Tin Tức Về Một Vụ Bắt Cóc

Lượt đọc: 121 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6

❊ ❊ ❊

Sáng sớm ngày hôm sau, thứ năm 24, xác của Marina Montoya được tìm thấy trên một mảnh đất hoang, phía Bắc Bogota. Bà gần như ở tư thế ngồi trong đám cỏ hãy còn ướt do trận mưa đầu mùa, tựa lưng vào một hàng rào giây thép gai, hai tay dang ra hình chữ thập. Quan tòa 78 chuyên điều tra những vụ án nâng xác nạn nhân dậy, nạn nhân là một phụ nữ khoảng 60 tuổi, tóc trắng, mặc bộ quần áo thể thao màu hồng, đi đôi tất đàn ông mầu hạt dẻ. