Tin Tức Về Một Vụ Bắt Cóc

Lượt đọc: 113 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2

❊ ❊ ❊

Người đầu tiên trong gia đình biết tin về vụ bắt cóc là bác sĩ Pedro Guerrero, chồng của Beatriz, làm việc tại khoa Tâm sinh lý và Bản năng giới tính của con người, cách nơi xảy ra vụ bắt cóc có 10 ngã tư trong lúc ông đang đọc báo cáo khoa học về sự phát triển của những loài động vật từ chức năng nguyên thủy của những đơn bao cho tới khi có cảm xúc và sự âu yếm của con người. Ông bị gián đoạn bởi cú điện thoại của một sĩ quan cảnh sát, hỏi ông với giọng nhà nghề: Ông có quên biết Beatriz Villamizar không? “Dĩ nhiên là có, bác sĩ Guerrero trả lời – vì đó là vợ tôi”. Viên sĩ quan im lặng một lát, nói với giọng ôn tồn hơn: “Vậy xin ngài hãy cứ bình tĩnh”. Bác sĩ Guerrero không cần phải là một bác sĩ tâm thần được giải thưởng cũng đủ hiểu rằng câu nói đó là sự dạo đầu của một sự viện nào đó rất nghiêm trọng.

- Nhưng sự việc đã xảy ra như thế nào? – bác sĩ hỏi.

- Chúng đã giết chết một người lái xe ở ngã tư đường 5 và đường 85 – viên sĩ quan nói. Đó là chiếc xe Renault 21, màu xám nhạt, mang biển số Bogota PS-2034. Ngài có biết số xe này không?

- Tôi chẳng còn nhớ gì cả - bác sĩ Guerrero nói với vẻ nôn nóng. Nhưng ông hãy cho tôi biết đã có chuyện gì xảy ra với Beatriz.

- Điều duy nhất mà chúng tôi có thể nói với ông lúc này là bà nhà đã bị mất tích – viên sĩ quan nói. Chúng tôi tìm thấy chiếc túi của bà ở chỗ ngồi trong xe và một quyển sổ có ghi rằng sẽ gọi điện thoại cho ngài trong trường hợp khẩn cấp.

Không còn nghi ngờ gì nữa, chính bác sĩ Guerrero đã khuyên vợ ghi lời nhắn này trong sổ tay. Mặc dầu ông không biết rõ số biển xe, nhưng chắc chắn đó là số biển xe của Maruja.

Ngã tư đường, nơi xảy ra tội ác chỉ cách nhà bà có mấy bước, trên đường về Beatriz phải qua nhà bà trước rồi với về nhà mình. Bác sĩ Guerrero phải hủy bỏ cuộc nói chuyện bằng một lời giải thích vắn tắt và vội vàng. Lonso Acuna, bạn ông, là bác sĩ tiết niệu lái xe đi khoảng 15 phút tới nơi xảy ra vụ bắt cóc, qua một đoạn đường đầy xe cộ vào lúc bảy giờ.

Alberto Villamizer,chồng của Maruja Pachon và là anh trai của Beatriz, ở nơi xảy ra vụ bắt cóc có 200m, được biết là do cú điện thoại nội bộ của người giúp việc. Ông trở về nhà lúc bốn giờ, sau đó, buổi chiều ông tới tòa soạn báo El Tiempo để làm việc cho chiến dịch vận động tranh cử quốc hội. Cuộc bầu cử sẽ tiến hành vào tháng 12. Vì quá mệt, ông để nguyên quần áo đi ngủ. Trước 6 giờ, Andrés, con trai ông trở về, đi cùng Gabriel, con trai của Beatriz, người bạn thân thiết nhất từ khi còn nhỏ. Andrés ngó đầu vào phòng ngủ tìm mẹ và đánh thức Alberto. Cậu giật mình thấy phòng tối om, bật đèn, đồng hồ đã chỏ 7 giờ tối mà Maruja vẫn chưa trở về nhà. Đó là sự chậm trễ khác thường, Maruja và Beatriz thường trở về nhà sớm hơn, dù đường bị tắc, hoặc nếu có việc phải về bà thường gọi điện thoại báo cho nhà biết trước. Ngoài ra, Maruja còn hên gặp Andrés ở nhà vào hồi năm giờ. Alberto vội gọi điện tới đài truyền hình Focine, người thường trực nói: Maruja và Beatriz đã về rồi, nhưng hơi chậm một chút. Villamizar đi xuống bếp để uống nước thì nghe thấy tiếng điện thoại reo. Andrés nghe điện. Chỉ nghe qua giọng nói Alberto cũng hiểu rằng đó là cú gọi khẩn cấp. Đúng, đã có chuyện gì đó xảy ra ở góc đường với một xe ô tô, hình như là xe của Maruja. Người gác cửa nhận được những tin tức không rõ ràng. Alberto nói Andrés ở lại nhà xem có ai gọi điện tới không rồi ông vội vã rời khỏi nhà. Gabriel đi theo ông. Không có đủ kiên nhẫn để đợi thang máy đang bận, hai người lao như bay xuống cầu thang thường. Người gác cửa còn đủ thì giờ hét gọi hai người:

- Hình như có một người bị chết,

Đường phố đông nghẹt người như có cuộc liên hoan. Từ cửa sổ của những tòa nhà của khi chung cư, nhiều người thò cổ ra. Vì xảy ra vụ bắt cóc nên đại lộ Circunvalar bị tắc nghẽn.

Ở góc phố, một toán cảnh sát đi tuần ra sức ngăn chận những người tò mò tới gần chiếc xe bị bỏ lại, Villamizar tỏ vẻ ngạc nhiên khi thấy bác sĩ Guerrero đã có mặt tại đây tước ông. Quả nhiên đó đúng là chiếc Maruja. Cuộc bắt cóc xảy ra trước đó khoảng nửa giờ, chỉ còn lại những dấu vết: kính phía người lái xe bị vỡ do một phát đạn, có vết máu, những mảnh kính vỡ trên ghế ngồi và trên mặt đường ẩm ướt còn in hình người lái xe, khi hãy còn sống, trước khi đưa đi cấp cứu. Phần còn lại đã sạch sẽ và trật tự. Người sĩ quan cảnh sát làm việc có hiệu quả và đúng thủ tục. Ông cho Villamizar biết một số chi tiết do một vài nhân chứng câu cấp. Đó là mẩy tin rời rạc và thiếu chính xác, một vài tin lại trái ngược nhau. Nhưng không còn nghi ngờ gì nữa, đó là một vụ bắt cóc, và người duy nhất bị thương là người lái xe. Alberto muốn biết nếu vụ việc này bị tố thì có thể dò ra tin tức không. Không thế được, người lái xe đang bị hôn mê, không ai có đủ chứng cứ để biết họ đã mang anh đi đâu.

Trái lại, bác sĩ Guerrero như bị gây mê vì cú sốc nên không thể lường hết tính nghiêm trọng của tấn thảm kịch này. Khi tới nơi ông liền nhân ra chiếc túi của Beatriz, chiếc ví đựng đồ nữ trang, cuốn lịch, một chiếc ví khác bằng da đựng danh thiếp và chiếc thẻ căn cước, chiếc ví khác đựng tiền với 12 nghìn pesos và một danh sách những con nợ. Ông đi đến kết luận rằng người duy nhất bị bắt cóc chính là vợ ông.

- Nhưng chiếc túi của Maruja không có ở đây – người em rể ông nói – Tốt hơn hết là không nên tới bằng xe.

Có thể đó là sự tế nhị nghề nghiệp để đánh lạc hướng chúng trong lúc hai người trấn tĩnh tinh thần. Nhưng Alberto ở lại đây lâu hơn. Điều mà ông muốn biết khi đó là xem trong xe và xung quanh có máu của ai khác không, ngoài máu của người lái xe, để có thể tin chắc rằng không có ai trong số hai phụ nữ đó bị thương. Những điều khác ông đã rõ cả rồi, ông cảm thấy như chính mình có lỗi vì không khi nào đề phòng về một cuộc bắt cóc có thể xảy ra. Bây giờ thì ông tuyệt đối tin tưởng rằng đó chỉ là một hành động cá nhân chống lại ông và biết rõ kẻ nào đã làm việc đó và vì sao.

Khi ông vừa đi thì chương trình của đài phát thanh bị ngắt quãng bởi tin tức. Người lái xe của Maruja đã chết trên đường đi tới bệnh viện Clinica del Country. Ít lâu sau, nhà báo Guillermo Franco về tới nhà, ông là biên tập viên chuyên về pháp luật của đài phát thanh Radio Caracol. Ông rất chú ý tin tức về một cuộc đọ súng, nhưng chỉ thấy có chiếc xe bỏ lại. Ông nhặt ở chỗ ngồi của người lái xe một mảnh kính vỡ và một mẩu giấy thuốc lá cái dính líu. Ông giữ những thứ đó trong một chiếc hộp bằng thủy tinh trong suốt, có đánh số và ghi rõ ngày tháng. Ngay đêm hôm đó chiếc hộp được chuyển tới cơ quan và được lưu giữ trong bộ sưu tập phong phú của lịch sử pháp y mà Fanco đã tích cóp trong nhiều năm nghề nghiệp.

Viên sĩ quan cảnh sát đứa Villamizar về tận nhà, trên đường đi viên sĩ quan đã làm một cuộc thẩm vấn ông không chính thức nhưng lại rất có ích cho việc điều tra vụ án. Ông chẳng trả lời gì khác ngoài những điều ông suy nghĩ đến những ngày khó khăn đang chờ đợi ông. Điều trước tiên là lơi kéo Andrés trong cùng một dòng suy nghĩ và quyết định của ông. Yêu cầu Andrés tiếp những người tới nhà, trong khi đó ông gọi điện thoại khẩn cấp cho một số người và xếp đặt trong đầu những ý nghĩ của mình. Ông tự giam hãm mình trong phòng ngủ và gọi điện khẩn cấp tới dinh tổng thống.

Ông có quan hệ chính trị và cá nhân rất tốt với tổng thống César Gaviria, ông biết rõ tổng thống là người có tính nóng nảy nhưng thân mật, có thái độ trầm tỉnh trước những tình thế hiểm nghèo nhất. Do đó đã làm ông xúc động và bàng hoàng khi thông báo cho tổng thống biết là vợ và em gái ông đã bị bắt cóc, và kết luận không khách sáo:

-Chính ngài là người quyết định mạng sống của họ.

César Gaviria có thể là con người gay gắt, khi ông thấy cần phải như vậy, chính ông đã là con người như vậy,

- Alberto, anh hãy nghe tôi, ông nói một cách lạnh lùng. Tất cả những gì cần làm tôi sẽ làm.

Liền sau đó, cũng với vẻ lạnh lùng, ông nói với Alberto rằng, ngay lập tức ông sẽ chỉ thị cho Rafael Pardo Rueda, người phụ trách cơ quan an ninh quốc gia để ông ta đảm nhận công việc này, sau đó ông sẽ thông báo tình hình cho tổng thống biết. Trong quá trình của những diễn biến sự việc chứng tỏ rằng đó là một quyết định chính xác của tổng thống.

Những nhà báo kéo tới rất đông. Villamizar đã biết rõ tiền lệ đối với những người bị bắt cóc: họ được phép nghe radio, xem vô tuyến. Ông viết ngay một bức thư cho bọn bắt cóc đòi phải tôn trọng Maruja và Beatriz vì hai phụ nữ này thực sự không có liên quan gì tới cuộc chiến tranh, và tuyên bố rằng kể từ giờ phút đó ông dành hết thời gian và sức lực để giải thoát cho hai người.

Một trong số những người đầu tiên tới nhà ông là tướng Miguel Maza Márquez, giám đốc cục an ninh, người có nhiệm vụ điều tra vụ bắt cóc. Vị tướng này đảm nhận chức vụ từ thời chính phủ Belisario Betancur 7 năm về trước, ông tiếp tục nhiệm vụ này cả dưới thời kỳ tổng thống Virgilio Barco và vừa được tái bổ nhiệm bởi tổng thống César Gaviria, một chức vị được kéo dài chưa từng có, hầu như công việc của ông không được trôi chảy, nhất là trong thời gian rất khó khăn diễn ra cuộc chiến tranh chống bọn buôn bán ma túy. Ông có tầm vóc trung bình và cứng rắn như được đúc bằng thép, có cái cổ như cổ bò mộng, con nhà nòi binh nghiệp. Ông là một người trầm tĩnh, ít nói, đồng thời lại có khả năng pha trò trong khi vui chơi với bạn bè, ông xuất thân từ một gia đình nông dân chính cống, Nhìn bề ngoài ông không có dáng một vị tướng. Đối với ông chiến tranh chống bọn buôn bán ma túy là công việc cá nhân, quyết sinh tử với Pablo Escobar. Công việc này phù hợp với khả năng của ông Escobar là không khi nào hắn chịu đầu hàng kẻ thù. Cũng chính nhờ sự che chở của Thánh Hài đồng mà Escobar không bị tướng Maza Márquez hạ cánh.

Tổng thống Gaviria có một chính sách riêng những đơn vị vũ trang không nên giải thoát cho những người bị bắt cóc, nếu không có sự thỏa thuận của gia đình họ. Nhưng trong những cuộc đàm tiếu chính trị, người ta nói nhiều tới sự bất đồng ý kiến về vấn đề này giữa tổng thống và tướng Maza. Sức khỏa của Villamizar vẫn tiếp tục suy giảm.

Tôi xin nói để ngài rõ là tôi phản đối việc dùng vũ lực để giải thoát con tin, ông nói với tướng Maza. Tôi tin rằng ngài cũng sẽ không làm như vậy, nếu ngài có quyết định gì về vấn đề này xin ngài hãy tham khảo ý kiến tôi.

Maza Márquez đồng ý. Sau cuộc nói chuyện dài về tình hình, Maza quyết định can thiệp vào điện thoại của Villamizar, xem những tên bắt cóc có liên lạc với ông về ban đêm không.

Trong cuộc nói chuyện đầu tiên với Rafael Pardo, chính đêm hôm đó, Rafael đã thông báo cho Villamizar biết rằng tổng thống đã cử ông làm người hòa giải giữa chính phủ và gia đình, ông là người suy nhất được quyền đưa ra những lời tuyến bố chính thức về vụ này. Cả hai người đều biết rõ rằng, vụ bắt cóc Maruja nhằm hai mục địch của bọn buôn bán ma túy: gây áp lực với chính phủ qua người em gái của Maruja Pachon là Gloria Pachon, và chúng đã ra tay hành động không ngoài sự đoán đó.

Colombia không có đầy đủ ý thức về tầm quan trọng của mình trong việc buôn bán ma túy trên trường quốc tế, trong khi bọn ma túy không biết xông vào chính giới của đất nước bằng cửa sau, trước hết vì nạn tham những và ăn hối lộ ngày một gia tăng, sau đó vì những khát vọng riêng. Pablo Escobar đã cố gắng yên vị trong phong trào của Luis Carlos Galan, năm 1982, nhưng sau hắn đã bị xóa tên và bị vạch mặt trước cuộc biểu tình của trên 5000 người tại Medellin. Ít lâu sau hắn xuất hiện như người được bổ sung vào hạ viện do cánh thiểu số của Chủ nghĩa tự do chính thống nhưng vẫn không quên là hắn đã bị lăng nhục nên đã phát động một cuộc chiến tranh sinh tử chống lại Nhà nước, đặc biệt chống lại Đảng chủ nghĩa Tự do mới. Rodrigo Lara Bonilla, đại diện của đảng này đã làm Bộ trưởng tư pháp trong chính phủ Belisario Betancur, ông này bị giết do bàn tay của một kẻ giết thuê đi xe máy, ngay giữa đường phố Bogota. Enrique Parejo, người kế bị ông ta bị truy đuổi tới tận Budapest bởi một tên giết thuê khác. Ông bị bắn một phát vào mặt nhưng không chết. Ngày 18-8-1989, Luis Carlos Galan bị bắn một băng tiểu liên tại quảng trường Soacha, cách dinh tổng thống 10km trong lúc có 18 người bảo vệ với đầy đủ vũ khí.

Nguyên nhân chủ yếu của cuộc chiến tranh này là sự khủng bố của những tên buôn bán ma túy trước khả năng chúng có thể bị bắt và dẫn độ sang Mỹ, ở đó chúng có thể bị kết án như phạm tội ở chính nước Mỹ, bị xét xử đặc biệt. Một trong số những vụ án đã bị kết án rất nặng: Carlos Labder, một tên buôn lậu ma túy khét tiếng, người Colombia đã bị dẫn độ năm 1987, và bị tòa án Mỹ kết án 130 năm tù. Điều đó dựa theo một hiệp ước ký với Mỹ dưới thời chính phủ Julio Cesar Turbay, đó là trước hợp đầu tiên bị dẫn độ theo hiệp định này.

Tổng thống Belisario Betancur lần đầu tiên áp dụng hiệp định đó khi Lara Bonilla bị giết dẫn tới một loạt vụ dẫn độ được thực hiện. Bọn buôn ma túy sợ hãi vì bàn tay dài của Mỹ có thể vươn tới khắp mọi nơi trên thế giới. Mãi tới khi đó chúng mới nhận ra rằng không có nơi nào yên ổn hơn là Colombia, tốt hơn là lẩn tránh ở ngay chính nước mình. Điều trớ trêu là không có cách nào khác là tự đặt mình dưới sự che chở đó – do lý lẽ và do sức mạnh, một mặt chúng tiến hành những cuộc khủng bố tràn lan và không thương xót, mặt khác chúng đề nghị được ra trình diện trước pháp luật, với yêu cầu được đưa về nước, không bị dẫn độ, chúng sẽ đầu tư vốn tư bản ở tại Colombia chỉ với một điều kiện không bị dẫn độ. Đó thực sự là một chuyện ngược đời và mờ ám với cái mác kinh doanh. Những tên có thể bị dẫn độ nêu một khẩu hiệu điển hình của Escobar: “Thà có một nấm mồ ở Colombia còn hơn là phải ngồi tù ở Mỹ”.

