Tin Tức Về Một Vụ Bắt Cóc

Lượt đọc: 146 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

❊ ❊ ❊

Cả Maruja và Beatriz đều chưa biết tin về cái chết của Marina và Diana, vì các bà không có vô tuyến và radio, không có tin tức nào khác ngoài tin tức của kẻ thù, nên không biết đâu là sự thật. Những mâu thuẫn của chính những tên gác đã làm tiêu tan những tin tức nói rằng chúng ta chuyển Marina tới một trang trại mới, do vậy mà những ý kiến bất kỳ nào khác đều dẫn tới một ngõ cụt không có lối ra: hoặc là bà đã được trả lại tự do hoặc đã bị giết chết. Tức là trước đó được biết rằng hai bà là những người duy nhất còn sống thì hiện nay hai bà là những người duy nhất không biết còn sống hay đã chết.

Chỉ riêng cái giường nằm đã biến thành một bóng ma trước sự mập mờ về điều mà chúng đã làm đối với Marina. Sau một giờ Monje đã trở về từ lúc chúng đưa bà đi. Hắn bước vào phòng như một bóng ma và đứng im trong một góc nhà.

Beatriz hỏi hắn với giọng gay gắt:

- Các người đã làm gì Marina?

Monje kể rằng khi hắn đưa bà ra khỏi nhà, hai tên chỉ huy không vào nhà mà đợi bà ở ga-ra ô tô. Hắn hỏi hai tên chỉ huy đưa bà đi đâu, một trong hai tên chỉ huy trả lời một cách giận dữ: “Hỏi gì, hỏi cái con cặc, ở đây không được hỏi”. Sau đó chúng ra lệnh cho Monje quay trở về, để Marina trong tay Barrabás, một tên gác khác.

Thoạt mới nghe, cách giải thích đó có thể tin được. Không dễ dàng mà Monje có đủ thời gian đi và về trong một khoảng thời gian ngắn như vậy nếu hắn cũng tham gia vào tội ác, mà thực tế hắn cũng không có gan để giết chết một người đàn bà tàn tạ như bà mà hắn vẫn quý trọng như người bà nội, còn bà thì xem hắn như một người cháu. Trái lại, Barrabas là một tên tàn bạo khét tiếng, chẳng những thể hắn còn vênh váo có vẻ tự hào về những tội ác của mình. Sự phân vân lo lắng đáng lo ngại vào lúc sáng sớm khi Maruja và Beatriz vừa thức giấc do tiếng kêu rên của một con vật bị thương, hoá ra đó là tiếng khóc nức nở của chính Monje. Anh ta bỏ cả ăn sáng, vài lần thấy anh ta thở dài: “Thật đau đớn cho bà!” Tuy nhiên, không khi nào anh tin Marina đã bị giết. Chúng ngoan cố tới mức người quản gia nhất định không chịu trả lại các chiếc vô tuyến và chiếc radio, điều đó càng làm tăng thêm sự nghi ngờ rằng Marina đã bị giết.

Sau vài ngày vắng mặt, Damarias đã trở về với tâm trạng vui vẻ, lại thêm một yếu tố nữa làm tăng thêm sự nghi ngờ. Một trong những buổi đi dạo vào lúc sáng sớm, Maruja đã hỏi hắn: trong những ngày qua anh vừa đi đâu, hắn trả lời đúng như thật “Tôi canh giữ bà Marina” Hắn không để cho Maruja có chút thời gian suy nghĩ, hắn nói thêm: “Marina luôn nhớ các bà, bà nhờ tôi chuyển tới các bà lời chào.” Ngay lập tức, với giọng nói ngẫu nhiên, bà nói sở dĩ Barrabas không trở về vì hắn bận canh giữ Marina. Bắt đầu từ đó, mỗi lần Damarias đi ra phố trở về, với vẻ phấn khởi hắn đều nhắc lại câu nói muôn thuở:

- Dona Marina rất khoẻ mạnh.

Maruja không có lý do để tin Damarias hơn là tin vào Monje, hoặc bất kỳ người nào khác, nhưng bà cũng không có đầy đủ lý do để không tin họ trong một số trường hợp mà mọi người tin rằng có thể. Nếu thực tế Marina còn sống, thì không có lý do gì duy trì những con tin trong tình trạng không có tin tức mà cũng không được giải trí, nếu như đó không phải là cách để che dấu sự thật khác xấu hơn.

Không có gì phi lý hơn sự tưởng tượng ngờ nghệch của Maruja. Cho tới khi đó bà vẫn che dấu sự lo lắng của bà với Beatriz, sợ rằng bà không chống đỡ nổi sự thật. Nhưng Beatriz đã vượt ra ngoài mọi sự ô nhiễm.

Ngay từ đầu bà đã bác bỏ bất kỳ sự nghi ngờ nào rằng Marina đã chết. Những giấc mơ đã giúp đỡ bà, bà mơ ước rằng Alberto em bà thực tế trong cuộc sống, bà xem xét lại từng cuộc vận động của Alberto, mọi việc đều tiến triển tốt, chỉ còn thiếu chút ít nữa thì các bà sẽ được tự do. Bà nằm mơ thấy rằng cha bà đã trấn an bà với tin tức rằng những tấm bưu thiếp quên trong túi là vật cứu cánh. Đó là cách nhìn sắc sảo mà trong kỷ niệm không thể phân biệt được với thực tế.

Trong những ngày đó nhiệm vụ canh giữ Maruja và Beatriz của Damarias đã hết, đến lượt một thanh niên 17 tuổi tên là Jonas. Anh ta mải mê nghe nhạc từ 7 giờ sáng bằng một máy ghi âm có giọng mũi. Anh ta có những bài hát ưa thích, nghe đi nghe lại nhiều lần, mở hết cỡ to như điên. Trong khi đó, như một ca sĩ trong đoàn đồng ca, hắn hét tướng lên: “Ôi, cuộc đời thật chó má, không hiểu sao tôi lại lao đầu vào đây”. Khi bình tĩnh hắn kể chuyện về gia đình với Beatriz. Nhưng hắn chỉ tới bờ của một vực thẳm với tiếng thở dài khó hiểu: “Nếu như bà biết rõ cha tôi là ai!” Không khi nào hắn nói rõ về điều này và những điều khác của những người khác, nhưng đã góp phần làm dịu đi bầu không khí trong phòng.

Người quản gia trông coi công việc trong nhà phải báo cáo lên cấp trên về nỗi lo lắng bao trùm căn phòng, vậy hai trong số những người gác trong những ngày đó có tư tưởng thoả hiệp. Một lần nữa họ từ chối nhất định không chịu trả lại chiếc vô tuyến và chiếc radio, nhưng họ đối xử tốt trong cuộc sống hàng ngày. Họ hứa sẽ mang sách báo tới cho các bà, nhưng họ mang rất ít, trong số sách có cuốn tiểu thuyết của Corin Tellado. Họ cũng mang tới những tạp chí nhưng không có tờ nào mới. Họ mắc một bóng đèn lớn, trước lắp bóng mầu xanh và ra lệnh bật đèn trong một giờ vào hồi 7 giờ sáng và lần khác từ 7 giờ tối để có thể đọc được, nhưng Maruja và Beatriz đã quen với ánh sáng mờ, không chịu được ánh sáng chói. Hơn nữa, ánh sáng làm nóng không khí trong phòng tới mức ngạt thở. Maruja phó mặc để cho sự thất vọng kéo đi, suốt ngày đêm bà nằm trên chiếc đệm, quay mặt vào tường vì không muốn nói chuyện với ai. Hầu như bà không ăn. Beatriz nằm trên giường vùi đầu vào trò chơi ô chữ và câu đố trên các tạp chí. Thực tế thật trắng trợn và đau đớn, nhưng đó lại là thực tế. Căn phòng có thể giam giữ 5 người nhưng nay chỉ có 4, do đó có thêm không gian và thêm không khí để thở.

Jonás đã kết thúc kỳ gác của mình vào cuối tháng giêng. Anh tạm biệt những con tin, với một bằng chứng của lòng tin. “Tôi kể với các bà một chuyện nhưng với điều kiện là không được nói lại với ai”, anh để xổ ra tin tức mà anh vẫn giữ kín trong bụng:

- “Chúng đã giết chết Diana Turbay rồi”.

