Tin Tức Về Một Vụ Bắt Cóc

Lượt đọc: 118 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3

❊ ❊ ❊

Khi vừa mở mắt, Maruja đã nhớ tới một câu ngạn ngữ cổ của Tây Ban Nha: “Cái gì mà Thượng Đế không ban phát cho chúng ta, đó chính là cái mà ta có thể chịu đựng”. Đã mười ngày trôi qua, từ khi xẩy ra vụ bắt cóc, cả Beatriz và Maruja cũng dần dần quen với cảnh sống quẩn quanh, nơi bị giam, mà đêm đầu tiên tưởng đâu không chịu đựng nổi. Những kẻ bắt cóc nhắc đi nhắc lại nhiều lần rằng đó là một cuộc hành quân và chế độ giam lỏng còn tối tệ hơn cả chế độ nhà tù. Chỉ được nói khi có việc khuẩn cấp cần nói, mà phải nói nhỏ, không được ra khỏi tấm đệm là chiếc giường chung cho hai người, khi cần điều gì phải xin phép người gác, chúng không khi nào rời mắt khỏi con tin, kế cả khi ngủ, xin phép ngồi, xin phép được duỗi thẳng chân, xin phép được nói với Marina, xin phép được hút thuốc lá, vv… nhất cử nhất đồng đều phải xin phép. Maruja phải lấy gối bịt kín miệng để làm giảm tiếng ồn khi ho.

Chiếc giường duy nhất ở trong phòng dành cho Marina. Suốt ngày và đêm căn phòng được chiếu sáng bởi một ngọn nến tù mù. Song song với chiếc giường là chiếc đệm trải trên mặt đất nơi Maruja và Beatrix ngủ, người này đi ra, người kia đi vào giống như những con cá lượn vòng tròn, chỉ có mộ chiếc chăn chung cho cả hai người. Những tên gác ngồi bệt xuống đấy, lưng dựa vào nhau. Căn phòng rất hẹp nên nếu chân những tên gác mà ruỗi thẳng thì đụng phải chân của người bị giam. Luôn sống trong ánh sáng lờ mờ, vì cả căn phòng chỉ có một cửa sổ duy nhất lại bị bịt kín.

Trước khi ngủ, họ dùng những miếng giẻ rách bịt kín những khe hở của chiếc cửa duy nhất nên không thể nhìn thấy ánh sáng ngọn nến của Marina và phần còn lại của căn phòng. Ngày cũng như đêm, không có ánh sáng nào khác, trừ ánh sáng tỏa ra từ chiếc vô tuyến, Maruja đã tháo bỏ cái đèn mầu xanh, vì nó làm cho mọi người đầu có màu xanh nhợt, trông dễ sợ. Căn phòng luôn đóng kín nên không có gió, làm bão hòa khí nóng rất khó chịu. Khoảng thời gian từ 6 giờ đến 9 giờ sáng là thời gian khó chịu nhất, khoảng thời gian ấy những người bị giam, đã thức, thiếu không khí để thở. Điều an ủi duy nhất đối với Maruja và Marina là được cung cấp rất đúng giờ một bình cà phê và thuốc lá mỗi khi yêu cầu.

Đối với Beatriz vì là bác sĩ chuyên khoa về hô hấp, khói thuốc lá tích tụ trong phòng là một điều bất hạnh, tuy nhiên bà phải âm thầm chịu đựng, vì khoái cảm của người khác. Marina, với điếu thuốc lá và tách cà phê trên tay, đôi khi bà cao hứng thốt lên: “Thật là tuyệt, khi cả ba chúng ta được tự do, xin mời tới nhà tôi để hút thuốc lá và dùng cà phê. “Chúng ta sẽ cười khi nhớ lại những ngày khủng khiếp này, hiện nay phải chịu đựng, Beatriz không lấy làm tiếc vì không biết hút thuốc lá. Ba người phụ nữ cùng sống chung trong một nhà tù không thể là một giải pháp khẩn cấp, vì ngôi nhà mà họ được đưa đến đầu tiên bị hỏng vì bị một xe taxi đâm phải, làm rõ hướng đi của bọn bắt cóc. Điều đó đã giải thích vì sao có sự thay đổi nơi ở vào giờ phút cuối cùng để tới một căn phòng chật hẹp và tồi tàn, một chiếc đệm đơn sơ cho hai người.

Căn phòng có diện tích dưới 6m2 cho 3 con tin và 2 người gác thay nhau. Sau họ chuyển Marina tới ngôi nhà khác, hoặc trang trại khác như bà nói. Vì sự say rượu và ăn ở luộm thuộm của những người gác ở ngôi nhà thứ nhất là một mối nguy hiểm cho cả tổ chức của những tên bắt cóc.

Dù sao chăng nữa, thật khó hiểu, rằng một trong những công ty siêu quốc gia buôn bán ma túy vào loại lớn nhất thế giới mà không có lấy một chỗ tử tế để giam giữ những nạn nhân của mình trong những điều kiện nhân đạo. Những người bị giam không hề mảy may có ý niệm là họ đang bị giam giữ ở đâu. Do những tiếng ồn, họ đoán rằng họ đang ở một nơi gần đường quốc lộ có những xe tại hạng nặng qua lại, và hình như ở gần đó cũng có một quán rượu, có âm nhạc, mở cửa từ sáng tới tối. đôi khi họ cũng nghe thấy tiếng loa mời mọi người đi dự mít tinh chính trị hoặc tôn giáo, hoặc truyền đi những buổi hòa nhạc inh tai, nhức óc. Một vài lần họ nghe thấy những khấu hiệu tranh cử cho cuộc bầu cử quốc hội sắp tới. Thường xuyên họ nghe thấy tiếng kêu vo ve của những máy bay nhỏ hạ cánh và cất cánh tại một sân bay gần đó, do đó họ nghĩ rằng đang ờ gần Guaymaral, một sân bay dùng cho những máy bay nhỏ, cách Bogota 20km về phía bắc. Từ nhỏ Maruja đã làm quen với khí hậu thảo nguyên, nên bà cảm thấy cái rét ở trong phòng không phải là cái rét đồng nội, mà là cái rét ở thành phố. Hơn nữa, sự đề phòng quá đáng của những tên gác cũng nói lên ràng họ đang bị giam giữ ở một nơi nào đó trong đô thị.

Thỉnh thoảng sự im lặng bị phá vỡ bởi tiếng gáy của một chú gà trống điên rồ. Nó cất tiếng gáy bất kỳ lúc nào nó muốn. Thỉnh thoảng của nghe thấy tiếng chó sủa từ nơi xa xa vọng lại và tiếng chó sủa của một con chó rất gần, có thể đó là con chó được huấn luyện để làm nhiệm vụ canh gác. Maruja bắt đầu cảm thấy khó chịu. Bà nằm bất động như một tảng đá trên chiếc đệm, mắt nhắm nghiền, trong vài ngày không mở mắt nhưng đầu óc vẫn tính táo, sáng suốt trong suy nghĩ. Bà không thể ngủ liền trong một mạch trong suốt 8 giờ, mà chỉ ngủ được gần nửa giờ. Mỗi lần tỉnh dậy bà cảm thấy buồn, khi đụng phải thực tế. Bà có cảm giác sợ hãi thường xuyên như có sợi dây trong dạ dày, luôn sắp sửa nổ tung, làm bà hoảng sợ. Maruja hồi tưởng lại cuộc đời mình, cố bám víu lấy những kỷ niệm êm đềm, tốt lành, nhưng đầu óc lại cứ hiện lân những kỷ niệm đáng buồn. một trong số 3 chuyến đi từ Jakarta trở về Colombia, trong một bữa ăn riêng, Luis Carlos Galán đã yêu cầu bà giúp đỡ chỉ đạo cuộc vận động tranh cử. Bà đã cùng Gloria, cô em gái đi vận động khắp nơi, vui mừng trước thắng lợi, chịu đựng trước những thất bại, bất chấp những hiểm nguy, rõ ràng những hoạt động của bà là tích cực và logic. Nghĩ tới điều đó, Maruja cảm thấy dễ chịu. Nhưng tới cuối bữa ăn trưa bà nhận thấy ở Galán, một thái độ do dự, một ánh sáng khác thường, sự sáng suốt thoáng qua, vì ông tin rằng sớm muộn chúng sẽ giết chết ông. Đó là nét nổi bật thuyết phục chồng bà trở về Colombia, mặc dầu tướng Maza Marquéz đã nhìn thấy trước điều đó, nhưng không một lời giải thích về mối hiểm nguy chết người đang chờ đợi ông. Tám ngày trước khi trở về, họ được đánh thức tại Jakarta và được báo tin Galán đã bị giết chết. Kinh nghiệm đó đã để lại trong lòng bà nỗi trầm uất, nay với vụ bắt cóc làm nó trầm trọng thêm.