Batancur duy trì cuộc chiến tranh này. Người kế nhiệm ông, Virgilio Barco đã tăng cường độ cuộc chiến tranh đó. Đó là tình hình năm 1989, khi Cesar Gaviria xuất hiện là ứng cử viên tổng thống, sau khi Luis Carlos Galan, trưởng ban vận động tranh cử bị giết. Trong chiến dịch vận động tranh cử, ông bảo vệ và củng cố công lý, đồng thời công bố một chiến lược mới chống lại bọn buôn bán ma túy. Đó là một ý nghĩ đơn giản: ai ra đầu thú trước những quan tòa và thừa nhận tội lỗi thì có thể được hương ơn huệ chính là không bị dẫn độ.

Tuy nhiên, đó cũng được xem như nội dung cơ bản của một đạo luật không đầy đủ đối với những kẻ có thể bị dẫn độ.

Thông qua những luật sư của mình, Escobar đòi việc không bị dẫn độ là không điều kiện, và đòi hỏi phải thú tội và tố cáo không phải là điều bắt buộc, nhà tù phải che chở cho họ và bảo vệ gia đình họ. Để đạt được điều đó – một tay chúng tiến hành khủng bố, tay khác chúng tiến hành cuộc leo thang bắt cóc những nhà báo để chặn tay chính phủ. Chỉ trong vòng hai tháng chúng đã bắt cóc tám nhà báo. Rõ ràng vụ bắt cóc Maruja và Beatriz là một bước leo thang thấy trước đó.

Villamizar cảm thấy điều đó ngay từ khi nhìn thấy chiếc xe có vết đạn. Sau đó, giữa những người tới thăm nhà ông, ông thấy giật mình và tuyệt đối tin tưởng rằng mạng sống của vợ và em gái ông tùy thuộc vào việc người ta có khả năng cứu sống hai người hay không. Vậy thì lần này, hơn bao giờ hết chiến tranh đã phơi bày ra như một nỗi đau cá nhân không thể lẩn tránh được.

Thực tế, Villamizar đã từng là một người sống sót. Vì ông là đại biểu tại nghị viện nên đã thông qua được điều luật chống ma túy 1985, khi còn chưa có luật hình sự về chống việc mua bán ma túy, mà chỉ có những pháp lệnh lẻ tẻ về tình trạng khẩn cấp. Sau đó, Luis Carlos Galan chỉ thị để ngăn cản việc thông qua dự thảo một đạo luật mà những nghị sĩ bạn của Escobar tại nghị viện có ý định bác bỏ sự ủng hộ của pháp luật đối với hiệp định về dẫn độ đã có hiệu lực. Đó là một bản án tử hình. Ngày 22-10-1986, hai tên giết người thuê mặc quần áo thể thao, gia vờ tập thể dục trước nhà ông. Chúng đã bắn hai tràng tiểu liên trong khi ông đang ngồi trong xe. Ông đã thoát chết. Một trong những tên tiến công bị cảnh sát bắn chết, những kẻ đồng lõa bị bắt, nhưng ít năm sau được trả lại tự do. Không có ai trả tiền cho cuộc mưu sát này, nhưng cũng không có ai nghi ngờ là đã có người ra lệnh.

Chính Galan cũng thấy rằng cần phải lánh khỏi Colombia một thời gian. Villamizar được cử làm đại sứ tại Indonesia. Một năm sau khi sống tại đó, những nhân viên an ninh của Mỹ ở Singapore đã bắt được một tên chuyên giết người thuê, người Colombia đi về hướng Jakarta. Không biết chắc chắn có phải tên này được cử tới đây để sát hại Villamizar hay không, nhưng theo giấy khai tử, có tin tên này đã chết ở Mỹ sau đó, nhưng đó là giấy khai tử giả.

Ngay đêm xảy ra vụ bắt cóc Maruja và Beatriz, ngôi nhà của Villamizar như bị nổ tung. Những nhân vật chính trị, nhân viên chính phủ và thân nhân những người bị bắt cóc kéo tới đầy nhà. Aseneth Velasquez, một nhà buôn hàng mỹ nghệ, bạn thân thiết của gia đình Villamizar, sống ở gác trên, đảm nhận việc đón tiếp khách, chỉ thiếu có âm nhạc thì trở thành cuộc dạ hội bất kỳ nào vào chiều thứ sáu. Đó là điều không tránh khỏi, vì ở Colombia, tất cả những cuộc họp sau 6 giờ chiều, của bất kỳ loại nào đều có thể trở thành cuộc khiêu vũ.

Tới giờ đó tất cả mọi người trong gia đình đã được thông báo. Alexandra, con gái của Maruja đang ở nhà người chồng thế nhất, vừa ăn tới tại nhà hàng Maicao, trên bán đảo Guajira xa xôi thì được Javier Ayala báo tin cho biết. Cô làm giám đốc của Enfoque, một chương trình truyền hình bình dân vào tối thứ tư hàng tuần, rất được khán giả hâm mộ, cô mới tới Guajira ngày hôm trước để tiến hành một loạt cuộc phỏng vấn. Cô chạy vội về khách sạn để liên lạc với gia đình, nhưng số điện thoại ở nhà luôn luôn bận. Hôm thứ tư tuần trước, do một sự trùng hợp ngẫu nhiên, cô đã phỏng vấn một bác sĩ chuyên ngành về những trường hợp lâm sàng gây ra trong những nhà tù được canh phòng cẩn mật. Từ lúc nghe tin tài nhà hàng Maicao cô nhận ra rằng liệu pháp đó có thể có ích cho những người bị cắt cóc. Cô vội trở về Bogota để đưa ra ứng dụng liệu pháp này khi chương trình phát thanh mới bắt đầu.

Gloria Pachon – em gái của Maruja – khi đó là đại sứ của Colombia trước UNESCO – được đánh thức vào lúc 2 giờ sáng bằng một câu ngắn gọn của Villamizar: “Anh có một tin rất xấu”, Juana, con gái của Maruja đang nghỉ hè tại Paris biết tin này ít phút sau ở phòng ngủ kế cận. Nicolas một nhạc sĩ đồng thời là một nhạc công được đánh thức tại New York.

Vào lúc hai giờ sáng, bác sĩ Guerrero cùng con trai Gabriel đi nói chuyện với nghị sĩ Diego Montana Cuellar, chủ tịch Liên minh yêu nước – một phong trào được sinh ra từ Đảng Cộng sản và là thanh viên của nhóm những người nổi tiếng ra đời tháng 12-1989 đẻ làm môi giới giữa chính phủ và những tên bắt cóc của Alvaro Diego Montoya. Họ gặp ông trong lúc ông không chỉ mất ngủ mà đang ngất xỉu. Ông được tin về vụ bắt cóc qua bản tin đêm. Ông có dấu hiệu suy nhược tinh thần, Điều duy nhất mà Guerrero đề nghị ông là đúng ra làm trung gian để Pablo Escobar chấp nhận ông như là người bị bắt cóc thay cho Beatriz. Montana Cuellar trả lời ông bằng một câu rất điển hình theo phong cách của ông ta:

- Pedro, anh là cái con cặc – ông nói, ở đất nước này chẳng có việc gì cần làm cả.

Bác sĩ Guerrero trở về nhà vào lúc trời đã rạng sáng, nhưng không sao ngủ được. Sự lo lắng cứ dày vò ông. Gần 7 giờ sáng ông gọi điện cho chính giám đốc đài phát thanh Radio Caracol, Yamit Ancar và ông ta trả lời trong lúc trạng thái tâm thần không ổn định, một thách thức đáng sợ đối với những tên bắt cóc.

Không ngủ được một phút, Villamizar dậy đi tắm, mặc quần áo vào lúc 6 giờ 30 sáng để đi gặp Jaime Girald Angel, Bộ trưởng Tư pháp như đã hẹn. Ông bắt đầu một ngày với cuộc chiến tranh chống lại sự khủng bố của bọn buôn bán ma túy. Villamizar ra về với ý nghĩ rằng cuộc đấu tranh này quả là khó khăn và lâu dài, nhưng dầu sao ông cũng cám ơn về hai giờ mà Jaime đã dành cho ông để nói về vấn đề này, vì từ lâu ông hoàn toàn không biết gì về bọn buôn bán ma túy.

Ông không ăn sáng mà cũng không ăn trưa. Đã đến chiều, sau một vài lần vận động không thành, ông cũng tới gặp Diego Montana Cuellar, người làm ông ngạc nhiên về tính chân thành và thẳng thắn của ông ta. “Ông không nên quên rằng đây là một việc lâu dài – ông ta nói. Ít ra thì cũng phải tới tháng sáu sang năm, sau cuộc bầu cử nghị viện, vì Maruja và Beatriz là chiếc lá chắn của Escobar để ông ta khỏi bị dẫn độ”. Rất nhiều bạn bè tới quấy nhiễu Montana Cuellar, vì ông đã không giấu diếm sự bi quan của mình trên báo chí, mặc dầu ông là thành viên của nhóm người nổi tiếng.