Tin này làm các bà bừng tỉnh. Đối với Maruja đó là giây phút khủng khiếp nhất trong suốt thời gian bị giam giữ. Beatriz cố gắng không nghĩ tới chuyện khôn lường. “Nếu chúng đã giết hại Diana thì người sắp tới phải là tôi”. Kết thúc những câu chuyện từ ngày mồng một tháng giêng, khi năm cũ đã trôi qua nhưng chúng không đả động gì tới việc trả lại tự do cho bà. Beatriz nói: “Hoặc chúng sẽ thả tôi, hoặc chúng sẽ giết tôi”. Một trong những ngày đó, trong lúc Maruja đang chơi đô-mi-nô với một tên gác thì tên Gorila đưa tay ôm ngực kêu: “Tôi thấy rất đau ở chỗ này. Tôi sẽ ra sao”. Maruja thôi không chơi nữa, nhìn hắn với vẻ khinh bỉ, bà nói: “Hoặc là anh bị ngộ khí độc hoặc anh đang lên một cơn nhồi máu cơ tim”. Hắn vứt khẩu tiểu liên trên mặt đất, đứng dậy với vẻ sợ hãi, xoè các ngón tay đặt lên ngực, bật tiếng kêu thất thanh: “Cái con cặc, tôi đang bị đau ngực!” Hắn ngã vật xuống chiếc bàn ăn, nằm úp mặt xuống bàn. Beatriz biết hắn rất ghét bà, nhưng với lương tâm nghề nghiệp, bà thấy cần giúp đỡ hắn, nhưng chính lúc ấy người quản gia và vợ bước vào, vì họ nghe thấy tiếng hét và tiếng động khi Gorila ngã. Một người gác khác, người nhỏ và yếu định làm việc gì đó, nhưng vướng khẩu tiểu liên, hắn trao khẩu súng cho Beatriz: Nhờ bà cầm giúp tôi. Hắn, bảo người quản gia và Damarias hiệp lực nhưng cũng không sao khiêng nổi Gorila. Họ túm chặt vào người hắn rồi kéo lê ra tận phòng. Beatriz với khẩu tiểu liên trong tay, Maruja tỏ vẻ ngạc nhiên, nhìn thấy khẩu tiểu liên của người gác khác vứt lăn lóc trên sàn, cả hai cùng run lên vì cùng thoáng có ý nghĩ. Maruja biết hắn bắn súng lục, đã một vài lần bà được hướng dẫn cách sử dụng tiểu liên, nhưng một sự tỉnh táo thần kỳ đã ngăn cản không để bà lượm khẩu tiểu liên. Về phần mình, Beatriz đã quen với việc luyện tập quân sự. Bà đã theo học một khoá huấn luyện trong năm năm, mỗi tuần hai ngày, bà đã đạt tới chức chuẩn uý, rồi trung uý, đại uý tại một quân y viện. Bà cũng qua một khoá huấn luyện đặc biệt về pháo binh. Tuy nhiên bà nhận ra rằng dù có hành động cũng sẽ dẫn tới thất bại. Cả hai người đều tự an ủi với ý nghĩ rằng Gorila sẽ không trở lại. Đúng thế, không khi nào hắn trở lại.

Khi Pacho Santos thấy trên vô tuyến cảnh đám ma Diana và cuộc khai quật xác Marina Montoya thì ông nhận ra rằng chẳng còn cách nào khác ngoài việc chạy trốn. Tới khi đó ông đã có khái niệm hiện mình đang ở đâu. Qua những cuộc nói chuyện, và những sơ hở của những tên gác, và do những thủ thuật khác của nghề làm báo ông đã xác định được hiện ông đang bị giam giữ tại một ngôi nhà ở góc đường một khu phố lớn và đông dân, phía Tây của Bogota. Căn phòng ông đang ở là căn phòng chính ở tầng hai, phía ngoài cửa sổ được bịt kín bằng những tấm gỗ. Ông cũng biết rằng đó là một căn phòng thuê, có thể không có hợp đồng hợp lệ, vì người chủ cứ đầu tháng tới thu tiền nhà. Đó là người lạ duy nhất có thể ra vào nhà này. Trước khi ra mở chiếc cửa thông ra đường, chúng đã xích chân Pacho vào chân giường, đe doạ buộc ông phải tuyệt đối im lặng, tắt cả tivi và đài.

Ông biết rõ cửa sổ đóng kín nhìn ra một thửa vườn, và ở phía cuối hành lang có một cửa, đó là nhà vệ sinh. Nhà vệ sinh được dùng thoải mái không có sự theo dõi nào, chỉ một người được ra hành lang nhưng phải xin phép để họ mở xích chân. Ở đó lỗ thông gió duy nhất là một chiếc cửa sổ, qua cửa sổ đó có thể nhìn thấy bầu trời. Chiếc cửa sổ đó ở trên cao, không dễ với tới, nhưng có một đường thẳng đủ để thoát ra ngoài. Cho tới khi đó Pacho vẫn chưa có ý định trốn nếu trốn có thể đi tới đâu. Ở phòng bên cạnh có những chiếc giường sắt sơn mầu đỏ, nơi nghỉ của những người gác trong khi chưa đến lượt gác. Vì có 4 người chia thành hai cặp, mỗi cặp gác trong 6 giờ. Những vũ khí họ dùng hàng ngày không khi nào nhìn thấy, họ luôn dấu kín trong người. Chỉ có một người ngủ trên mặt đất, cạnh một chiếc giường đôi. Ông biết rằng ngôi nhà đó ở cạnh một nhà máy, mỗi ngày vài lần tiếng còi lại rú vang lên, và qua những bài hát đồng ca hàng ngày và tiếng ồn ào trong giờ ra chơi ông biết ông đang ở gần một trường học. Trong một vài lần ông nhờ mua một chiếc bánh mỳ nhồi thịt, khoảng năm phút sau họ mang về chiếc bánh, hãy còn nóng, do đó ông biết chắc ở một ngã tư gần đó có một hàng bán bánh. Còn báo thì chắc chắn họ mua ở một quầy bán báo ở phía bên kia đường hoặc tại một cửa hàng bán sách báo lớn, vì ở đó có bán cả những tạp chí Time và Newsweek. Về ban đêm ông bị đánh thức vì mùi bánh mì vừa mới ra lò của một cửa hàng bánh mì. Bằng những câu hỏi bâng quơ gài bẫy, qua những người gác ông biết trong khoảng chu vi 100m có một hiệu thuốc tây, một xưởng sửa chữa ô tô, 2 căng tin, một nhà trọ, một hàng sửa giầy và hai điểm dừng của xe buýt. Với bấy nhiêu tin tức, số liệu mà ông thu lượm được, ông đã suy nghĩ nát óc để đề ra một kế hoạch trốn thoát.

Một trong những tên gác nói với ông rằng trong trường hợp cảnh sát tới, họ được lệnh trước hết vào phòng bắn mỗi con tin 3 phát đạn: một phát vào đầu, một phát vào tim và một phát vào gan. Từ khi biết tin đó, ông đã kiếm được một chai ga một lít, luôn để trong tầm tay để đe doạ chúng như một chiếc búa. Đó là vũ khí duy nhất mà ông có. Một tên gác đã dậy ông chơi cờ, ông chơi rất nổi tiếng, đó là cách tiêu khiển và giết thời gian.

Một tên gác khác đến lượt gác vào tháng mười, là một người rất say mê xem phim chuyện, anh xem chăm chú không cần biết đó là phim hay hay phim dở. Điều đáng chú ý ở anh ta là không quan tâm nhiều tới những tình tiết, những chuyện ngày nay, mà học cách tưởng tượng với những chuyện bất ngờ của ngày mai. Hai người cùng xem chương trình vô tuyến của Alexandra và cùng nghe tin tức của đài phát thanh. Một tên gác khác đã lấy của ông 20 nghìn pesos ông mang theo người khi bị bắt cóc, nhưng để bù lại hắn hứa sắp tới sẽ cho ông tất cả những gì có thể. Trước hết là những cuốn sách: một vài tác phẩm của Milan Kemdero “Tội lỗi và sự trừng phạt”, Tiểu sử tướng Santader de Pilar Moreno de Angel. Rất có thể anh là người Colombia duy nhất thuộc thế hệ anh được nghe nói tới nhà văn José Maria Vargas Vila, người Colombia được thế giới biết nhiều nhất vào đầu thế kỷ này. Anh xúc động đến rơi nước mắt khi đọc những tác phẩm của ông. Anh đọc hầu hết những cuốn sách do một tên gác lấy trộm ở một thư viện của ông nội. Ông duy trì việc trao đổi thư từ với mẹ một tên gác trong thời gian vài ba tháng cho tới khi những người phụ trách về an ninh cấm ông không được làm việc ấy. Ngoài sách, hàng ngày ông còn được đọc những tờ báo còn mới. Người gác chịu trách nhiệm mang báo cho ông có mối thù thâm căn cố đế chống lại những nhà báo. Đặc biệt chống một người giới thiệu nổi tiếng của vô tuyến truyền hình, anh ta chĩa súng vào người này mỗi khi thấy ông ta xuất hiện trên màn ảnh nhỏ.

