vững tình hình đất nước hiện nay. Anh chỉ có một lời giải thích tại sao anh phải sống trong hoàn cảnh này.

“Vì rất chévere” (?)

Tuy nhiên, cũng như Maruja ngay từ đầu bà thấy họ không phải là những con người vô cảm trong cách cư xử với con người.

Về điều đó, họ không chỉ truyền cho bà khí thế mới để sống, mà cả sự khôn ngoan để chiếm ưu thế mà có thể chính những người gác không nhìn thấy trước.

- Thế các anh không tin rằng tôi có thể sẽ làm điều gì đó điên rồ với các anh à - bà nói với người gác. Các anh cứ yên tâm, tôi sẽ không làm điều gì đã cấm, vì tôi biết rằng việc này sớm hay muộn cũng sẽ kết thúc một cách tốt đẹp. Khi đó mọi sự cấm đoán của các anh đối với tôi sẽ trở nên vô nghĩa. Với sự tự quản mà không có người gác trước nào đó - kể cả những người chỉ huy - những người gác mới dám nới lỏng chế độ nhà tù hơn cả những điều Maruja mong đợi. Họ để bà được tự do đi lại trong phòng, được nói to, được đi nhà vệ sinh bất cứ lúc nào không theo giờ quy đinh. Những người gác mới đem đến cho bà một khí thế mới để tự bà chăm sóc bà, nhờ những kinh nghiệm ở Jakarta, dựa vào lợi thế của một bài thể dục dành cho bà, một huấn luyện viên hướng dẫn bà qua chương trình của Alexandra, mà tên bài tập giống như một tên riêng: bài tập thể dục trong khoảng không gian chật hẹp, điều đó đã làm bà phấn khởi. Một trong số những tên gác hỏi bà với vẻ ngờ vực: “Phải chăng trong chương trình này có điều gì nhắn nhủ tới bà?” Rất khó khăn Maruja mới thuyết phục anh ta được, rằng không có điều gì nhắn nhủ tới bà.

Trong những ngày ấy có một sự việc làm bà xúc động trước việc xuất hiện bất ngờ tại Colombia nhóm Reclama, họ không chỉ hiểu rõ và hành động tốt mà họ cũng đến rất đúng lúc để cổ vũ tinh thần cho những con tin cuối cùng. Bà cảm thấy nhất trí và gần gũi họ nhiều hơn. Bà nghĩ rằng họ đã làm như mở một chiến dịch vận động quyên góp thuốc men, huy động dư luận quần chúng, tới mức bà đã đánh cược với những người gác xem ai sẽ xuất hiện trên màn ảnh nhỏ vào ngày hôm sau. Một lần bà đánh cược rằng Vicky Hernander, một nghệ sĩ lớn, người bạn thân của bà sẽ xuất hiện trên vô tuyến, bà đã thắng cuộc. Một giải thưởng lớn, dầu sao đi nữa, chỉ một việc được trông thấy Vicky và nghe thấy tiếng nói của bà cũng làm cho bà có những giây phút hạnh phúc trong khi bị giam cầm.

Những cuộc đi bộ ở trong vườn cũng đến lúc đem lại kết quả. Con chó săn Đức, nó tỏ vẻ vui mừng khi nhìn thấy bà, nó định chui xuống dưới cái cổng lớn để ra chơi với bà, bà âu yếm vuốt ve nó để nó im lặng, vì bà sợ nó cất lên tiếng sủa sẽ làm cho những người gác ngờ vực Marina đã cho bà biết chiếc cổng lớn ăn thông với nơi nhốt những con cừu và gà. Maruja thấy rõ qua cái nhìn lướt qua dưới ánh trăng. Tuy nhiên, khi đó bà cũng thấy có một con người được vũ trang bằng khẩu súng săn đang đứng gác ở ngoài hàng rào. Dự án định trốn thoát với khó khăn do con chó đã được gạt bỏ.

Ngày 20 tháng hai - khi cuộc sống như đã lấy lại được nhịp điệu - đài phát thanh đưa tin, tại một chuồng gia súc ở Medellin người ta vừa phát hiện ra xác của bác sĩ Conrado Prisco Lopera, là em họ của người chỉ huy một băng đảng, đã mất tích trước đó hai ngày. Người em họ của ông, Edgar de Jesus Botero Prisco, đã bị giết trước đó 4 ngày. Không có ai trong số hai người có tiền án tiền sự. Bác sĩ Priscos Lopera là người đã chữa bệnh cho Juan Vitta, với chính tên mình và không mang mặt nạ. Maruja đã hỏi ông có phải là bác sĩ đã tới khám bệnh cho bà ngày hôm trước, khi đó ông mang mặt nạ.

 Cũng giống như cái chết của anh em Priscos hồi tháng giêng. Những cái chết này đã gây ra một ấn tượng mạnh mẽ trong những người gác và làm cho người quản gia và gia đình ông ta lo lắng. Ý nghĩ cho rằng tập đoàn ma túy sẽ đòi cái chết một người của họ bằng một mạng sống của một người bị bắt cóc như đã xẩy ra với Marina Montoya, hắn đã xông vào phồng ở của Marina như một bóng ma. Ngày hôm sau viên quản gia không có lý do gì đã xông vào phòng bà vào giờ bất thường.

- Bà cứ yên tâm - hắn nói với Maruja, có một việc rất nghiêm trọng, từ tối hôm qua có một con bướm tới đậu ở cửa vườn.

Maruja không mê tín vào những gì mà mắt bà không nhìn thấy, bà không hiểu anh nói với bà điều ấy với ý nghĩa gì. Viên quản gia giải thích hiện tượng đó với sự tính toán khủng khiếp.

- Tức là khi họ giết anh em nhà Priscos đã xẩy ra một hiện tượng đúng như vậy: một con bướm đen tới đậu ở cửa nhà tắm suốt ba ngày. Maruja nhớ lại những linh cảm đen tối của Marina, nhưng bà không hiểu.

- Nhưng điều đó có ý nghĩa gì? - bà hỏi.

- Tôi không biết - người quản gia nói - nhưng có thể đó là một điềm báo rất xấu, vì khi đó họ đã giết chết Marina.

- Thế con bướm hiện nay là một con bướm đen hay bướm nâu? Maruja hỏi người quản gia.

- Màu nâu - người quản gia nói.

- Vậy thì tốt - Maruja nói - những con bướm của điềm báo xấu là những con bướm màu đen.

Người quản gia nói chuyện đó có ý muốn làm cho bà sợ, nhưng không thực hiện được. Maruja hiểu rõ chồng mình, cách suy nghĩ và cách ứng xử của ông, không tin rằng ông có thể nhầm lẫn đến mức mất ngủ chỉ vì một com bướm. Trước hết, bà biết rằng cả chồng bà và Beatriz không để lộ bất kỳ tin tức nào để có thể dẫn tới một ý định giải thoát con tin bằng vũ lực. Tuy nhiên, bà đã quen diễn giải cá tính bốc đồng như là một biểu hiện của thế giới bên ngoài, không loại trừ 5 người trong cùng một gia đình bị chết trong một tháng có những hậu quả khủng khiếp cho hai người bị bắt cóc cuối cùng.

Có dư luận cho rằng quốc hội tỏ vẻ nghi ngờ về việc dẫn độ, trái lại, cần phải đấu dịu với những kẻ có thể bị dẫn độ. Ngày 28 - 2 tổng thống Gaviria trong cuộc đi thăm chính thức Hoa kỳ, ông đã tuyên bố duy trì việc dẫn độ với bất cứ giá nào nhưng không gây ra sự náo động trong dư luận: vấn đề không dẫn độ là một tình cảm dân tộc đã ăn sâu trong nhân dân không cần phải mua chuộc mà cũng chẳng cần phải hăm dọa để áp đặt.