- Dầu sao thì tôi cũng xin rút lui khỏi công việc chết tiệt này. Ông nói với Villamizar bằng một ngôn ngữ chẳng hoa mỹ chút nào: Chúng tôi ở đây cũng chẳng là cái con cặc gì.

Villamizar cảm thấy mệt mỏi và cô đơn khi trở về nhà, sau một ngày không có hy vọng. Ông uống liền một mạch hai hớp whisky, làm ông ngất xỉu. Andrés, con trai ông, từ nay là người đồng chí duy nhất của ông, đã thuyết phục được ông ăn sáng vào hồi sáu giờ chiều. Vào giờ này ông đang ở nhà thì tổng thống gọi điện cho ông.

- Bây giờ thì được, Alberto – ông nói với giọng vui vẻ. Mời ông tới đây ngay nhé, chúng ta sẽ nói chuyện.

Tổng thống Gaviria tiếp ông vào hồi 6 giờ chiều tại thư viện riêng trong dinh tổng thống, nơi ông đã sống từ trước đó ba tháng cùng Milena Munoz, vợ ông cùng hai người con Simon 11 tuổi và Maria Paz 8 tuổi. Đó là một nơi trú ẩn nhỏ nhưng mến khách, cùng với một chậu hoa có nhiều hoa, một giá sách bằng gỗ đầy những sách và ảnh gia đình, một bộ máy compac cùng những đĩa hát nổi tiếng mà ông thích: Beatles, Jethro Tull, Juan Luis Guerra, Beethoven, Bach. Sau những ngày làm việc mệt mỏi, tại đó, tổng thống có những buổi tiếp khách không chính thức hoặc thư giãn với bạn bè vào buổi chiều với cốc rượu whisky.

Gaviria đón đợi Villamizar với lời chào trìu mến, nói với ông những lời hữu nghị và thông cảm, nhưng với giọng thẳng thắn hơi chua cay. Tuy nhiên, Villamizar khi đó trấn tĩnh vì đã vượt qua được cú sốc ban đầu, và với tin tức khá đầy đủ để biết rằng tổng thống cũng chẳng có thể làm được nhiều điều vì ông. Cả hai đều tin chắc rằng vụ bắt cóc Maruja và Beatriz có mục đích chính trị, không cần phải dự đoán cũng biết kẻ chủ mưu vụ bắt cóc này chính là Pablo Escobar. Nhưng điều cơ bản không chỉ là biết nó – mà làm thế nào để Escobar phải thừa nhận, như là bước đầu quan trọng để đảm bảo tính mạng của những người bị bắt cóc.

Ngay từ đầu Villamizar đã nhận ra rằng tổng thống cũng không thể vượt quá Hiến pháp và phá luật để giúp đỡ ông. Không hủy bỏ những cuộc hành quân tình kiếm những người bị bắt cóc, nhưng cũng không có ý định tiến hành những cuộc truy tìm khi không được phép của các gia đình.

- Như vậy đó – tổng thống nói – đó là chính sách của chúng tôi.

Không còn gì để nói. Khi Villamizar ra khỏi dinh tổng thống hai mươi bốn giờ đã trôi qua từ khi xảy ra vụ bắt cóc và tin tức về số phận họ vẫn mù tịt, nhưng ông biết rằng có sự giúp đỡ của chính phủ để bắt đầu cuộc vận động riêng có lợi cho những người bị bắt cóc và có Rafeal Pardo sẵn sàng giúp đỡ ông. Nhưng điều làm ông tin tưởng hơn cả là chủ nghĩa hiện thực thô bạo của Diego Montana Cuellar.

Vụ bắt cóc đầu tiên mở đầu cho một loạt vụ bắt cóc chưa từng có. Ngày 30-8 vừa qua, gần ba tuần lễ sau khi tổng thống Cesar Gaviria lên nắm chính quyền đã xảy ra vụ bắt cóc Diana Turbay, giám đốc bản tin thời sự của đài truyền hình Cripton, đồng thời là chủ bút tạp chí HOY và HOY ở Bogota, bà là con gái của cựu tổng thống nước cộng hòa và là lãnh tụ tối cao của Đảng Tự do, Julio Cesar Turbay. Cùng với con gái của Turbay, 4 người nữa trong ê-kíp của bà cũng bị bắt cóc: giám đốc bản tin thời sự, Azucena Iievano, biên tập viên Juan Vitta, những phòng viên quay phim: Richard Beccera và Orlando Acevedo và nhà báo người Đức thường trú tại Colombia: Hera Buss. Tổng cộng 6 người.

Cái mưu mẹo mà bọn bắt cóc sử dụng là bịa đặt ra một cuộc phỏng vấn linh mục Manuel Perez, Tư lệnh tối cao của Quân đội giải phóng quốc gia (ELN). Trong số những người được biết tin về cuộc họp báo này không ai đồng ý với Diana về việc bà chấp nhận lời mời. Trong số đó có tướng Oscar Botero, Bộ trưởng Quốc phòng và Rafael Pardo, những người được Tổng thống nước cộng hòa trao cho nhiệm vụ xem xét mối nguy hiểm của chuyến đi để báo cho gia đình Turbay biết.

Tuy nhiên, tưởng rằng Diana từ bỏ chuyến đi này vì không biết rõ điều đó. Thực tế cuộc tiếp xúc của giới báo chí với linh mục Manuel Perez không quan trọng hơn là khả năng về một cuộc đối thoại vì hòa bình. Mấy năm trước đã tiến hành một cách tuyệt đối bí mật một cuộc hành trình bằng lừa tới vùng kiểm soát của nhóm vũ trang để thảo luận với nhóm vũ trang tự vệ, nhưng đó là một ý định riêng lẻ để tìm hiểu phong trào vũ trang này về quan điểm chính trị và tổ chức của họ. Nhưng tin này không có ý nghĩa lớn nên không được công bố công khai về kết quả của nó.

Sau đó, mặc dầu từ lâu đã có cuộc chiến tranh với M-19, nhưng Diana vẫn kết bạn với Tư lệnh di kích Carlos Pizzaro, và bà đã tới thăm doanh trại của họ để tìm những giải pháp hòa bình. Ai vạch ra kế hoạch lừa dối để bắt cóc những nhà báo đã rõ ràng, lẽ ra phải biết sớm hơn. Rõ ràng thời kỳ đó với bất kỳ lý do nào, trước bất kỳ trở ngại, không có gì trên đời này có thể ngăn cản việc Diana tới gặp linh mục Perez, người có một trong số những chìa khóa hòa bình ở Colombia.

Vì những trục trặc vào giờ cuối cùng nên cuộc họp bao lừa dối đã bị hủy bỏ một năm trước, hoãn lại đến 5 giờ chiều ngày 30-8 thì không báo cho ai biết. Diana và ê-kíp của bà bắt đầu khỏi hành trên một chiếc xe rách nát, với một chàng trai và một cô gái hướng dẫn đi về phía căn cứ của ELN. Cuộc hành trình từ Bogota là một sự bắt chước trung thành giống như thực tế mà những người di kích đã làm. Những người đi cùng phải là thanh viên của một phong trào vũ trang hoặc đã từng là thành viên của một phong trào vũ trang, hoặc đã được huấn luyện đầy đủ để không phạm một sai sót làm lộ sự lừa dối, cả trong lời nói cũng như trong cách cư xử.

Ngày đầu tiên họ tới Honda, 140km về phía tây Bogota. Tại đó họ đợi một số người khác đi trên hai chiếc xe sang trọng hơn. Sau khi ăn cơm tối tại nhà hàng của những người đánh xe ngựa, họ đi theo một con đường không nhìn rõ và nguy hiểm dưới mưa rào, khi trời sáng phải chờ đợi để thu dọn một đoạn đường bị sạt lở. Cuối cùng, bị mệt mỏi và mất ngủ, tới 11 giờ sáng thì đến một địa điểm, nơi một toán tuần tra và năm con ngựa đang chờ đón họ. Diana và Azucena đi theo người cưỡi ngựa trong suốt bốn giờ liền, còn những người khác phải đi bộ, trước hết phải vượt qua một ngọn đồi có nhiều cây cối, sau qua một thung lũng tuyệt đẹp với những ngôi nhà thanh bình giữa những vườn cà phê. Nhiều người ngó đầu ra nhìn những người đi qua. Một vài người nhận ra Diana và vẫy tay chào bà từ những vườn cà phê. Juan Vitta ước tính trên đường đi ít ra đã có khoảng 50 người nhìn thấy họ. Đến chiều họ tới một trang trại bỏ hoang, ở đó có một thanh niên dáng thư sinh, thành viên của ELN, nhưng không nói bất kỳ điều gì về tung tích anh ta.

