Tin Tức Về Một Vụ Bắt Cóc

Lượt đọc: 147 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

Một tháng sau khi xẩy ra vụ bắt cóc Maruja và Beatriz, chế độ giam giữ những con tin một cách phi lý đã được nới rộng đôi chút, những con tin đang nằm muốn ngồi dậy, tự phục vụ cà phê hoặc khi muốn đổi kênh tivi đều không phải xin phép. Ở trong phòng vẫn phải nói thầm, nhưng đi lại được tự do hơn. Mỗi khi ho, Maruja không phải lấy chiếc gối bịt vào miệng như trước, tuy nhiên vẫn phải có những đề phòng tối thiểu để người ngoài không nghe thấy những tiếng nói ở trong nhà. Bữa ăn trưa và ăn tối vẫn như trước, với các món đậu đen, đậu lăng, một mẩu thịt bạc nhạc khô cứng và một bát súp trong như nước lã.

Những tên gác nói chuyện với nhau chẳng quan tâm gì tới những con tin. Chúng trao đổi với nhau những tin tức về những vụ chém giết đẫm máu, những cuộc săn lùng của cảnh sát về ban đêm ở thành phố Medellin, những chiến công tình yêu của những chàng trai và những cô gái. Maruja đã thuyết phục được những người gác trong trường hợp xẩy ra một cuộc tiến công vũ trang để giải thoát những con tin, mong họ hãy che chở cho những con tin, thể hiện một cửa chỉ xứng đáng và tấm lòng độ lượng. Lúc đầu họ tỏ vẻ thờ ơ, nhưng sau họ chú ý tới đề nghị này, họ là những người cuồng tín cố hữu. Như vậy chiến thuật lôi kéo họ ít nhiều đã được kết quả, họ cũng không chĩa sung vào những con tin khi đang ngủ, họ gói vũ khí bằng một tấm vải rách rồi cất ở phía sau chiếc tivi. Cuộc sống ở đây là sự phụ thuộc lẫn nhau, những người gác và những con tin đều phải chịu đựng những nỗi đau khổ. Cuối cùng đã thiết lập được mối quan hệ giữa người và người.

Do tính khí riêng của mình, Maruja không có điều gì làm bà phải cảm thấy cay đắng. Bà đã làm lành với những người gác khi họ giận dữ định đánh nhau, nhưng bà đối mặt với họ một cách kiên quyết đến ngạc nhiên. Khi có điều gì bất bình, bà thét vào mặt những người gác: “Các anh hãy giết chết tôi đi.” Đôi khi bà cũng làm lành với Marina. Sự ve vãn của Marina đối với những tên gác đã làm mọi người tức giận, với những ảo tưởng khủng khiếp đã làm bà rơi vào một trạng thái tâm lý không bình thường, mất sáng suốt. Đôi khi bà ngước mắt nhìn lơ đãng khiến mọi người nghĩ rằng bà bị mắc bệnh tâm thần hoặc bị ám ảnh bởi một điều tiên tri khủng khiếp.

- Ở phía sau thửa vườn của nhà giam có một xưởng sửa chữa ô tô của những tên chuyên nghề đâm thuê chém mướn – bà nói. Ở đó có tất cả, ban ngày cũng như ban đêm chúng được trang bị bằng súng săn, họ luôn sẵn sàng tới đây để giết chết chúng ta.

Tuy nhiên, sự va chạm nghiêm trọng nhất xẩy ra vào một buổi chiều, khi Marina xổ ra những lời nguyền rủa những nhà báo vì họ không nói tới bà trong một chương trình tivi về những người bị bắt cóc.

- Tất cả bọn nhà báo đều là con của những con đĩ – bà nói. Maruja đối mặt với bà: - Có đúng như thế không? Maruja nói một cách giận dữ - Bà hãy nhắc lại câu bà vừa nói. Marina không cãi lại, sau một lát im lặng, bà xin lỗi.

Thực tế, bà là người thuộc thế giới khác. Bà đã 64 tuổi, thời trẻ là một phụ nữ xinh đẹp nổi tiếng, với cặp mắt đen và to, một bộ tóc mầu bạc luôn mượt mà kể cả lúc gặp nỗi bất hạnh. Bây giờ bà như một bóng ma, người gầy đét, dơ xương. Khi Maruja và Beatriz tới, đã gần hai tháng bà không nói với ai, trừ một vài tên canh gác bà. Cần phải có thời gian và cơ hội để ba người hòa hợp với nhau. Nỗi sợ hãi đã làm bà suy sụp, bà đã sút 20kg, còn tinh thần thì xuống đến mặt đất. Bà như một bong ma. Bà lấy chồng từ khi còn rất trẻ. Chồng bà là người làm nghề bói vân tay rất nổi tiếng trong giới thể thao. Ông rất to lớn và có tấm lòng tốt, rất yêu vợ. Hai người đã có với nhau ba con trai và bốn con gái. Bà là người quán xuyến việc nhà và cả công việc của những người khác, mỗi khi trái tim mách bảo. Bà hiểu rõ trách nhiệm của người vợ, người mẹ trong một gia đình đông con. Bà là người mẹ cả về mặt quyền lực cũng như trách nhiệm, ngoài ra bà cũng sẵn sàng giúp đỡ những người khác.

Do tính độc lập bất trị của bà hơn là do nhu cầu, bà đã bán chiếc xe ô tô, bà có thể bán tất cả những gì bà muốn chỉ vì bà muốn có nhiều tiền để chi tiêu.

Tuy nhiên, những ai biết rõ về bà đều cảm thấy ái ngại cho bà, một phụ nữ có những đức tính như bà mà trong cùng một thời gian bà phải chịu bấy nhiêu nỗi bất hạnh. Chồng bà, do điều trị bệnh tâm thần nên trong 20 năm ông đã bất lực, hai người em đã chết trong một tai nạn giao thong khủng khiếp, một người em khác đã chết bất đắc kỳ tử vì một cơn nhồi máu cơ tim, một người em khác bị chết chẹt do một cột đèn báo đường trong một tai nạn ngoài đường phố, và một người em khác bỏ nhà đi lang thang và đã vĩnh viễn mất tích.

Bà bị bắt cóc là một trường hợp không có giải pháp. Chính bà cũng chia sẻ ý kiến cho rằng chỉ có bắt cóc để có một con tin quan trọng trong tay thì bọn may túy mới có thể gây áp lực với chính phủ trong đàm phán về vấn đề đầu thú. Nhưng trải qua 60 ngày bị giam giữ thực tế đã cho phép bà suy nghĩ rằng những bọn ác ôn giam giữ bà đã thoáng thấy khả năng đạt được mục đích bằng cách đổi mạng sống của chính bà. Tuy nhiên, điều đáng chú ý ở bà là trong những phút khó khăn bà thường suy nghĩ về cách sửa sang tỷ mỉ những móng tay móng chân của mình. Bà rũa rồi đánh bóng móng tay, móng chân bằng loại thuốc làm cho nó bóng như mầu tự nhiên, như vậy trông bà rõ ràng trẻ hơn nhiều. Cũng tỷ mỷ như vậy bà nhổ lông mi và lông tơ ở chân. Khi đã vượt qua được những khó khăn ban đầu, Maruja và Beatriz đã giúp đỡ bà, tìm cách điều khiển bà. Bà nói chuyện không dứt với Beatriz về người tốt người xấu trong những cuộc thầm thì vô tận, làm cho những người gác cảm thấy khó chịu. Maruja cố gắng an ủi bà. Cả hai đều chung số phận, chịu cảnh đau đớn và là những người duy nhất biết bà hãy còn sống, ngoài những người gác biết, họ không kể điều đó với ai.

Một trong những điều dễ chịu vào thời kỳ đó là việc trở về bất ngờ của người chỉ huy mang mặt nạ, người đã tới thăm con tin trong ngày đầu tiên. Lần này ông ta trở về rất vui vẻ và lạc quan, với tin tức mới rằng những con tin có thể sẽ được trả tự do trước ngày 9-12, ngày dự định cho cuộc bầu cử quốc hội. Tin này có ý nghĩa rất đặc biệt đối với Maruja, vì ngày đó chính là ngày sinh nhật của bà, bà có ý định hôm đó sẽ nói với gia đình bà muốn xin nghỉ hưu sớm. Nhưng đó mới chỉ là một ảo tưởng thoáng qua: một tuần lễ sau cũng chính viên chỉ huy ấy lại nói với những con tin rằng không một ai được trả tự do vào ngày 9-12, đây là một vụ bắt cóc lâu dài, đến lễ Noel và cả Năm Mới cũng chưa được trả lại tự do. Đó là một đòn đau đớn đối với cả hai người. Maruja bị viêm tĩnh mạch nên chân bà rất đau. Beatriz bị một cơn khó thở và bị chảy máu dạ dầy. Một đêm bà bị một cơn đau dữ dội, bà đã cầu khẩn Lamparon, xem trường hợp của bà là một ngoại lệ, vi phạm nội quy của trại giam, cho phép bà đi nhà vệ sinh vào giờ này. Sau một lúc lâu suy nghĩ, hắn cho phép bà nhưng không quên nhắc nhở bà đây là sự vi phạm nghiêm trọng. Nhưng vô ích. Beatriz tiếp tục rên như một con chó bị thương, bà cảm thấy như sắp chết đến nơi, cho tới khi người quản gia rủ lòng thương, nói với người gác đi kiếm cho bà vài viên thuốc giảm đau.