Không có cái gì đề bấu víu để thoát khỏi ý nghĩ rằng bà cũng đang có mối đe dọa chết người. Bà cự tuyệt không nói mà cũng không ăn. Sự dửng dưng của Beatriz và sự tàn bạo của tên đeo mặt nạ làm bà phiền lòng, bà cũng không sao chịu đựng được sự phục tùng ngoan ngoãn của Marina trước những tên bắt cóc. Bà ta còn cần mẫn hơn cả một tên coi tù, mỗi khi Maruja ngáy, ho hoặc cử động khi ngủ bà đều nhắc nhớ. Maruja đặt ở đó một chiếc cốc, Marina vội vã cất đi, bà nói: “Hãy cẩn thận”, tôi bỏ nó ra chỗ khác rồi. Maruja tỏ vẻ coi thường Marina: “Bà không nên bận tâm – Maruja nói – Bà không phải là người chỉ huy ở đây”. Tột đỉnh của sự xấu xa là việc những tên gác rất quan tâm theo dõi Beatriz suốt ngày ngồi viết những chi tiết về cuộc sống vị giam hãm để sau này kể lại với chồng con khi nào được trả lại tử do. Đồng thời bà cũng liệt kê một danh mục dài tất cả những gì mà cho là ghê tởm xẩy ra ở trong phòng cần phải loại bỏ. Những tên gác nghe đài phát thanh nói rằng Beatriz là một nhà bác sĩ vật lý trị liệu, nhưng chúng tưởng là bác sĩ chữa bệnh tâm thần nên chúng cấm bà không được ghi chép, sợ bà đang sáng tạo ra một phương pháp khoa học để làm chúng hóa điên.

Sự suy sụp của Marina là dễ hiểu, việc đưa tới hai con tin nữa tới ở chung với bà, đó là điều bà không chịu đựng nối, bà nghĩ đây là một thế giới của riêng bà, chỉ của bà mà thôi. Sau gần hai tháng ở ngưỡng cửa của cái chết, mối quan hệ sâu sắc giữa và những tên gác bị phai mờ dần vì những người mới đến, và sau hai tuần lễ bà trở lại với những nỗi đau khủng khiếp và nỗi cô đơn da diết của thời kỳ trước mà bà vượt qua được.

Không có đêm nào mà bà thấy Maruja đáng ghét như đêm đầu tiên. Đó là một đêm dài vô tận và lạnh giá. Vào hồi một giờ sáng, khí hậu ở Bogota – theo Nhà khí tượng – là từ 13 đến 15 độ, trời mưa, Maruja đã hết mệt, bà bắt đầu ngáy như đang ngủ, nhưng thỉnh thoảng bà lại bị đánh thức bởi cơn ho của người nghiện thuốc lá, nó dai dẳng như không kìm lại được, lại bị nặng thêm do sự ẩm ướt của những bức tường tỏa một lớp sương lạnh cóng vào lúc trời rạng sáng. Mỗi khi bà ho hoặc ngáy, những người gác đập lên đầu bà. Marina giúp đỡ họ do một nỗi sợ hại không sao kiểm soát được, chúng dọa Maruja sẽ cột chặt bà vào chiếc đệm để bà không rẫy rụa, hoặc nhét giẻ vào miệng bà để bà bớt ngáy.

Marina làm cho Beatriz chú ý lắng nghe tin tức của đài phát thanh lúc buổi sáng. Đó là một sai lầm. trong buổi tiếp xúc đầu tiên với Yamid Amat của đài phát thanh Radio Caracol, bác sĩ Pedro Guerrero tung ra một lời chửi bới và thách thức chống bọn bắt cóc, ông kêu gọi bọn chúng hãy đối xử với những con tin, như đối xử với con người.

Beatriz bị một con khủng hoảng vì rất sợ hãi, bà tin rằng hậu quả của những lời chửi bới của Pedro lại rơi vào chính đầu bà.

Hai ngày sau, một người chỉ huy ăn mặc chỉnh tề, thân hình đồ sộ cao khoảng 1,9m đạp cửa bước vào phòng như một cơn lốc. Hắn mặc bộ com lê bằng len nhiệt đới không chê vào đâu được, đi đôi giày mocasin, Italia và thắt chiếc cà vạt bằng mầu mỡ gà, trái với dáng điệu quê mùa và thô kệch của hắn. Hắn buông ra mấy lời chửi rủa trách mắng bọn gác. Hắn tỏ ra là một người ít nói, đồng bọn gọi hắn là Lamparon. “Họ nói với tôi rằng bà rất lo lắng – hắn nói với Maruja – tôi xin nói để bà rõ rằng ở đây những ai hay lo lắng sẽ dễ bị chết”, ngay sau đó hắn hướng về phía Maruja, không mảy may suy nghĩ, hắn nói:

- Tôi được biết đêm qua bà làm phiền mọi người, bà gây ra nhiều tiếng ồn, bà ho nhiều.

Maruja trả lời hắn một cách bình tĩnh với giọng khinh bỉ.

- Tôi ngáy khi ngủ nên tôi không biết. Tôi không thế nào kìm được cơn ho vì căn phòng lạnh và những bức tường tỏa ra hơi nước lúc trời rạng sáng. Sao ông không ở đây mà phàn nàn. Thế ông tin rằng người ta có thể làm được tất cả những gì mà người ta muốn à? Hắn hét toáng lên: vậy nếu bà lại ngáy to và ho, chúng tôi có thể bắn vào đầu bà một phát đạn. Sau đó hắn hướng về phía Beatriz. Chắc bà nghĩ nhiều tới chồng con, chúng tôi biết rõ tất cả, biết cả hiện nay chồng con bà đang ở đâu.

- Ông hãy làm gì mà ông muốn – Maruja nói. Tôi không thể làm gì để khỏi ngáy, nếu muốn, các ông hãy giết tôi đi.

- Bà là người thật thà, với thời gian chúng tôi nhận ra rằng bà là một người tốt.

Từ ngày đầu những kẻ bắt cóc đã đối xử với bà nghiêm khắc để làm nhụt ý chí của những con tin. Trái lại, Beatriz có ấn tượng chúng giận dữ vì những lời nói của chồng bà qua đài phát thanh.

- Tại sao các người lại nói tới chồng con tôi ở đây, họ chẳng có liên quan gì đến việc này cả – bà nói, nước mắt lưng tròng. Thế ông không có con à? – Hắn trả lời là có, có thể vì quá xúc động nên Beatriz đã bại trận vì những giọt nước mắt khi bà bị truy kích.

Bà nghĩ rằng có thể tên mặt nạ có ý định đó nên ngày chủ nhật thấy hắn tái xuất hiện ở đây với thái độ khác. Hắn mang tới cho con tin những tờ báo hằng ngày với lời tuyên bố của Alberto Villamizar muốn thảo luận với những tên bắt cóc để tìm ra một giải pháp. Thoạt nhìn, những tên này hành động có vẻ thích đáng. Ít ra, tên chỉ huy tỏ ra dễ chịu hơn trước, khi hắn đề nghị những con tin làm một danh sách thống kê những thứ cần thiết như xà phòng, bàn chải và kem đánh răng, thuốc lá, kem dưỡng da và sách. Những thứ đó họ đề nghị đều được đưa đến trong ngày, trừ những cuốn sách thì 4 tháng sau mới nhận được. Với thời gian dần dần những con tin đã tích lũy được những con tem kỷ niệm về Thánh Mục Đồng và Đức mẹ Cứu thế, mà những người gác mang tới cho họ làm vật kỷ niệm mỗi khi đi nghỉ phép về. Đến 10 giờ dáng, lại có những công việc như thường lệ: cất những đôi giầy dưới gầm giường, vì độ ẩm trong phòng rất cao nên thỉnh thoảng phải đem phơi ở ngoài vườn. Những con tin chỉ có thể dùng những đôi tất đàn ông bằng len thô, có mầu sắc khác nhau, họ được phát từ ngày đầu tiên. Họ thường dùng một lúc hai đôi tất để giảm tiếng động khi họ bước đi. Quần áo họ mang theo đêm bị bắt cóc đã bị tịch thu. Chúng phát cho mỗi người hai bộ quần áo thể thao, một bộ mầu xám và một bộ mầu hồng. Những người bị bắt cóc hàng ngày dùng quần áo đó và cả khi đi ngủ, và 2 bộ đồ lót dùng khi đi tắm. Lúc đầu họ mặc cả quần áo khi ngủ, sau đó, khi họ được phát mỗi người thêm một chiếc áo sơ mi, thì họ mặc ra ngoài bộ quần áo thể thao trong những đêm rất lạnh. Chúng cũng phát cho mỗi người một chiếc túi bằng vaải bạt để đựng những đồ đùng cá nhân: bộ quần áo thể thao dự phòng, những đôi tất sạch, quần áo lót, khăn vệ sinh, thuốc lá và đồ trang sức.