Tất cả toán nhà báo bị lừa đều tỏ ra bối rối. Cách đó khoảng nửa cây số có một đoạn đường cao tốc, phía trong là thành phố, không nghi ngờ gì nữa đó chính là thành phố Medellin, có nghĩa là không phải lãnh thổ của ELN.

Chắc chắn là không phải – Hero Buss suy nghĩ – đây là một trò chơi của linh mục Perez, mời họ tới họp tại đây, một nơi không ai ngờ là ông có thể có mặt.

Quả nhiên, khoảng hai giờ sau họ được đưa tới Copacabana, một quận ngoại ô bị nuốt chửng bởi sức mạnh bành trước của Medellin. Họ được đưa tới một ngôi nhà nhỏ, tường quét vôi trắng, mái ngói rêu phong, hình như ngôi nhà bám vào một cái dốc, phong cảnh có vẻ thôn dã. Phía trong là một căn phòng lớn, mỗi bên phòng lớn có một phòng nhỏ. Mỗi phòng nhỏ có ba chiếc giường đôi và một chiếc giường hai tầng, nơi nghỉ của những người đàn ông thuộc ê-kíp của Diana.

Còn Diana và Azucena, hai phụ nữ được họ dành cho căn phòng tốt nhất ở phía trong, nơi có dấu hiệu căn phòng này không phải để dành riêng cho phụ nữ. Ánh sáng điện đã bắt đầu bật sáng như ban ngày, tất cả những cửa sổ đều bị bịt kín bằng những tấm gỗ. Sau ba giờ chờ đợi, một người mang mặt nạ tới, thay mặt ban chỉ huy chào đón và hoan nghênh mọi người, ông ta tuyên bố trước mọi người là linh mục Perez đang chờ đón họ, nhưng vì lý do an ninh, những phụ nữ cần đi trước. Đây là lần đầu tiên Diana tỏ ra lo lắng. Hero Buss khuyên hai phụ nữa dù với lý do nào cũng không nên tách ra khỏi nhóm. Biết rõ không thể cưỡng lại họ được nên Diana đã giấu những giấy tờ và thẻ căn cước. Không có điều kiện để giải thích vì sao, nhưng Hero Buss nghĩ có thể chúng tìm cách để thủ tiêu Diana. Trước khi trời sáng họ mang hai phụ nữa và Juan Vitta đi nơi khác. Còn Hero Buss, Richard Becera và Orland Acevedo ở lại căn phòng có nhũng chiếc giường đôi và chiếc giường hai tầng, ở chung với 5 người gác. Sự nghi ngờ đã bị sa vào một cái bẫy cứ tăng dần từng giờ. Buổi tối, trong lúc những người gác đang chơi bài, Hero Buss để ý thấy một trong những người gác đeo một chiếc đồng hồ rất sang trọng: “À, thế ra ELN đã ở trình độ có đồng hồ Rolex” anh ta chế giễu. Nhưng địch thủ của anh không để ý tới lời chế giễu đó.

Một hiện tượng khác làm Hero Buss để ý là vũ khí của những người gác không phải là vũ khí của du kích mà là loại vũ khí dùng cho những hoạt động ở đô thị. Orlando, người rất ít nói cũng có nhận xét như vậy, vì những vũ khí đó có tầm bắn rất gần. Không cần nhiều bằng chứng để làm sáng tỏ sự thật, mọi người đều có cảm giác không thể chịu đựng nổi về một điều gì đó nghiêm trọng đang xảy ra.

Cuộc đổi chỗ ở đầu tiên là vào nửa đêm ngày 10-9, khi những người gác bỗng nhiên hét toán lên: “Luật pháp đã tới”. Sau hai giờ phải đi qua những nơi có rất nhiều cây cối, dưới mưa bão khủng khiếp, cuối cùng họ cũng được đưa tới ngôi nhà nơi đã có mặt Diana, Azucena và Juan Vitta. Đó là một ngôi nhà rộng rãi, khá ngăn nắp, có một vô tuyến màn ảnh rộng, nhưng vẫn không có gì có thể làm tiêu tan mối nghi ngờ. Điều mà không có ai trong số những người bị bắt cóc nghĩ là sắp tới họ được giải thoát. Đó là một khoảng thời gian vài giờ để họ trao đổi ý kiến với nhau về những kinh nghiệm và những kế hoạch trong tương lại. Diana được Hero Buss an ủi. Bà nói với Buss về nỗi uất ức của bà, chỉ vì một sơ xuất nhỏ, thiếu cảnh giác mà mọi người đã bị sa vào một cảm bẫy không có lối ra như họ đang gặp phải. Bà thú nhận bà đang cố gắng để tự trấn an trong tâm trí, mỗi khi nghĩ tới những kỷ niệm về gia đình, về chồng, về các con, về cha mẹ, mà không có giây phút nào mà bà không nghĩ tới.

Nhưng kết quả luôn ngược lại. Đêm hôm sau, trong khi chúng bắt những người bị giữ đi bộ tới ngôi nhà thứ ba, cùng Azucena và Juan Vitta đi trên con đường rất khó khăn và dưới trời mưa dầm dai dẳng. Diana nhận ra rằng chẳng có gì đúng sự thật, như họ nói. Nhưng cũng chính đêm hôm đó một người gác đã xua tan nỗi nghi ngờ của bà.

- Các bà không phải ở trong tay tổ chức du kích ELN mà ở trong tay những kẻ có thể bị dẫn độ - anh ta nói. Nhưng các bà cứ yên tâm, các bà sẽ trở thành những nhân chứng của một sự kiện lịch sử.

Sự mất tích cả ê-kíp của Diana Turbay vẫn là một điều bí ẩn, thì 19 ngày sau lại xảy ra vụ bắt cóc Marina Montoya.

Những người bị bắt cóc phải đi theo bà người đàn ông mặc chỉnh tề, trang bị bằng súng lục 9mm và tiểu liên UZI có bộ phận giảm thanh, khi Marina vừa đóng cửa nhà hàng DONDE LAS TIAS, ở phía bắc Bogota. Lucrecia, em gái bà giúp bà trông nom khách hàng, hôm đó may mắn, một chân bị bó bột vì bong gân ở đầu gối nên không có mặt tại nhà hàng. Marina đóng cửa hàng rồi, nhưng lại quay lại mở cửa vì thấy có hai trong toán ba người tới gõ cửa. Từ tuần lễ trước họ đã ăn trưa ở đó vài ba lần, bà có ấn tượng họ là những người dễ chịu, có dáng nông dân và họ thường để lại số tiền puốc-boa cho người phục vụ bằng ba mươi phần trăm số tiền họ phải trả. Tuy nhiên, đêm hôm đó thì lại khác. Họ mở cửa bằng một chiếc chìa khóa mẹ cũng nhanh nhẹn như Marina mở và bắt bà đi khỏi hà hàng. Bà chỉ kịp bám tây vào một cột đèn và kêu toáng lên. Một trong những tên bắt cóc thúc mạnh đầu gối vào xương sống bà làm bà ngất xỉu. Trong lúc mê man, chúng kéo bà ra một chiếc xe Mercedes 190 màu xanh, nhét vội bà vào thùng xe có máy điều hòa.

Luis Guillermo Perez Montoya, một trong bảy người con của Marina, 48 tuổi, đại diện điều hành của hãng phim Kodak ở Colombia, anh giải thích với mọi người: mẹ anh bị bắt cóc là sự trả thù vì chính phủ không thực hiện những thỏa thuận giữa German Montoya và những tên có thể bị dẫn độ.

Mất tin tưởng vào bản chất của tất cả những ai có liên quan với chính giới, anh đề ra nhiệm vụ giải thoát cho mẹ bằng cách thương lượng trực tiếp với Pablo Escobar.

Không theo bất kỳ sự hướng dẫn nào, không có sự tiếp xúc sơ bộ với bất kỳ ai, không biết phải làm gì khi tới nơi, hai ngày sau anh tới thẳng Medellin. Tại sân bay anh lên một taxi, anh nói người lái xe đưa anh về thành phố. Trên đường đi tới cuộc gặp gỡ anh nhìn thấy xác một trẻ em khoảng 15 tuổi vứt ở cạnh đường, mặc bộ quần áo đẹp màu sặc sỡ ngày hội, mặt vẽ hình cải trang có vết đạn và máu ở trán. Luis Guillermo không tin vào cảnh mà mắt mình vừa nhìn thấy, anh chỉ tay:

- Ở kia có một trẻ em bị chết.

- Thế à! Người lái xe nói mà không nhìn. Đó là những con búp bê đi dự liên hoan với bạn bè của Don Pablo. Nhân đó đã phá vỡ sự im lặng giữa Luis Guillermo với người lái taxi. Anh nói với người lái xe về mục đích chuyến đi của mình, người lái xe tìm cách giúp đỡ để Guillermo có thể tiếp xúc với con gái giả định của một người em gái họ của Pablo Escobar.