- Đối với tên này, tôi chỉ muốn cho một phát súng - hắn nói. Chưa khi nào Pacho gặp trực tiếp những người chỉ huy, mặc dầu thỉnh thoảng họ có tới, nhưng không khi nào họ tới phòng ngủ của người bị bắt cóc. Họ họp để kiểm tra và bàn công việc tại quán cà phê Chapiano. Trái lại, với những người gác, ông đã thiết lập được mối quan hệ tốt. Ông sống hay chết đều nằm trong tay họ, nhưng họ luôn chấp nhận quyền bàn bạc, đàm phán của ông về những điều kiện của cuộc sống. Hầu như hàng ngày, ông đều có thua và có thắng, thua trận này nhưng thắng trận khác. Ông đã thua nên khi đi ngủ bị xích chân, nhưng ông đã thắng vì đã tranh thủ được sự tin tưởng của những người gác trong khi chơi bài, một trò bịp bợm dễ dàng như lừa trẻ con. Cứ mỗi năm ngày lại thay người chỉ huy vô hình để điều khiển những tên gác, hắn cho mượn 100 nghìn pesos, chia đều cho mỗi người để chơi bài ăn tiền. Pacho luôn bị thua. Mãi sáu tháng sau chúng mới thừa nhận với Pacho rằng, tất cả mọi lần chơi bài chúng đều bịp, nếu như chúng để ông thắng một vài ván là để ông không chán. Đó là cách chơi bằng tay với nghệ thuật đánh tráo bài vào bậc thầy.

Cuộc sống của ông kéo dài như vậy cho tới năm mới. Ngay từ đầu ông đã thấy cuộc bắt cóc này sẽ kéo dài, mối quan hệ giữa ông và những người gác khiến ông có thể chịu đựng được. Nhưng tin về cái chết của Diana và Marina đã làm tiêu tan sự lạc quan của ông. Chính những người gác trước đó đã cổ vũ ông thì nay mỗi khi ra phố trở về họ đều tỏ ra mất tinh thần. Hình như mọi việc đều đình trệ chờ đợi xem Quốc hội sẽ quyết định về việc dẫn độ và ân xá như thế nào. Như vậy rõ ràng lựa chọn sự trốn thoát là có thể nhưng với một điều kiện: chỉ nên trốn khi thấy không còn cách nào khác.

Chân trời cũng đã khép kín đối với Maruja và Beatriz sau những ảo tưởng hồi tháng 12, nhưng tới tháng giêng lại hé nở, khi có dư luận rằng hai con tin sắp được trả lại tự do. Khi đó hai bà không biết rõ còn lại bao nhiêu con tin hiện đang bị giam giữ, có thêm những con tin mới không. Maruja cho rằng người sắp được trả lại tự do sẽ là Beatriz. Đêm ngày 2 tháng hai, trong lúc đang tập đi trong vườn, Damarias đã khẳng định với hai bà về tin đó. Như vậy là chắc chắn rồi, bà nhờ mua ở ngoài phố một thỏi son đánh môi, một bút chì mầu thẫm để kẻ lông mi và một số đồ trang sức lặt vặt khác để chuẩn bị cho ngày được trả lại tự do. Beatriz cạo lông chân đề phòng đến giờ phút chót không có đủ thời gian.

Tuy nhiên, hai người chỉ huy tới thăm vào ngày hôm sau, họ không nói điều gì chính xác là ai sẽ được trả tự do trước, mà cũng không nói những con tin có được trả lại tự do hay không. Họ là những người chỉ huy cấp cao, tính tình cởi mở hơn những người chỉ huy trước. Họ xác nhận rằng trong một bản thông cáo của những người buôn bán ma tuý có nói tới việc trả lại tự do cho hai con tin, nhưng có thể có sự trục trặc bất ngờ nào đó nên chưa thực hiện. Nhưng người chỉ huy cũng lưu ý hai bà về lời hứa trước đây là sẽ phóng thích những con tin vào ngày 9 tháng 12, nhưng họ cũng không thực hiện.

Những người chỉ huy mới cố tạo ra một bầu không khí lạc quan. Họ tới bất kỳ giờ nào, vui vẻ, không có những thủ tục khắt khe. “Như vậy là tốt”. - Họ nói. Họ bình luận những tin tức trong ngày với niềm phấn khởi ngây thơ, nhưng vẫn cứ khăng khăng không chịu cấp lại cho các bà chiếc vô tuyến và chiếc radio để có thể trực tiếp theo dõi tin tức. Không hiểu do sự tàn bạo hay sự ngu ngốc, một tên chỉ huy nói một câu làm cho các bà sợ chết khiếp với hai ý nghĩa: “Các bà hãy cứ yên tâm, sự việc sẽ diễn ra nhanh chóng”. Do câu nói này làm cho các bà sống trong tình trạng căng thẳng, thấp thỏm trong suốt 4 ngày, sau họ dần dần hé mở một vài tin tức rời rạc. Tới ngày thứ ba họ nói sẽ trả lại tự do cho một con tin. Có thể là Beatriz, vì đối với Maruja và Francisco Santos chúng còn giữ lại làm con bài cho những việc quan trọng hơn. Điều đau buồn nhất đối với các bà là không thể xác định những tin này với những tin tức ngoài đường phố, trước hết với Alberto, có thể ông biết rõ hơn là chính những tên chỉ huy về nguyên nhân thực tế của sự mập mờ.

Cuối cùng, ngày 7 tháng hai những người chỉ huy tới sớm hơn thường lệ và bật mí: Beatriz được trả lại tự do trước, Maruja còn phải đợi thêm một tuần lễ nữa. Vì “hãy còn thiếu một số chi tiết”. - Một trong những tên đeo mặt nạ nói. Beatriz lên một cơn mê sảng, làm cho những người chỉ huy, vợ chồng người quản gia và những người gác khác phải một phen hốt hoảng, mệt lử. Maruja không để ý tới điều đó, bà cảm thấy thương tổn vì mối hận thù thầm lặng đối với chồng bà, vì chồng bà theo đuổi ý nghĩ muốn giải thoát cho em gái trước khi giải thoát cho bà. Suốt cả buổi chiều bà tức giận và còn lưu lại tới vài ngày sau.

Đêm hôm đó bà lên lớp cho Beatriz, nhắc Beatriz phải nói với Alberto Villamizar mọi chi tiết về vụ bắt cóc, lưu ý ông phải tìm mọi cách để đảm bảo an toàn cho tất cả.

Bất kỳ sai lầm nào, dù là ngây thơ cũng có thể dẫn tới việc đổi một mạng người. Như vậy Beatriz phải kể lại với anh bà mọi chuyện một cách ngắn gọn nhưng phải đúng sự thật, không thêm mà cũng không bớt để không thể làm ông tăng thêm hoặc giảm bớt sự lo lắng, đau khổ. Phải kể rõ sự thật trần trụi. Điều quan trọng không nên nói với ông, bất kỳ tin tức nào để có thể xác định địa điểm hiện đang giam giữ những con tin. Beatriz hiểu rõ điều đó.

- Vậy là chị không tin tưởng ở anh tôi?