Mặc dầu đã có nhiều cố gắng tìm hiểu, nhưng cho tới khi đó những con tin vẫn không có những dấu hiệu đáng tin cậy để xác định hiện họ đương bị giam ở đâu. Do sự lo sợ của những người gác về những người hang xóm nghe thấy tiếng nói của họ, do những tiếng động từ ngoài vọng vào, những con tin đoán họ đang bị giam ở một nơi nào đó trong thành phố. Một con gà trống điên cất tiếng gát vào bất kỳ giờ nào, đêm cũng như ngày, có thể khẳng định điều đó vì những con gà trống nhốt ở những nhà cao tầng chúng thường mất ý niệm về thời gian. Họ luôn luôn nghe thấy tiếng gọi của người hàng xóm cùng một tên “Bafael”. Những máy bay sà xuống thấp, những máy bay trực thăng tới gần, có cảm tưởng như nó bay ngay trên mái nhà. Marina đã đề nghị nhiều lần nhưng không khi nào được sĩ quan cấp cao của quân đội theo dõi sự tiến triển của những vụ bắt cóc. Đối với Maruja và Beatriz lại là một sự tưởng tượng nữa, nhưng mỗi lần chiếc trực thăng tới thì nội quy của trại giam lại được phục hồi nghiêm chỉnh: nhà cửa ngăn nắp như một trại lính, cửa luôn luôn chốt ở phía trong và khóa ở phía ngoài, vũ khí luôn sẵn sàng, bữa ăn hàng ngày cũng khá hơn. Từ đầu tháng 12, bốn người gác từ ngày đầu đã được thay bằng bốn người mới. Một trong số bốn người mới này rất kỳ lạ, có những cử chỉ rất thô bạo giống như một nhân vật trong phim. Những người gác khác gọi tên này là Gorila, tức là con khỉ đột, thực tế hắn giống con khỉ đột thật. Hắn có thân hình đồ sộ, khỏe như một lực sĩ, da đen, đầy những lông lá dựng đứng. Tiếng nói của hắn lúc nào cũng oang oang, hình như hắn không thể nào nói nhỏ hơn được. Tuy nhiên, không ai dám đề nghị hắn một điều gì. Hắn luôn tự xem mình là trên tất cả. Hắn luôn mặc một chiếc quần cộc thể thao thay cho chiếc quần soóc. Hắn đội một chiếc mũ lông bịt kín tai, chiếc áo may-ô bó sát người làm lộ rõ chiếc mề đay có hình chúa Hài động đeo lủng lẳng trên cổ, hai tay hắn to, đẹp, có một chiếc vòng của Brasil đeo ở cổ tay để có may mắn, những bàn tay to như bàn tay ông hộ pháo với những đường nét chỉ số phận như được in bằng lửa đổ trong lòng bàn tay trắng bệch. Căn phòng như không chứa nổi hắn, mỗi bước hắn đi đều để lại phía sau sự lộn xộn. Qua những con tin trước, hắn đã học được cách chỉ huy. Hắn đã để lại những ấn tượng rất xấu trong những con tin, nhất là đối với Beatriz đã tỏ thái độ căm ghét hắn ngay khi hắn vừa mới tới. Tâm trạng chung của những con tin và cả những người gác trong những ngày ấy là chán chường. Đã bắt đầu chuẩn bị cho cuộc liên hoan vào đêm Noel. Người quản gia chuẩn bị làm lễ tuần chín ngày và cuộc liên hoan với sự tham gia của một cha cố. Những người tham dự cùng cầu nguyện, hát đồng ca, phân phát bánh kẹo cho trẻ em và nâng cốc rượu táo mừng nhau, đó là thứ rượu chính thức dùng trong gia đình. Sau cùng họ trừ tà bằng cách vẩy nước thánh. Khi vị linh mục đã ra về, người phụ nữ bước vào phòng vẩy nước thánh lên chiếc vô tuyến, những chiếc đệm và những bức tường. Ba con tin bị bất ngờ nên không biết phải làm gì. “Đây là nước thánh – người phụ nữ nói trong lúc đang vẩy nước bằng tay. Nước thánh sẽ giúp chúng ta được bình yên”. Những người gác làm dấu thánh, quỳ gối, nhận trận mưa nước tẩy uế và xức dầu thánh.

Nhiệt tình cầu nguyện và chè chén lu bù là một đặc điểm chung của tỉnh Antioquia của Colombia. Trong suốt tháng 12 không lúc nào là không có tiệc tùng. Do vậy, Maruja đã đề phòng để những người bắt cóc bà không biết ngày 9-12 là ngày sinh nhật lần thứ 53 của bà. Beatriz hứa sẽ giữ kín không cho ai biết ngày ấy, nhưng những người gác đã biết ngày sinh nhật của bà qua một chương trình đặc biệt của vô tuyến truyền hình dành riêng cho bà do những người con của Maruja đã thực hiện trước ngày sinh nhật của bà. Những người gác không dấu nổi xúc động của mình khi xem chương trình ấy. “Bà Maruja – một người nói – bác sĩ Villamizar chồng bà rất trẻ trung và rất yêu quý bà.” Họ mong đợi Maruja cũng được xuất hiện trên vô tuyến truyền hình cùng với các con bà. Dầu sao chăng nữa, xem chương trình ấy trong lúc đang sống trong cảnh tù đầy, bà như người đã chết, nhìn cuộc sống từ thế giới khác, vì không có sự tham gia của bà, nhiều người không biết điều đó. Ngày hôm sau vào hồi 11 giờ sáng không có một thông báo trước nào, người quản gia và vợ ông ta bước vào phòng với một chai rượu sâm banh địa phương, cùng những chiếc cốc đủ cho mọi người và mỗi chiếc bánh ngọt ở phía trên phủ một lớp kem giống như kem đánh răng. Họ chúc mừng Maruja với những lời chúc mừng kính mến, tất cả đều đồng thanh hát bài Happy birthday (chúc mừng ngày sinh nhật) cùng với những người gác. Tất cả mọi người đều ăn bánh ngọt, uống rượu sâm banh, khiến Maruja nẩy sinh sự mâu thuẫn về tình cảm.

Ngày 26-11, khi Juan Vitta vừa thức giấc, anh được báo tin trả lại tự do vì lý do sức khỏe. Anh sững người vì sợ hãi, nhưng đến đúng ngày hôm đó anh cảm thấy mạnh khỏe hơn bào giờ hết. Anh nghĩ rằng sự công bố ngày anh được tha chỉ là một cái mẹo để trao xác chết đầu tiên cho dư luận công chúng. Quả nhiên, khi người gác báo cho anh biết tin ấy, thì một giờ sau trong lúc chuẩn bị để được trả lại tự do, anh lên một cơn kinh hoàng. “Tôi muốn chết theo cách của tôi – anh nói – nhưng nếu như số phận đã quyết định như vậy thì tôi phải chấp nhận.” Chúng ra lệnh anh phải cạo râu và mặc bộ quần áo sạch sẽ nhất, khi đó anh tin rằng mặc bộ quần áo đó cho đám tang của anh. Họ dặn dò anh những điều cần làm một khi được tự do, trước hết anh phải đánh lạc hướng những cuộc phỏng vấn của báo chí, để sao cảnh sát không dò ra dấu vết nơi anh bị giam giữ để không thể tiến hành cuộc hành quân giải thoát con tin. Một lúc sau buổi trưa họ đưa anh đi một vòng ô tô ở những khu ngoằn ngoèo của thành phố Madellin, rồi họ thả anh xuống một ngã tư đường, không có nghi thức nào.

Sau khi được trả lại tự do, đến lượt Hero Buss, một mình được chuyển tới một khu phố to hơn, phía trước là một trường thể dục hình thể cho các cô gái. Chủ ngôi nhà mới là một người da nâu, ốm yếu và thích chè chén. Vợ ông ta, khoảng 35 tuổi đã có mang 7 tháng, ăn mặc rất diêm dúa, từ sáng sớm đã trang điểm bằng những đồ nữ trang đắt tiền, trông rất lộng lẫy. Họ đã có một con còn bé nhưng nó sống với bà nội ở một ngôi nhà khác. Trong phòng ngủ của nó có đầy đủ các loại đồ chơi cơ khí. Theo cách thức mà họ thu xếp tại căn nhà mới này, họ chuẩn bị cho một cuộc giam giữ lâu dài. Những người chủ nhà mới cần phải đối xử với Hero Buss, một người Đức, tử tế như đối xử với những người Đức trong các phim của Marlenne Dietrich. Hero Buss là một con người đồ sộ có chiều cao 2m và chiều ngang 1m, tuy đã 50 tuổi nhưng vẫn còn vẻ ngây thơ, có tính hài hước được nhiều người thích và một thứ tiếng Tây Ban Nha có giọng lơ lớ vùng Caribe của người vợ là Carmen Santiago.

Rất nguy hiểm đối với một phóng viên báo chí và đài phát thanh Đức làm việc ở Mỹ la tinh, kể cả dưới chế độ quân sự Chile, ở đó ông đã phải thức suốt một đêm với sự đe dọa có thể bị bắn vào lúc sáng sớm. Ông có nước da xạm nắng, đó là kết quả của mấy tháng bị giam giữ. Sau một thời gian nhất định, lại có một người tới ngôi nhà này, túi đầy tiền cho các khoản chi tiêu, ông ta luôn vội vã. Chủ nhà đã chi tiêu hoang phí và vội vã số tiền đó vào việc chè chén, nhậu nhẹt, trong khi đó những người bị giam không ít ngày chẳng có gì để ăn. Những ngày cuối tuần họ bầy đặt ra những cuộc liên hoan, ăn uống giữa những người bà con và bạn bè thân thiết. Những trẻ em làm chủ ngôi nhà. Ngày đầu tiên họ rất cảm động, vui mừng nhận ra rằng chính người Đức khổng lồ này là một nghệ sĩ đã đóng phim truyện mà họ đã được xem nhiều lần trên vô tuyến truyền hình. Khoảng 30 người không có liên quan gì tới vụ bắt cóc đã tới xin anh ảnh và chữ ký làm kỷ niệm, họ cùng ăn, cùng nhẩy với anh, không mang mặt nạ tại ngôi nhà của những người điên rồ, nơi Hero Buss sống tới ngày cuối cùng bị giam giữ. Những người chủ của ngôi nhà này vì tiêu sài quá độ nên phải vay nợ và cuối cùng phải cầm cố chiếc máy vô tuyến, chiếc betamax, chiếc máy nghe nhạc để có tiền mua thức ăn cho những người bị bắt cóc. Những đồ nữ trang đắt tiền của vợ người quản gia cũng dần dần biến mất khỏi cổ, khỏi tay và tai đến mức bà không còn đồ nữ trang nào mang trên người.