Maruja chăm chú theo dõi những sự kiện đó, trong một vòng luẩn quẩn giống như sự lặp lại của một ngày. Đột nhiên trong lúc bà đang chơi domino với những người gác, Trompo kết thúc ván bài và thu dọn những con bài.

- Ngày mai chúng ta sẽ đi - anh nói.

Maruja không muốn tin vào điều anh vừa nói, nhưng người con trai của một bà giáo khẳng định điều đó.

- Tôi nói nghiêm chỉnh đấy - ngày mai nhóm của Barrabas sẽ tới. Đây là sự mở đầu cái mà Maruja cần phải nhớ lại như một tháng ba đen tối. Cũng như đối với những người gác hình như họ được huấn luyện để làm dịu đi hình phạt, và không nghi ngờ gì, những người khác tới là những người được huấn luyện để đưa bà trở lại cuộc sống không thể chịu đựng nổi. Chúng xông vào phòng bà như một cơn động đất Monje, cao, rất gầy, vẻ mặt u sầu và tưởng đây là lần cuối cùng. Những tên khác, những người cũ, như thể không khi nào họ đi khỏi nơi này. Barrabas với vẻ kiêu căng như một anh hùng hảo hớn trong cine, ra lệnh cho những tên khác xem có gì cất dấu không, chúng giả vờ tìm cốt để khủng bố tinh thần nạn nhân. Chúng bới tung những thứ trong phòng một cách tàn bạo. Chúng tháo tung chiếc giường, rạch thủng những chiếc đệm moi tìm ở phía trong, sau chúng lại nhồi bông vào nhưng không thể nào nằm ngủ trên chiếc đêm có nhiều nút gồ ghề như vậy.

Cuộc sống hàng ngày lại quay trở lại như cũ, những tên gác lúc nào cũng cầm súng lăm lăm trong tay luôn sẵn sàng nhả đạn nếu không thực hiện đúng mệnh lệnh của chúng. Barrabas nói với Maruja nhưng vẫn dí nòng khẩu tiểu liên vào đầu bà. Còn bà, cũng như mọi khi, bà dọa sẽ báo cáo lên cấp trên của hắn.

- Có phải tôi sẽ chết một mình? Vì họ trao cho ông có một viên đạn - bà hỏi.

- Bà hãy im, không được hỏi, không được kêu ca.

Lần này phương sách đó cũng chẳng làm gì được bà. Tuy nhiên, rõ rằng sự lộn xộn không phải là một mối đe dọa mà cũng không phải là sự tính toán, mà bản thân nó là một hệ thống bị ruỗng nát từ bên trong do sự mất tinh thần về bản chất. Đến cả những xích mích giữa người quản gia và Damaris cũng xảy ra thường xuyên, với nhiều màu sắc, đã trở thành đáng sợ. Anh ta ở phố trở về bất kỳ giờ nào - nếu về - luôn u mê vì say rượu và phải đương đầu với những lời chửi bới tục tĩu của vợ. Bất kỳ lúc nào người ta cũng có thể nghe thấy tiếng chửi bới la hét của hai vợ chồng và những tiếng kêu khóc nức nở của những đứa con, om sòm cả nhà. Những người gác chế giễu họ bằng cách bắt chước những cử chỉ của họ như diễn viên trên sân khấu lại làm tăng thêm sự xung đột. Có một điều không thể hiểu được là trong lúc vợ chồng viên quan gia cãi nhau ầm ỹ không thấy có ai tới can hoặc chỉ vì tò mò.

Do sự can ngăn của Maruja nên vợ chồng viên quản gia đã bớt cãi nhau. Damaris vì sự ghen tuông có lý nên không phút nào để cho chồng được yên ổn. Còn người chồng thì tìm mọi cách buộc vợ phải im mồm không buông ra những lời chửi bới. Nhưng những lời khuyên can của Maruja cũng không kéo dài đến khi viên quản gia ra đi. Một trong số rất nhiều lần cãi nhau Damaris đã cào vào mặt chồng bằng những móng tay sắc như móng của mèo nên đã để lại những vết sẹo trong thời gian rất lâu. Người chồng nổi cáu đã ném mụ vợ qua cửa sổ, nhưng may mà không chết vì kịp bám tay vào ban công trông ra vườn. Đến đây thì kết thúc, Damaris chuẩn bị va ly, cùng những đứa con bỏ nhà đi Medellin.

Chỉ còn một mình viên quản gia ở nhà một mình, đôi khi đi suốt cả ngày, đến tối mới thấy xuất hiện với chai sữa chua và gói khoai tây rán, Họa hoằn mới mang về một con gà. Quá mỏi mệt vì phải chờ đợi lâu, những người gác đã vơ vét hết thức ăn ở trong bếp. Khi trở về phòng hắn mang cho Maruja mấy chiếc bánh khô thừa và vài mẩu xúc xích sống. Sự nhàm chán của cuộc sống đã trở nên rõ ràng và nguy hiểm hơn. Hắn nói lảm nhảm chống lại bố mẹ, chống lại cảnh sát và chửi cả xã hội. Hắn tự kể ra những tội ác vô ích của hắn, xổ ra những lời nhạo báng để thử xem có Chúa thật không, đã tới cực điểm của sự điên rồ qua những câu chuyện kể về những chiến công tình dục của họ. Một tên đã mô tả một trong số những sai lầm mà hắn đã phạm phải với một trong số những người tình của hắn để trả thù những lời chế giễu và nhục mạ hắn. Vì lòng hận thù và không tự kiềm chế được nên cuối cùng đã tự đầu độc mình bằng nha phiến, tới lúc hầu như không thể thở được vì bầu không khí đậm đặc ở trong phòng. Họ mở đài to hết cỡ, ra vào đẩy cửa ầm ầm, họ nhảy múa, hát, chạy ở ngoài vườn. Một trong số những tên gác giống như một người làm trò ảo thuật chuyên nghiệp tại một rạp xiếc. Maruja đe dọa họ nếu cứ tiếp tục lộn xộn như vậy bà sẽ tìm cách làm cho cảnh sát chú ý.

- Bà hãy mời họ tới đây giết chết chúng tôi đi - họ đồng thanh hát.

Maruja cảm thấy đã tới giới hạn không thể nào chịu đựng hơn được nữa, trước hết do sự điên loạn của Barrabas, hắn thấy khoái mỗi lần dí nòng khẩu tiểu liên vào thái dương để đánh thức bà. Tóc bà bắt đầu rụng, chiếc gối đầy những sợi tóc rụng, làm bà chán nản, từ khi nhắm mắt tới khi trời sáng. Bà biết những người gác có những cá tính khác nhau nhưng đều có một yếu điểm chung là sự bấp bênh và nghi ngờ lẫn nhau. Maruja tức điên lên và thấy lo ngại cho cuộc sống hiện tại. “Làm sao họ có thể sống như vậy được?” - bà tự hỏi. Rồi đột nhiên bà hỏi họ: “Các anh tin vào cái gì? - các anh còn chút tình bạn nào không?” Trước khi có phản ứng, họ đánh trống lảng. Chữ bướng bỉnh đối với các anh có ý nghĩa gì không?” Họ không trả lời, nhưng những câu mà họ tự trả lời mình phải là những câu đáng lo ngại, vì thay cho sự phản đối thì họ lại phải khuất phục trước Maruja. Chỉ có mình Barrabas dám đương đầu với bà.

- Những tên chuyên chế là cái cục cứt. - Hắn thét lên với bà một lần. Người ta tưởng rằng chúng sẽ vĩnh viễn cai quản đất nước này. Không, vĩnh viễn cái con cặc: đã kết thúc rồi. Maruja thấy thế rất sợ, bà và hắn cùng gặp nhau ở một điểm với cùng sự phẫn nộ.

- Các anh giết chết những người bạn của các anh, và những người bạn các anh giết chết các anh, tất cả kết thúc bằng việc chém giết chết các anh, tất cả kết thúc bằng việc chém giết lẫn nhau - bà thét lên. Ai hiểu điều đó. Hãy mời tới đây một người nào đó để giải thích cho tôi hiểu các anh là loại súc vật nào.

Thất vọng, có thể vì không thể giết được bà nên Barrabas đập mạnh tay vào tường làm bị thương những đốt xương ở bàn tay. Hắn thét lên một cách man rợ rồi bật ra tiếng khóc căm giận. Maruja không muốn để hắn đấu dịu với mình chỉ vì lòng thương hại. Đến chiều viên quản gia tới ra sức làm lành với bà, hắn đã cố gắng một cách vô ích bằng cách cải thiện bữa ăn tối.

Maruja tự hỏi làm sao có thể có sự nhầm lẫn tương tự mà họ vẫn tiếp tục tin rằng có một ý nghĩa nào đó trong những cuộc nói chuyện thì thầm, việc giam giữ ở trong phòng và việc cung cấp cho bà chiếc đài và chiếc vô tuyến là vì lý do an ninh. Quá mệt mỏi vì sự điên rồ đó Maruja đã nổi dậy chống lại những luật lệ phi lý của cuộc sống tù đầy, bà nói to hơn bình thường, đi nhà vệ sinh khi nào thấy mót. Trái lại, mối lo sợ về một cuộc xâm phạm tình dục mỗi lúc một tăng, trước hết khi tên quản gia để bà ở lại phòng một mình cùng với hai tên gác. Một buổi sáng tấn bi kịch đã xảy ra khi một tên gác mang mặt nạ xông vào nhà tắm khi bà trần truồng đang sát xà phòng dưới chiếc vòi tắm. Maruja chỉ kịp lấy chiếc khăn mặt bông che kín người và thét toáng lên làm mọi người trong nhà đều nghe tiếng. Tên gác đứng ngây người ra như phỗng, rất sợ vì những người hàng xóm đã nghe thấy, nhưng không có ai tới, không nghe một tiếng thở dài, tên gác kiễng chân đi giật lùi ra khỏi nhà tắm như thể hắn đi nhầm cửa.

Viên quan gia bất ngờ xuất hiện cùng một người đàn bà khác đảm nhiệm việc cai quản ngôi nhà. Đáng lẽ họ phải xem xét, chấn chỉnh việc lộn xộn, thì cả hai lại làm cho căn phòng lộn xộn hơn. Người đàn bà giúp đỡ ông ta trong những cơn say túy lúy, mà thường kết thúc bằng những cú đấm đá và sự đập phá. Những giờ ăn trở nên thất thường. Những ngày chủ nhật vợ chồng viên quản gia đi kiếm cái ăn riêng, để Maruja và những tên gác phải nhịn đói, chẳng có gì ăn cho tới ngày hôm sau. Một buổi sáng, trong lúc một mình Maruja đi trong vườn, 4 tên gác vào lục soát trong bếp, để lại khẩu tiểu liên ở trong phòng. Một ý nghĩ thoáng qua làm bà run lên. Bà vừa nhấm nháp vừa nói chuyện với con chó, bà vuốt ve nó, nói thì thầm với nó. Con chó tỏ vẻ vui mừng, liếm vào tay Maruja với tiếng gầm gừ. Tiếng thét của Barrabas đã làm bà tỉnh cơn mê. Hóa ra đó chỉ là một ảo tưởng, họ thay con chó đó bằng một con chó khác có dáng như một tên đao phủ. Họ cấm bà không được đi bộ trong vườn, Maruja được đặt dưới chế độ giám sát thường xuyên. Điều làm bà sợ nhất lúc đó là bị xích chân vào cột giường bằng một chiếc xích mà Barrabas bọc ngoài bằng một lớp nylon giống như một chuỗi tràng hạt bằng sắt. Maruja luôn đoán được mọi dự định của chúng.

- Nếu như tôi muốn trốn khỏi nơi đây thì tôi đã trốn từ lâu rồi, bà nói. Đã vài ba lần chỉ có mình tôi ở lại đây, sở dĩ tôi không trốn vì tôi không muốn trốn.

Do một người nào đó nói lại nên những lời phàn nàn của Maruja đã tới tai tên quản gia, một buổi sáng hắn tới phòng bà với thái độ nhã nhặn rất đáng ngờ, hắn nói những lời xin lỗi. Hắn rất xấu hổ, từ nay về sau những người gác sẽ đối xử với bà tử tế hơn, hắn cũng cho bà biết tin vợ hắn đã trở về. Như vậy là Damaris đã vĩnh viễn trở về cùng hai cô con gái, mặc váy ngắn giống những người lính thổi kèn xứ Xcốt-len và đeo những chiếc kính rất đáng ghét, Ngày hôm sau hai người chỉ huy trở lại, cũng với thái độ như vậy, họ mang mặt nạ, cho mỗi tên gác mấy cái bạt tai, đưa mọi việc trở lại trật tự nề nếp: “Chúng mày sẽ không khi nào trở lại đây” một trong những tên chỉ huy nói với những tên gác với vẻ kiên quyết đáng sợ. Nói là làm. Chính buổi chiều hôm ấy nhóm thanh niên có bằng tú tài đã trở lại và đem về sự yên tĩnh như hồi tháng hai: thời gian chậm chạp, họ mang tới những tạp chí đủ loại, những bản nhạc của Guns Roses, và những bộ phim của Mel Gibson với những băng giết người thuê, mình săm đầy những hình trái tim.

Đối với Maruja, bà cảm động khi thấy những tên giết người thuê còn trẻ măng, chúng nghe lời bà và bà xem chúng như con mình,

Cuối tháng ba, không có sự báo trước nào, xuất hiện hai người lạ mang mặt nạ do những người gác cho mượn để không lộ mặt khi nói. Một trong hai người đó không chào hỏi ai, bắt đầu đo kích thước sàn nhà bằng một chiếc thước vải của thợ may, trong khi đó người khác ra sức tranh thủ cảm tình của Maruja.

- Thưa bà, tối rất hân hạnh được quen biết bà, chúng tôi tới để chuẩn bị trải thảm cho căn phòng này.

- Trải thảm cho căn phòng! Bà Maruja thét toáng lên vì tức giận. Các anh hãy cút đi! Điều mà tôi muốn là các anh phải rời khỏi đây - ngay bây giờ.

Dẫu sao chăng nữa thì điều đáng buồn nhất không phải là chuyện cái thảm, mà cái đó có nghĩa là thời gian trả lại tự do cho bà sẽ kéo dài vô tận. Một tên gác sau đó nói rằng, chính Maruja đã hiểu lầm, như vậy có nghĩa là có thể bà sẽ được trả lại tự do sớm hơn, việc sửa sang căn phòng là để đón những con tin mới quan trọng hơn. Nhưng Maruja thì cứ khăng khăng cho rằng một cái thảm trong thời điểm đó chỉ có thể hiểu là việc giam giữ bà sẽ kéo dài thêm một năm nữa.