Ngay ngày hôm nay vào hồi tám giờ anh hãy tới nhà thờ, phía sau chợ - anh lái xe nói – sẽ có một cô gái tên là Rosalia tới gặp anh. Cô ta sẽ tới đó, ngồi đợi anh trên một chiếc ghé dài ở quảng trường. Gần như một cô bé, nhưng cách ứng xử chững chạc trong lời nói y như một phụ nữ già dặn và được huấn luyện tốt.

- Để bắt đầu cuộc vận động – cô gái nói – phải mang tới nửa triệu peso tiền mặt. Cô chỉ cho anh biết nên nghỉ ở khách sạn này, thứ năm tới sẽ có người gọi điện thoại vào hồi 7 giờ sáng, hoặc 7 giờ tối ngày thứ sáu. Người sẽ gọi điện thoại cho anh tên là Pita, cô nói rõ.

Anh đã mất công chờ đợi hai ngày và nửa ngày thứ ba. Cuối cùng anh nhận ra rằng chẳng qua đó chỉ là sự lừa bịp, anh cám ơn Pita dù không gọi điện để tống tiền.

Đó là một chuyện riêng rất bí mật khiến vợ anh cũng không biết chuyến đi đó của anh với những kết quả rất đáng tiếc, mãi tới bốn năm sau, lần đầu tiên anh mới kể lại để có thêm tài liệu viết thiên phóng sự này.

Bốn giờ sau vụ bắt cóc Marina Montoya, một xe Jep và một xe Renault 18 chặn ở phía trước và phía sau xe của Francisco Santoa Tổng biên tập báo El Tiempo tại một phố phụ của khu Las Perias, phía tây Bogota. Xe của Francisco là một xe jeep màu đỏ, nhìn bề ngoài nó là một xe bình thường, nhưng vốn nó là một xe bọc thép, bốn tên bắt cóc đi vòng quanh xe nhưng không tên nào có súng lục 9mm và súng tiểu liên mini UZI có bộ phận giảm thanh, nhưng một tên có một chiếc búa đặc biệt bằng gỗ để phá cửa kính.

- Chẳng cần phải dùng những thứ đó Pacho, chúng ta sẽ nói chuyện với nhau. Ông chủ động mở của xe để nói chuyện với những tên bắt cóc. “Tôi muốn chết hơn là không biết điều gì đang xảy ra”. Ông nói. Một trong số những tên bắt cóc bắt ông phải đứng im với khẩu súng lục dí vào trán, buộc ông ra khỏi xe đầu cúi xuống. Một tên khác mở cửa trước và bắn liền ba phát: một viên đi chệch trúng vào cửa kính, hai viên sau trúng vào đầu Oromansio Ibanez, người lái xe 38 tuổi. Pacho không biết điều đó, ít ngày sau, kiểm điểm lại cuộc bắt cóc mới nhớ ra rằng có nghe thấy tiếng đạn bay và nghe tiếng nổ rất khẽ vì súng có bộ phận giảm thanh.

Đó là một cuộc hành quân rất chớp nhoáng, không khêu gợi sự chú ý của khách đi đường ngày thứ ba. Một nhân viên cảnh sát bắt gặp một xác chết máu me bê bết trên ghế trước của một chiếc xe bỏ lại, anh cầm chiếc máy đàm thoại, một lát sau anh nghe thấy tiếng nói yếu ớt:

- Có.

- Ai nói đây? – nhân viên cảnh sát hỏi.

- Đây là báo El Tiempo.

Tin tức về vụ bắt cóc được phát trên đài phát thanh sau đó có mười phút. Thực tế, từ bốn tháng trước chúng đã chuẩn bị cho vụ bắt cóc này, nhưng suýt nữa thì bị thất bại do sự di chuyển bất thường không nói trước của Pacho Santos. Cũng cùng một lý do mà 15 năm về trước M-19 đã phải từ bỏ ý định bắt cóc cha ông, ông Hernando Santos.

Lần này chúng đã tính toán đến cả những chi tiết nhỏ nhất. Xe của những tên bắt cóc bất ngờ gặp một ách tắc trên đại lộ Boyaca ở phía trên đường 80, chúng đã chạy trốn trên vỉa hè và mất hút trong một khu phố đông dân. Pacho Santos ngồi giữa hai tên bắt cóc, nhưng vẫn dán mắt nhìn vào một tấm gương bị bôi mờ bằng thuốc đánh móng tay, nhưng ông nhớ rõ đường rẽ ngoằn ngoèo của chiếc xe cho tới khi nó lao vào một ga-ra. Theo con đường và thời gian, ông đã có thể hình dung đó là khu phố nào.

Một trong những tên bắt cóc cầm tay kéo ông đi tới cuối một hành lang. Bước lên tầng hai, rẽ bên trái, đi thêm năm bước rồi vào một nơi rất lạnh. Ở đó chúng tháo kính của ông, ông thấy một phòng ngủ tối om, những cửa sổ đều đóng kín mít bằng những tấm gỗ, trên mái nhà chỉ có một lỗ hở cô đơn. Đồ đạc trong phòng chỉ có một chiếc giường của một cặp vợ chồng, những chiếc khăn trải giường đã cũ, một chiếc bàn trên đặt một chiếc tivi và một chiếc đài nhỏ. Mãi khi đó Pacho mới nhận ra rằng sự vội vã của những tên bắt cóc không phải vì lý do an ninh, mà chúng muốn về sớm để kịp xem trận bóng đã giữa đội Santa Fe và đội Caldas. Để mọi người yên tâm, chúng đưa ra một chai rượu, chúng để Pacho ở một mình trong phòng với chiếc radio, còn chúng xuống tầng dưới để xem trận bóng đá. Trong mười phút, ông uống hết nửa chai rượu, nhưng không cảm thấy say mà lại làm ông thêm hưng phấn để nghe đài, theo dõi trận bóng đá. Từ khi còn nhỏ ông đã hâm mộ đội Santa Fe, ông không thể uống rượu tiếp được vì tức giận khi thấy hai đội hòa 2-2. Cuối cùng ông xem bản tin thời sự trên vô tuyến vào hồi 9 giờ 30. Trong một băng hình lưu trữ, ông xuất hiện với bộ smoking với những cô gái đẹp vây xung quanh. Mãi tới khi đó ông mới biết người lái xe của mình đã bị giết chết.

Sau bản tin thời sự, một người mang mặt nạ bước vào, hắn bắt ông cởi quần áo và buộc ông phải khoác một chiếc khăn mầu xám, đó là bắt buộc trong các nhà tù của những tên có thể bị dẫn độ. Hắn còn định tước chiếc máy thở dùng cho người bị bệnh suyễn mà ông mang trong túi áo veston, nhưng Pacho đã thuyết phục rằng, đối với ông đó là vấn đề sống chết. Tên mang mặt nạ giải thích cho ông biết về nội quy của những người bị giam: Có thể đi vào nhà vệ sinh ở phía ngoài hành lang, nghe đài phát thanh, xem tivi không hạn chế, nhưng chỉ được mở tiếng vừa phải.

Cuối cùng hắn giục Pacho đi nằm, chúng buộc đầu gối Pacho vào cột giường bằng một sợi dây thừng. Tên gác nằm dài trên một chiếc đệm trải trên mặt sàn song song với cái giường, chỉ ít phút sau hắn đã bắt đầu ngáy liên tục như kéo bễ.

Ban đêm dầy đặc, Pacho có ý thức đầy đủ về đêm hôm đó là đêm đầu tiên của một tương lai bấp bênh, tất cả mọi chuyện đều có thể xẩy ra. Ông nghĩ tới Maria Victoria – mà bạn bè thường gọi là Marivé – người vợ xinh đẹp và thông minh của ông, có cá tính lớn, người đã cùng ông có hai đứa con, Benjamin 20 tháng và Gabriel 6 tháng tuổi.

Một con gà của nhà hàng xóm cất tiếng gáy, Pacho giật mình xem đồng hồ, “Một con gà gáy vào lúc 10 giờ đêm thì nhất định nó bị điên”. Ông nghĩ. Ông là người rất tình cảm, để cảm xúc và dễ dàng rơi nước mắt, giống hệt cha ông. Andrés Ascabi, chồng của Juanita, em gái ông, bị chết trong một máy bay nổ trung trên không do một quả bom của bọn có thể bị dẫn độ. Giữa cảnh xúc động của gia đình, Pacho noi một câu làm mọi người giật mình: “Một người trong số chúng ta sẽ không sống tới tháng chạp”. Tuy nhiên, cái đêm xẩy ra vụ bắt cóc, ông không cảm thấy đó là đêm cuối cùng. Lần đầu tiên thần kinh ông bớt căng thẳng, ông tin chắc rằng ông sẽ thoát chết. Qua nhịp thở, ông biết rằng người gác nằm cạnh ông đang thức. Ông hỏi:

- Hiện nay tôi đang ở trong tay ai? Ông hỏi người gác, ở trong tay du kích hay trong tay bọn buôn bán ma túy.

- Ở trong tay người nào mà ông muốn, - tên gác trả lời.

- Tôi tin chắc rằng tôi hiện ở trong tay Pablo Escobar, ông nói.