Một buổi sáng sớm, người chủ nhà đánh thức Hero Buss để mượn tiền vì vợ ông ta đau đẻ, nhưng không còn một xu dính túi để thanh toán tiền viện phí. Hero Buss cho ông ta mượn 50 nghìn pê-xô cuối cùng. Hero Buss được trả lại tự do vào ngày 11-12, 15 ngày sau Juan Vitta. Trước khi được trả lại tự do họ mua cho anh một đôi giầy nhưng không dùng được, vì giầy anh dùng là số 46, nhưng họ tìm mãi mới mua được một đôi số 44 loại to nhất. Họ cũng mua cho anh một chiếc quần và một chiếc áo sơ-mi nhỏ hơn hai số, vì anh đã gầy đi nhiều và sút 16kg. Họ trả lại anh đầy đủ những trang thiết bị quay phim và chiếc cặp đựng những cuốn sổ tay có những ghi chép bí mật ở ngoài bìa. Người quản gia trả lại anh 50 nghìn pê-xô mượn khi vợ đẻ và 15 nghìn họ đã vay từ trước để bù vào số tiền ăn bớt trong khoản tiền chơ. Họ còn cho anh nhiều thứ khác nữa, nhưng điều duy nhất mà anh yêu cầu là có cuộc tiếp xúc với Pablo Escobar, nhưng không khi nào họ trả lời. Toán canh giữ cuối cùng đã lấy một xe ô tô riêng đưa anh đi lượn quanh nhiều vòng ở những khu phố sang trọng để đánh lạc hướng, cuối cùng họ thả anh xuống với những dụng cụ quay phim vác trên vai, cách trụ sở báo El Tiempo nửa ngã tư đường, với một bản thông cáo trong đó những người buôn bán ma túy bầy tỏ lòng biết ơn đối với Hero Buss, người đã tích cực đầu tranh bảo vệ nhân quyền ở Colombia và ở vài nước Mỹ la tinh khác, họ cũng nhắc lại sự quyết tâm thực hiện chính sách quy thuận của chính phủ mà không nêu thêm điều kiện nào khác, ngoài việc đòi hỏi pháp luật phải đảm bảo an toàn cho bản thân và gia đình họ. Là một nhà báo cho tới cùng, Hero Buss đưa chiếc máy ảnh cho một người đi đường yêu cầu ông chụp giúp anh một bức ảnh để đánh dấu ngày anh được trả lại tự do.

Qua tin đài phát thanh, Diana và Azucena biết tin Juan Vitta và Hero Buss đã được trả lại tự do. Một người gác nói sắp tới sẽ đến lượt các bà được trả lại tự do. Họ đã nói điều đó nhiều lần nên các bà không tin. Đề phòng hai người không được trả lại tự do cùng một lúc nên mỗi người đã viết sẵn một bức thư cho gia đình để gửi qua người được trả tự do trước. Nhưng mong mãi, chẳng thấy có gì xẩy ra đối với họ, không biết tin tức gì thêm cho tới hai ngày sau, sáng sớm ngày 13-12 Diana được đánh thức dậy bằng những tiếng thì thầm và những sự di chuyển khác thường ở trong nhà. Bà rất hồi hộp tin rằng lần này và sẽ được trả lại tự do nên bà nhẩy ra khỏi giường. Azucena được báo động, trước bất kỳ ai, nếu được trả lại tự do họ sẽ báo cho các bà biết trước để chuẩn bị hành lý.

Cả Diana và Azucena đều ghi trong nhật ký, xem đó là giờ phút bi thảm. Trong lúc Diana đang tắm thì một người gác báo cho Azucena biết không có một nghi thức nào để tiễn đưa bà. Lần này chỉ có mình bà được trả lại tự do. Trong một cuốn sách xuất bản sau đó ít lâu, Azcena đã kể lại sự kiện đó với sự giản dị đáng khâm phục: “Tôi trở về phòng đã thấy bản danh sách để ở ghế, trong lúc bà Diana vẫn tiếp tục tắm. Khi ra, nhìn thấy tôi, bà dừng lại nhìn tôi, bà hỏi:

- Chúng ta được trả lại tự do chứ Azu?

Cặp mắt bà long lanh và khao khát chờ một câu trả lời. Tôi không nói được gì, cúi đầu, thở dài một hơi rất sâu rồi nói:

- Không, chỉ có mình tôi.

“Tôi mừng quá – Diana nói – tôi biết trước sự việc sẽ diễn ra như thế mà.” Hôm đó Diana ghi trong nhật ký: “Tôi cảm thấy như bị một nhát dao đâm vào tim, nhưng tôi nói với Azucena rằng tôi mừng cho chị, chị hãy cứ yên tâm.” Bà trao cho bức thư gửi Nydia mà bà đã viết từ mấy ngày trước, đề phòng bà không được trả lại tự do. Trong bức thư bà đề nghị gia đình tổ chức lễ Noel cùng với các con bà. Azucena khóc, ôm ghì lấy Diana để an ủi bà. Sau đó bà tiễn Azucena tới tận ô tô, tại đó hai người lại ôm hôn nhau một lần nữa, Azucena ngoái lại nhìn bà qua cửa kính xe, Diana dơ tay chào từ biệt.

Một giờ sau, chiếc xe ô tô chở bà ra sân bay của thành phố Madellin để bay về Bogota. Azucena nghe thấy một nhà báo của đài phát thanh phỏng vấn chồng bà, ông đang làm gì khi được tin bà được trả lại tự do. Ông trả lời đúng sự thật: “Tôi đang sáng tác một bài thơ để tặng Azucena. Như vậy cả hai đều thực hiện được ước mơ của mình, ngày 16-12 được đoàn tụ để tổ chức kỷ niệm lần thứ tư ngày cưới.”

Về phần mình, Richard và Orlando, vì phải ngủ nhiều trên mặt đất của phòng giam đầy uế khí nên hai anh đã thuyết phục những người gác để được đổi sang phòng khác. Họ chuyển hai anh tới một phòng ngủ nơi có một người da nâu đã có vợ, ở đó họ không có tin tức. Họ sợ hãi khi phát hiện trên chiếc đệm trải giường có những vết máu lớn còn mới, có thể đó là những vết máu của những người bị tra tấn từ từ hoặc do một cú đấm mạnh bất ngờ.

Qua đài phát thanh và vô tuyến truyền hình mọi người đã biết tin về những cuộc trả tự do cho Azucena và Diana.

Những người gác nói sắp tới sẽ đến lượt Richard và Orlando. Ngày 17-12, rất sớm, một viên chỉ huy mà mọi người được biết với cái tên Lão Già, đó chính là Don Pacho, người chịu trách nhiệm trông coi Diana, hắn bước vào phòng Orlando nhưng không gõ cửa.

- Hãy chuẩn bị đi, anh sẽ được trả lại tự do, hắn nói.

Hầu như anh không kịp cạo râu và mặc quần áo, mà cũng không có thì giờ để báo cho Richard ở cùng nhà biết. Họ đưa cho anh một thông cáo báo chí, anh đeo cặp kính số cao, một mình Lão Già đưa anh đi vòng vèo qua một số khu phố của thành phố Medellin rồi bỏ anh ở lại trong một ngôi nhà hoang cùng 5 nghìn pê-xô để đi xe taxi vì anh không quen thành phố này. Lúc đó là 9 giờ sáng của một ngày mát mẻ, đẹp trời. Cho tới lúc đó Orlando vẫn chưa tin những gì đang xẩy ra. Anh giơ tay vẫy gọi taxi, nhưng không có kết quả vì xe nào cũng đã có khách. Anh nghĩ, nhưng kẻ bắt cóc giết chết anh dễ dàng hơn và ít nguy hiểm cho anh hơn là thả anh bằng cách này.

Từ chiếc điện thoại anh gặp đầu tiên, anh gọi điện về cho vợ.

Liliana đang tắm cho con chạy vội ra nghe điện thoại trong lúc tay còn đầy bọt xà phòng. Anh nghe thấy một tiếng nói lạ nhưng bình tĩnh:

- Tôi là Flaca đây.

Chị nghĩ có thể một người nào đó trêu chị nên chị đã định ngắt máy, thì chị nhận ra tiếng nói của chồng. “Ấy! lậy chúá tôi” chị thét lên. Orlando rất vội chỉ kịp nói với chị rằng anh hiện ở Medelin, đến chiều anh mới về tới Bogota. Từ đó đến hết ngày, Liliana không có lúc nào yên vì ân hận, chị đã không nhận ra tiếng nói của chính chồng mình. Juan Vitta nói với chị rằng khi anh được trả lại tự do Orlando vì bị giam giữ lâu nên đã thay đổi nhiều, khó mà nhận ra cả hình dạng và tiếng nói. Ấn tượng sâu sắc nhất đối với anh là chiều hôm đó tại sân bay, khi chị phải mở đường giữa đám đông nhà báo mà không nhận ra người đã hôn chị. Đó chính là Orlando sau 4 tháng bị giam giữ, nay mập hơn nhưng xanh hơn với bộ ria mép mầu hạt dẻ rất cứng. Do sự xa cách một thời gian, nay họ quyết định sẽ có thêm đứa con thứ hai như mong muốn. “Vì có nhiều người tới thăm, chúng ta không thể làm gì ngay đêm nay”. Liliana chết cười nói: “Ngày khác cũng không được vì giật mình”. Chúng ta sẽ được bù lại những giờ đã mất: chín tháng sau, ngày thứ ba họ đã có thêm một con trai như mong đợi, một năm sau họ có thêm một cặp con sinh đôi.