Pacho Santos cũng cần phải tìm mọi cách để những tên gác luôn bận, vậy khi đã ngán chơi bài, xem 10 lần cùng một bộ phim nói về chiến công của những chàng trai, ông đi vòng quanh trong phòng như con sư tử bị nhốt trong chuồng. Qua những lỗ thủng của miếng vải che mặt những tên gác, ông nhìn thấy những con mắt đỏ vì giận dữ. Điều duy nhất cần thiết đối với họ khi đó là nghỉ ngơi một số ngày, tức là lao vào rượu chè, nghiện hút liên miên trong suốt một tuần lễ, nhưng khi trở về họ tồi tệ hơn. Trong khi làm việc nghiêm cấm không được dùng ma túy, nhưng những tên cùng cánh luôn có cách đánh lừa sự theo dõi của cấp trên. thứ mà họ thường xuyên hút là marthuana, nhưng những lúc khó khăn, trong một số trường hợp họ phải dùng bazuco, làm họ sợ có thể xảy ra bất kỳ sự bất trắc nào. Một tên gác, sau một đêm ăn chơi phóng đãng ở ngoài phố, hắn xông vào phòng đánh thức Pacho tới tiếng kêu thất thanh, Ông thấy mặt con quỷ áp gần sát mặt mình, nhìn thấy cặp mắt đuôi ngựa thò ra từ hai lỗ tai, cảm thấy mùi chất lưu huỳnh của địa ngục. Đó là một tên gác muốn kết thúc cuộc liên hoan với ông: “Thế ông không biết tôi là một tên cướp à? Hắn vừa nói vừa tu liền hai hớp rượu vào sáu giờ sáng.

Hai giờ sau hắn kể cho ông nghe về cuộc đời hắn mặc dầu ông không yêu cầu, nhưng vì lòng hăng hái không thể kiềm chế được nên hắn đã kể. Cuối cùng hắn bị say mềm, nếu khi đó Pacho không trốn là vì đến giờ phút cuối cùng ông không có đủ dũng khí

Trong thời gian bị giam giữ, tài liệu có tác dụng cổ vũ nhất mà ông được đọc là những bài in trên báo El Tiempo chỉ dành riêng cho ông, theo sáng kiến của Maria Victoria. Một trong những bài báo đó có kèm theo bức ảnh ông chụp gần đây nhất cùng các con, ông đã viết cho vợ con bức thư đầy nhiệt tình, ông kể cả sự thật khủng khiếp mà ông đang phải chịu đựng, mà những người chưa từng trải qua cảnh sống như thế thì cho là những chuyện vô lý và lố bịch.

“Hiện nay tôi đang ngồi ở trong phòng, chân bị xích vào chân giường, tràn đầy nước mắt”. Từ đó ông viết cho vợ con một loạt bức thư với tình cảm nồng nàn thắm thiết nhưng không khi nào có thể gửi được.

Sau cái chết của Marina và Diana, Pacho đã mất hết hy vọng, khi có thời cơ có thể trốn thoát thì ông đã bỏ qua. Ông tin chắc rằng ông hiện đang bị giam giữ tại một căn phòng ở một trong những khu phố gần đại lộ Boyaca, ở phía tây thành phố. Ông rất quen biết nơi này, ông thường qua lại đây để đi từ tòa báo về nhà vào những giờ có nhiều xe cộ và cũng là hướng ông đã đi qua trong đêm bị bắt cóc. Phần lớn những tòa nhà ở khu vực này là những khối nhà ở theo sê - ri, những ngôi nhà đều giống nhau: một cửa vào thẳng ga-ra, một thửa vườn nhỏ, tầng hai nhìn ra đường, tất cả cửa sổ đều được bảo vệ bằng những lồng sắt sơn mầu trắng. Hơn nữa, trong một tuần lễ ông đã xác định được khoảng cách từ nơi ông bị giam giữ tới cửa hàng bánh cuốn (pizza) và một nhà máy, nhất định đó là nhà máy bia Eavaria. Một chi tiết làm lạc hướng, đó là một con gà trống điên, lúc đầu nó gáy vào bất kỳ giờ nào, trải qua mấy tháng sau nó gáy vào cùng giờ ở những địa điểm khác nhau: đôi khi nó gáy và hồi 3 giờ chiều, đôi khi nó gáy ngay gần cửa sổ vào hồi hai giờ sáng. Điều dễ nhầm lẫn nữa như Maruja và Beatriz đã nói là nghe thấy tiếng gà gáy ở nơi rất xa. Ở cuối hành lang, bên phải căn phòng có thể nhảy xuống một thửa vườn nhỏ đóng kín, sau đó có một bức tường thấp bậc thang chằng chịt những dây keo lên một cây có nhiều cành không rõ phía sau bức tường thấp có gì không, có thể có một ngôi nhà nhỏ ở góc đường thông ra phố. Như vậy chắc chắn phố có cửa hàng thực phẩm, hiệu thuốc tây, và xưởng sửa chữa ô tô. Tuy nhiên, đây có thể là một yếu tố tiêu cực, có thể đây là một màn kịch do những tên bắt cóc sắp đặt. Một lần Pacho thấy bên kia bức tường có một cuộc tranh luận về bóng đá, không nghi ngờ gì, trong số những người tham gia cuộc tranh luận có hai người canh giữa ông. Dầu sao đi nữa, lối ra qua bức tường thấp khá dễ dàng, những phần còn lại thì không thể nói trước được. Rõ ràng nơi có nhiều khả năng tốt nhất để trốn thoát là phía nhà xí, cơ hội thuận tiện nhất là khi đi vệ sinh nhưng không phải mang xích.

Tốt hơn hết là cuộc trốn phải tiến hành vào ban ngày, vì không khi nào ông đi vệ sinh sau khi đã đi nằm, nếu còn thức thì xem tivi hoặc viết thư ở trên giường, nếu không có thể bị phát hiện khi trốn. Ngoài ra, những cửa hàng ở ngoài phố đóng cửa rất sớm, nhân dân thường đi ngủ, sau khi xem bản tin 7 giờ và 10 giờ. Vào giờ đó không có bóng người ở khu vực xung quanh. Hơn nữa, vào những đêm thứ sáu ở Bogota rất ồn ào, chỉ nghe thấy nhịp thở hổn hển của nhà máy bia hoặc tiếng còi inh tai của những xe cấp cứu rẽ vào đại lộ Boyaca. Ngoài ra, về ban đêm rất khó tìm một nơi ẩn nấp ngay lập tức ở những đường phố vắng bóng người những cửa hàng và những ngôi nhà đã đóng kín cửa bằng khóa và chốt, đề phòng cẩn mật những bất trắc có thể xảy ra về ban đêm.

Tuy nhiên, ngày 6-3 đã xuất hiện thời cơ hơn bao giờ hết, về ban đêm. Một tên gác mang vào phòng một chai rượu mời ông uống một chén trong lúc trên tivi đang có chương trình ca nhạc của nghệ sĩ Tây Ban Nha nổi tiếng Julio Iglesias. Pacho chỉ uống một hớp cho tên gác vừa lòng. Người gác này đến phiên gác từ chiều nay, trước đó anh ta đã uống nhiều rượu nên lúc tới anh đã say mềm trước khi uống hết chai rượu. Khi đó chân Pacho không bị xích, nhưng ông rất buồn ngủ nên không thấy cơ hội nghìn năm có một. Những lần ông đi nhà vệ sinh về ban đêm luôn có một người gác đi kèm, nhưng lần này anh ta không muốn làm rối loạn cuộc say sưa của anh ta. Ông bước ra hành lang tối đen như mực với vẻ ngơ ngác - chân không mang giầy dép, mặc quần đùi - ông nín thở đi qua căn phòng nơi những người gác khác đang ngủ. Một tên ngáy to như sấm. Cho tới khi đó Pacho cũng chưa có ý thức rằng mình đang trốn, ông không biết việc trốn thoát không phải là dễ. Một cơn cồn cào nổi lên từ dạ dầy, ông suýt bị nôn, ông cảm thấy lưỡi bị lạnh, tim thắt lại”. Không phải tôi sợ trốn, mà tôi sợ vì tôi không dám trốn”. - Sau này ông kể lại. Ông vào nhà vệ sinh tối đen như mực, ông đóng chặt cửa với lòng ngái ngủ, đẩy cửa nhà vệ sinh bước vào, soi đen pin vào mặt ông. Cả hai đều hốt hoảng.