- Đúng thế – người gác nói – và hắn sửa: ở trong tay những người có thể bị dẫn độ.

Tin tức về vụ bắt cóc đã truyền đi khắp nơi. Những người trực điện thoại của tòa báo El Tiempo đã gọi điện váo cho những thân nhân gần của Pacho, và cứ thế, người này gọi cho người khác cho tới tận cùng thế giới. Do một loạt những chuyện ngẫu nhiên kỳ lạ, một trong số những người cuối cùng trong gia đính Pacho biết tin về vụ bắt cóc chính là bà vợ của Pacho.

Ít phút sau khi xẩy ra vụ bắt cóc, Juan Gabriel Uribe, bạn của bà đã gọi điện cho bà, nhưng chưa biết chắc chắn điều gì đã xẩy ra nên chỉ dám hỏi Pacho đã về nhà chưa. Bà trả lời rằng chưa, Juan Gabriel không đủ can đảm báo cho bà một tin dữ, nhưng chưa được xác minh chắc chắn. Ít phút sau Enrique Santoa Calderon em trai họ của chồng bà, phó giám đọc báo El Tiempo gọi điện báo cho bà:

- Chị đã biết chuyện gì đã xẩy ra với Pacho chưa? – anh hỏi. Maria Victoria tưởng anh hỏi về tin tức khác mà bà đã biết, và có điều gì đó liên quan tới chồng bà, bà trả lời:

- Dĩ nhiên là có biết.

Enrique vội vã cắt máy để tiếp tục báo tin cho những người bà con khác. Mấy năm sau, bình luận về sự sai lầm này, Maria Victoria nói: “Điều đó đã xảy ra, với tôi một cách nực cười”.

Một lát sau, Juan Gabriel lại gọi điện thoại báo cho bà biết rõ tất cả. Chúng đã giết chết người lái xe và bắt Pacho mang đi.

Tổng thống Gaviria và những cố vấn thân cận của ông đang định duyệt một số phim vô tuyến sẽ dùng trong cuộc vận động tranh cử quốc hội thì Mauricio Vargas, viên trợ lý báo chí nói thầm vào tai ông: “Chúng đã bắt cóc Pachito Santos”, buổi duyệt phim bị gián đoạn. Ngài Tổng thống đeo kính để xem phim, liền bỏ kính để nhìn Vargas.

- Anh tiếp tục theo dõi rồi báo cáo với tôi – ông nói.

Ông đeo kính và tiếp tục xem phim. Alberto Casas Santamaria, Bộ trưởng giao thông, bạn thân, ngồi cạnh ông nghe được tin trên rồi cứ thế truyền qua tai người này đến người khác, những cố vấn của tổng thống. Một sự rối loạn làm lung lay cả căn phòng. Nhưng ngài tổng thống không chớp mắc, theo một phương châm và cách xử sự của riêng ông mà ông luôn nghiêm chỉnh thực hiện, như thực hiện nội quy của nhà trường: “Hãy chấm dứt nhiệm vụ này”. Khi kết thúc buổi chiếu phim, ông lại bỏ kính ra đút vào túi áo ngực và ra lệnh cho Maurico Vargas: Hãy gọi điện ngay cho Rafael Pardo, nói với ông ta rằng, triệu tập cuộc họp của Hội đồng an ninh quốc gia ngay bây giờ.

Trong khi đó, ông khởi động cuộc trao đổi ý kiến về những phim dùng trong cuộc tranh của mà mọi người vừa xem. Chỉ khi nào có một quyết định mới không còn tác động của tin tức về vụ bắt cóc. Nửa giờ sau tổng thống bước vào phòng họp, phần lớn thành viên của Hội đồng an ninh quốc gia đã có mặt, đang đợi tổng thống. Khi cuộc họp vừa mới bắt đầu, Maurico Vargas rón rén đi vào, nói thầm vào tai tổng thống:

- Chúng đã bắt cóc cả Maria Montoya.

Thực tế vụ bắt cóc Marina đã xẩy ra hồi bốn giờ chiều, trước vụ bắt cóc Pacho, nhưng tin đó phải cần bốn giờ sau mới tới tai tổng thống.

Hernando Santos Castillo, cha của Pacho ngử từ 3 giờ trước, cách đó 10 nghìn km, tại khách sạn Plorencia, Italia, phòng tiếp giáp với phòng của Juanita, con gái ông, và Andrina con gái khác của ông cũng đang ở một phòng khác cùng khách sạn. Tất cả đều nhận được tin này qua điện thoại, và quyết định không đánh thức cha. Nhưng người cháu họ ông là Luis Fernando đã gọi điện cho ông thẳng từ Bogota với lời giáo đầu rất thận trọng để đánh thức một người bác họ đã 68 tuổi và đã qua năm lần bị nhồi máu cơ tim.

- Bác có một tin rất xấu – anh nói. Tất nhiên ông Hernando đã có thể hình dung tin xấu đó nhưng anh đã giữ kín những hình thức.

- Có chuyện gì đó?

- Chúng đã bắt cóc Pacho.

Tin tức về một vụ bắt cóc, dù là rất xấu, nhưng không xấu như một vụ giết người, Hernando thở nhẹ nhõm.

“Cầu chúa hãy ban phước lành”, ông nói và ngay lập tức ông đổi giọng.

- Hãy cứ yên tâm. Để xem chúng ta cần phải làm gì.

Một giờ sau, một buổi sáng thơm dịu của mùa thu, tất cả ba cha con ông Hernanso bắt đầu một cuộc hành trình dài trở về Colombia.

Gia đình Turbay rất buồn vì không biết tin tức về Diana, một tuần lễ sau cuộc hành trình, đã yêu cầu chính phủ mở cuộc thương lượng chính thức với các tổ chức du kích chủ yếu.

Một tuần lễ sau ngày mà đáng lẽ Diana phải trở về, Miguel Uribe, chồng bà và Alvaro Leyva, nghị sĩ đã tiến hành cuộc hành trình bí mật tới Nhà Xanh, tổng hành dinh của các lực lượng vũ trang cách mạng Colombia (FARC), một tổ chức du kích, ở dãy núi miền động. Từ đó họ tiếp xúc với tất cả các tổ chức vũ trang để biết xem những người bị bắt cóc có nằm trong tay một trong số những tổ chức vũ trang không. Trong một thông báo chung, bẩy tổ chức du kích đều từ chối không giữ Diana.

Không biết cần làm gì, dinh tổng thống nước cộng hòa báo động trước dư luận công chúng chống lại việc lan truyền những thông cáo giả, yêu cần nhân dân không nên tin vào những thông cáo đó mà chỉ nên tin vào thông báo của chính phủ. Nhưng thực tế rất nghiêm trọng và cay đắng là dư luận công chúng tin tưởng tuyệt đối vào những thông cáo của bọn có thể bị dẫn độ. Mọi người thở nhẹ nhõm, ngày 30-10, 60 ngày sau khi xẩy ra vụ bắt cóc Diana Turbay và 40 ngày sau vụ bắt cóc Francisco Santos, chúng đánh tan mọi nỗi nghi ngờ chỉ bằng một câu: “Chúng tôi công khai thừa nhận hiện ở trong tay chúng tôi những nhà báo bị mất tích”. Tám ngày sau Maruja Pachon và Beatriz Villamizar bị bắt cóc có thừa lý do để nghĩ rằng sự leo thang lại có một viễn cảnh rộng lớn hơn.

Ngày Diana và ê-kíp của bà bị mất tích, và khi còn chưa có mảy may sự nghi ngờ rằng họ bị bắt cóc, ngài giám đốc nổi tiếng của đài phát thanh Radio Caracol, Yamid Amat đã bị chặn bởi một đội chuyên nghề giết thuê ở một đường phố Bogota, sau vài ngày chúng theo dõi. Amat thoát khỏi tay chúng nhờ một miếng võ thuật khiến chúng bất ngờ, ông chạy thoát, không ai biết ông bị trúng một phát đạn vào lưng. Do sự khác nhau về giờ, con gái của cựu tổng thống Belisario Betancur, Maria Clara đi cùng con gái 12 tuổi đã chạy khỏi ô tô của mình, trong lúc một toán bắt cóc khác chặn bước tại một khu chung cư ở Bogota. Sự giải thích duy nhất về hai thất bại này là ở chỗ, những kẻ bắt cóc nhận được chỉ thị nhất thiết không được hạ sát những nạn nhân của chúng.

Những người đầu tiên biết chắc chắn ai đang giam giữ Maruja Pacho và Beatriz Villamizar là Hernando Santos và con gái cựu tổng thống Turbay, vì chính Escobar đã đích thân viết thư cho ông, thông qua một trong số những luật sư của ông 49 giờ sau vụ bắt cóc: “Anh có thể nói với họ rằng chúng tôi đang có Maruja Pachon trong tay”. Ngày 12-11 có sự khẳng định gián tiếp khác qua một bức thư mà địa chỉ người gửi là những kẻ có thể bị dẫn độ, gửi cho Juan Gomes Martinez, giám đốc tờ nhật báo El Colombiano của Medellin, người đã vài lần làm trung gian hòa giải với Escobar, thay mặt nhóm những người nổi tiếng.