Loạt giải phóng những con tin đã thổi một luồng gió lạc quan đối với những con tin hiện còn bị giam giữ và gia đình họ - Vừa mới thuyết phục Pacho Santos rằng không có một dấu hiệu đáng tin cậy nào báo trước là ông sẽ được trả lại tự do. Ông nghĩ Pablo Escobar sẽ không làm gì thêm để gạt bỏ những trở ngại của những con bài nhỏ để gây áp lực với chính phủ về việc giảm án và không bị dẫn độ tại quốc hội, như vậy chỉ còn lại ba con át chủ bài: con gái cựu tổng thống, con trai của chủ bút tờ báo quan trọng nhất nước và em dâu của Luis Carlos Galán. Trái lại, Beatriz và Maruja cảm thấy nẩy nở hy vọng, mặc dầu Maruja luôn xác định không nên tự lừa dối mình bằng những dự đoán nhẹ nhàng. Càng tới gần lễ Phục sinh, tinh thần bà lại càng suy sụp. Bà rất ghét những cuộc liên hoan nhậu nhẹt bắt buộc. Ở gia đình chẳng khi nào bà làm máng ăn và sắm cây Noel, cũng hông phân phát quà và gửi danh thiếp, đối với bà không có gì nặng nề hơn là những cuộc chè chén vào đêm Noel, tại đó mọi người đều hát vì buồn hoặc rơi nước mắt vì hạnh phúc.

Tại trại giam, người quản gia và vợ ông ta chuẩn bị một bữa ăn rất tồi tệ, họ mời Maruja và Beariz tham dự, nhưng Maruja uống hai viên thuốc ngủ mạnh nên bị mê man, khi tỉnh dậy cuộc liên hoan đã tàn, bà không lấy làm tiếc vì sự vắng mặt của mình.

Ngày thứ tư tiếp theo chương trình trong tuần của Alexandra dành cho đêm Noel tại nhà của Nydia, toàn bộ gia đình, con cháu quây quần xung quanh cựu tổng thống Turbay, với sự tham gia của những người trong gia đình Beatriz, Maruja và Alberto Villamizar. Những cháu trai của Maruja con của Alexandra – Maruja nhìn thấy cảnh đó trên vô tuyến bà đã khóc, lần cuối cùng thấy bà ấp úng không nói ra lời. Villamizar nói cuối cùng, giọng chậm dãi với nhiều chi tiết về quá trình ông vận động đòi trả tự do cho những con tin. Maruja bình luận một câu rất ngắn gọn nhưng rất chính xác về chương trình tối hôm đó: “Rất tốt đẹp, nhưng cũng rất khủng khiếp.”

Những lời phát biểu của Villamizar đêm hôm đó đã nâng cao tinh thần của Marina Montoya. Bà nhanh chóng trở lại thành người hiền dịu hơn nói nên sự vĩ đại của trái tim bà. Với một ý nghĩa chính trị nào đó, họ đã biết bà, bà bắt đầu nghe và diễn giải những tin tức với niềm hứng thú lớn. Sau khi phân tích nội dung bản sắc luật mới khiến bà đi tới kết luận rằng khả năng bà được trả lại tự do là to lớn hơn bao giờ hết. Sức khỏe của bà cũng bắt đầu khá hơn, tới mức bà coi thường cả luật lệ của trại giam, ăn nói một cách tự nhiên bằng những lời nói đẹp, vang dội.

Đêm ngày 31-12 là một đêm có ý nghĩa to lớn đối với bà. Damaris mang bữa ăn sáng cho bà cùng với tin sẽ tổ chức đón mừng Năm Mới bằng một cuộc liên hoan xứng đáng, có rượu sâm banh, một đùi lợn quay. Maruja cho rằng đêm đó là đêm buồn nhất trong đời bà, vì lần đầu tiên đón năm mới mà bà phải xa gia đình và chìm sâu trong buồn thảm và suy sụp.

Tinh thần Beatriz cũng suy sụp. Hai người đón chờ tất cả, trừ việc không tham dự cuộc liên hoan. Trái lại, Marina đã nhận được tin mới với niềm vui lớn, bà đưa ra những lập luận để động viên người khác, kể cả những người gác.

- Chúng ta cần phải xử sự cho đúng mực – bà nói với Maruja và Beatriz. Họ cũng là những người xa gia đình như chúng ta, nhưng họ đã cố gắng tổ chức cuộc liên hoan tốt nhất có thể có để đón mừng năm mới. Những người bắt cóc đã cho bà 3 chiếc áo sơ-mi để mặc khi đi ngủ, nhưng bà chỉ dùng một chiếc, giữ lại hai chiếc khác trong chiếc túi đựng đồ dùng cá nhân. Sau họ mang cho Maruja và Beatriz mỗi người ba bộ quần áo thể thao dùng như bộ đồng phục trong trại giam, cứ sau 15 ngày lại giặt một lần.

Không ai nghĩ tới những chiếc áo sơ mi cho tới chiều ngày 31-12, khi Marina tỏ ra rất phấn khởi:

- Tôi đề nghị một việc – bà nói với mọi người – tôi hiện có tới 3 chiếc sơ-mi để mặc khi ngủ. Chúng ta cùng mặc những chiếc sơ-mi đó để sang năm mới gặp nhiều may mắn – Rồi bà hỏi Maruja:

- Thế nào, chị thích mầu gì?

Maruja nói bà thích chiếc cùng mầu với chiếc Marina đang mặc. Nhưng Marina cho rằng Maruja mặc chiếc áo mầu xanh hợp hơn. Bà đưa cho Beatriz chiếc áo mầu hồng, giữ lại chiếc mầu trắng cho bà. Sau đó bà lấy ra từ chiếc túi lớn một hộp đồ trang sức, bà đề nghị mọi người hãy trang điểm cho nhau “để đêm nay mọi người đều đẹp” – bà nói. Maruja thay đổi nhiều khi mặc chiếc áo sơ mi, bà đã từ chối với giọng chua chát:

- Tôi mà đã tới mức phải mặc chiếc áo sơ mi ngủ - bà nói, nhưng ở đây lại trang điểm như một con điên. Trong hoàn cảnh như thế này, không, Marina chúng ta không nên như thế.

Marina nhún vai:

- Nếu thế thì mình tôi trang điểm vậy.

Vì không có gương, bà đưa son phấn cho Beatriz, ngồi ở giường nhờ Beatriz trang điểm cho bà. Beatriz làm việc đó một cách hoàn hảo, với khiếu thẩm mỹ cao, dưới ánh sáng của một ngọn nến tù mù: một lớp phấn mầu hồng để làm mất đi mầu tái xanh của da, tô môi mầu sẫm, lông mi mầu mờ nhạt. Cả hai người đều rất ngạc nhiên: Marina còn có thể trở thành một người đẹp đến thế. Beatriz hài lòng với bộ tóc có dáng như một nữ sinh.

Đêm hôm đó Marina đã bộc lộ hết vẻ duyên dáng của một phụ nữ quê ở tỉnh Antoquia. Những người gác cũng bắt chước bà, mỗi người nói một câu cầu nguyện Chúa. Trừ người quản gia vì quá chén nên nói không ra lời. Lamparon, chếnh choáng hơi men nên dám tặng Beatriz một lọ nước hoa dùng cho nam giới “Để người bà lúc nào cũng thơm phức, đón nhận một triệu cái hôn trong ngày được trả lại tự do”. – anh nói với bà. Ngờ nghệch như anh quản gia cũng không thể bỏ qua điều đó. Người ta chỉ tặng cho phụ nữ nước hoa dùng cho nam giới khi tình yêu bị ức chế. Đó là một nỗi sợ hãi trong nhiều nỗi sợ hãi của Beatriz.

Tham dự bữa liên hoan, ngoài những người bị bắt cóc còn có vợ chồng người quản gia và bốn người gác thay phiên. Beatriz không sao chịu được cái nút tắc ở cuống họng. Bà thấy nhớ nhà và tủi thân, nhưng cũng không sao che dấu được sự thán phục trước vẻ lộng lẫy, trẻ trung của Marina nhờ trang điểm, với chiếc sơ mi trắng, tóc trắng với giọng nói ngọt ngào, dịu dàng. Thật tuyệt vời.

Không biết bà có cảm thấy hạnh phúc hay không, nhưng nhìn bề ngoài thì mọi người tin rằng bà đang có hạnh phúc. Bà nói vui với những người gác khi họ bỏ chiếc mặt nạ để uống rượu, nhưng thỉnh thoảng họ lại thấy khó chịu vì nóng, ngạt thở họ yêu cầu những con tin quay mặt đi nơi khác để họ thở. Đúng 12 giờ đêm, khi vang lên tiếng còi của những người lính chữa cháy và tiếng chuông của nhà thờ, tất cả đều xiết chặt tay nhau ở trong phòng, ngồi trên giường, trên đệm, nhễ nhại mổ hôi trong cái nóng như cái nóng của lò rèn. Trên vô tuyến vang lên bài quốc ca, khi đó Maruja đứng dậy, yêu cầu tất cả đều hát bài quốc ca theo bà. Cuối cùng bà nâng cốc rượu vang táo, chúc mừng nền hòa bình của Colombia. Cuộc liên hoan kết thúc sau đó nửa giờ khi các chai rượu đã cạn, trên đĩa chỉ còn lại những mẩu xương của chiếc đùi lợn, riêng món sa lát khoai tây là còn thừa chút ít.