- Ông đang làm gì ở đây?

Pacho trả lời hắn một cách rắn rỏi, bình tĩnh:

- Ỉa.

- Ngoài ra có định làm gì khác không? - tên gác lắc đầu, không hiểu hắn đang nghĩ gì.

- Okey, hắn nói. Vậy xin ông cứ tự nhiên. Chúc ông ỉa tốt.

Hắn đứng đợi ở ngoài cửa, bấm đèn pin soi vào nhà vệ sinh, không cử động đợi cho tới khi Pacho ỉa xong như thể ông mót đi vệ sinh thật.

Trong suốt cả tuần ông bị dày vò vì thất bại, ông quyết định trốn theo cách khác, có vẻ kiên quyết hơn những không thể lường trước được.

“Tôi lấy một lưỡi dao cạo râu, tôi cắt mạch máu đe dạo sẽ chết” - Ông nói. Ngày hôm sau, cha Alfonso Llanos Escobar viết cho báo El Tiempo một bài, gửi tới Pacho Santos, trong bài báo đó, nhân danh Chúa khuyên ông không nên tự tử, bài báo đó nằm trên bàn làm việc của Hernando Santos suốt ba tuần lễ, không rõ bài báo đó có được đăng hay không, không hiểu vì sao - và ngày hôm sau vào giờ chót ông quyết định cho in bài báo đó nhưng cũng không hiểu vì sao. Còn nữa, mỗi lần kể về chuyện đó, Pacho lại thấy bàng hoàng nhớ lại ngày đó.

Đầu tháng tư, viên chỉ huy phó tới thăm Maruja, hứa sẽ giúp đỡ để chồng bà gửi cho bà một bức thư mà bà đang cần như một liều thuốc cho cả tâm hồn và thể xác. Câu trả lời là không thể tưởng tượng được. “Không có vấn đề gì” Viên chỉ huy thứ hai ra đi lúc bẩy giờ tối. Đến mười hai giờ rưỡi, sau cuộc đi tập ở trong vườn trở về, người quản gia tới đập cửa phòng bà một cách khẩn cấp, cửa bà cài chốt bên trong, hắn trao cho bà bức thư. Không phải bức thư mà Villamizar đã gửi cho bà qua Guido Parra, mà là bức thư ông gửi qua Jorge Luis Ochoa, trong bức thư đó có kèm theo lời ghi chú của Gloria Pachon de Galan với lời an ủi. Ở ngoài lề bức thư đó, Pablo Esconar viết thêm những dòng sau đây:

“Tôi biết rằng đây là một điều khủng khiếp đối với bà và gia đình bà, chính bản thân tôi và gia đình tôi cũng phải chịu đựng nhiều đau khổ. Nhưng xin bà hãy cứ yên tâm, dầu sao chăng nữa tôi xin hứa với bà rằng, chẳng có chuyện gì xảy ra với bà đâu”. Kết luận bằng một tin bí mật nhưng Maruja cho rằng đó là một tin không chắc chắn: “Bà không nên bận tâm về những điều tôi đã nói với báo chí, tôi nói như vậy chỉ cốt để gây áp lực với chính phủ mà thôi”.

Trái lại, bức thư của chồng bà làm bà thêm chán nản vì quá bi quan. Ông nói với bà rằng mọi chuyện vẫn tiến triển tốt đẹp, nhưng không có đủ lòng kiên nhẫn, vì có thể phải chờ đợi rất lâu. Tất nhiên ông đã đọc lại trước khi trao bức thư. Villamizar kết thúc bằng một câu mà trong trường hợp này muốn nói với Escobar hơn là nói với Maruja: “Sự hy sinh của em hiến dâng cho nền hòa bình của Colombia”. Đọc xong bức thư Maruja thấy tức giận. Bà đã nhiều lần nhận được những lời nhắn nhủ như vậy mà Villamizar đã gửi cho bà từ trên không trung, bà đã trả lời với tất cả tâm hồn: “Hãy tìm mọi cách đưa em ra khỏi nơi đây, sau bấy nhiêu tháng không được soi gương, nay đứng trước gương, em không nhận ra mình là ai”.

Với bức thư đó ông có thêm lý do nữa để trả lời vợ rằng những chữ do chính tay ông viết với lòng kiên nhẫn và chẳng có lòng kiên nhẫn nào. Bà đã phải chịu đựng những đêm khủng khiếp làm bà giật mình tỉnh dậy do sự ám ảnh của cái chết.

Bà không biết đó là một bức thư đã cũ, viết trong khoảng thời gian giữa sự thất bại của việc tiếp xúc với Guido parra và những cuộc tiếp xúc đầu tiên với anh em nhà Ochoa, khi còn chưa có tia hy vọng nào. Không thể chờ đợi gì dù đó là một bức thư lạc quan, như có những ngày đã xác định được con đường để giải phóng bà.

May thay, sự hiểu lầm đã làm cho Maruja có ý thức rằng sự giận dữ của bà không phải vì bức thư mà cũng không phải vì mối hận thù cũ và vô thức chống lại chồng bà. Nếu ông là người điều khiển quá trình này thì tại sao chỉ cho phép trả lại tự do cho một mình Beatriz? Trong 19 năm vợ chồng chung sống không có thì giờ, không có lý do và không có dũng khí để nêu ra câu hỏi như câu hỏi này và câu trả lời chỉ là một, quay trở về với sự thật: bà phải chịu đựng cuộc bắt cóc vì bà tuyệt đối biết chắc chắn rằng chồng bà dùng mọi thời gian trong cuộc đời ông để giải thoát cho bà, và ông đã làm điều đó không một chút nghỉ ngơi và hơn nữa không hy vọng chắc chắn rằng bà biết việc làm đó của ông. Mặc dầu cả bà và cả ông đều không biết điều đó - một điều ước của tình yêu.

19 năm trước đây hai người quen biết nhau trong một cuộc họp công việc khi hai người đều là những nhà báo trẻ tuổi, “Alberto mê tôi” Maruja nói. Vì sao? Bà không phải suy nghĩ lâu: “Vì anh có vẻ bơ vơ”. Đó là câu trả lời ít suy nghĩ. Thoạt nhìn, Villamizar có dáng dấp điển hình của một sinh viên không hợp với thời đại, với bộ tóc dài tới vai, râu ria lởm chởm, chỉ có một chiếc áo sơ mi duy nhất nên chỉ giặt khi nào trời mưa. “họa hoằn tôi mới tăm” ngày nay ông nói lại chết cười.

Gặp lại lần thứ hai, tôi thấy anh ta là một tay chơi, một thiên tài táo tợn. Nhưng Maruja gặp anh lần thứ ba thấy anh là một chàng trai có thể ngây ngất trước sắc đẹp của một phụ nữ. Ngoài ra anh còn là một con người rất thông minh, nhạy cảm, đó là những đức tính anh có thừa, nhưng điều duy nhất mà anh thiếu để hoàn thiện một con người: một bàn tay sắt và một trái tim không thủy chung.

Khi có người hỏi vì sao anh yêu Maruja, Villamizar trả lời bằng một cái dặng hắng. Có thể, ở Maruja ngoài vẻ duyên dáng bề ngoài, không có những đức tính tốt khác để yêu. bà đã tới độ sung mãn ở tuổi 30, lấy chồng khi 19 tuổi theo đúng nghi thức nhà thờ công giáo, đã có 5 con với chồng trước, 3 gái 2 trai, mỗi con cách nhau 15 tháng. “Tôi đã kể với anh tất cả - Maruja nói - để anh biết rằng anh đang lao vào một bãi mìn”. Anh nghe Maruja nói với tiếng gầm gừ, lẽ ra anh mời chị đi ăn trưa thì anh lại đề nghị một người bạn mời cả hai người. Ngày hôm sau anh mời Maruja và người bạn, ngày thứ ba anh chỉ mời một mình Maruja, ngày thứ tư hai người gặp nhau nhưng không đi ăn trưa cùng. Cứ như thế hàng ngày họ gặp nhau với ý định tốt đẹp. Khi hỏi Villamizar anh có yêu Maruja thật không hay chỉ thích ngủ với chị, anh nói với giọng tỉnh lẻ: “Không nên đùa, đây là vấn đề nghiêm túc” Có thể chính anh cũng không thể hình dung đã đi tới đâu.