- Đúng, tôi không tin bất kỳ ai trên thế giới này - Maruja nói. Nhưng đây là lời nói giữa bà và tôi, không nên nói với bất kỳ ai khác. Bà nói với tôi rằng không nên cho ai biết. Sự lo lắng của bà là đúng, là cơ bản. Bà đã biết rõ tính bốc đồng của chồng bà, bà muốn có sự tốt lành cho cả hai người và của tất cả những ai muốn giải thoát cho những con tin bằng sức mạnh. Bà viết một bức thư hỏi Alberto xem thứ thuốc lưu thông máu mà bà đang dùng có phản ứng phụ không. Phần còn lại trong đêm bà chuẩn bị một hệ thống có hiệu quả để giải mã những bức thông điệp gửi tới bà qua radio và vô tuyến trong lúc họ chưa cho phép trao đổi thư từ viết tay. Tuy nhiên, ở nơi sâu thẳm của tâm hồn bà đang nhẩm một bản di chúc: dặn các con cần phải làm gì, những đồ đạc trong nhà, nhất là những đồ cổ cần có sự chăm sóc đặc biệt. Đó là những ý nghĩ nung nấu, rất mãnh liệt ở bà trong những ngày vừa qua, bà lẩm bẩm khiến một người gác nói với bà:

- Xin bà cứ yên tâm, không có chuyện gì xảy ra với bà đâu. Ngày hôm sau những con tin chờ đợi với tâm trạng bồn chồn, lo lắng hơn, nhưng rút cục chẳng có chuyện gì xẩy ra. Buổi chiều hai người tiếp tục nói chuyện. Nhưng hồi 7 giờ tối, bất thình lình chiếc cửa bị giật mạnh, hai người chỉ huy quen biết xông vào phòng, một người mới hướng về phía Beatriz nói: - Vì bà mà chúng tôi tới đây, bà hãy chuẩn bị gấp. Beatriz rất sợ sự lặp lại khủng khiếp này về ban đêm, như khi họ đưa Marina đi cũng qua một chiếc cửa đã mở, cùng một câu nói rằng để trả lại tự do nhưng thực tế để đi tới cái chết, lúc này bà cũng cùng một dự đoán về số phận bà. Không hiểu sao đối với Marina cũng như đối với bà họ đều nói: “Vì bà mà chúng tôi tới đây”. Thay cho câu nói mà bà khát khao muốn được nghe: “Chúng tôi tới để trả lại tự do cho bà”. Bà cố gắng tìm ra câu trả lời thông minh, đầy mưu mẹo: “Các ông thả tôi để tôi trở về cùng với Marina?” Cả hai tên chỉ huy đều nổi cáu:

- Không được hỏi! Một tên nói với cái nháy mắt rất đểu, chua chát. Rồi bà sẽ biết. Tên khác nói vẻ ôn tồn hơn: Một việc không có liên quan gì tới người khác. Đó là chính trị.

Một lời nói mà Beatriz khao khát muốn được nghe: bà được trả lại tự do thì họ lại không nói. Nhưng bầu không khí lúc đó là khả quan. Những tên chỉ huy không vội vàng. Damarius mặc chiếc váy ngắn mang đến những chai nước giải khát và nói là để chia tay bà. Họ trao đổi với nhau về những tin tức trong ngày mà những con tin không biết: Trong những cuộc hành quân khác nhau, hình như bọn ma tuý đã bắt cóc tại Bogota hai nhà doanh nghiệp lớn: Lorenzo Kling Mazuera và Eduardo Puyana. Họ cũng kể rằng Pablo Escobar sau bấy nhiêu năm phải sống trong cảnh chui lủi nay muốn ra đầu thú. Kể cả một thời gian phải sống dưới hầm. Họ hứa tối nay sẽ mang tới cho con tin chiếc vô tuyến và chiếc radio để Maruja có thể nhìn thấy cảnh những người thân vui mừng đón tiếp, vây xung quanh Beatriz.

Sự phân tích của Maruja xem ra có vẻ có lý. Khi Marina bị đưa đi bà nghĩ ngay tới việc bà sẽ bị hành quyết. Nhưng nghi thức của hai trường hợp cũng khác nhau. Đối với Marina, những người chỉ huy không tới trước để trấn an tinh thần. Họ cũng không đích thân tới tìm bà mà chỉ cử hai tên lính trơn không có quyền hành gì để đưa Marina đi. Chỉ có năm phút để thi hành mệnh lệnh.

Trái lại, trong cuộc tiễn đưa Beatriz có bánh ngọt và rượu vang với những lời từ biệt chết người, nếu chúng đưa bà đi để giết chết bà. Trong trường hợp Marina chúng đã tước đi chiếc vô tuyến và chiếc radio để các bà không biết tin tức về vụ hành quyết, nhưng bây giờ họ lại quyết định trả lại những thứ đó để làm dịu bớt sự căng thẳng.

Tới đó Maruja đã rút ra kết luận dứt khoát rằng Marina đã bị hành quyết còn Beatriz sẽ được trả lại tự do.

Những tên chỉ huy dành cho bà 10 phút để chuẩn bị, trong lúc đó họ đi uống cà phê. Beatriz vẫn chưa thể gạt bỏ được ý nghĩ rằng bà đang trở lại sống đem cuối cùng của Marina. Bà yêu cầu một chiếc gương để trang điểm. Damarius mang tới cho bà một chiếc gương to có nạm vàng ở xung quanh. Maruja và Beatriz đã ba tháng không có gương nên đều vội vã ra soi gương. Đó là một trong những kinh nghiệm bất ngờ của những người phải sống cảnh giam cầm. Khi nhìn trong gương, Maruja không nhận ra mình nữa. “Tôi chết vì kinh hoàng” sau này bà kể lại. Tôi nhìn thấy tôi rất gầy, xa lạ như thể tôi cải trang để trở thành một nhân vật nào đó trên sân khấu. Beatriz trông nhẹ nhõm hơn, giảm 10kg, tóc dài và khô. Khi thấy mình trong gương, bà hốt hoảng kêu lên: “Người này không phải là tôi”. Nhiều lần, nửa đùa nửa thật, bà nói bà cảm thấy đau lòng nếu một ngày nào đó được trả lại tự do trong cảnh thân tàn ma dại thế này. Không khi nào bà có thể tưởng tượng bà lại tiều tụy đến thế. Bà có vẻ xấu hơn khi một tên chỉ huy bật ngọn đèn ở giữa nhà, bầu không khí trong phòng trở nên khủng khiếp hơn. Một người gác đỡ chiếc gương để bà chải đầu. Bà định trang điểm nhưng Maruja ngăn: “Trang điểm làm gì. Biết thế nào.” Bà nói giận dữ. Bà ra đi trong cảnh thân tàn ma dại như thế này sao. Thật khủng khiếp. Beatriz nhận ra điều đó. Nhưng bà cũng xức một ít nước hoa dùng cho đàn ông mà Lamparon đã tặng bà. Sau đó, không cần nước bà đã nuốt một viên thuốc an thần.

Trong chiếc túi, cùng một số đồ dùng khác còn có bộ quần áo bà mặc trong đêm bị bắt cóc, nhưng bà thích mặc bộ quần áo thể thao mầu hồng ít khi dùng. Bà đắn đo có nên đi đôi giầy bị mốc để dưới gầm giường. Bà mặc bộ quần áo thể thao rất vừa. Damaris định tặng bà đôi giầy tennis dùng để tập thể dục. Đôi giầy có số đo đúng với chân bà, nhưng rất thông minh, Beatriz đã từ chối với lý do là đôi giầy đó rất chật đối với chân bà. Như vậy bà dùng đôi giầy mốc đế bằng, buộc bím tóc đuôi ngựa bằng một sợi dây nylon. Cuối cùng trong hoàn cảnh eo hẹp như vậy nhưng bà đã trang điểm có dáng dấp như một nữ sinh trung học. Họ không trùm lên người bà một miếng vải đen như đã làm với Marina, nhưng chúng bịt mắt bà bằng một miếng vải xô, để bà không nhân ra đường đi và nhận mặt những người đi cùng bà. Bà phản đối không chịu để họ bịt mắt, vì khi tháo băng ra sẽ làm rụng đi chiếc lông mi.

“Hãy chờ một chút, để tôi tự bịt mắt”. Khi đó bà đặt một miếng bông lên mỗi mắt rồi mới để họ dán miếng vải xô lên trên. Cuộc chia tay diễn ra rất nhanh, không nước mắt. Beatriz suýt nữa bật ra tiếng khóc, nhưng Maruja đã ngăn lại với thái độ lạnh lùng để cổ vũ Beatriz.