Đã đến giờ đổi gác, toán gác mới được các con tin chào với tiếng thở dài nhẹ nhõm. Chính lúc ấy họ hiểu cần phải đối xử với những con tin như thế nào, nhất là đối với Maruja, người mà cả thể xác cũng như tinh thần đều sa sút. Lúc đầu, sợ hãi đã làm cho bà đau ê ẩm khắp người vì buộc phải nằm ở tư thế rất khó chịu. Nhưng sau họ lại trở lại những quy định cụ thể của chế độ nhà tù vô nhân đạo do những tên gác quy định. Tới đầu tháng 12 họ cấm bà suốt một ngày không được đi nhà vệ sinh để phạt bính bướng bỉnh của bà, nhưng tới khi chúng cho phép thì bà lại không đi ngoài được. Chính vì thế mà bà đã bị viêm họng đái mãn tính, sau đó bị xuất huyết kéo dài cho tới cuối thời kỳ bị giam.

Marina học được ở chồng cách mát xa của vận động viên thể thao nên sức khỏe bà dần được hồi phục, dịp năm mới bà thấy vui hơn, kể những chuyện vui nhưng có thật. Sự xuất hiện tên và ảnh bà trên truyền hình trong chiến dịch đòi trả tự do cho những người bị bắt cóc đã đem đến cho bà hy vọng và niềm vui. Một lần nữa bà cảm thấy như thời trẻ trung. Bà luôn xuất hiện đầu tiên trong chiến dịch, cho tới một ngày không thấy bà xuất hiện trên vô tuyến nhưng không có lời giải thích nào.

Cả Maruja cũng như Beatriz đều không có lòng dạ nào để nói rằng có thể bà đã bị xóa sổ, nhưng không ai tin rằng bà hãy còn sống.

Ngày 31-12 đối với Beatriz là một ngày quan trọng, vì ngày đó là hạn cuối cùng bà được trả lại tự do. Sự vỡ mộng đã quật ngã bà, bà suy sụp tới mức những bạn gái cùng ở trại giam cũng không biết cần phải làm gì đối với bà.

Tới một lúc đến Maruja cũng không dám nhìn mặt bà, vì bà đã mất hết tính tự nhủ, bật ra tiếng khóc, tới mức người này không nhận ra người kia trong cùng một khoảng không gian lớn hơn một phòng tắm. Họ đã ở vào tính thế không thể chịu đựng nổi.

Sự mất trí kéo dài ở cả ba con tin. Trong những giờ vô tận sau khi tắm họ xoa bóp chân một cách từ từ bằng một loại kem làm mềm da được những người gác cung cấp đủ dùng để những con tin khỏi phát điên. Một hôm Beatriz nhận ra rằng kem đã hết.

- Khi kem đã hết thì chúng ta làm gì? Bà hỏi Maruja.

- Chúng ta sẽ yêu cầu thêm nữa – Maruja trả lời với giọng cường điệu và chua cay, bà nhấn mạnh làm tăng thêm chua cay hơn nữa: - Có hay không, sẽ chờ xem, nhưng chắc là có.

- Bà không nên trả lời tôi như vậy, Beatriz hét tướng lên vì tức giận. Tôi phải ở đây là do lỗi ở chính chị. Đó là sự va chạm giữa hai người không sao tránh khỏi. Bà nói bà đã phải nén nỗi tức giận đã bao nhiêu ngày và phải trải qua những đêm hãi hùng. Đáng ngạc nhiên là điều đó lại không xẩy ra trước với sự hận thù gay gắt hơn. Beatriz tránh né tất cả, biệt tự kiềm chế, nuốt những mối hận trong lòng, vì thế mà đã không có chuyện gì nghiêm trọng xẩy ra với bà, chỉ một câu nói sơ suất cũng có thể gây nên sự oán thù, và dù sớm hay muộn sự oán thù ở trong lòng cũng bùng ra vì tức giận. Tuy nhiên, người gác lại không nghĩ như vậy nên trước sự lo ngại về cuộc ẩu đả lớn có thể xẩy ra, anh ta đe dọa sẽ giam Beatriz và Maruja mỗi người ở một phòng riêng. Cả hai người đều luôn cảnh giác lo sợ cuộc xâm phạm tình dục có thể xẩy ra. Cả hai người đều cho rằng nếu hai người ở chung một phòng thì những người khác khó có thể hãm hiếp họ, do đó nẩy sinh tư tưởng việc tách hai người ra là điều đáng sợ nhất.

Về phần mình, những người gác luôn chia thành hai cặp, không phải lúc nào cũng ở bên nhau nhưng chú ý theo dõi nhau, đề phòng nội bộ, tránh xẩy ra sự cố nghiêm trọng với các con tin.

Nhưng sự trấn áp của những người gác đã tạo ra một bầu không khí không lành mạnh ở trong phòng. Những người đến lượt gác trong tháng 11 đã mang tới chiếc máy betamax, dùng chiếc máy đó chiếu một số bộ phim về bạo lực xen lẫn cảnh khiêu dâm, thỉnh thoảng lại chiếu những phim sex đồi trụy. Ngoài ra, theo quy định của những tên gác, khi những con tin đi vệ sinh phải để cửa hé mở, đã vài lần những tên gác nhòm ngó. Một trong những tên gác cố giữ chốt cửa bằng tay để ho không đóng được trong lúc đang đi ngoài. Một lần Beatriz suýt bị mất mấy ngón tay hi chiếc cửa bị sập mạnh. Một cảnh tượng rất chướng mắt là một cặp những tên gác là những kẻ đồng tính luyến ái, họ gác vào phiên thứ hai, chúng làm đủ mọi trò xấu xa, gây nên trạng thái kích thích thường xuyên. Sự cảnh giác thái quá của Lamparon cũng giống như Beatriz, người đã tặng bà nước hoa. Những lời nói vô tình của người quản gia đã đôi lần làm bà bối rối. Những câu chuyện trao đổi giữa họ với nhau về những vụ hiếp dâm những người phụ nữ không quen biết, những cảnh khiêu dâm đồi bại, những hứng thú tàn bạo đã kết thúc, làm dịu đi bầu không khí trong nhà giam.

Theo đề nghị của Maruja và Marina, người quản gia đã mời một bác sĩ tới khám bệnh cho Beatriz vào trước nửa đêm ngày 12-1. Bác sĩ hãy còn trẻ, ăn mặc chỉnh tề, có giáo dục, ông mang một chiếc mặt nạ bằng lụa mầu vàng tạo thành bộ trang điểm cho ông. Thật khó hình dung về một bác sĩ mang mặt nạ tới khám bệnh cho bệnh nhân, nhưng khi vừa tới nơi ông đã thể hiện là một thầy thuốc tinh thông nghề nghiệp. Ông tin có thể trấn an cho bệnh nhân được. Ông mang theo một chiếc túi bằng da mịn, to như một chiếc va ly của hành khách, trong đựng một máy nghe, một máy đo huyết áp và một máy điện tâm đồ chạy bằng pin, một phòng thí nghiệm xách tay để làm những xét nghiệm ngay tại chỗ và một vài dụng cụ khác dùng cho những trường hợp khẩn cấp.

Ông khám bệnh rất kỹ cho cả ba con tin, ông làm phân tích máu và nước tiểu tại phòng thí nghiệm xách tay.

Trong lúc khám bệnh, bác sĩ đã bí mật nói với Maruja: “Tôi rất ái ngại khi thấy bà lâm vào cảnh này. Tôi muốn nói với bà rằng tôi bị cưỡng bức đưa tới đây. Tôi là bạn thân cùng chí hướng của bác sĩ Luis Carlos Galán, tôi đã bỏ phiếu cho ông. Lẽ ra bà không phải chịu đựng cảnh sống giam hãm này, nhưng bà hãy cố gắng chịu đựng. Sự bình tĩnh than thản rất tốt cho sức khỏe”. Maruja đánh giá cao những lời khuyên của ông, nhưng không khỏi ngạc nhiên trước lời nói của ông do sự nhạy cảm về tinh thần. Với Beatriz ông cũng nhắc lại nguyên si bài diễn văn.

Cả hai người đều bị bệnh stress nghiêm trọng và bắt đầu bị suy dinh dưỡng, do đó ông đã ra lệnh cho nhà bếp phải tăng khẩu phần và cân đối thức ăn. Maruja lại có vấn đề về đường hô hấp và bị viêm bàng quang, ông điều trị cho bà theo phương pháp của Vasoton để lợi tiểu và uống thuốc an thần. Còn tới Beatriz ông cho đơn ngăn chặn bệnh loét dạ dày. Đối với Marina – người mà trước đó ông đã khám – chỉ giới hạn bằng cách đưa ra những lời khuyên để bà quan tâm hơn tới sức khỏe của chính mình, nhưng bà tỏ ra thờ ơ, không tiếp nhận. Đối với cả ba người, ông khuyên mỗi ngày nên đi bộ ít nhất một giờ. Bắt đầu từ hôm đó, ông phát cho mỗi người một hộp 20 viên thuốc an thần, ngày uống ba viên vào buổi sáng, trưa, và tối trước khi đi ngủ. Trong trường hợp khẩn cấp có thể thay bằng thuốc ngủ barbituric mạnh hơn, cho phép tránh được những cơn hoảng hốt.