Chỉ có một nhà tắm cho 3 con tin và 2 người gác. Khi dùng họ phải đóng kín cửa nhưng không có chốt ở bên trong, mỗi lần tắm không được quá 10 phút kể cả khi cần phải giặt quần áo. Chúng chỉ cho phép hút số thuốc chúng phát, nhưng Maruja hút mỗi ngày hơn một bao, Marina còn hút nhiều hơn thế. Có một chiếc tivi và một chiếc đài con để con tin nghe tin tức hoặc nhưng tên gác nghe nhạc. Về buổi sáng họ nghe tin tức chỉ được một tiếng rất nhỏ, gần như nghe lén, trái lại những tên gác nghe âm nhạc về buổi chiều, chúng mở tiếng to hết cỡ nhưng đang ở trạng thái điên loạn. Còn chiếc máy vô tuyến chỉ mở vào hồi 9 giờ sáng để xem một chương trình giáo dục, sau đó xem phim truyện và hai hoặc ba chương trình khác nhau nữa cho tới bản tin trưa, chương trình hoạt động nhiều hơn cả là từ 4 giờ chiều tới 11 giờ đêm. Chiếc vô tuyến luôn luôn mở, như trong phòng có trẻ em, mặc dầu không có ai xem. Trái lại, những con tin chú ý lắng nghe những bản tin họ không nhận được, hoặc bao nhiêu câu có vẻ ngây ngô nhưng lẩn vào đó là những lời nhắn nhủ với bao hy vọng.

Alberto Villamizar xuất hiện trong những bản tin của tivi, 8 lần trong hai ngày đầu với niềm tin chắc chắn rằng ít ra cũng vài lần tiếng nói của ông đến được với những người bị bắt cóc. Ngoài ra, hầu hết các đứa con của Maruja đều là những người có phương tiện thông tin đại chúng trong tay. Một vài người có chương trình tivi vào giờ nhất định, chúng dùng những phương tiện đó để duy trì liên lạc với những người bị bắt cóc, chúng giả định rằng dù đó chỉ là thông tin một phía có thể vô ích nhưng vẫn có hy vọng nên tiếp tục sử dụng.

Người đầu tiên mà họ nhìn thấy trong bản tin tối thứ 4, người mà Alexandra đã đưa về từ Guajira. Bác sĩ tâm thần Jaime Gaviria, là bạn đồng nghiệp của chồng Beatriz và là bạn cũ cũa gia đình, ông đã đưa ra một loạt những lời khuyên khôn ngoan để những con tin có thể duy trì tinh thần ở trạng thái ổn định trong thời gian bị giam. Maruja va Beatriz đều quen biết bác sĩ Gaviria, hiểu rõ nội dung và ý nghĩa của chương trình nên họ đã ghi chép những lời khuyên nhủ của ông.

Đó là một trong số 8 chương trình mà ông đã chuẩn bị. Alexandra trên cơ sở một cuộc nói chuyện dài với bác sĩ Gaviria về tâm lý người bị bắt cóc. Điều đầu tiên là chọn những đề tài mà Maruja và Beatriz thích và gói gọn trong đó những lời nhắn nhủ cá nhân mà chỉ có hai người hiểu. Alexandra khi đó quyết định mời mỗi tuần lễ một nhân vật được chuẩn bị trước để trả lời những câu hỏi cố ý, chắc chắn sẽ gợi lên trong những con tin những sự liên tưởng ngay lập tức. Sự ngạc nhiên là nhiều người xem truyền hình bất ngờ phát hiện ra rằng, ít ra cũng có điều gì tiềm ẩn trong những câu hỏi có vẻ như là ngớ ngẩn, ngây thơ.

Cách đó không xa, trong cùng một thành phố những điều kiện sống của Francisco Santos trong căn phòng bị giam giữ cũng tồi tệ như những điều kiện sống của Maruja and Beatriz, nhưng không hà khắc bằng. Một sự giải thích về việc chúng bắt cóc Maruja và Beatriz chỉ có thể là, ngoài mục đích vụ lợi về mặt chính trị, còn có ý nghĩa trả thù của bọn bắt cóc. Ngoài ra, hầu như chắc chắn, những tên canh giữ Maruja và những tên canh giữ Pacho thuộc hai ê-kíp khác nhau, mặc dầu chỉ vì lý do an ninh chúng hoạt động riêng biệt vì không có sự liên lạc nào giữa chúng với nhau. Nhưng ngoài ra, còn có sự khác nhau nữa khó hiểu. Những tên canh giữ Pacho có thái độ thân mật hơn, dễ chịu hơn và độc lập hơn, ít chú ý tìm hiểu về lai lịch cá nhân của Pacho. Điều tồi tệ đối với Pacho là ông bị xích chân bằng một chiếc xích kim loại vào chân giường khi ngủ. Chiếc xích được bọc bằng một đoạn băng để tránh chân bị loét. Còn điều tồi tệ đối với Maruja và Beatriz là cái giường nằm cũng không có để cho chúng xích chân.

Từ những ngày đầu, Pacho đã nhận được những tờ báo hàng ngày một cách đều đặn. Nói chung những câu chuyện xung quanh vụ bắt cóc ông bị báo chí bóp méo và thổi phồng làm cho nó có vẻ ly kỳ khiến chính những tên bắt cóc cũng phải phì cười. Giờ giấc hàng ngày chúng đã quy định chặt chẽ đối với Maruja và Beatriz, nhiều đêm phải thức trắng, chỉ ngủ được vào hồi 11 giờ trưa. Xem tivi một mình hoặc cùng xem với những người gác hoặc nói chuyện với họ về những tin tức trong ngày, đặc biệt về những trận bóng đá.

Pacho đọc sách tới khi nào cảm thấy mệt thì chơi bài tú lơ khơ hoặc chơi cờ. Cái giường của Pacho khá sang, ông ngủ tốt từ đêm đầu tiên cho tới khi bị lây bệnh ghẻ và bị mẩn ngứa ở mắt. Những bệnh trên đã biến mất chỉ cần một lần lau bằng bông và làm tổng vệ sinh căn phòng. Không khi nào họ phải bận tâm là có người nào đó từ ngoài nhìn vào phòng thấy ánh đèn sáng vì những cửa sổ đã được bịt kín bằng những tấm gỗ.

Đến tháng 10 xuất hiện một sự việc bất ngờ, những con tin có thể gửi thư cho gia đình, một bằng chứng về họ hạy còn sống. Maruja đã phải cố gắng tới mức tối đa để duy trì được sự bình tĩnh, tự chủ. Bà yêu cầu một bình cà phê đen, 2 bao thuốc lá và bắt đầu viết một bức thư như nó tuôn ra tự đáy lòng, không phải sửa một dấu phẩy, họ ghi âm vào một băng cát-sét thông thường để dễ vận chuyện và dễ cất dấu hơn. Bà nói chậm rãi, phát âm rất chuẩn, rõ ràng, cố ý không để lộ rõ sự chán nản, suy sụp tinh thần. Cuối cùng cũng ghi âm cả những đầu đề lớn của báo El Tiempo trong ngày để làm bằng chứng ngày gửi bức thư đó. Bà hài lòng, trước hết là cho câu thứ nhất: “Tất cả những người quen biết hãy hiểu cho nỗi khó khăn mà tôi gặp phải khi gửi bức thư này”. Tuy nhiên, khi bức thư đó được công bố thì đã nguội lạnh, mất tính chất thời sự rồi. Bà có cảm tưởng chiếc thòng lọng đã kề vào cổ, trong câu cuối cùng bà yêu cầu tổng thống hãy làm tầt cả những gì có thể để giải thoát cho những nhà báo bị bắt cóc”. Làm được điều đó – bà lưu ý – nhưng không vượt lên trên pháp luật và những điều khoản đã ghi trong hiến pháp. Điều đó không chỉ có lợi cho đất nước, mà còn có lợi cho nền tự do của báo chí mà hiện nay đang bị bắt cóc”. Sự sa sút tinh thần của giới báo chí trở nên nghiêm trọng hơn ít ngày sau khi Maruja và Beatriz bị bắt cóc, bà hiểu rằng đó là dấu hiệu chứng tỏ rằng đây là một vấn đề lâu dài và phức tạp. Đó là mầm mống đầu tiên của một kế hoạch trốn thoát, nó đã trở thành nỗi ám ảnh không sao cưỡng lại được.

Điều kiện sống của Diana và ê-kíp của bà – ở phía Bắc Bogota 500km, bị bắt cóc đã 3 tháng – rất khác điều kiện sống của những con tin khác. Hai phụ nữ và 4 nam giới bị giam giữ cùng một thời gian, đặt ra nhiều vấn đề rất phức tạp về hậu cần và an ninh. Trong nhà tù của Maruja và Beatriz đột nhiên thiếu hẳn sự khoan dung, trái lại trong nhà tù của Pacho Santoa đột nhiên có sự thân mật, cởi mở của những người gác cùng lứa tuổi. Trong nhóm của Diana bao trùm một bầu không khí rất căng thẳng, giữa kẻ bắt cóc và người bị bắt cóc thường xuyên ở trạng thái hồi hộp, báo động. Sự căng thẳng lan truyền tất cả, và tất cả đều căng thẳng thần kinh. Vụ bắt cóc nhóm của Diana cũng khác với những vụ bắt cóc khác bởi sự mơ hồ. Suốt thời gian dài bị bắt, những con tin thay đổi chỗ ở luôn, ít nhất đã 20 lần, nhưng không một lời giải thích. Những cuộc thay đổi gần, ở ngay trong thành phố Madellin, trong những ngôi nhà có kiểu cách và thứ loại khác nhau, điều kiện sống không giống nhau. Sự di chuyển này có thể vì những tên bắt cóc không phải người Bogota, chúng di chuyển con tin nhưng bằng phương tiện giao thông công cộng vì chúng kiểm soát được tình hình và thường xuyên liên lạc với cấp trên.

Những con tin không ở cùng một ngôi nhà, chỉ có 2 lần ở chung nhưng chỉ trong một thời gian ngắn. Lúc đầu chia thành hai nhóm: Richard Orlando và Hero Buss ở trong một nhà, Diana, Azucena và Juan Vitta ở một nhà khác gần đó. Một vài lần thay đổi chỗ ở đã gây cho con tin sự bối rối và bất ngờ. Di chuyển chỗ ở có thể xẩy ra bất kỳ lúc nào, khiến những con tin không có thì giờ để thu nhặt những đồ dùng cá nhân, vì chúng sợ có sự đột nhập của cành sát, khi di chuyển hầu như luôn phải chạy qua những dốc lởm chởm đá hoặc lội bì bõm qua những vũng bùn lầy dưới trời mưa rào không ngớt. Diana là một phụ nữ khỏe và kiên quyết, nhưng những cuộc đi bộ tàn bạo và khốn khổ ấy, trong những điều kiện thể xác và tinh thần, đã vượt qua sự chịu đựng của họ.

Những cuộc di chuyển khác lại tự do đến mức kỳ lạ, đi ngay giữa thành phố Medellin trên những xe taxi bình thường, cố tránh những toán cảnh sát đi tuần tra ngoài đường phố. Điều khó khăn đối với tất cả là trong những tuần lễ đầu tiên sau khi xẩy ra vụ bắt cóc, nhưng không ai biết về vụ bắt cóc đó. Họ xem trên vô tuyến, nghe đài phát thanh và đọc báo đều không hề có một mẩu tin nào nào về sự mất tích của họ, cho tới ngày 14-9, khi bản tin của đài phát thanh Cripton thông báo về vụ bắt cóc này, nhưng không nói rõ theo nguồn tin nào, chỉ nói họ không nằm trong tay những người du kích, mà bị bọn ma túy bắt cóc. Phải sau đó vài tuần, bọn ma túy mới thừa nhận chúng đã tiến hành vụ bắt cóc này.

Người trông nom ê-kíp của Diana là một người thông minh và có thái độ thân mật, mọi người gọi anh ta là Don Pacho, không có tên họ mà cũng không có đên đệm. Anh ta khoảng 30 tuổi, nhưng có vẻ mặt của người lớn tuổi hơn. Chỉ riêng sự có mặt cũng đem đến hiệu lực để giải quyết những vấn đề về đời sống hàng ngày của con tin và gieo rắc một hy vọng cho tương lai. Anh thường mang tới cho con tin những vật kỷ niệm nhỏ: sách báo, kẹo, băng cát sét âm nhạc. Anh nói vấn đề bắt cóc những nhà báo cũng nằm trong dòng chẩy của cuộc chiến tranh và phản ánh hiện tình đất nước.

Tuy nhiên, chỉ đôi khi anh mới xuất hiện và đã hành động không phù hợp với trách nhiệm của anh. Những người gác ăn ở rất lộn xộn, không khi nào che mặt, dùng những bí danh bất kỳ nào và rất khôi hài. Họ dẫn những con tin từ nhà này qua nhà khác – những lời nhắn miệng hoặc viết ít dòng cho gia đình cũng có tác dụng an ủi những con tin. Từ tuần lễ đầu tiên họ đã mua cho con tin những bộ quần áo ngủ, những đồ trang sức, đồ dùng vệ sinh và những tờ báo địa phương. Diana và Azucena chơi bài với họ và nhiều lần gửi họ danh sách những hàng hóa cần mua. Một người gác nói một câu khiến Azucena rất ngạc nhiên nên bà đã ghi vào sổ tay của mình: “Tôi không quan tâm đến tiền, tôi có thừa”. Lúc đầu những người gác ăn ở rất bề bộn, nghe nhạc mở hết cỡ, ăn uống không theo giờ giấc nhất định, mặc quần đùi đi lại trong phòng. Thấy thế, Diana đảm nhận chức năng lãnh đạo, xếp đặt mọi việc vào đúng chỗ của nó. Bà buộc chúng phải ăn mặc nghiêm chỉnh, vặn nhỏ đài khi nghe nhạc để khỏi làm mất giấc ngủ của người khác, đuổi những người định ngủ trên chiếc đệm trải sát giường của bà.

Azucena, 28 tuổi, người chững chạc, ít nói, có tâm hồn lãng mạn và không thể sống được nếu không có chồng ở bên cạnh, sau 4 năm chung sống cùng chồng. Bà phải chịu đựng những cơn ghen tưởng tượng, cố tính viết những bức thư tình mà không có địa chỉ nhà người nhận. Từ tuần lễ đầu tiên xẩy ra vụ bắt cóc, bà ghi chép hàng ngày một cách đều đặn. Những ghi chép đó rất cần thiết và có ích để sau này bà có thể viết một cuốn sách. Bà làm việc trong bản tin thời sự của Diana từ trước đó vài năm, mối quan hệ giữa bà và Diana không có gì khác, ngoài quan hệ công tác, hai người giống nhau ở sự bất hạnh. Họ cùng nhau đọc báo, chuyện trò với nhau đến tận sáng, sau đó ngủ cho tới giờ ăn trưa. Diana là người bảo thủ cố ý, Azucena đã học được ở bà những bài học về cuộc sống mà không khi nào học được ở nhà trường.

Những thành viên trong ê-kíp của bà nhớ tới Diana như một người đồng nghiệp thông minh, vui vẻ, tràn đầy sức sống, một nhà phân tích tình hình chính trị, sâu sắc, khôn khéo và táo bạo. Trong những giờ phút chán nản là lúc họ đổ lỗi cho bà là người phải chịu trách nhiệm về những hậu quả của cuộc phiêu lưu. “Những gì xẩy ra với tôi không quan trọng – bà nói – nhưng nếu có gì xẩy ra với các bạn, sẽ làm tôi ân hận suốt đời”. Juan Vitta là người mà bà đã có tình bạn từ lâu, tỏ ra lo lắng cho sức khỏe của bà. Anh là một trong những người đã kịch liệt phản đối chuyến đi, với đầy đủ lý lẽ, trong lúc bà vừa ra khỏi bệnh viện do một cơn tiền nhồi máu cơ tim. Diana không bao giờ quên điều đó. Chủ nhật đầu tiên sau vụ bắt cóc Juan Vitta đã khóc khi bước vào phòng của Diana. Diana hỏi anh có giận bà không, vì bà đã không nghe lời khuyên ngăn của anh. Juan Vitta trả lời bà rất thẳng thắn. Anh nói rất căm giận bà khi được thông báo rằng Diana và cả kíp của bà đang nằm trong tay bọn nha phiến, anh không chấp nhận việc bị bắt cóc là một số phận không tránh khỏi. Mối oán giận của anh trong những ngày đầu tiên cũng dần trở thành tình cảm tội lỗi, vì anh đã không thể thuyết phục được bà.

Hero Buss, Richard Becarra và Orlando Acevedo chú ý đến những hiện tượng bất thường ở trong một ngôi nhà gần đó. Người ta thấy ở trong tủ có một số đồ dùng khác thường: quần áo đàn ông hãy còn gói nguyên trong bọc với nhãn hiệu của những hãng sán xuất lớn ở châu Âu. Những người gác kể rằng Pable Escobar có những cuộc di chuyển chỗ ở khẩn cấp và bất thường tới những ngôi nhà an toàn hơn: “Hãy lợi dụng chuyến đi của ông ta, các chàng trai ạ, hãy yêu cầu ông ta những cái gì mà các cậu muốn – họ nói đùa. Xe có thể chậm một chút, nhưng trong 12 giờ chúng ta có thể thỏa mãn bất kỳ yêu cầu nào”. Số thức ăn và đồ uống đã mang tới trên lưng lừa như thức ăn của những thằng điên. Hero Buss nói với họ rằng không có người Đức nào có thể sống được mà không có bia, trong cuộc hành trình sắp tới sẽ mang theo 3 két. “Đã có bầu không khí nhẹ nhõm” Hero Buss nói bằng tiếng Tây Ban Nha rất hoàn hảo. Trong những ngày đó anh đã thuyết phục được một người gác chụp một bức ảnh của ba người bị bắt cóc trong lúc họ đang gọt khoai tây cho bữa ăn trưa. Sau đó đã cấm chụp ảnh, nhưng anh đã giấu được một số dương bản mầu cho anh và Juan Vitta.

Họ chơi tú lơ khơ, đô mi nô và chơi cờ, nhưng những con tin không thể thi đấu với họ vì những cá cược vô lý và những cạm bẫy, vì họ hay đánh tráo bài. Tất cả những người gác đều trẻ, người trẻ nhất trong bọn họ khoảng 15 tuổi, nhưng anh ta lấy làm tự hào vì được thưởng một số tiền khá lớn – hai triệu pesos – vì đã giết chết một nhân viên cảnh sát. Do đó anh ta tiêu tiền như rác, Richard Becerra đã bán cho anh ta một chiếc kính râm và vài chiếc áo Ja-két cũ của những người quay phim với giá cắt cổ, với số tiền đó anh ta có thể mua được năm cái kính mới.

Thỉnh thoảng, những đêm trời lạnh, những người gác hút nha phiến và đùa nghịch với những vũ khí của mình. Đã hai lần xẩy ra súng cướp cò. Một trong số họ đã bắn xuyên qua cửa nhà vệ sinh và làm bị thương một người gác vào đầu gối. Qua đài phát thanh, họ biết Giáo hoàng Joan Pao đệ nhị kêu gọi trả lại tự do cho những người bị bắt cóc, một trong những tên gác đã thốt lên:

- Tại sao cái lão Giáo hoàng chó đẻ này lại can thiệp vào công việc của chúng ta.

Một tên gác khác tỏ ra rất tức giận vì sự vô lễ của tên này, những con tin phải đứng ra hòa giải nếu không chúng đã choảng nhau bằng súng đạn.

Trừ lần ấy ra, Hero Buss và Richard nói với họ một cách nhẹ nhàng để không xẩy ra đổ máu vô ích. Về phần mình, Orlando nghĩ rằng mình là người thừa trong nhóm và anh có thể là người đứng đầu danh sách những người sẽ bị hành quyết.

Khi đó, những con tin được chia thành 3 nhóm, mỗi nhóm ở một nhà khác nhau: Richard và Orlando ở một nhà, Hero Buss và Juan Vitta ở một nhà, Diana và Azucena ở một nhà khác. Hai người đều được chúng đưa đi trên một chiếc xe taxi nên được nhìn thấy quang cảnh phố xá, và người đi lại tấp nập trên đường phố tại một trung tâm thương mại đúng lúc cảnh sát đang tìm mọi cách để đảm bảo an ninh cho thành phố Medellin. Chúng đưa những con tin tới một ngôi nhà đang xây dở, mỗi phòng ngủ chiều 2m và ở phía trong mỗi phòng có một khu nhà vệ sinh rất bẩn thỉu, không có ánh sáng, luôn có 4 tên gác theo dõi. Để ngủ, không có gì khác ngoài hai chiếc đệm trải trên mặt đất. Trong căn phòng kế cận có một con tin khác, cửa luôn đóng kín. Một tên gác nói rằng con tin đó là một tỷ phú. Đó là một người da nâu, cao lớn có một dây chuyền bằng vàng đặc đeo trên cổ, tay luôn bị trói và bị giam cách ly một cách tuyệt đối.

Diana và Azucena được đưa tới một ngôi nhà trống và sang trọng hơn khiến những người bị giam tưởng đó là biệt thự của một thủ lĩnh quan trọng. Các con tin ngồi ăn cơm tại một bàn ăn của gia đình, được nói chuyện riêng, được nghe ca nhạc hiện đại. Trong số những ca sĩ có Rocio Durcal và Juan Manuel Serrat, theo sự ghi chép của Azucena. Ở trong ngôi nhà, nơi mà Diana được xem một chương trình tivi quay căn họ của bà tại Bogota. Qua chương trình đó bà nhớ lại mình đã dấu chiếc thìa khóa tủ quần áo ở một nơi nào đó, nhưng không nhớ chính xác là để sau cát sét, ở sau chiếc tivi hay để trong phòng ngủ. Khi đó bà cũng nhớ ra rằng vì vội nên bà đã quên không khóa két, bà là người cuối cùng trong cuộc hành trình của nỗi bất hạnh. “Hy vọng rằng không có ai nhòm ngó vào đó”. Bà viết trong một bức thư gửi cho mẹ. Ít ngày sau, qua một chương trình tivi khác, ngẫu nhiên bà nhận được sự trả lời trấn an. Cuộc sống gia đình bà hình như không có biến động gì lớn, sau vụ bắt cóc. Có những bà lạ mặt tới gian đình bà với thái độ thân mật như bà con họ hàng, tặng gia đình những hình ảnh của Đức Chúa thần kỳ để giúp đỡ những người bị bắt sớm được trả lại tự do. Có những gia đình toàn bộ, cả trẻ em và chó tới nhẩy múa trong phòng riêng của bà. Điều khó chịu đối với bà là sự hà khắc của khí hậu. Rất ít khi mặt trời ló ra để sưởi ấm nên những con tin không thể ra sân đế tắm nắng, vả lại ở ngoài trời có một số người luôn làm việc. Ồ, có thể họ chính là những tên gác cải trang thành thợ mộc, thợ nề.

Diana và Azucena chụp ảnh lẫn cho nhau, mỗi người chụp một kiểu ảnh trong máy của mình, không thấy sự thay đổi nào về thể chất. Trong một bức ành khác, Diana chụp sau đó 3 tháng, trông bà già đi nhiều, trên mặt có nhiều vết nhăn.

Ngày 19-9, khi bà biết tin về những vụ bắt cóc Marina Montoya và Francisco Santos, bà mới nhận ra rằng vụ bắt cóc bà không phải là một hành động riêng biệt mà nằm trong một chiến dịch mang tính chất chính trị, của một kế hoạch đồ sộ hướng về tương lại, nhằm mục đích gây áp lực với chính phủ đòi phải chấm dứt việc dẫn độ những tên buôn bán ma túy sang Mỹ.

Don Pacho đã khẳng định điều đó: có một danh sách chọn lọc những nhà báo và những nhân vật sẽ bị bắt cóc bằng những biện pháp cần thiết vì quyền lợi của những kẻ bắt cóc. Khi đó ông quyết định mang theo một tờ báo tất nhiên không phải để kể những ngà ycảu họ cũng như để nói lên trạng thái tinh thần của họ và đánh giá của họ về những sự kiện. Về tất cả: những giai thoại về cuộc sống tù đầy, những phân tích chính trị, những nhận xét về con người, những cuộc đối thoại với Chúa và gia đình nhưng không có trả lời, với Đức mẹ cứu thế và với Thánh hài đồng. Vài lần họ đã ghi được nguyên văn cả những lời cầu nguyện của con tin với Đức Cha và Đức Mẹ đồng trinh, có thể đó là những lời cầu nguyện đã được viết sẵn.

Rõ ràng Diana không nghĩ tới một văn bản để xuất bản mà chỉ là một giác thư mang tính chất chính trị và nhân bản, có sức mạnh, xuất phát từ bản thân sự việc, đó là một cuộc nói chuyện đau đớn với chính bản thân mình. Bà viết nội dung cuộc độc thoại đó bằng những chữ tròn và to rất rõ ràng với những chi tiết nhưng khó đoán, đầy kín cuốn vở học trò. Lúc đầu bà viết lén lút vào buổi sáng, nhưng khi những người gác đã phát hiện ra, họ cung cấp cho bà đầy đủ giấy và bút chì để bà tiếp tục viết trong lúc họ ngủ.

Ghi chép đầu tiên, bà bắt đầu từ ngày 27-9, tức là một tuần sau khi xẩy ra vụ bắt cóc Marina và Pacho, bà viết: “Từ ngày thứ tư 19, ngày mà người cầm đầu vụ bắt cóc này tới, đã xẩy ra nhiều chuyện làm tôi kiệt sức”. Bà tự hỏi vì sao vụ bc bà mà chúng không nêu ra những đòi hỏi, và bà tự trả lời rằng cũng có thể chúng bắt cóc để giết chết bà mà không gây ra vụ bê bối trước dư luận công chúng, trong trường hợp không phục vụ cho những mục đích của chúng. “Tôi hiểu như vậy nên tôi rất lo sợ bà viết. Bà lo lắng cho tình trạng sức khỏe của những người bạn của bà, còn hơn lo cho số phận của chính mình, và dò những tin tức của bất kỳ nguồn nào để có thể cho phép bà rút ra những kết luận của số phận bà. Bà luôn là một tín đồ công giáo thực dụng, như tất cả mọi người trong gia đình, nhất là mẹ bà, một người rất sùng đạo, do đó ngày càng trở nên căng thẳng theo thời gian, cho tới khi rơi vào chủ nghĩa thần bí. Bà cầu cứu Chúa, cầu cứu Đức mẹ Đồng trinh, cầu cứu tất cả những gì có thể cứu sống bàm kể cả cầu cứu Pablo Escoba”. Có thể anh ta cần sự giúp đỡ của Chúa. Bà viết thư cho Chúa như vậy trong cuốn nhật ký: “Tôi biết có sự cổ vũ của Chúa để anh thấy rõ điều thiện, tránh làm điều ác, gây ra nỗi đau khổ cho con người, tôi cầu nguyện chúa hãy giúp đở để họ hiểu rõ hoàn cảnh của chúng tôi”.

Rõ ràng, điều đó khó chịu nhất đối với những con tin là họ phải sống chung với những người lính gác. Những người canh gác Maruja và Beatriz là 4 nhóm thanh niên, không trải qua sự tập luyện nào, họ là những kẻ tàn bạo và bấp bênh.

Họ thay nhau gác, mỗi nhóm 2 người, gác trong 12 giờ, họ ngồi bệt xuống đất, khẩu tiểu liên lúc nào cũng sẵn sàng. Tất cả đều mặc áo may-ô có hình quảng cáo thương mại, đi giầy tenis, quần ngắn, đôi khi chính họ cắt ngắn đi bằng chiếc kéo tỉa cây. Một trong hai người tới từ 6 giờ sáng ngủ cho tới 9 giờ, trong khi đó người khác gác, nhưng hầu như cả hai người cùng ngủ trong một thời gian.

Maruja và Beatriz nghĩ rằng nếu có một đội cảnh sát đột nhập ngôi nhà vào giờ này thì những tên gác sẽ không có thì giờ để thức. Tất cả bọn họ đều tin tuyệt đối vào thuyết định mệnh, sống buông thả, phó thác mặc trời. Họ nghĩ rằng có thể họ sẽ chết trẻ, họ chấp nhận điều đó, điều quan trọng là còn sống ngày nào thì sống cho ra sống. Đôi khi họ xin lỗi tù nhân về những thứ mà họ đã làm, nhưng đó là do nghề nghiệp ghê tởm của họ. Họ có thể giúp đỡ gia đình, mua sắm quần áo cho vợ con, có vài chiếc mô tô, và chăm sóc mẹ già, đó là những thứ đặt lên trên tất cả, vì cái đó họ sẵn sàng chết. Họ cũng cầu nguyện Đức mẹ Cứu thế, các thánh thần khác. Hàng ngày họ cầu nguyện để được che chở và tha thứ với lòng sùng đạo đồi bại, đã đưa ra những lời hứa là sẵn sàng hy sinh vì Chúa để Chúa phù hộ, giúp đỡ họ đoạt được kết quả trong việc gây ra những tội ác.

Sau khi cầu nguyện những thánh thần, họ dùng Rohypnol, một loại thuốc an thần, cho phép họ lập nên những chiến công như trong cinéma. Loại thuốc này “hoà tan trong một cốc bia sẽ thấy hiệu nghiệm ngay”, một tên gác giải thích. Khi đó hắn như một con thú dữ, ăn trộm một chiếc xe ô tô để đi dạo chơi. Hắn thích thú khi thấy một người tỏ ra rất sợ hãi đã trao cho hắn những chiếc chìa khóa xe.

Tất cả mọi người đều căm ghét bọn chúng: những nhà chính trị, Chính phủ, Nhà nước, công lý, cảnh sát, toàn thể xã hội. “Cuộc sống của một con người chỉ là một cục cứt”, chúng nói.

Lúc đầu không thể nào phân biệt chúng được, vì tất cả chúng đều đeo mặt nạ, tất cả đều giống nhau. Chỉ một thời gian, những con tin đã nhận ra rằng, chiếc mặt nạ chỉ có thể che dấu được bộ mặt, nhưng không che dấu được tính cách con người. Bằng cách đó, những con tin đã phân biệt được từng tên trong bọn họ. Mỗi chiếc mặt nạ có một con người khác, một cách thể hiện riêng, một giọng nói không nhầm lẫn được và hơn thế nữa: có một trái tim. Hơn nữa, họ cũng tìm cách để những người bị giam giữ bớt nỗi cô đơn, nên họ cùng chơi bài domino, chơi ô chữ và giải những câu đố trong những tạp chí cũ.

Marina hoàn toàn phục tùng nội quy của những tên coi tù nhưng không phải là người vô tư. Bà muốn người này ghét người kia, giữa họ có những lời bình luận xấu về nhau, thuần túy tính chất mẫu hệ, gây ra sự xích mích nội bộ, làm mất sự đoàn kết, hòa hợp trong phòng. Bà bắt mọi người hàng ngày phải cầu nguyện, và mọi người đã cầu nguyện.

Trong số những người gác tháng đầu tiên, có người bị điên bất chợt và luôn tái diễn, mọi người gọi anh ta là Barrabas. Anh ta rất quý mến Marina, thỉnh thoảng lại vuốt ve và khiến bà tức giận. Trái lại, ngay từ ngày đầu hắn đã là kẻ thù quyết liệt của Maruja. Đột nhiên hắn bị điên, đạp đổ chiếc tivi và đập đầu vào tường. Hắn lầm lì ít nói, rất gầy, cao gần 2m, đeo chiếc mặt nạ ngoài lớp vải che mặt của chiếc áo vệ sinh mầu xanh thẫm giống như một vị cha cố điên. Chính vì thế mà mọi người gọi hắn với một cái tên mới: vị linh mục. Có lúc anh ta ngồi thừ ra, đầu cúi xuống, lim dim ngủ. Có lẽ anh ta là người làm việc lâu nhất ở đây. Marina biết rất rõ người gác này, phân biệt anh ta với những người khác. Khi đi phép về anh không quên mang quà cho Marina, trong số quà có một chữ thập bằng nhựa, Marina luôn đeo vật kỷ niệm này ở cổ bằng một sợi dây thông thường cũng do anh ta tặng. Chỉ có mình Marina nhìn rõ mặt anh ta, trước khi Maruja và Beatriz tới. Tất cả những người gác khác đều không mang mặt nạ, họ chẳng có gì phải che dấu tên tuổi và tung tích của mình. Marina diễn giải điều đó là một dấu hiệu là bà sẽ không được sống để ra khỏi nơi giam giữ này. Bà nói hắn là một đứa trẻ dễ thương, có cặp mắt đẹp nhất mà bà được nhìn thấy. Beatriz cũng tin như vậy, lông mày của nó rất dài và dựng đứng như thể nó thò ra từ những lỗ thủng của chiếc mặt nẹ. Hắn cũng có khả năng làm những việc tốt nhất và xấu nhất. Chính hắn là người đã phát hiện ra Beatriz mang một sợi dây chuyền vàng, hắn nói với bà: bà phải đưa nó cho tôi.

Beatriz nói với hắn với vẻ buồn rầu: - Anh không được lấy chiếc dây chuyền này của tôi, nếu mất nó sẽ là một điềm xấu, tôi sẽ gặp điều không may. Hắn đã bị lây nỗi buồn của bà. Hắn nói, ở đây những con tin không được đeo bất cứ thứ gì, kể cả huân chương, vì có thể trong huân chương có máy móc điện tử có thể xác định được vị trí và khoảng cách nơi chúng tôi đang ở. Nhưng có một giải pháp, hắn đề nghị: “Bà giữ lại chiếc dây chuyền, còn chiếc mề đay, bà đưa cho tôi. Xin lỗi bà, đây là một mệnh lệnh của cấp trên mà tôi phải chấp hành”.

Lamparon ở bên cạnh bà, có cảm tưởng rằng chúng sẽ giết chết bà, bà bị lên một cơn co giật vì quá sợ hãi. Bà nghe thấy những tiếng ma quái, tưởng tượng ở trên mặt có một vết sẹo khủng khiếp và hình như có ai đang dò xét bà. Bà lấy cồn lau vào tất cả những vật mà bà đã sờ tay vào để xóa đi những dấu vân tay. Marina đánh lừa được người gác, nhưng cũng không kìm chế được sự hoang tưởng của mình. Đột nhiên bà thức giấc vào lúc nửa đêm. “Hãy nghe đây! Cảnh sát đã tới” – tiếng thì thào rất đáng sợ”. Một đêm ngọn nến tắt, Maruja đập mạnh vào cửa nhà vệ sinh, suýt nữa bà bị ngất xỉu. Trước hết, Lamparon càu nhàu vì không biết lối đi trong đêm tối.