“Em hãy nói với Alberto rằng cứ yên tâm, rằng chị rất yêu anh và rất quý các con.” – Bà nói. Hai người chia tay nhau bằng một cái hôn, cả hai đều phải chịu đựng, nén nỗi đau đớn trong lòng. Beatriz vì đã tới giờ của sự thật, bà tỏ ra sợ hãi vì chúng sẽ giết chết bà dễ dàng hơn là trả tự do cho bà. Maruja còn sợ hãi gấp đôi nếu chúng giết chết Beatriz, vì bà phải ở lại một mình với bốn tên gác. Điều duy nhất có thể sẽ xẩy ra với bà là chúng sẽ hành quyết bà, một khi đã trả tự do cho Beatriz. Chiếc cửa đóng sập lại, Maruja nằm bất động, không biết sẽ đi tới đâu, cho tới khi nghe thấy tiếng động cơ nổ ở gara ô tô, những chiếc xe mất hút trong đêm tối… Một cảm giác mung lung là mình bị bỏ rơi ngự trị trong tâm trí bà. Chỉ khi đó bà mới nhớ rằng họ đã thực hiện đúng lời hứa là trả lại chiếc vô tuyến và chiếc radio để bà có khái niệm ban đêm đã kết thúc vào lúc nào.

Người quản gia đi cùng với Beatriz, vợ ông ta hứa sẽ gọi điện để mang các thứ tới trước khi phát bản tin vào hồi 9 giờ rưỡi tối. Nhưng cuối cùng họ vẫn chưa đưa tới nên Maruja phải xin phép những người gác để bà được xem nhờ vô tuyến của gia đình người quản gia nhưng cả những người gác và vợ người quản gia cũng không dám làm một việc trái lệnh nghiêm trọng như vậy. Damaris tới lúc trước hai giờ sáng vui mừng kể lại với bà rằng Beatriz đã trở về nhà bình an vô sự và rất thận trọng khi đưa ra những lời tuyên bố với báo chí, bà không đổ lỗi cho bất kỳ ai. Toàn thể gia đình, cả Alberto, đương nhiên, vây xung quanh bà, nhà không chứa hết tất cả những người tới thăm. Nhưng Maruja vẫn nghi ngờ, không đúng như vậy. Bà tha thiết đề nghị những người gác cho bà mượn chiếc radio. Bà không tự kiềm chế được, bà đối mặt với những tên gác, không suy tính tới những hậu quả có thể xảy ra. Không đến nỗi nghiêm trọng, vì họ đã được chứng kiến sự đối xử của những người chỉ huy với Maruja. Họ muốn trấn an bà bằng một cử chỉ mới, đồng ý cho bà mượn một chiếc radio.

Sau đó người quản gia thò đầu vào nói với Maraja: Beatriz đã được trả lại tự do tại một địa điểm an toàn, đã được bình an vô sự trở về gia đình. Cả nước đã trông thấy bà và đã nghe tiếng nói của chính bà. Người quản gia hứa sẽ mang tới cho bà một chiếc radio, nhưng không thực hiện. Đến 12 giờ đêm, bị kiệt sức vì quá mệt và tức giận, Maruja uống hai viên thuốc ngủ cực mạnh, ngủ liền một mạch tới 8 giờ sáng ngày hôm sau.

Tin tức của những người gác là chính xác. Beatriz được đưa qua một thửa vườn tới một gara. Họ bắt bà phải nằm xuống sàn xe ô tô, không nghi ngờ gì đó là một chiếc xe gíp, vì họ phải giúp đỡ bà mới bước tới chỗ ngồi trên xe. Lúc đầu xe chạy lúc lắc khi vượt qua một đoạn đường gồ ghề, sau đó xe chạy bon bon trên đường trải nhựa, một người đàn ông đi cùng Beatriz đã đe dọa bà bằng một câu vô nghĩ. Qua giọng nói, bà nhận ra rằng người này đương ở trạng thái bị khích động, với thái độ cứng rắn của anh ta cũng không giảm được sự khích động, không có người chỉ huy nào tới nơi giam giữ những con tin.

-Một số nhà báo đang chờ đợi bà – người này nói, vậy bà phải biết giữ mồm giữ miệng. Bất kỳ lời nói quá nào của bà cũng có thể làm mất mạng chị dâu bà. Bà nên nhớ rằng chưa khi nào chúng tôi nói với bà, và cũng chưa khi nào bà nhìn thấy chúng tôi – họ nói với Beatriz, cuộc hành trình kéo dài trong hai giờ.

Beatriz im lặng nghe những lời đe dọa đó và nhiều lời đe dọa khác mà bà thấy không cần thiết nhắc lại. Bà giữ thái độ im lặng. Trong một cuộc nói chuyện giữa ba người, bà nhận ra có tiếng người quen nào đó, người quản gia không nói gì. Bà rùng mình vì một cơn gió mạnh: còn có điều gì khủng khiếp có thể xảy ra với bà.

Trong đêm tối với giọng bình tĩnh bà nói:

- Có một việc tôi muốn đề nghị với các ông, Maruja có vấn đề về lưu thông máu, chúng tôi đã đề nghị đưa bà tới một bệnh viện, không hiểu các ông có đưa bà đi không?

- Nhất định – người đàn ông nói.

- Nghìn lần cám ơn các ông – Beatriz nói.

- Tôi sẽ làm theo chỉ thị của các bà. Chúng tôi không làm hại các bà.

Mọi người nghỉ một lúc lâu trên chiếc xe tải hạng nặng, có âm nhạc và những tiếng la hét. Mọi người nói chuyện thì thầm với nhau. Một người hướng về phía Beatriz nói “ở đây thường xảy ra những cuộc khám xét. Nếu họ chặn chúng ta thì chúng ta sẽ nói với họ rằng bà là vợ tôi, họ thấy bà xanh xao ôm yếu, chúng ta sẽ nói với họ rằng chúng tôi đi bệnh viện”.

Beatriz không thể im lặng mãi, không thể chịu được cái trò chơi này.

- Với những miếng vải bịt mắt như thế này, nói là bà vừa phải mổ mắt – người đàn ông nói. Hắn ngồi bên cạnh và đưa tay quàng lên người bà. Sự lo lắng của những tên bắt cóc không phải là không có cơ sở. Đúng lúc đó 7 chiếc xe buýt chở khách ở những khu vực khác nhau của thành phố Bogota cùng bốc cháy do những quả bom cháy của đội biệt động du kích gài. Chính lúc đó đội du kích của FARC đánh sập những cột điện cao thế của quân Caqueza và trạm cấp nước của thủ đô, họ định đánh chiếm khu phố. Do đó mà cảnh sát và quân đội đã tiến hành một số cuộc hành quân lùng sục để giữ gìn an ninh ở Bogota, nhưng hầu như mọi người không cảm nhận được. Giao thông ở thành phố hôm nay cũng như vào hồi 7 giờ chiều của bất kỳ ngày thứ năm nào: xe cộ ùn tắc, đường phố ồn ào, những đợt ách tắc bất ngờ và những lời chửi bới tục tĩu. Trong sự im lặng của những tên bắt cóc cũng thể hiện rõ sự căng thẳng.

- Chúng ta sẽ thả bà tại một nơi – một người nói.

- Bà bước xuống thật nhanh và thong thả đếm từ 1 cho đến 30; sau đó tháo bỏ chiếc băng bịt mắt, tiếp tục đi thẳng không nhìn về phía sau, bắt chiếc xe taxi đầu tiên, chạy qua. Bà cảm thấy họ đặt vào tay bà một tờ bạc cuộn tròn. “Tiền để bà đi taxi” – người đàn ông nói. Đó là một tờ giấy bạc 5 nghìn. Beatriz đút tờ giấy bạc vào túi quần, không định tìm những thấy trong túi quần một viên an thần, bà nuốt chửng. Sau nửa giờ của cuộc hành trình chiếc xe dừng lại, một người nói với bà lời cảnh cáo cuối cùng:

- Nếu bà nói với giới báo chí rằng bà đã ở cùng nhà với Marina Montoya thì chúng tôi sẽ giết chết Maruja.

Đã tới nơi. Những người đàn ông bị lóa mắt cố gắng đưa Beatriz xuống đất khi vẫn chưa tháo băng bịt mắt. Họ rất hốt hoảng, vội vã, buông ra những lời nói tục tĩu.

Beatriz cảm thấy chân đã chạm đất.

- Rồi – Bà nói: Như vậy là tôi đã thoát chết.