Từ 1 giờ sáng hôm đó ba người bắt đầu đi bộ trong khu vườn khi trời còn tối đen, làm cho những người gác phải giật mình, khiến họ phải giương khẩu tiểu liên hướng về những người đi bộ, khi chưa khóa chốt an toàn. Sau khi đi được vài vòng họ thấy chóng mặt, nhất là Maruja, bà phải vịn tay vào tường để khỏi bị ngã. Với sự giúp đỡ của những người gác, đôi khi của cả Damaria, họ cũng quen dần. Sau hai tuần, Maruja đi nhanh hơn, đi được đến một nghìn vòng, khoảng 2km. Trạng thái tinh thần của tất cả đều khá hơn.

Ngoài căn phòng, thửa vườn là địa điểm duy nhất của ngôi nhà mà những con tin biết. Nó còn mù sương trong khi ba người đi dạo, những đêm sáng trời họ nhìn thấy một chiếc máy giặt lớn ở giữa nơi đổ nát cùng những quần áo phơi trên giấy thép và một đống ngổn ngang những chiếc hộp rách nát và những đồ dùng bỏ đi. Phía trên chiếc máy giặt là tầng hai của ngôi nhà có một cửa sổ lúc nào cũng đóng kín và những cửa kính đầy bụi che bằng những tờ giấy báo. Những người bị bắt cóc nghĩ rằng đó là nơi ngủ của những người gác khi không đến phiên gác. Có một chiếc cửa thông ra nhà bếp và một cửa khác thông với phòng của những con tin và một chiếc cửa lớn làm bằng những thanh gỗ cũ không chạm tới mặt đất. Đó là chiếc cửa lớn của thế giới. Mãi sau họ mới biết rằng chiếc cửa đó thông với một nơi nhốt những con cừu Noel và những con gà mái chuẩn bị cho lễ Phục sinh. Rất khó mở cửa để trốn thoát vì luôn có một con chó Đức canh gác, vẻ rất hung dữ. Tuy nhiên, Maruja đã kết bạn được với nó, tới mức khi bà tiến lại gần, vuốt ve nó nhưng nó không sủa.

Diana còn lại một mình khi Azucena được trả lại tự do. Suốt ngày bà xem vô tuyến, nghe đài, đôi khi đọc báo với niềm hứng thú hơn bao giờ hết.

Mỗi khi biết những tin tức mới nhưng không có ai để trao đổi, bình luận, như vậy tốt hơn hết thà không biết. Sự đối xử của những người gác với bà hình như cũng tốt hơn. Bà nhận ra rằng họ tìm mọi cách để bà được hài lòng.

“Tôi không muốn, mà cũng không dễ dàng nói lên điều mà tôi đang suy nghĩ từng giây từng phút: nỗi đau đớn buồn thảm và những ngày hãi hùng mà tôi đang phải trải qua.” – Bà ghi trong nhật ký. Dĩ nhiên bà lo sợ cho cuộc sống của chính mình, trước hết bà lo về cuộc giải thoát vũ trang có thể xẩy ra. Tin tức về việc trả lại tự do cho bà đã trở thành một trò chơi quỷ quyệt: “Sắp sửa”, lúc nào cũng sắp sửa. Bà sợ đó là một chiến thuật vô tận, chờ đợi cho tới khi nào nêu vấn đề này ra trước quốc hội, đợi khi quốc hội quyết định cụ thể về vấn đề dẫn độ và giảm án đối với bọn ma túy. Don Pacho mà trước đó đã mất hàng giờ tranh luận với bà, rằng những tin tức mà họ đã báo cho bà là đúng, nhưng ngày càng xa dần. Không có một lời giải thích nào, họ cũng không tiếp tục cung cấp báo cáo cho bà. Những tin tức và cả phim truyện cũng không có do sự chuẩn bị đón mừng Năm Mới.

Trong hơn một tháng bà đã bị thu hút bởi lời hứa là bà sẽ đích thân được gặp Pablo Escobar. Bà duyện lại cử chỉ, những lập luận, giọng nói của mình để thêm tin tưởng, bà có đầy đủ khả năng đàm phán với Escobar. Nhưng sự chậm trễ đã đẩy bà tới tột đỉnh của sự bi quan.

Sống trong cảnh hãi hùng ấy, hình ảnh động viên và an ủi bà chính là hình ảnh người mẹ, người mà bà đã thừa hưởng được tính dễ xúc cảm, niềm tin không gì lay chuyển và ước mơ tận hưởng hạnh phúc. Bà có khả năng thần giao cách cảm, thông tin lẫn nhau nên đã sớm phát hiện trong những tháng đen tối về vụ bắt cóc như là một sự sáng suốt thần kỳ. Mỗi lời nói của Nydia trên đài phát thanh hoặc trên vô tuyến, mỗi cử chỉ của bà là những lời nhắn nhủ tưởng tượng tới Diana trong những ngày tối tăm của cảnh sống tù đầy.

“Luôn luôn tôi cảm thấy hình ảnh mẹ tôi như một nữ thần hộ mệnh” – Diana ghi trong nhật ký. Bà tin tưởng rằng, trong bấy nhiêu thất bại, kết quả cuối cùng phải là kết quả của sự sùng bái và sức mạnh của chính mẹ bà. Bà được cổ vũ bởi chính lòng tin này, bà vẫn nuôi ảo tưởng là sẽ được trả lại tự do vào chính đêm Noel.

Ảo tưởng này đã đỡ bà đứng thẳng trong cuộc liên hoan do những chủ nhà tổ chức trước đêm Noel, với món thịt lợn quay, sa lát, rượu, pháo và những quả bóng nhiều mầu sắc. Diana ngầm hiểu đó là bữa tiệc tiễn bà. Hơn nữa, bà đã chuẩn bị sẵn chiếc va ly đặt ở giường, từ tháng 11 để khỏi mất thời giờ khi họ tới báo tin cho bà.

Đêm đông giá lạnh, gió gào thét giữa những hàng cây, giống như tiếng hú của một bầy chó sói, nhưng bà thì lại nghĩ rằng đó là sự báo hiệu thời tiết sẽ tốt lành. Trong lúc họ phân phát tặng phẩm cho các cháu nhỏ, làm bà chạnh lòng, nghĩ tới những đứa con bà, bà tự an ủi với niềm hy vọng rằng sẽ được gặp lại các con vào tối ngày mai. Giấc mơ này khó có thể trở thành sự thật, vì những người gác đã tặng bà một chiếc áo ja-két có lớp da ở phía trong, để bà có thể chịu đựng qua mùa rét. Cũng như mọi năm, chắc chắn mẹ đang chờ đợi bà trong bữa ăn tối đêm Noel, và để sẵn một cây tầm gửi ở ngoài cửa với dòng chữ: “Nhiệt liệt chào mừng”, chắc chắn sẽ là như vậy. Diana vẫn đinh ninh nhất định bà sẽ được trả lại tự do và hy vọng tới giờ phút cuối cùng của bữa tiệc tối cho tới khi bắt đầu một buổi sáng mới với bao hồi hộp.

Ngày thứ tư tới chỉ có mình bà trước chiếc vô tuyến, bà bắt các kênh, bất chợt trên màn ảnh nhỏ xuất hiện đứa con của Alexandra Uribe. Đó là chương trình của đài Enfoque dành riêng cho đêm Noel. Sự bất ngờ của bà còn lớn hơn khi bà phát hiện ra rằng đó chính là đêm Noel theo yêu cầu của bà viết trong thư nhờ Azucena chuyển. Có mặt trong bữa ăn đêm Noel có gia đình Maruja và Beatriz, đông đủ cả gia đình Turbay, hai con nhỏ của Diana, anh chị em và cha bà ngồi ở giữa, to lớn nhưng tỏ vẻ u sầu: “Chúng ta đến đây không phải để dự tiệc – bà Nydia nói – Tuy nhiên tôi quyết định tổ chức bữa tiệc này là thể theo nguyện vọng của Diana, tôi đã để ra một giờ để chuẩn bị cây Noel và đặt máng cỏ vào trong ống khói”.

Mặc dầu những người có thiện chí đều không muốn dành cho những người bị bắt cóc một kỷ niệm buồn, đượm mầu tang tóc, hơn là một cuộc liên hoan. Nhưng bà Nydia vẫn tin chắc rằng Diana sẽ được trả lại tự do ngay đêm nay và đã treo ở cửa vật trang trí với dòng chữ: Nhiệt liệt hoan nghênh.

Tôi thú thật tôi cảm thấy rất đau đớn vì không được trở về ngày hôm nay để chung vui với tất cả mọi người Diana ghi trong nhật ký. Nhưng mặt khác tôi lại cảm thấy gần gũi với tất cả mọi người, tôi vui mừng khi trông thấy những người thân đoàn tụ. “Bà vui mừng khi nhìn thấy Marina Corolina, con gái bả đã lớn hơn bà cũng quan tâm tới tính nhút nhát của Miguelito, cậu con trai út của bà, bà giật mình nhớ lại rằng vẫn chưa làm lễ đặt tên cho con, bà cũng buồn vì nỗi buồn của cha và niềm xúc động của mẹ. Mẹ bà đã đặt vào máng cỏ một tặng phẩm cho bà và đứng ở ngoài cửa chờ đón bà.