“Việc bắt giữ nhà báo Maruja Pachon – trong thư viết – là sự trả lời của chúng tôi đối với việc bắt cóc và tra tấn xẩy ra ở thành phố Medellin trong những ngày gần đây của chính cơ quan an ninh quốc gia mà trước đây đã nhiều lần chúng tôi nói tới trong những bản thông cáo của chúng tôi”. Một lần nữa họ bầy tỏ sự quyết tâm của mình là sẽ không trả tự do cho bất kỳ con tin nào, chừng nào tình trạng đó còn tiếp diễn.

Bác sĩ Pedro Guerrero, chồng của Beatriz bị mệt mỏi ngay từ đầu vì sự bất lực tuyệt đối, nhưng sự việc đã vượt quá sự chịu đựng của ông, ông quyết định đóng cửa phòng khám bệnh. “Làm sao tôi có thể tiếp đón những bệnh nhân trong khi tôi bị bệnh còn nặng hơn”. – Ông nói. Ông bị khủng hoảng vì u sầu, mà không muốn truyền bệnh đó cho các con. Không lúc nào ông cảm thấy thảnh thơi. Ông tự an ủi mình bằng rượu Whisky lúc chiều tà và trong giấc ngủ chập chờn ông nghe thấy những bài hát boleros đầy nước mắt của những người yêu, của đài phát thanh Radio Recuerdo” Hỡi người yêu ơi – người nào đó hát – nếu nghe anh hát, hãy trả lời anh”.

Alberto Villamizar, ngay từ đầu đã có ý thức rằng vợ và em gái ông bị bắt cóc là một mắt xích của một tấn thảm kịch, làm xiết chặt đội ngũ thân nhân của những người bị bắt cóc.

Những lần đầu tới thăm Hernando Santos đã làm ông chán nản. Gloria Pachon de Galan, em dâu ông đi cùng, gặp Hernando nằm dài trên một chiếc di văng ở trạng thái suy sụp hoàn toàn “Cái mà tôi đang chuẩn bị là để sao ít đau khổ nhất có thể khi chúng nó giết Francisco, ông nói với họ khi họ vừa bước vào. Villamizar cố gắng để ra một dự án thương lượng với bọn bắt cóc, nhưng Gernando đã làm thất bại dự án đó với sự cẩu thả không sao chữa nổi.

- Họ không ngây thơ đâu ông ơi – ông nói, ông không có mảy may ý niệm về loại người này. Chẳng cần phải làm gì cả.

Cựu tổng thống Turbay cũng không có sự cổ vũ gì hơn. Bấy nhiêu nguồn tin khác nhau, ông có thể khẳng định rằng con gái ông hiện đang nằm trong tay bọn buôn bán ma túy, nhưng ông kiên quyết không công khai thừa nhận điều đó chừng nàp ông chưa biết chắc là bọn chúng muốn gì. Tuần trước ông đã trả lời một nhóm nhà báo, ông đã ám chỉ bọn chúng bằng một câu lướt qua nhưng táo bạo.

- Trái tim tôi chỉ cho tôi – ông nói – rằng Diana và những người cộng sự của nó bị chậm trễ vì công việc báo chí, nhưng đó không phải là một vụ bắt cóc.

Đó là một trạng thái vỡ mộng có thể giải thích được, sau ba tháng vận động không có kết quả. Villamizar hiểu điều đó như vậy, và trong lúc bị lây truyền sự bi quan của những người khác thì ông lại thể hiện một tinh thần mới trong cuộc vận động chung.

Một người bạn hỏi, trong những ngày ấy Villamizar thế nào, người bạn này đã định nghĩa Villamizar một cách tài tình: “Đó là một người bạn cố tri của ma men”. Villamizar thừa nhận điều đó một cách vui vẻ, và xem đó như là một điều đáng thèm và rất hiếm hoi.

Tuy nhiên, chính ngay vợ ông bị bắt cóc, ông có ý thức rằng là sự nghiện ngập nguy hiểm trong tình hình này, và ông quyết định sẽ không uống rượu nơi công cộng chừng nào những người bị bắt cóc chưa được trả lại tự do. Vì là người hay uống rượu nơi công cộng, ông biết rằng rượu làm cho người ta mất sáng suốt, ăn nói bạt mạng và không nhìn rõ thực tế. Đó quả là một mối nguy hiểm cho những ai cần phải suy tính thật cẩn thận cho mọi hành động của mình, mỗi lời nói của mình. Rõ ràng là sự nghiêm khắc khiến ông phải thực hiện, không phải là sự ăn năn mà là một biện pháp cho sự an ninh.

Từ đó ông không đi dự bất kỳ cuộc liên hoan tiệc tùng nào, ông nói ông sẽ vĩnh biệt những ngày sống phóng đãng cũng như cuộc sống chính trị trác táng của ông. Trong những đêm ông bị xúc động mạnh, Andrés con ông giải sầu cho ông bằng một cốc nước suối, trong khi chính Andrés tự giải sầu cho mình bằng một cốc rượu cô đơn.

Trong những cuộc họp mặt với Rafael Pardo hai người nghiên cứu về khả năng những cuộc vận động, nhưng luôn vấp phải chính sách của chính phủ, tức là luôn để ngỏ cửa cho sự dẫn độ. Hơn nữa, cả hai người đều biết rằng đó là một công cụ để gây áp lực mạnh mẽ đối với bọn ma túy đã ra trình diện, ngài tổng thống sử dụng nó với sự tin tưởng cũng như bọn ma túy sự dụng nó để không ra đầu thú.

Villamizar không được đào tạo về mặt quân sự, nhưng ông lớn lên ở gần một doanh trại. Bác sĩ Alberto Villamizar Floresz, cha ông, trong nhiều năm là bác sĩ của đội quân cận vệ canh gác dinh tổng thống nên có mối quan hệ chặt chẽ với cuộc sống của những sĩ quan. Ông nội của Villamizar là tướng Joaquin Villamizar, đã từng là Bộ trưởng Quốc phòng. Một ông chú của Villamizar là tướng Jorge Villamizar Lórez là tướng bộ binh. Alberto Villamizar đã thừa hưởng được của cha ông tính cách hai mặt của nhà quân sự và của người tỉnh Santander, vừa thân mật vừa thích chỉ huy, nghiêm chỉnh nhưng phóng đãng, có tài bắn đâu trúng đấy, có tính ngay thẳng và suốt đời không xưng hô mày, tao với bất kỳ ai.

Tuy nhiên, hình ảnh người cha trong ông là đậm hơn cả, ông đã học ngành y tại Universid Javeriana, nhưng chưa khi nào tốt nghiệp, vì bị những luồng gió chính trị cuốn đi một cách vô phương cứu chữa. Tuy không phải là một nhà quân sự, nhưng được sinh ra ở tỉnh Santander chính cống nên ông luôn mang theo bên mình khẩu súng ngắn Smith Wesson 38, mà không khi nào dùng tới nó. Trong mọi trường hợp, mang súng và không mang súng, hai đức tính nổi bật của ông là kiên quyết và kiên nhẫn. Thoạt nhìn tưởng như mâu thuẫn. Với di sản như vậy, đối với Villamizar đã có quá nhiều cuộc bắt bớ để định tìm ra một giải pháp vũ trang cho những vụ bắt cóc, nhưng ông đã từ chối khi chưa tới cực điểm đe dọa giữa cái sống và cái chết.

Kết quả duy nhất lóe sáng là vào cuối tháng 11 đã đối đầu với Escobar tại cuộc đàm phán ở Santander và Ántioquia, khó khăn và dẫm chân tại chỗ. Một đêm rất mệt mỏi vì đi đi về về quá nhiều, ông đành phải trao tất cả mọi việc đàm phán cho Rafael Pardo. Rafaeel hiểu rõ sự buồn rầu của Villamizar, nhưng sự trả lời của ông là chính xác.

- Alberto, anh hãy nghe tôi một việc – ông nói với giọng ôn tồn và thẳng thẳng. Anh cứ tiến hành những cuộc vận động nếu như anh muốn, làm gì mà anh thấy có thể, nhưng nếu anh muốn tiếp tục cộng tác với chúng tôi thì anh phải nhớ rằng không được đi quá giới hạn của chính sách chung là không chịu khuất phục. Không được quá một bước, Alberto. Điều đó đã rõ ràng.

Không có đức tính nào, cả sự quyết tâm và lòng kiên nhẫn có thể giúp Villamizar để lẩn tránh những mâu thuẫn. Có nghĩa là: hành động như ông muốn theo sự tưởng tượng và không gian mình, nhưng luôn bị bó tay.

Nguyên tác: Noticia de un secuestro Dịch giả: Đoàn Đình Ca Đánh máy: Thùy An, Lê Thanh, Thùy Trâm, Thiên Thanh, Minh Khuyên, Hồng Hạnh, Yên Hà, Thu Thủy
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.