Bà ngồi bất động trên hè phố cho tới khi những người thả bà đã trở lại ô tô và nổ máy chạy ngay lập tức. Bà thấy ở phía sau xe của họ có một ô tô cũng nổ máy chạy cùng một lúc. Bà đã không thực hiện được mệnh lệnh phải đếm từ 1 đến 30. Bà chỉ bước được hai bước thì dang tay ra, tới khi đó bà mới biết mình đang ở giữa phố. Bà bứt mạnh bỏ chiếc băng bịt mắt và nhận ngay ra rằng mình đang ở phố Normandia, vì trước đây bà thường qua lại khu phố này, nơi có nhà của người bạn gái chủ một cửa hiệu bán đồ nữ trang. Bà ngắm nhìn những chiếc cửa sổ đã sáng đèn, cố gắng tìm một cửa sổ quen để thêm tin tưởng. Bà không muốn đi taxi trong lúc ăn mặc lôi thôi lếch thếch như thế này, bà định gọi điện về nhà để người nhà tới đón. Trong lúc chưa có quyết định dứt khoát thì một xe taxi màu vàng rất đẹp dừng lại trước mặt bà. Người lái xe, một thanh niên trẻ, đỏm dáng hỏi bà:

- Taxi?

Beatriz bước lên xe, tới khi đó đang ngồi trong xe bà mới nhận ra rằng chiếc xe taxi đến đúng lúc như vậy không phải là chuyện ngẫu nhiên. Tuy nhiên, bà cũng tin chắc rằng đây là mắt xích cuối cùng của những kẻ bắt cóc bà, lẫn lộn giữa tình cảm và sự an ninh. Người lái xe hỏi bà địa chỉ, bà lẩm bẩm trả lời. Bà không hiểu vì sao người lái xe không nghe rõ điều bà nói, khiến anh ta phải hỏi lại bà tới lần thứ ba. Bà phải nhắc lại với giọng rất tự nhiên…

Trời về đêm rất lạnh, quang đãng, bầu trời lấp lánh những vì sao. Giữa người lái xe và Beatriz chỉ trao đổi đôi lời thật cần thiết, nhưng anh không lúc nào không nhìn vào chiếc gương phản chiếu. Khi gần tới nhà, Beatriz thấy những đèn báo hiệu nháy liên tục, chiếc taxi chạy từ từ, cách hai ngã tư trước khi từ biệt anh lái xe, cần phải đánh lạc hướng những nhà báo, vì tin Beatriz được trả tự do đã được các phương tiện thông tin đại chúng truyền đi khắp mọi nơi. Họ không có mặt. Bà nhận ra ngôi nhà mình, bà thấy bất ngờ nhận ra rằng sự trở về của bà đã không gây nên sự xúc động như bà mong đợi.

Chiếc đồng hồ của xe taxi chỉ con số 700 pesos. Vì người lái xe không có tiền trả lại tờ bạc 5 nghìn, Beatriz vào nhà tìm kiếm sự giúp đỡ, ông già gác cổng thét lên và ôm chầm lấy bà như một người điên. Trong những ngày dài vô tận và những đêm âm ỉ, Beatriz người bị bắt cóc lúc này đã nổi bật lên và tưởng đâu gây nên sự chấn động như một trận động đất, phun ra tất cả sức mạnh của thể xác và tâm hồn. Nhưng tất cả đều ngược lại: bà là người biết tự kiềm chế trong cảm nhận từ từ nhưng sâu sắc, trái tim bà bị bịt lại vì thuốc an thần. Khi đó bà để cho người gác cổng trả tiền taxi, bà bấm chuông căn hộ riêng. Gabriel, cậu con nhỏ của bà ra mở cửa. Tiếng thét của cậu làm cả nhà nghe thấy: “Mẹ”, Catalina cô con gái 15 tuổi vừa chạy vừa thét, ôm choàng lên cổ mẹ, nhưng nó bỗng giật mình buông mẹ ra. – Nhưng mẹ ơi! Tại sao mẹ lại nói như vậy? Đó là giây phút hạnh phúc đã bật ra một cách mạnh mẽ. Phải cần vài bốn ngày Beatriz mới bỏ được thói quen nói thì thầm giữa đám đông những người tới thăm.

Họ chờ đợi bà từ sáng sớm. Có 3 cú điện thoại nặc danh, không nghi ngờ gì đó là những cú điện thoại của những kẻ bắt cóc, họ đã công bố bà đã được trả lại tự do. Có vô số cú điện thoại của những nhà báo hỏi bà được thả vào giờ nào. Ít lâu sau, đến giữa trưa, Alberto Villamiar khẳng định tin đó, do Guido Parra báo cho biết qua đường điện thoại. Báo chí còn tỏ vẻ hoài nghi. Trước khi Beatriz về tới nhà, một nhà báo nữ gọi điện nói với cháu Gabriel với giọng thuyết phục và trấn an: “Cháu cứ yên tâm, hôm nay họ sẽ thả mẹ cháu.” Garriel vừa dập máy thì nghe tiếng gõ cửa.

Bác sĩ Guerrero chờ đợi ở nhà Villamiar, ông nghĩ Maruja cũng được trả tự do cùng với Beatriz, và cả hai người đều trở về nhà Villamizar. Trong lúc chờ đợi, ông uống hết 3 cốc Whisky cho tới khi đài phát bản tin vào hồi 7 giờ tối. Ông thấy hai người vẫn chưa về. Ông nghĩ đó là một sự lừa dối cũng như nhiều lần chúng đã lừa dối. Ông trở về nhà, thay bộ quần áo ngủ, uống thêm một cuốc Whisky nữa rồi chui vào giường, bật đài dò làn sóng của đài phát thanh Radio Recuerdos để ngủ trong tiếng ồn ào của trận bóng đá. Từ khi bắt đầu phải chịu đựng nổi đau khổ, ông không đọc báo. Trong lúc đang buồn ngủ ông nghe thấy tiếng hét của Gabriel. Ông bật dậy ra khỏi phòng ngủ với sự bình tĩnh đánh khâm phục. Beatriz và ông cưới nhau đã 25 năm – hai người ôm hôn nhau không vội vã, như bà vừa từ một cuộc hành trình ngắn trở về, không một giọt nước mắt. Trong lúc này cả hai đều suy nghĩ nhiều, đã tới lúc họ sống với nhau như biểu diễn một màn kịch trên sân khấu, phải qua tập dượt đến nghìn lần, có khả năng gây xúc động cho tất cả khán giả, trừ hai nhân vật của màn kịch.

Vừa về tới nhà Beatriz đã nhớ tới Maruja, cô đơn, không tin tức, sống trong căn phòng rất tồi tàn. Bà gọi điện cho Alberto Villamizar, chính ông nghe điện thoại và trả lời ngay từ tiếng chuông đầu tiên, với một giọng nói đã chuẩn bị cho tất cả mọi tình huống.

- Hola, em là Beatriz đây. Bà biết rằng anh bà đã nhận ra tiếng nói của mình, ngay từ trước lúc bà xưng danh. Bà nghe rõ tiếng thở hổn hển như tiếng thở của một con mèo, ngay lập tức ông hỏi:

- Hiện em đang ở đâu?

- Em đang ở nhà em, Beatriz nói.

- Tuyệt. Villamizar nói.

- Em vừa về tới nhà 10 phút. Xin anh đừng nói với ai.

- Em về rất đúng lúc.

Cú điện thoại của Beatriz đối với ông là bất ngờ trong lúc ông đang bị kiệt quệ. Ngoài sự vui mừng được gặp lại cô em gái và là lần đầu tiên và duy nhất từ khi Maruja bị giam cầm, ông nhận được thư của vợ. Ông chuẩn bị khẩn cấp cho Beatriz, trước khi những nhà báo và cảnh sát tới. Andrés cậu con trai ông có năng khiếu bẩm sinh về đua ô tô, nó đã đưa ông về đúng lúc.

Mọi người đều bình tĩnh. Beatriz ở trong phòng cùng chồng, 2 con, mẹ và 2 cô em gái đang hau háu nghe câu chuyện bà kể. Alberto có nhận xét: Beatriz rất xanh xao vì bị giam giữ lâu, nhưng trông trẻ hơn trước nhờ có dáng dấp như một nữ sinh trung học, với bộ quần áo thể thao mầu hồng, tết tóc đuôi sam và đi đôi giầy đế bằng.