Thay thế cho nỗi buồn vì thất vọng trong đêm Noel, Diana đã có phản ứng trỗi dậy tư tưởng chống chính phủ. Vào thời điểm đó, bà đã thể hiện gần như phấn khởi trước việc chính phủ ban hành sắc luật 2048, sắc luật ấy đã gây cho bà một ảo tưởng trong suốt tháng 11. Những cuộc vận động của Guido Parra cũng đã cổ vũ bà, những hành động thận trọng của Những người nổi tiếng, sự chờ đợi của quốc hội, những khả năng điều chỉnh chính sách quy thuận cùng sự thất vọng của bà trong đêm Noel đã làm bà nhận rõ thực tế. Bà tự hỏi một cách tức giận, tại sao chính phủ không tạo ra cơ hội đối thoại, không phải do áp lực phi lý của những vụ bắt cóc. Bà luôn ý thức về những khó khăn trong hành động do áp lực: “Tôi đúng là người thuộc dòng họ Turbay – bà biết – nhưng tôi tin rằng với thời gian, những sự việc sẽ diễn ra ngược lại”. Bà không hiểu sự bị động của chính phủ trước việc mà họ cho rằng đó là sự diễu cợt của những tên bắt cóc. Bà không hiểu vì sao không đe dọa, gây áp lực với chúng một cách mạnh mẽ hơn để buộc chúng phải ra đầu thú, nếu một khi đã xác định rõ một chính sách đối với chúng, nếu không – bà viết trong nhật ký chúng sẽ cảm thấy được thuận lợi hơn trong việc sử dụng thời gian, và tin rằng chúng có trong tay vũ khí để gây áp lực với chính phủ mạnh mẽ hơn”. Bà cho rằng những cuộc trung gian tốt có thể trở thành một ván cờ trong đó mỗi bên đi một nước cho tới khi biết ai bị chiếu tướng.

“Như vậy tôi sẽ là quân cờ nào?” bà tự hỏi rồi bà tự trả lời không úp mở. Chúng tôi luôn nghĩ rằng chúng tôi đã bị bỏ rơi. Nhóm những người nói nổi tiếng đã chết rồi, đã nhận phát súng kết liễu rồi. “Họ bắt đầu công việc hoàn toàn nhân đạo nhưng khi kết thúc lại phục vụ cho bọn ma túy”.

Một trong những tên gác hết hạn vào tháng giêng đã xông vào phòng của Pacho Santos.

- Chẳng ra cái con cặc gì – hắn nói. Chúng sẽ giết hết những con tin.

Theo anh ta, đó sẽ là hành động trả thù cho cái chết của anh em nhà Prisco, xe cộ đã sẵn sàng, sau vài giờ nữa mọi người sẽ rời khỏi đây. Trước hết chúng giết Marina Montoya và cứ mỗi ba ngày sau chúng lần lượt giết theo thứ tự: Richar Becerrna, Beatriz, Maruja và Diana.

Người bị giết cuối cùng sẽ là ông, tên gác nói với Pacho với giọng an ủi – nhưng ông không lo, chính phủ sẽ không để yên sau hai người bị giết.

Pacho rất sợ, ông nhẩm tính theo ngày tháng như người gác vừa nói thì cuộc đời ông chỉ còn lại có 18 ngày nữa. Ông quyết định viết cho vợ con một bức thư không cần nháp, bức thư dài kín 6 tờ giấy vở học trò, với những chữ viết nhỏ theo kiểu chữ in, rất rõ ràng, dễ đọc. Với giọng mạnh mẽ và tin tưởng, đây không chỉ là bức thư vĩnh biệt, mà là bản di chúc của ông: “Tôi chỉ mong muốn tấn thảm kịch này có thể kết thúc nhanh nhất để cuối cùng chúng ta có một nền hòa bình” Đó là những dòng mở đầu bức thư. Lòng biết ơn lớn nhất của ông là đối với vợ Maria Victoria – ông viết – nhờ đó mà tôi đã trưởng thành như ngày nay, như một con người, như người công dân, như một người cha, điều duy nhất mà ông ân hận là ông đã xem công việc làm báo quan trọng hơn là công việc gia đình. Ông sẽ mang theo xuống mồ nỗi ân hận này” – ông viết. Còn về đứa con mới đẻ, ông thấy an tâm vì nó được chăm sóc tốt bởi những bàn tay của người mẹ “Em hãy nói với các con, khi nào lớn lên sẽ hiểu được tất cả những gì đã xẩy ra, như vậy chúng sẽ hiểu và không buồn và không cảm thấy đau đớn trước cái chết của anh”, đối với cha, ông rất biết ơn về tất cả những gì đã làm cho cuộc đời ông, ông chỉ đề nghị “Trước hết cha hãy thu xếp để về ở chung với vơ con, để tránh cho những đứa trẻ nỗi đau đớn trước cảnh tang tóc, nỗi mất mát đã tới gần”.

Bằng cách đó, ông đã bắt đầu bàn về một đề tài mà ông cho rằng rất phi lý nhưng rất cơ bản cho tương lai: thanh toán món nợ với các con ông và sự đoàn tụ gia đình tại tòa soạn báo El Tiempo. Điều đầu tiên phần lớn phụ thuộc vào sự đảm bảo cho cuộc sống hàng ngày của vợ con ông. “Anh đề nghị em đòi hỏi những cái mà họ phải dành cho chúng ta – cái đó xứng đáng với sự hy sinh của anh cho tờ báo, không phải tất cả đều là vô ích.” Về tương lai nghề nghiệp, kinh doanh hoặc chính trị của tờ báo, điều quan trọng duy nhất khiến ông quan tâm là sự tranh chấp, bất đồng nội bộ. Ông có ý thức rằng những gia đình lớn không có những bất đồng nhỏ. “Thật đáng buồn nếu như sau sự hy sinh này báo El Tiempo bị chia rẽ hoặc phải chuyển qua tay những người khác”. Bức thư kết thúc với lời cảm ơn cuối cùng chuyển tới Mariavé do những kỷ niệm của thời kỳ tốt đẹp mà họ đã chung sống với nhau.

Người gác tòa báo rất cảm động khi nhận thư.

- Ông cứ yên tâm – anh ta nói, tôi sẽ chịu trách nhiệm chuyển bức thư này tận tay người nhận.

Sự thực khi đó Pacho Santos không còn lại 18 ngày như tính toán, mà chỉ còn lại mấy giờ. Ông là người đứng đầu danh sách những người sắp bị giết, theo thứ tự thì lẽ ra ông đã bị hành quyết trước đó mấy ngày. Martha Nieves Ochoa, do tình cờ may mắn mà biết tin vào giờ chót, qua những người thứ bà, nên gửi tới Escobar lời thỉnh cầu tha chết cho Pacho, vì bà cho rằng với cái chết này sẽ kết thúc như châm ngòi lửa thiêu cháy cả đất nước. Không khi nào biết Escobar có nhận được lời thỉnh cầu của bà hay không, nhưng thực tế lệnh hành quyết Pacho Santos không khi nào được biết và được thay thế bằng một mệnh lệnh khách không thể hủy bỏ - lệnh giết Marina Montoya.

Hình như Marina đã linh cảm thấy điều đó từ đầu tháng giêng. Vì những lý do nào đó, không khi nào bà giải thích, bà quyết định cùng đi tập cùng với Monje, người bạn cũ của bà, người gác đầu tiên trong năm. Hai người đi bộ một giờ sau khi hết chương trình vô tuyến, sau đó cả Maruja và Beatriz đi ra cùng những người gác. Một trong những đêm đó Marina trở về rất sợ hãi, bà trông thấy một người đàn ông ăn mặc bộ đồ đen, mang mặt nạ đen, từ chiếc máy giặt nhìn bà trong đêm tối. Maruja và Beatriz nghĩ rằng đó là một trong số những ảo ảnh tái xuất hiện nên các bà không quan tâm. Họ khẳng định rằng ấn tượng đó có trong ngày, không có bất kỳ ánh sáng nào để có thể nhìn thấy người mặc quần áo đen trong cảnh tối tăm ở nơi đặt chiếc máy giặt. Ngoài ra đã trở thành sự thật, chính một người nào đó quen biết ngôi nhà, không sợ con chó Đức mà lại sợ chính cái bóng của mình. Monje nói có thể đó là một bóng ma mà chỉ có mình bà trông thấy.

Tuy nhiên, hai hoặc ba đêm sau, sau khi đi dạo về, bà tỏ ra hốt hoảng. Bà lại thấy một người, luôn mặc quần áo đen kịt, người đó quan sát bà với sự chú ý rất đáng sợ, mặc dầu chính lúc đó bà cũng nhìn cái bóng đen. Khác với những đêm trước, đêm đó trăng tròn vành vạnh, thửa vườn được chiếu sáng bởi một ánh sáng xanh huyền ảo. Marina kể lại chuyện đó với Monje, nhưng anh tỏ ra không tin, nhưng bằng những lời lẽ rắc rối khiến Maruja và Beatriz không biết bà đang suy nghĩ gì. Từ đó Marina không tập đi bộ nữa, nhưng sự hoài nghi giữa bóng ma và sự thật đều rất gây ấn tượng khiến Maruja cũng có ảo tưởng, một đêm bà mở mắt ra nhìn thấy Monje trong ánh sáng của ngọn nến anh đang ngồi xổm như mọi khi và thấy chiếc mặt nạ của anh ta đã biến thành một chiếc đầu lâu. Maruja có ấn tượng rất mạnh vì nó có liên quan tới ngày giỗ mẹ bà vào ngày 23 tháng giêng sắp tới.

Ngày cuối tuần bà Marina chỉ nằm liệt giường, vì bị yếu và vì bệnh đau cột sống tưởng đã khỏi nhưng nay lại tái diễn. Những ngày đầu bà còn tỉnh táo, vui vẻ. Vì không tự phục vụ được nên Maruja và Beatriz phải giúp đỡ bà. Họ dìu bà ra nhà vệ sinh, đút thức ăn và nước tận miệng bà, đặt chiếc gối ở dưới vai để từ giường nằm bà có thể xem vô tuyến. Họ yêu mến, quý trọng bà thật sự, nhưng chưa khi nào Maruja và Beatriz thấy bà coi thường mình đến thế.