Maruja có một cuộc sống vợ chồng không bất ngờ, giữa hai người không có ai là hoàn hảo, nhưng có thể vì đều cần một chút cảm hứng và sự liều mạng mà chị cần để cảm thấy rằng mình hãy còn sống. Đối với Villamizar chỉ sống tự do với lý do bận công việc ở cơ quan. Bà bịa đặt ra những công việc, bao gồm cả những ngày thứ bẩy từ 12 giờ trưa tới 10 giờ đem. Những ngày chủ nhật và ngày hội họ bầy vẽ ra những cuộc liên hoan thanh niên, những hội nghị nghệ thuật, những câu lạc bộ chiếu bóng tới tận nửa đêm, bất kỳ cái gì miễn là để hai người luôn được ở bên nhau.

Đối với anh không có vấn đề gì: anh còn son rỗi và luôn sẵn sàng, sống theo cách sống của mình, ăn những món ăn đặt sẵn, có nhiều người yêu vào ngày thứ bẩy, nhưng cũng như không có người yêu nào.

Chỉ còn thiếu môn thi cuối cùng là anh trở thành bác sĩ phẫu thuật như cha anh, nhưng đối với anh thời gian tốt nhất là để sống một cuộc sống hơn là để chữa bệnh cho những người ốm. Tình yêu bắt đầu đưa anh tới những vũ điệu boleros, chấm dứt với những bộ xương ướp mùi thơm đã giữ bốn thế kỷ, những sê-rê-nát buồn đến rơi nước mắt, những chữ kết tên được thêu vào những chiếc khăn tay, những lời nói ngọt ngào, những lần xem phim vào những buổi chiều vắng khách lúc ba giờ, cả thể giới đều cuồng nhiệt chống lại cái chết do sự cuồng nhiệt vui vẻ của nhóm Beatles.

Năm họ quen biết nhau, họ tới chung sống với nhau cùng những đứa con riêng của Maruja tại một căn hộ 100 mét vuông. “Đó là một thảm họa” - Maruja nói. Bà có lý: Họ sống trong tình trạng luôn xảy ra những cuộc cãi vã tất cả chống lại tất cả, những tiếng kêu loảng xoảng của bát đĩa vỡ và những sự ghen tuông của trẻ con và người lớn. “Đôi lúc tôi căm thù anh, muốn anh chết đi” - Maruja nói. “Và tôi cũng ghét, căm thù bà ta” - Villamizar nói. “Nhưng chỉ năm phút thôi” - Maruja mỉm cười. Đến tháng mười năm 1971 họ làm lễ cưới tại Urena, Venezuela, như thêm một lỗi nữa của cuộc đời, vì từ ly hôn không tồn tại và rất ít người tin vào sự hợp hiến của việc ly hôn. Sau 4 năm họ sinh cậu con trai Andres, đứa con duy nhất của hai người, những va chạm vẫn còn tiếp tục nhưng cả hai người đều thấy ít đau khổ hơn: cuộc sống chỉ cho họ thấy rằng hạnh phúc của tình yêu không phải chỉ để thỏa mãn với cái đó mà ở chỗ sướng khổ cùng có nhau.

Maruja là con gái ông Alvaro Pachon de la Torre, một ngôi sao trong làng báo ở tuổi 40, đã cùng hai người bạn chết trong một tai nạn giao thông lịch sử.

Bà mồ côi mẹ, cùng cô em gái Gloria đã học cách tự bảo vệ mình từ khi còn rất trẻ. Khi 20 tuổi Maruja là họa sĩ, là một nhà báo tài năng, giám đốc và đạo diễn radio và tivi, trưởng ban liên lạc hoặc xuất bản của một số xí nghiệp lớn, nhưng luôn là nhà báo. Tài năng nghệ thuật và cá tính năng động đã giúp bà thành đạt, với sự phù trợ của tài lãnh đạo tiềm ẩn trong khóe mắt di-gan đầy quyến rũ của bà.

Về phía mình, Villamizar đã quên nghề y, đã cắt tóc ngắn, đã vứt vào sọt rác chiếc áo sơ mi duy nhất, biết thắt cà vạt và trở thành một chuyên gia thành thạo trong việc bán hàng, bán tất cả hàng hóa nào mà họ đưa ra cho ông bán. Nhưng không thay đổi bản chất của con người mình.

Maruja thừa nhận rằng ông đa là con người như thế, hơn là những vấp váp của cuộc đời, ông là người đã dậy bà về chủ nghĩa hình thức và sự ức chế của môi trường xã hội.

Mỗi người làm theo công việc của mình có kết quả trong khi những đứa con lớn lên ở nhà trường. Maruja thường trở về nhà hồi sáu giờ để chăm sóc chồng con. Bà rèn luyện các con bằng sự giáo dục nghiêm khắc và chính quy, bà muốn là một người mẹ khác, không tham dự những cuộc họp của phụ huynh học sinh ở trường học, không giúp đỡ các con làm bài tập. Những cô con gái của bà thường phàn nàn: “Chúng con muốn có một bà mẹ như những bà mẹ khác”. Nhưng ngược lại, Maruja muốn các con có tinh thần tự lập và được đào tạo để làm công việc gì mà chúng muốn. Có một điều ngạc nhiên là tất cả các con bà đều muốn làm sinh viên của trường cao đằng mỹ thuật Roma, là một họa sĩ chuyên về đồ họa. Alexandra là nhà báo kiêm làm chương trình và giám độc đài truyền hình, Juan là đạo diễn kiêm giám đốc đài truyền hình và điện ảnh, Nicolas là nhạc sĩ chuyên sáng tác nhạc cho điện ảnh và truyền hình. Patricio là nhà xã hội học chuyên nghiệp. Andres là sinh viên kinh tế, bị đốt bởi con bọ cạp của chính trị nhờ cái gương xấu của cha, qua cuộc bỏ phiếu tín nhiệm của nhân dân, năm 21 tuổi được bầu là ủy viên hội đồng thị trấn Chapinero, ở phía bắc Bogota.

Sự rắc rối giữa Luis Carlos Galan và Gloria Pacho từ khi họ còn là người yêu của nhau là yếu tố quyết định cho sự nghiệp chính trị mà Alberto và Maruja cùng không dám mơ tưởng tới. Galan, 36 tuổi đã đi thẳng vào trận đấu chung kết chức tổng thống nước cộng hòa đại diện cho chủ nghĩa tự do mới. Gloria, vợ ông cũng là nhà báo và Maruja đã trở thành nhà báo kỳ cựu trên con đường sự nghiệp báo chí và vận động tranh cử, hai người am hiểu và là linh hồn đã vạch ra, chiến lược cho 6 chiến dịch vận động tranh cử tổng thống.

Kinh nghiệm buôn bán của Villamizar đã giúp ông có kiến thức về tình hình thị trường Bogota mà ít nhà chính trị có. Ba người trong ê-kíp đã tiến hành một cách cuồng nhiệt trong một tháng, mở đầu chiến dịch tranh cử của chủ nghĩa tự do mới ở thủ đô và đã đánh bại những cử tri quen thuộc. Trong cuộc tuyển cử năm 1982 Villamizar xếp hàng thứ sáu trong một danh sách không hy vọng được bầu thêm năm đại biểu cho hạ viện, đã bầu 9. Thật không may, thắng lợi đó là sự dạo đầu của một cuộc đời mới đã dẫn Alberto và Maruja - 8 năm sau - đến một thử thách to lớn của tình yêu, đã xảy ra vụ bắt cóc.