Alberto suýt nữa thì bật ra tiếng khóc, nhưng kìm lại được, ông rất nôn nóng muốn biết số phận Maruja ra sao. “Em xin đảm bảo chắc chắn với anh rằng chị vẫn khỏe mạnh.” – Beatriz nói với anh. “Điều kiện sống ở đó tất nhiên là khó khăn, nhưng có thể chịu đựng được. Maruja rất dũng cảm.” Liền sau đó bà muốn loại trừ lo lắng đã dày vò bà từ 15 ngày trước.

- Anh có số điện thoại của gia đình Mariana? – Bà hỏi. Villiamizar nghĩ rằng sự thật có thể ít tàn bạo và bi thảm hơn.

- Chúng đã giết chết bà rồi.

Tin xấu này đã làm cho Beatriz cảm thấy đau đớn, nhầm lẫn với nỗi khiếp sợ tác động ngược trở lại. Nếu như bà biết tin này trước đó hai giờ thì có thể bà đã khước từ cuộc hành trình để được trả lại tự do. Bà khóc đến khản cả tiếng. Trong khi đó Villamizar để phòng không để ai vào trong lúc đang thảo luận về sự giải thích công khai cho các nhà báo về vụ bắt cóc để không gây nên mối nguy hiểm cho những người bị bắt cóc khác hiện còn trong tay bọn ma túy. Những chi tiết về vụ bắt cóc cho phép hình dung về ngôi nhà đã giam dữ những con tin. Để bảo vệ cho Maruja, Beatriz cần nói với giới báo chí rằng cuộc hành trình trở về phải đi mất 3 giờ từ một miền có khí hậu dễ chịu. Mặc dầu thực tế rất khác. Khoảng cách thực tế rất gần, những đoạn đường dốc, những bản nhạc cuối tuần được truyền qua các loa phóng thanh cho tới gần sáng, tiếng ồn của những máy bay, khí hậu… tất cả những cái đó nói lên rằng họ bị giam giữ là một địa điểm ngay trong thành phố. Mặt khác, 4 vị linh mục đã nêu ra những câu hỏi để xác định đó có phải là ngôi nhà mà các cha đã tới để trừ tà.

Người ta cũng đã phát hiện ra những sai lầm còn ngờ nghệch hơn để có thể tiến hành một cuộc giải thoát vũ trang với mức rủi ro tối thiểu.

Về thời gian, có thể tiến hành vào hồi 6 giờ sáng, sau khi đổi phiên, những người gác ban đêm không được ngủ nên sau khi có người khác thay họ liền nằm vật trên sàn nhà để ngủ, không quan tâm gì tới vũ khí. Một chi tiết khác không kém phần quan trọng là vị trí của ngôi nhà, đặc biệt là chiếc cổng của thửa vườn, ở đó đôi khi có người đứng gác có vũ khí và con chó Đức thỉnh thoảng lại cất tiếng sủa. Không thể dự đoán xung quanh ngôi nhà có một vành đai an toàn hay không, mặc dầu sự lộn xộn trong nhà không đủ để tin vào điều đó, sẽ dễ điều tra một khi đã xác định được vị trí của ngôi nhà. Sau nỗi bất hạnh của Diana Turbay đã làm giảm lòng tin, một cuộc giải thoát vũ trang sẽ không khi nào đem lại kết quả, nhưng Villamizar không nhận ra điều đó nên vẫn theo đuổi ý định về cuộc giải thoát vũ trang vì không có giải pháp nào khác. Dầu sao, có thể đó là điều bí mật duy nhất mà ông không thể chia sẻ với Rafael Pardo.

Cung cấp những số liệu này đối với Beatriz là vấn đề lương tâm, vì bà đã hứa với Maruja là sẽ không cho ai biết nơi ở của bà để đề phòng có thể xảy ra một cuộc tấn công vào ngôi nhà, nhưng Beatriz đã quyết định chỉ nói với anh mình thôi, anh cũng như Maruja rất có ý thức về điều đó, cũng như chính Beatriz đều không tán thành một giải pháp vũ trang. Hơn thế nữa, khi họ trả tự do cho Beatriz chứng tỏ rằng dù còn trở ngại nhưng đã mở ra một khả năng cho cuộc đàm phán.

Hôm sau trời mát, sau một đêm được nghỉ ngơi, sức khỏe bà dần được khôi phục, bà đã tiến hành cuộc họp báo tại ngôi nhà của anh; tại đó hầu như bà không đi được giữa một rừng hoa. Bà cung cấp cho những nhà báo và dư luận công chúng một ý niệm thực tế mà những người bị bắt cóc đã phải chịu đựng, không cung cấp bất kỳ tin tức gì có thể cổ vũ những người muốn hành động theo cách riêng của mình, có thể gây nguy hiểm tới tính mệnh Maruja.

Thứ tư tuần sau, chắc chắn Maruja đã biết tin về một sắc luật mới. Alexandra quyết định làm một chương trình tivi về cuộc đón tiếp Beatriz khi được trả lại tự do, rất vui vẻ. Tuần lễ cuối cùng trong khi những cuộc đàm phán tiến triển thuận lợi, Villiamizar trang trí lại căn hộ để khi Maruja trở về hài lòng. Ông đặt thư viện ở nơi bà thích, thay đổi vị trí một số đồ gỗ và một vài bức tranh trong phòng. Ông đặt ở nơi dễ nhìn thấy nhất bức tranh một con ngựa đời Đường mà Maruja mang về từ Jakarta, như một chiến lợi phẩm của bà. Đến giờ phút cuối cùng, ông nhớ rằng Maruja thường phàn nàn không có một tấm thảm nhỏ trong nhà vệ sinh, ông vội vã đi mua. Ngôi nhà đã được cải tạo, sáng sủa hơn, đó là nơi dàn cảnh cho một chương trình vô tuyến, đặc biệt để Maruja biết sự trang trí mới từ trước khi bà được trở về.

Mọi việc đều tốt đẹp, không biết Maruja có nhận ra sự thay đổi này không.

Beatriz phục hổi sức khỏe rất nhanh. Bà để trong túi đựng đồ tư trang trong thời gian bị giam bộ quần áo diện khi đi phố, vẫn còn lưu giữ trong chiếc túi đó mùi nặng nề của phòng giam, làm bà thức giấc vào lúc nửa đêm. Bà lấy lại thế thăng bằng của trạng thái tâm hồn với sự giúp đỡ của chồng. Cái bóng ma duy nhất của quá khứ đôi khi vẫn còn lởn vởn trong tâm trí bà là hình ảnh và tiếng nói của người quản gia: đã hai lần hắn gọi điện thoại cho bà.

Lần đầu tiên là tiếng thét thất thanh của một người thất vọng:

- Thuốc… thuốc!

Beatriz nhận ngay ra tiếng của ông ta, hình như máu trong huyết quản bà bị đông cứng lại nhưng bà trấn tĩnh được ngay và hỏi lại cùng một giọng:

- Thuốc nào! Thuốc nào?

- Thuốc của bà – người quản gia hét.

Tới khi đó bà mới vỡ lẽ ra rằng ông ta hỏi tên thứ thuốc tuần hoàn mà Maruja vẫn dùng.

- Vasoton – Beatriz nói, ngay sau khi trả lời bà liền hỏi:

- Ông có khỏe không?

- Cảm ơn bà, tôi vẫn khỏe – người quản gia nói.

- Thế còn Maruja?

- A, bà cứ yên tâm đi. Bà ấy rất khỏe – người quản gia nói.

Beatriz lạnh lùng cắt điện thoại, bật ra tiếng khóc và buồn nôn nhớ lại những kỷ niệm khủng khiếp trong thời gian bị giam: những bữa ăn tồi tệ, cảnh bẩn thỉu nhầy nhụa của nhà vệ sinh, ngày này qua ngày khác đều giống nhau, sự cô đơn đáng sợ của Maruja trong căn phòng hôi hám

Dầu sao chăng nữa, trong phần thể thao của bản tin thời sự, đài truyền hình chỉ nói được một câu có vẻ bí hiểm: Nhớ, hãy uống thuốc Basoton, đã thay đổi tên thuốc từ Vasoton thành Basoton để một vài xưởng bào chế thuốc nào đó có thể sẽ lên tiếng phản đối dùng thuốc của họ cho mục đích mờ ám nào đó.