- Này, tôi bị ốm các bà giúp đỡ tôi – Marina nói với Maruja và Beatriz – nhưng tôi cũng đã giúp đỡ các bà rất nhiều. Đôi khi bà trở lại trạng thái bình thường, vì xúc động nên đã làm bà bối rối. Thực tế, sự thư thái, nhẹ nhõm duy nhất ở Marina trong cơn khủng hoảng những ngày cuối cùng của cuộc đời bà là những lời cầu nguyện tha thiết mà bà lẩm bẩm liên tục hàng giờ và sự chăm sóc móng tay. Sau vài ba ngày mệt mỏi, căng thẳng bà lại nằm vật ra giường buông ra những câu thở dài:

- Tốt thôi, mong sao Chúa hiểu thấu cho nỗi lòng ta. Chiều ngày 22 bác sĩ tới khám bệnh cho những con tin. Ông nói những chuyện bí mật với những người gác và chú ý lắng nghe những lời bình luận của Maruja và Beatriz về tình trạng sức khỏe của Marina. Cuối cùng ông ngồi ở thành giường nói chuyện với Marina. Do có điều gì đó nghiêm trọng và bí mật nên những lời thì thầm của hai người mỗi lúc một nhỏ khiến không ai có thể nghe được. Bác sĩ ra khỏi phòng vui vẻ, vui hơn lúc mới đến. Ông nói sẽ quay trở lại ngay.

Marina nằm bệt ở giường với nỗi đau đớn sâu sắc. Bà khóc một lúc. Maruja ra sức cổ vũ, an ủi bà hơn, Bà ra hiệu đừng làm gián đoạn trong lúc bà đang cầu nguyện. Với cử chỉ âu yếm. Maruja đặt bàn tay lạnh cứng của Marina trong bàn tay bà. Đối với Beatriz bà có mối quan hệ thân thiết hơn, bà cư xử trìu mến hơn. Thói quen duy nhất mà bà luôn duy trì là săn sóc, rũa móng tay.

Thứ tư, vào hồi mười giờ rưỡi tối ngày 23 mọi người bắt đầu xem vô tuyến, chương trình của đài Enfoque. Họ chăm chú lắng nghe không bỏ sót lời nói nào, hình ảnh nào, cử chỉ nào, những thay đổi tinh vi lời của một bài hát, trong đó tiềm ẩn những lời nhắn nhủ dễ thấy. Nhưng không có thì giờ. Vừa mới bắt đầu chương trình âm nhạc thì cửa bật mở vào một giờ khác thường. Monje xông vào mặc dầu đêm đó không đến phiên anh gác.

- Chúng tôi đến đây vì bà Marina, sẽ chuyển bà tới nơi ở khác – anh ta nói.

Anh nói như thể một lời mời vào ngày chủ nhật. Marina nằm bất động trên giường như một bức tượng bằng thạch cao, môi, mặt đầu tái nhợt, đầu tóc bù xù. Monje hướng về phía bà với sự kính cẩn như một người cháu.

- Bà! Xin bà hãy thu dọn đồ dùng – chỉ có năm phút thôi. Anh ta muốn giúp bà ngồi dậy. Marina mở miệng định nói điều gì đó, nhưng không nói được. Bà tự ngồi dậy không cần ai giúp đỡ, bà lấy chiếc túi đựng đồ dùng cá nhân, đi ra nhà vệ sinh với sự nhanh nhẹn của người mộng du, như thể không đặt chân trên mặt đất. Maruja đứng chặn trước mặt Monje với giọng hiên ngang hỏi: - Chúng sẽ giết bà phải không? – Monje sững sờ.

- Các người không nên hỏi như vậy. Bà ta sẽ bình phục nhanh, tôi đã nói sẽ chuyển bà tới nơi ở mới tốt hơn. Maruja ra sức ngăn cản để họ không đưa Marina đi, vì lúc đó không có mặt người chỉ huy nào, một việc khác thường, một việc quan trọng như vậy, bà yêu cầu gặp một người chỉ huy để thảo luận về vấn đề này. Nhưng cuộc cãi cọ bị gián đoạn vì một người gác khác vào phòng mang chiếc đài và chiếc tivi đi. Hắn rút điện nhưng không một lời giải thích, tia sáng cuối cùng của cuộc liên hoan trên tivi đã tắt ngấm. Maruja đề nghị họ để cho xem đến hết chương trình. Beatriz tỏ ra giận dữ hơn, tất cả đều vô ích. Họ đi cùng chiếc đài, chiếc tivi và nói với Maruja rằng năm phút sau họ sẽ quay trở lại. Chỉ còn Maruja và Beatriz ở lại phòng, không biết nên tin vào ai và tin vào cái gì, không biết đâu mà dò xét, việc này có liên quan tới số phận của họ không. Marina ở nhà vệ sinh lâu hơn năm phút, bà trở lại phòng với bộ quần áo vệ sinh mầu hồng, đi đôi tất mầu hạt dẻ và đôi giầy mà bà đã đi hôm bị bắt cóc. Bộ quần áo thể thao sạch sẽ, mới là, đôi giầy mốc xanh vì ẩm, quá khổ đối với chân bà, vì chân bà nhỏ đi hai số trong thời gian bốn tháng bị giam cầm. Người Marina vẫn tái nhợt, đẫm mồ hôi, lạnh giá, tuy nhiên bà vẫn ấp ủ một hy vọng mong manh.

- Ai biết họ sẽ trả lại tự do cho tôi! – Bà nói. Maruja và Beatriz đã biết số phận của bà như thế nào, bà càng tin vào Chúa bao nhiêu thì lại càng bị lừa dối và thất vọng bấy nhiêu.

- Chắc chắn là như vậy – Beatriz nói.

- Đúng thế - Maruja nói.

Sự phản ứng của Marina là bất ngờ. Nửa đùa nửa thật bà hỏi hai người: Có muốn nhắn gì cho gia đình? Hai người đã ứng khẩu những lời nhắn nhủ tốt nhất có thể Marina tự cười mình, bà đề nghị Beatriz cho bà mượn lọ nước hoa đàn ông mà Lamparon đã tặng bà nhân dịp Năm Mới. Beatriz cho bà mượn, Marina bôi nước hoa ở phía sau tai, sửa sang nhan sắc nhưng không có gương, với những nét chấm phá nhẹ nhàng trên mái tóc trắng như tuyết, cuối cùng bà đã sẵn sàng chờ được trả lại tự do, hạnh phúc. Thực tế, bà đã ở bên bờ của sự mê man, bất tỉnh. Bà xin Maruja một điếu thuốc, rồi bà ngồi trên giường hút khi hai người đi ra. Bà hút từ từ, thả ra những làn khói với vẻ u sầu, trong lúc bà nhớ lại cảnh sống khổ cực trong thời gian bị giam giữ, nơi không có một nhân ái, nơi mà cuối cùng họ cũng không cho phép bà được chết trên giường của mình. Để bà không khóc, Beatriz đã nói một loạt những lời nhắn nhờ bà chuyển tới gia đình. “Nếu bà có cơ hội gặp chồng và các con tôi, bà nói tôi vẫn mạnh khỏe và yêu mến mọi người như xưa”. Nhưng Marina như người mất trí:

- Bà không nên yêu cầu tôi nói những lời như vậy, trong khi nói nhưng mắt bà nhìn đi nơi khác, tôi biết rằng không khi nào tôi có cơ hội ấy.

Maruja mang tới cho bà một cốc nước và hai viên thuốc ngủ cực mạnh, đủ để bà ngủ liền một mạch trong ba ngày. Cần phải giúp bà uống nước, Marina không đưa cốc nước lên miệng được vì tay bà run. Khi đó nhìn thấy trong đáy mắt bà sáng lên, chỉ cái đó cũng đủ biết rằng Marina cũng không thể tự lừa dối mình. Maruja biết rất rõ bà là ai, cần phải đối xử với bà như thế nào và đưa bà tới đâu, nếu chúng vẫn tiếp tục cho tới người cuối cùng.

Chúng mang tới cho bà một cái bịt mặt mới bằng len mầu hồng để hợp với mầu bộ quần áo thể thao bà đang mặc.

Trước khi bị che mặt, ba ôn tồn vĩnh biệt Maruja. Maruja cầu nguyện cho bà, nói: “Hãy cứ bình tình” rồi bà lại ôm hôn Beatriz và nói: “Cầu Chúa hãy ban phước lành cho bà”. Beatriz trung thành với chính mình đến giờ phút cuối cùng, vẫn ôm ấp một ảo tưởng.

- Thật là hạnh phúc, bà ta sắp được gặp lại gia đình, Beatriz nói.

Marina đi theo những người gác, không một giọt nước mắt, họ đeo ngược chiếc che mặt cho bà, những lỗ để hở mắt và mồm lại ở phía sau gáy để bà không nhìn thấy gì. Monje cầm tay kéo bà ra khỏi nhà, đi giật lùi. Marina để mặc chúng kéo đi với những bước đi chắn chắn. Một tên gác khác đóng cửa từ phía ngoài.

Maruja và Beatriz đứng bất động trước cái cửa vừa bị đóng, tự hỏi không biết số phận mình sẽ ra sao, sẽ đi về đâu, cho tới khi nghe thấy tiếng xe nổ ở gara ô tô, rồi tan dần tận nơi chân trời. Mãi tới khi đó họ mới nhận ra rằng những người gác đã mang đi chiếc tivi và chiếc radio để hai bà không biết sự tận cùng của đêm khuya.

Nguyên tác: Noticia de un secuestro Dịch giả: Đoàn Đình Ca Đánh máy: Thùy An, Lê Thanh, Thùy Trâm, Thiên Thanh, Minh Khuyên, Hồng Hạnh, Yên Hà, Thu Thủy
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.