Mười ngày sau bức thư, viên chỉ huy trưởng, người mà mọi người gọi là Bác sĩ đã thừa nhận mình là người chịu trách nhiệm chính của vụ bắt cóc, đã tới thăm Maruja nhưng không báo trước. Sau khi gặp bà ở ngôi nhà đầu tiên, nơi họ đưa những con tin tới trong đêm đầu tiên, ông ta trở lại ba lần trước cái chết của Marina. Họ nói chuyện thì thầm với nhau một lúc lâu, chỉ có thể giải thích được là do sự tin tưởng cũ. Mối quan hệ của ông ta với Maruja luôn luôn xấu. Đối với bất kỳ sự can thiệp nào của bà, dù là rất đơn giản, nhưng chỉ nhận được câu đối lại với vẻ kiêu ngạo và giọng nói rất tàn bạo. “Bà không có gì để nói ở đây. “Khi ba con tim còn ở chung với nhau bà đã đưa ra một yêu sách vì những điều kiện sống rất tồi tệ của căn phòng nên đã gây ra bệnh ho kéo dài và những cơn đau mình ê ẩm.

- Tôi đã trải qua những đêm ở những nơi một nghìn lần tồi tệ hơn ở đây - hắn trả lời với vẻ tức giận - Thế các bà nghĩ sao?

Những cuộc tới thăm của hắn được quảng cáo như những sự kiện quan trọng, dù tốt hay xấu, nhưng luôn luôn quyết định. Tuy nhiên, lần này bà được cổ vũ bởi bức thư của Escobar, nên Maruja có đủ dũng khí để đương đầu với hắn.

Sự thông tin nhanh chóng và sự thông suốt đến bất ngờ. Không có ác cảm, bà bắt đầu hỏi hắn rằng Escobar muốn gì, cuộc đàm phán sẽ đi đến đâu, liệu có khả năng Escobar ra đầu thú sớm không.

Không úp mở hắn giải thích rằng chẳng có gì dễ dàng nếu như không có sự đảm bảo đầy đủ cho tính mệnh của Escobar, đảm bảo an toàn cho cá nhân ông ta và cho cả gia đình ông ta. Maruja hỏi hắn về Guido Parra, sự vận động của ông đã gây cho bà niềm hy vọng, nhưng đột nhiên ông ta biến mất, khiến bà phải suy nghĩ.

- Phải chăng ông ta đã xử sự không tốt, hắn nói về chuyện đó không bi kịch hóa. Ông ta đã chuồn ra nước ngoài. Điều đó chỉ có thể được giải thích theo 3 cách: hoặc quyền lực của ông ta đã bị thất bại, hoặc thực sự ông ta đã ra khỏi nước như đã công bố trên báo chí, hoặc ông ta đã bị giết. Ông ta đã đánh trống lảng, trả lời rằng thực tế ông ta không biết gì về điều đó.

Một phần do sự tò mò không thể cưỡng lại được, một để tranh thủ sự tin cậy, Maruja cũng hỏi ai là người đã viết một bức thư mà những người có thể bị dẫn độ trong những ngày này đã gửi tới đại sứ Mỹ về vấn đề dẫn độ và buôn lậu ma túy. Bức thư đó không chỉ khêu gợi sự chú ý của bà do sức mạnh của những lập luận mà còn do sự biên tập tuyệt vời của nó. Vị Bác sĩ không biết chắc chắn, nhưng ông ta kể rằng chính Escobar tự tay viết những bức thư, viết nháp nhiều lần cho tới khi nào đạt được điều ông muốn, không có những sai lầm và không có mâu thuẫn.

Sau gần hai giờ nói chuyện, vị bác sĩ quay lại đề cập tới vấn đề đầu thú, Maruja nhận ra rằng ông ta rất quan tâm tới vấn đề này, vì nó không chỉ có liên quan tới số phận của Escobar mà còn liên quan tới số phận của chính ông ta.

Về phần mình, Maruja có một quan điểm khá rõ ràng về những vấn đề đã thảo luận và sự tiến triển của những sắc luật, bà biết những chi tiết của chính sách đầu thú và những khuynh hướng trong cuộc hội về vấn đề dẫn độ và ân xá.

Nếu Escobar không nghĩ sẽ ở lại ít ra là 14 năm trong nhà tù - ông ta nói - tôi không tin rằng chính phủ sẽ chấp nhận Escobar ra đầu thú. Ông ta đánh giá cao ý kiến đó và có một tư tưởng khác thường: “Tại sao bà không viết một bức thư cho Patron escobar? Và liền sau đó, trước sự bối rối của Maruja, ông ta nài.

- Nói một cách nghiêm chỉnh, bà hãy viết bức thư đó đi. Có thể sẽ giúp ích cho bà nhiều.

Nói là làm. Hắn mang tới cho bà giấy bút, và bình tĩnh ngồi đợi, đi đi lại lại trong phòng. Từ chữ đầu tiên tới chữ cuối cùng của bức thư, Maruja hút hết nửa bao thuốc lá, bà ngồi ở trên giường, giấy tì lên một mảnh gỗ.

Bằng những lời lẽ giản dị, bà cảm ơn Escobar về sự đảm bảo an ninh chắc chắn cho bà như ông đã nói. Bà nói không khi nào bà có tư tưởng trả thù ông hoặc chống những người đã đảm nhận việc bắt cóc bà, bà cũng cảm ơn tất cả mọi người đã đối xử với bà một cách xứng đáng. Bà hy vọng sẽ có một tương lai tốt đẹp cho bản thân ông và cho vợ con ông ở ngay trong nước. Cuối cùng, cũng chính công thức mà Villamizar đã nêu ra trong thư, dành sự hy sinh của mình cho nền hòa bình của Colombia.

Bác sĩ chờ đợi cái gì đó cụ thể về những điều kiện để đầu thú, nhưng Maruja thuyết phục ông ta rằng bản thân cái kết quả không cần phải đòi hỏi những chi tiết tưởng như không phù hợp hoặc hiểu lầm. Ông có lý: bức thư mà Pablo Escobar đã phân phát cho báo chí, mà trong thời điểm đó ông có trong tầm tay vì muốn đầu hàng.

Cũng bằng con đường đó, Maruja viết cho Villamizar bức thư khác bà tỏ ý tức giận do đó đã làm ông tái xuất hiện trên vô tuyến sau nhiều tuần lễ im lặng. Đêm hôm đó, do những cơn buồn ngủ dai dẳng, ông đã nằm mê thấy Escobar từ chiếc trực thăng bước xuống được bảo vệ bằng một băng đạn giống như sự giải thích của trường phái vị lai của những phim cao bồi.

Cuối cuộc viếng thăm, Bác sĩ chỉ thị cho những người trong ngôi nhà phải đối xử tử tế với Maruja. Viên quản gia cùng vợ Damaris tỏ ra hài lòng trước những mệnh lệnh mới, mà đôi khi họ đã vượt quá do lòng tốt của họ.

Trước khi chia tay, Bác sĩ quyết định thay đội gác, nhưng Maruja đề nghị với ông ta là không nên thay. Những chàng trai có bằng tú tài sẽ hoàn thành nhiệm vụ vào tháng tư, có sự nhẹ nhõm sau những điều quá đáng trong tháng ba, họ tiếp tục duy trì mối quan hệ tốt với bà. Maruja tranh thủ được lòng tin của họ. Họ bình luận với nhau về điều họ được nghe ông quản gia và vợ ông ta nói về sự bất đồng nội bộ mà trước đó họ giữ bí mật như bí mật quốc gia. Họ hứa với bà nếu có ai đó có ý định chống lại bà thì họ là những người đầu tiên sẽ ngăn cản không cho làm việc đó. Họ tỏ ra quý trọng bà tặng bà những bánh kẹo mà họ đã lấy trộm được của nhà bếp, tặng bà một hộp dầu ô liu để làm bớt đi cái vị rất khó chịu của món đậu lăng.