- Không nên càu nhàu nữa – bà nói. Đây không phải là một phim trinh thám.

Những tên gác cũng như những người bị bắt cóc, không được đi lại khắp nhà, những giờ nghỉ thì ngủ trong một căn phòng khác, cửa bị khóa trái để khỏi bỏ trốn. Tất cả những người gác đều quê ở tỉnh Antioquia, ít biết thủ đô Bogota, một vài người kể rằng khi nào họ về phép, sau 20 hoặc 30 ngày làm việc liên tục, họ bị bịt mắt hoặc đút vào thùng xe để không nhận ra đường và không biết mình đang ở đâu. Người gác khác thì lại sợ có thể sẽ bị giết khi nào chúng không cần đến anh nữa, để mang tất cả những bí mật xuống mồ. Không theo một quy luật nào, người chỉ huy có thể tới bất kỳ lúc nào để kiểm tra và nhận báo cáo, ra chỉ thị. Hắn ăn mặc chỉnh tề và cũng đeo mặt nạ. Những quyết định của người chỉ huy cũng rất bất ngờ và tùy tiện, người bị bắt cóc và những người gác đều bị lệ thuộc vào hắn.

Những bữa ăn của những con tin cũng không theo giờ giấc nhất định. Ăn sáng gồm có cà phê sữa, bánh ngô và một mẩu xúc xích, bữa ăn trưa mỗi người được một bát đậu đen hoặc đậu lăng trong nước xám xịt, một mẩu thịt nhiều mỡ, một thìa cơm và một cốc nước có ga. Khi ăn phải ngồi trên đệm, vì cả phòng không có chiếc ghế nào, mỗi người chỉ có một cùi dìa, vì lý do an ninh không được dùng dao và dĩa. Bữa tối, có món đậu hầm và những thức ăn còn thừa của bữa trưa.

Những người gác nói rằng chủ của ngôi nhà, người mà họ gọi là người quản gia phần lớn số tiền. Đó là một người khoảng 40 tuổi, to béo, tầm vóc trung bình, có vẻ mặt nông dân có thể đoán qua cách phát âm giọng nói, mặt đỏ, mọi người chỉ thấp tháong thấy lão ta qua những lỗ thủng của miếng vải che mặt. Hắn sống chung với một người đàn bà nhỏ bé, hay nói, răng sứt, ăn mặc rách rưới.

Bà ta tên là Damaris, hay hát và nhẩy suốt ngày làm điếc tai mọi người, nhưng rất vui tính, nên không thế nào không tưởng tưỡng rằng bà luôn nhẩy múa một mình, với âm nhạc của riêng mình.

Những chiếc cốc, những bát đĩa, khăn trải giường dùng hết ngày này tới ngày khác nhưng không rửa, không giặt cho tới khi những con tin lên tiếng phản đối. Toa-lét luôn bận, những ngày chủ nhật bị đóng kín để khỏi chẩy nước sang nhà hàng xóm. Những người gác đái cả trong phòng rửa mặt hoặc trong các rãnh thoát nước của nhà tắm. Damaris cố ý che dấu tính lười biếng và cẩu thả của mình, chỉ khi nào được thông báo chiếc trực thăng của những viên chỉ huy sắp tới, mới vội vàng, với kỹ thuật của người lính cứu hỏa, lau sàn nhà và những bức tường bằng vòi nước phun. Mụ xem phim truyện suốt cả ngày cho tới một giờ chiều, khi đó mới cho vào nồi áp suất tất cả những gì cần nấu cho bữa ăn trưa: thịt, rau, khoai tây, đậu, tất cả thành một món hổ lốn, và bật lửa cho tới khi nào chiếc van an toàn kêu lên như tiếng còi. Mụ thường xuyên cãi lộn với chồng, chửi rủa chồng để chứng tỏ quyền lực của mình, đôi khi đạt tới đỉnh cao, mụ thở không ra hơi. Họ có với nhau 2 con gái, 9 tuổi và 7 tuổi, chúng đi học tại một trường gần nhà, đôi khi chúng mời những trẻ em khác tới nhà xem tivi và chơi ngoài vườn. Thỉnh thoảng cô giáo cũng tới thăm gia đình vào chiều thứ bẩy. Chúng còn rủ bạn bè tới nhà bầy đặt ra những cuộc liên hoan có ca nhạc.

Những lúc như thể phái khóa tất cả cửa phòng, và không được mở tivi và radio, những con tin không được đi vệ sinh, trừ trường hợp rất khẩn thiết.

Cuối tháng 10. Diana Turbay thấy Azucena rất lo lắng, âu sầu, suốt ngày không nói nửa lời, không muốn chuyện trò, chia sẻ cùng ai. Chuyện đó thường nay xẩy ra. Bà có sức mạnh trừu tượng rất khác thường, nhất là khi đọc nhiều, hơn thế nữa nếu cuốn sách bà đọc là một bản thánh kinh. Những lúc lầm lì khi đó trông bà có vẻ hài hước và xanh sao, yếu đuối. Diana thú nhận rằng, cách đây 2 tuần bà cảm thấy bà cảm thấy lo sợ vì hình như mình đã có mang. Những sự tính toán của bà là rõ ràng. Đã hơn 50 ngày bị bắt cóc và liên tiếp chịu hai thất bại. Rồi Diana nhảy lên vì vui sướng, có tin mới tốt lành, đó là sự phản ứng điển hình của bà mỗi khi có tin vui. Nhưng Azucena lại cảm thấy buồn.

Một trong những lần tới thăm bà đầu tiên, Don Pacho hứa bà sẽ được trả lại tự do vào ngày thứ năm đầu tiên của tháng 10. Hình như tin đó là chắc chắn, vì đã có những thay đổi rất rõ: được đối xử tốt hơn, ăn uống tốt hơn, được tự do đi lại nhiều hơn. Tuy nhiên, sau họ lại kiếm lý do để trì hoãn tới lễ Noel, Năm Mới, Ngày các vị hoàng đế hoặc tới ngày sinh nhật của một người nào đó trong số con tin, trong chuỗi dài những ngày hoãn như vậy, chẳng khác gì những lời an ủi suông.

Don Pacho tiếp tục tới thăm những con tin vào tháng 11. Ông mang tới cho họ những cuốn sách mới, báo trong ngày, nhưng tạp chí cũ và những hộp kẹo sô-cô-la. Ông nói với họ về những người bị bắt cóc khác. Khi Diana biết rằng mình không phải là tù binh của linh mục Pérez, bà tha thiết muốn có một cuộc tiếp xúc với Pablo Escobar, không phải để công bố trong trường hợp này cũng không phải để thảo luận với ông ta về những điều kiện về sự đầu hàng của ông ta. Pablo Escobar trả lời, đến cuối tháng 10, đề nghị của bà sẽ được chấp nhận. Nhưng những tin tức ngày 7-11 đã giáng một đòn chí tử vào ảo tưởng của bà. Cuộc tường thuật của đài phát thanh về trận bóng đá giữa đội Medellin và đội tuyển quốc gia thì bị gián đoạn để đưa tin về vụ bắt cóc Maruja Pachon và Beatriz Villamizar.

Juan Vitta và Hero Buss nghe được tin đó trong lúc đang bị giam, và xem đó là một tin xấu nhất. Họ cùng đi đến kết luận rằng tin đó chẳng khác gì bản phụ trương hảo hạng của một bộ phim nói về nạn khủng bố khủng khiếp: “một tài liệu vô giá” như Juan Vitta nói. Một cuộc tranh luận nẩy lửa nổ ra giữa Juan Vitta và những tên gác. Một tên gác thét vào mặt Hero Buss:

- Anh hãy câm mồm đi – ở đây không có liên quan gì tới anh. Juan Vitta rơi vào tình trạng trầm uất, từ chối không chịu ăn, khó ngủ, hoàn toàn mất phương hướng. Anh muốn có một giải pháp thích hợp để chết một lần còn hơn là phải chết nhiều lần trong một ngày, người anh xanh xao, một tay bị đau, khó thở, khi ngủ hay giật mình. Những cuộc đối thoại duy nhất của anh khi đó là những cuộc đối thoại với những thân nhân đã chết, mà anh nhìn thấy họ bằng xương bằng thịt ở xung quanh chiếc giường anh nằm. Thấy thế, Hero Buss nói với những tên gác: “Nếu Juan Vitta mà chết ở đây thì các anh là những người phải chịu trách nhiệm”.

Lời cảnh cáo đó được chú ý.