Sau đó vài tuần lễ, người quản gia lại gọi điện cho bà nhưng nội dung và mục đích hoàn toàn khác. Beatriz mãi mới nhận ra tiếng nói khàn khàn của ông ta, có thể do ông ta cố tình. Nhưng với giọng nói tha thiết:

- Xin bà hãy nhớ điều chúng tôi đã nói. Bà đã không ở cùng với bà Marina chứ? – Không ở với bất kỳ ai.

- Xin ông cứ yên tâm. – Beatriz nói và dập máy.

Guido Parra thấy bối rối về kết quả đầu tiên của sự nhanh nhảu của ông. Ông gọi điện báo cho Villamizar biết rằng việc trả lại tự do cho Maruja là vấn để của 3 ngày. Qua con đường báo chí, tivi và đài phát thanh, Villimizar đã chuyển tới Maruja tin đó. Mặt khác, những câu chuyện mà Beatriz đã kể về điều kiện sống của những người bị giam giữ khiến Alexandra tin chắc rằng những lời nhắn nhủ của gia đình đã tới tai Maruja. Để làm được việc đó Alexandra đã làm cuộc phỏng vấn nửa giờ, trong đó Beatriz đã được trả lại tự do như thế nào, tình hình các con, gia đình, bạn bè và những hy vọng được trả tự do mà bà có thể chờ đợi. Bắt đầu từ đó, Alexandra đã làm những chương trình với tất cả các loại tin tức và những chi tiết, với những bộ quần áo các con bà mặc những thứ gia đình bà đã mua sắm, những cuộc tiếp khách của gia đình. Có người nào đó nói: “Manuel đã chuẩn bị cả một đùi lợn quay” để đón tiếp bà. Để cho Maruja nhận ra rằng vẫn giữ nguyên trật tự bà đã để lại trong nhà. Tất cả những chi tiết đó tưởng như bình thường, nhẹ nhàng nhưng có tác dụng cổ vũ to lớn đối với Maruja: cuộc sống vẫn tiếp tục.

Tuy nhiên, hết ngày này đến ngày khác trôi qua nhưng vẫn chưa thấy xuất hiện những dấu hiệu về việc Maruja được trả lại tự do. Guido Parra tỏ ra lúng túng trong những lời giải thích lấp lửng với những lý do rất trẻ con. Ông ta từ chối không nói chuyện điện thoại, rồi biến mất. Villiamizar gọi điện thoại đều đều cho ông ta. Nhưng Parra cứ nói dối quanh. Ông nói sự việc trở nên phức tạp vì cảnh sát đã tăng cường đàn áp nhân dân các làng gần Medellin. Ông ta lập luận rằng nếu chính phủ không chấm dứt những hành động man rợ đó thì khó có thể trả lại tự do cho bất kỳ con tin nào.

Villamizar không để ông ta nói hết:

- Điều đó không nằm trong thỏa thuận – ông nói. Tất cả đều dựa trên sắc luật đã rõ ràng, như vậy đó. Đó là một món nợ danh dự, đối với tôi ông không nên dở trò chơi như vậy.

- Ông không biết những khó khăn của một luật sư loại như tôi. – Parra nói.

Vấn đề của tôi không phải là thu tiền hay không thu tiền, mà đối với tôi là sự việc sẽ trôi chảy hoặc họ sẽ giết chết tôi. Vậy ông muốn tôi phải làm gì?

- Tôi muốn biết rõ về điều đó, sự việc sẽ kết thúc ra sao, ông không nên quanh co mãi – Villamizar nói – Có chuyện gì đang xảy ra?

- Rằng trong khi cảnh sát chưa chấm dứt những cuộc tàn sát và trừng trị những kẻ phạm tội thì không có khả năng nào để trả lại tự do cho Maruja. Đó là sự thật.

Mù quáng vì quá giận dữ, Villamizar đã bật ra những lời chửi rủa Escobar, kết luận:

- Như vậy là ông cam chịu thất bại, tại sao tôi lại không giết chết ông.

Guido Parra biến mất, không chỉ vì phản ứng mãnh liệt của Villamizar mà còn vì phản ứng của cả Pablo Escobar, vì ông ta không cho phép Parra vượt quá giới hạn của một người thương lượng.

Điều này có thể đánh giá, việc Hernando Santo vì sợ hãi khi Guido Parra gọi điện thoại để báo cho ông biết là hiện ông có một bức thư rất khủng khiếp của Escobar mà Parra cũng không dám đọc bức thư đó.

- Ông ta bị điên rồi – ông nói. Cái đó không thể trấn an được bất kỳ ai, đối với tôi không có cách nào khác là loại trừ tôi khỏi thế giới này.

Hernando Santos có ý thức rằng quyết định đó có nghĩa là cắt đứt cầu duy nhất giữa ông và Pablo Escobar. Ông ra sức thuyết phục Villiamizar nên ở lại. Vô ích. Điều cuối cùng mà Guido Parra yêu cầu ông là nhờ ông kiếm cho một thị thực nhập cảnh vào Venezuela và giúp đỡ ông thu xếp cho con trai ông học xong ban tú tài tại trường Gimnasio Moderno de Bogota ở Bogota. Theo những dư luận không bao giờ được xác minh, ông đã trốn vào ở ẩn tại một tu viện không biết tin gì về ông, cho tới khi ngươi ta tìm thấy xác ông tại Medellin ngày 16-4-1993, cùng với xác cậu con trai đã đậu tú tài trong một hòm trên chiếc xe không mang biển số.

Villamizar cần có thời gian để phục hồi sức khỏe, sau những thất bại khủng khiếp. Ông bị đè nặng bởi sự ân hận vì đã quá tin tưởng vào những lời nói của Pablo Escobar. Tất cả như đã thất bại. Trong quá trình đàm phán, ông vẫn thường xuyên duy trì liên lạc với tiến sĩ Turbay và Hernando Santos, nay không còn con đường nào để liên hệ với Escobar. Lúc đầu hầu như ngày nào họ cũng gặp nhau, nhưng sau ông chấm dứt vì không thấy ở phía họ có sự đảm bảo chắc chắn nào và những tin tức có thể khích lệ ông.

Trong nhiều giờ ông ngồi cạnh cựu tổng thống, người vừa phải chịu một nỗi bất hạnh nhức nhối trước cái chết của người con gái. Ông tự thu mình lại, từ chối không đưa ra bất kỳ lời tuyên bố nào, ông trở thành người vô hình.

Hernando Santos hy vọng duy nhất về việc trả tự do cho con trai ông là dựa vào vai trò trung gian của Parra, nhưng cuối cùng ông đã bị thất bại hoàn toàn. Marina bị giết hại, trước hết là hình thức tàn bạo về yêu sách và công bố về việc giết người đó đã gây nên một phản ứng không tránh khỏi về sắp tới sẽ làm gì. Tất cả khả năng trung gian theo kiểu nhóm những người nổi tiếng đã cạn kiệt, không có sự trung gian nào có thể đem lại kết quả. Thiện chí và cách làm gián tiếp đã không còn ý nghĩa.

Hiểu rõ hoàn cảnh mình, Villamizar đã tin tưởng ở Rafeal Pardo. “Ông hãy hình dung xem tôi cảm thấy thế nào – ông nói. Escobar là người đã gây cho tôi và gia đình tôi bao đau khổ trong tất cả những năm gần đây. Trước hết ông ta đe dọa tôi, sau đó ông định giết chết tôi, nhưng may mà tôi thoát chết. Ông ta tiếp tục đe dọa tôi. Ông ta đã giết Galán, bắt cóc vợ và em gái tôi và bây giờ ông ta lại nói tới bảo vệ nhân quyền.”

Tuy nhiên đó là một sự an ủi vô ích, vì số phận của ông ta đã được quyết định rồi. Con đường duy nhất chắc chắn để giải phóng những người bị bắt cóc là cần tìm con sư tử tại hang ổ của nó. Câu đó không bao giờ trở lại nữa: điều còn lại duy nhất là làm – và cần phải làm không còn cách nào khác hãy bay tới Medellin tìm Pablo Escobar để thảo luận trực diện với ông ta về công việc.

Nguyên tác: Noticia de un secuestro Dịch giả: Đoàn Đình Ca Đánh máy: Thùy An, Lê Thanh, Thùy Trâm, Thiên Thanh, Minh Khuyên, Hồng Hạnh, Yên Hà, Thu Thủy
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.