Điều khó khăn duy nhất của họ là sự lo lắng về tôn giáo làm họ băn khoăn, nhưng bà không thể làm cho họ vừa lòng được vì bà là người không tín ngưỡng bẩm sinh và thiếu lòng tin vào chúa. Đã nhiều lần xảy ra sự bất hòa trong phòng. “Để xem có chuyện gì nào - bà hỏi họ - nếu giết người là phạm tội, thì tại sao các anh lại giết người?” Bà thách thức họ: Cầu nguyện gì mà cậu tới tận 6 giờ chiều, thức nhiều đêm để cầu nguyện thánh Hài đồng. Nếu tôi định trốn anh không nghĩ tới thánh để giết tôi bằng những viên đạn”.

Những cuộc tranh luận đã tới mức quyết liệt khiến một tên thét tướng lên vì sợ hãi:

- Bà là kẻ vô thần!

Bà cũng thét lên: “đúng tôi là một người vô thần”. Không khi nào bà nghĩ họ lại gây cho bà sự kinh hoàng đến thế. Bà có ý thức rằng chủ nghĩa cấp tiến vô ích của bà có thể phải trả giá đắt, bà đã sáng tạo ra một lý thuyết về vũ trụ của thế giới và về cuộc sống cho phép gây ra tranh luận nhưng không cãi nhau. Rõ ràng là việc thay thế họ bằng những người khác chưa quen biết là điều không nên làm.

Nhưng bác sĩ giải thích - Là để không giải quyết vấn đề rắc rối này bằng tiểu liên.

Maruja hiểu điều ông ta muốn nói khi toán gác mới tới. Đó là một số anh lau sàn không có vũ khí, lau chùi nhà cửa suốt cả ngày đến mức kỳ cục gây ra sự phiền hà còn hơn cả những thùng rác thối trước đó. Nhưng bệnh ho của Maruja đã dần dần biến mất, trật tự mới cho phép bà được xem tivi yên tâm và tập trung tư tưởng hơn, phù hợp với sức khỏe và sự cân bằng của bà. Sự không tín ngưỡng của Maruja làm bà không mảy may chú ý tới chương trình một phút của Chúa, một chương trình rất kỳ cục kéo dài sáu mươi giây. Trong chương trình đó cha Rafael Garcia Herreros, 82 tuổi đưa ra những nhận xét có ý nghĩa xã hội hơn là tôn giáo, nhiều khi rất bí hiểm. Trái lại, Pacho Santos là một tín đồ công giáo nhiệt thành và thực tiễn muốn trong thông điệp của cha có ít lời nói chung chung của những nhà chính trị chuyên nghiệp. Cha là một trong những bộ mặt quen biết nhất của đất nước, từ tháng 1-1955, khi cha bắt đầu chương trình này trên kênh 7 của đài truyền hình quốc gia. Trước đó cha đã là một tiếng nói quen biết của một đài phát thanh Cali, của Medellin từ tháng 9-1954 và của đài phát thanh Bogota từ tháng 12 cùng năm. Trên vô tuyến truyền hình cha đã bắt đầu hầu như cùng thời gian khánh thành đài truyền hình.

Cha nổi lên do phong cách trực tiếp và đôi khi tàn bạo. Cha nói với cặp mắt cú vọ, nhìn thẳng vào khán giả. Từ năm 1961, tất cả các năm cha đã đứng ra tổ chức bữa tiệc một triệu, những nhân vật nổi tiếng đều tham dự, những người tham dự phải trả một triệu pesos cho một bát yến, kèm theo một chiếc bánh mì do một cô gái đẹp phục vụ. Số tiền thu được dùng để xây dựng những công trình xã hội mang cùng tên chương trình này. Mới rầm rộ và rộng rãi nhất là năm 1981 với một bức thư riêng gửi Brigitte Bardot. Nghệ sĩ nổi tiếng này nhận lời ngay đã gây nên một vụ bê bối của bọn đạo đức giả ở địa phương đến mức chúng đe dọa sẽ phá hủy bữa tiệc. Mặc dầu vậy, cha vẫn quyết tâm tổ chức bữa tiệc. Một đám cháy đã xẩy ra đúng lúc tại một Studio của Boulogne, ở Paris, và sự giải thích trắng trợn rằng không có chỗ trên những máy bay đó là hai cái gây ra sự lố bịch lớn trong cả nước.

Những người canh giữ Pacho Santos là những khán giả nhiệt tình của chương trình một phút của Chúa, nhưng họ thích phần nội dung tôn giáo hơn phần nội dung chính trị, xã hội. Họ cũng như phần đông các gia đình nông dân tỉnh Antioquia, mà những người cha là những ông thánh, đều tin vào Chúa một cách mù quáng. Giọng nói của cha luôn căng thẳng – đôi khi – không hiểu được. Nhưng chương trình ngày 18-4, không nghi ngờ gì nữa, tuy không gọi đích danh nhưng mọi người đều hiểu đó là những lời cha muốn nói với Pablo Escobar – không giải mã được.

“Người ta nói với tôi rằng, ông muốn ra đầu thú. Người ta cũng nói với tôi rằng ông muốn nói chuyện với tôi – cha Garcia Herreros nói nhìn thẳng vào chiếc Camera – Ôi biển cả! Ôi biển cả ở Covenas vào lúc 5 giờ chiều khi mặt trời đang lặn! Tôi phải làm gì đây? Người ta nói với tôi rằng cuộc sống của ông đã quá mệt mỏi với quá nhiều công việc, và không thể kể với ai điều bí mật của tôi. Tuy nhiên, tôi đang giấu kín nó ở trong lòng. Hãy nói với tôi, ôi biển cả! Tôi có thể làm được điều đó? Tôi phải làm điều đó? Chắc ông đã biết tất cả lịch sử của nước Colombia, ông đã nhìn thấy những thổ dân vui chơi ngoài bãi biển này, ông đã nghe thấy tiếng nói rì rầm của lịch sử. Tôi phải làm việc đó? Nếu tôi làm việc đó học có từ chối không? Nếu tôi làm điều đó, liệu Colombia có ruồng bỏ tôi không? Nếu như tôi làm việc đó sẽ có sự chao đảo khi tôi đi với họ. Tôi cùng họ sẽ ngã xuống trong cuộc phiêu lưu này?”

Maruja cũng nghe khi cha nói, nhưng bà không ngạc nhiên như nhiều người Colombia khác, vì bà luôn suy nghĩ về điều mà cha muốn đi lang thang tới lúc lạc vào trong vũ trụ. Bà nhìn cha với con mắt thiện cảm như một món khai vị không thể thoái thác của bản tin thời sự vào hồi 7 giờ.

Đêm đó cha được chú ý vì tất cả đều có liên quan tới Pablo Escobar và có liên quan tới cả bà. Bà thấy do dự và bối rối và rất lo lắng với sự bấp bênh của cái có thể có ở dưới đáy những lời nói dối tối nghĩa của thượng đế.

Trái lại, Pacho tin tưởng chắc chắn rằng cha đã cứu vớt Pablo Escobar ra khỏi nơi địa ngục, ông vui mừng ôm hôn người gác của mình.

Nguyên tác: Noticia de un secuestro Dịch giả: Đoàn Đình Ca Đánh máy: Thùy An, Lê Thanh, Thùy Trâm, Thiên Thanh, Minh Khuyên, Hồng Hạnh, Yên Hà, Thu Thủy
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.