Bác sĩ mà họ đưa đến tên là Conrado Prisco Lopera, anh của David Ricardo và Armando Alberto Priscon Lopera thuộc băng Prisco rất nổi tiếng – cộng tác với Pablo Escobar từ khi bắt đầu việc buôn bán ma túy, họ xuất hiện như những người sáng lập của một băng chuyên nghề đâm thuê giết mướn, gồm cả những thiếu niên ở một làng ở phía đông bắc thành phố Medellin. Người ta kể rằng chúng điều kiện một bầy trẻ em hư hỏng làm những việc xấu xa, trong đó có cả việc canh giữ những người bị bắt cóc. Trái lại, đội y tế có bác sĩ Cornado là một nhà chuyên môn trung thực, vết đen duy nhất ở ông, là ông đã nhận làm bác sĩ riêng cho Pablo Escobar, ông tới khám bệnh cho Juan Vitta nhưng ông đeo mặt nạ, ông chào Hero Buss bằng một câu tiếng Đức rất chuẩn:

Hallo Hero, wie gehts uns.

Cuộc tới thăm của ông rất đúng lúc đối với Juan Vitta, không phải vì sự chuẩn đoán bệnh, mà vì lòng nhiệt tình của bác sĩ. Loại thuốc duy nhất mà ông kế cho bệnh nhân là một thứ thuốc ngọt của những cuốn sách hay, tất cả điều trái ngược với những tin tức chính trị về bác sĩ Prisco Popera mà đối với những người bị giam giữ, nó như một thứ thuốc để giết chết người mạnh khỏe nhất.

Trong tháng 11, bệnh tình của Diana trở nên trầm trọng hơn, bà bị nhức đầu dữ dội, đau bụng quằn quại, suy thoái nghiêm trọng, bà không ghi trong nhật ký về cuộc tới thăm của bác sĩ. Sự suy nhược của bà là do sự trì trệ của tình hình, việc trả lại tự do cho các con tin ngày càng trở nên bấp bênh, đã gần hết năm nhưng vẫn chưa thấy ánh sáng nào. “Ở đây thời gian trôi qua khác với thời gian mà chúng ta đã quen sống. Không có mong muốn gì hơn” – bà viết. Một tâm trạng bi quan đang đè nặng lên bà: “Tôi đã làm một cuộc kiểm điểm lại những gì tôi đã sống cho tới ngày hôm nay: bao nhiêu mối tình, bao nhiêu điều quyết định thiếu chín chắn, mất bao nhiêu thời gian cho những việc không đáng làm”.

Nghề nghiệp của bà có một chỗ đặc biệt cho sự thử thách nghiêm khắc về ý thức này.

“Mặc dầu niềm tin của tôi ngày thêm mạnh mẽ điều cần phải có trong nghề làm báo, nhưng tôi không thấy rõ khoảng không gian của tôi”. Những nỗi nghi ngờ không cứu vãn được chính bản thân sự kiểm điểm, rằng: “tôi đã thấy mình nghèo nàn không chỉ về mặt tiền tài mà cả trong nghề nghiệp” và bà đã tự phán xét mình một cách nghiêm khắc: “thiếu sự sâu sắc và khả năng phân tích”.

Những ngày tất cả những con tin phải sống cách ly đó, đều chờ đợi Don Pacho tới, tất cả những cuộc tới thăm của ông ta đều được thông báo trước, nhưng rất ít khi đúng. Nghe thấy tiếng máy bay trực thăng bay trên mái nhà làm cho những con tin có ấn tượng rằng, đó là những chuyến bay thám hiểm như thường lệ. Nhưng mỗi chuyến bay như thế là sự nhắc nhở với những người gác, họ cầm chắc vũ khí trong vị trí chiến đấu. Những con tin được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, trong trường hợp xẩy ra một cuộc tiến công vũ trang thì những người gác sẽ giết chết những con tin trước hết.

Mặc dầu vậy, tới tháng 11, đã hết mọi hy vọng. Đã làm tan biến mối nghi ngờ làm Azucena Liévano lo lắng: những triệu chứng giả về việc bà có mang đã làm cho bà lo lắng, căng thẳng thần kinh.

Nhưng điều đó cũng không làm cho bà vui mừng. Trái lại, sau sự lo lắng ban đầu, tư tưởng có một đứa con đã trở thành ảo tưởng, nó sẽ nhanh chóng trỗi dậy một khi bà được trả lại tự do.

Về phần mình Diana đã thấy dấu hiệu của một niềm hy vọng trong những lời tuyên bố của những nhân vật nổi tiếng về khả năng đi tới một thỏa thuận.

Thời gian còn lại của tháng 11 là sự thu xếp cho Maruja và Beatriz. Mỗi người theo cách riêng của mình đề ra một chiến lược để được sống sót. Beatriz là người dũng cảm và có cá tính mạnh mẽ đã ẩn náu trong niềm an ủi để giảm nhẹ những gì phải chịu đựng trong thực tế.

Trong 10 ngày đầu bà chịu đựng rất tốt, nhưng sau đó bà nhận ra rằng tình hình rất phức tạp và đáng buồn, phải đương đầu với nỗi bất hạnh.

Còn Maruja là một nhà phân tích lạnh lùng, chống lại mọi sự lạc quan vô lý. Ngay từ đầu bà đã nhận ra rằng bà phải đương đầu với một thực tế xa lạ với những phương sách của bà, việc bà bị bắt cóc là một vấn đề lâu dài và khó khăn. Bà tìm nơi ẩn náu ở chính bản thân bà, như con ốc ẩn náu trong chính cái vỏ của nó. Tiết kiệm năng lượng nhưng suy nghĩ tới tận cội nguồn của vấn đề cho tới khi đã quen với một thực tế không thể lẩn tránh rằng bà có thể bị giết chết. “Chúng ta không được sống để ra khỏi nơi đây” – bà nói. Chính bà cũng lấy làm ngạc nhiên về sự phát hiện đáng buồn, lại có tác dụng ngược lại. Từ đó bà cảm thấy làm chủ được mình, và thấy mình có liên quan tới tất cả mọi thứ và với tất cả mọi người, và đạt được điều đó vì kỉ luật ở trại giam đã ít hà khắc hơn. Đến chính chiếc tivi cũng trở nên không thể chịu đựng được, từ tuần lễ thứ ba bị giam giữ những con tin đã chấm dứt việc chơi bài và chơi ô chữ với những người gác, thỉnh thoảng họ đọc báo và những tạp chí có sẵn trong phòng do những người bị bắt trước đó để lại. Nhưng trong những ngày buồn chán nhất, như luôn có trong cuộc sống bị giam cầm, Maruja dành riêng cho mình mỗi ngày hai giờ trong sự cô đơn tuyệt đối.

Mặc dầu vậy, những tin tức đầu tiên của tháng 12 chỉ ra rằng có lý do để hi vọng. Maruja cũng vậy, đã đưa ra những lời tiên tri khủng khiếp. Maruja bắt đầu sáng tạo những trò chơi lạc quan, Maruja nhập cuộc rất nhanh: một trong số những người gác dơ ngón tay cái ra hiệu chấp nhận, và như vậy có nghĩa là mọi chuyện đều sẽ tốt lành.

Mỗi khi Damaria không đi chợ mua thức ăn cho những con tin, như vậy có nghĩa là họ sẽ được trả lại tự do. Những người gác biểu thị như chính họ sẽ quyết định ngày và cách thức trả lại tự do cho những con tin. Như sống ở trên mây, họ tưởng tượng ra rằng những con tin sẽ được trả lại tự do vào một ngày nắng ấm. Khi ấy họ sẽ cùng nhau tổ chức một cuộc ăn mừng trên sân thượng của nhà Maruja. “Chị muốn dùng món gì?” Beatriz hỏi Marina. Marina là người có tài nấu nướng, đọc bản thực đơn của những hoa hậu. Bắt đầu là những trò chơi tưởng tượng, kết thúc là thực tế phũ phàng, họ đang bị giam giữ trong nhà tù và đang nghĩ cách làm thế nào để được thoát khỏi nơi này, mong ước hết ngày này đến ngày khác. Ngày 9-12 là một trong số những ngày đã công bố thả những con tin, nhân ngày bầu cử quốc hội. Đã có sẵn cả danh sách những người được thả, kể cả sự chuẩn bị cho một cuộc họp báo. Mọi người phải chuẩn bị sẵn những câu trả lời. Ngày ngày trôi qua với nỗi bồn chồn, nhưng kết thúc không đến nỗi cay đắng. Tuyệt đối tin chắc rằng dù sớm hay muộn Maruja cũng sẽ được trả lại tự do do sự vận động của chồng bà.

Nguyên tác: Noticia de un secuestro Dịch giả: Đoàn Đình Ca Đánh máy: Thùy An, Lê Thanh, Thùy Trâm, Thiên Thanh, Minh Khuyên, Hồng Hạnh, Yên Hà, Thu Thủy
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.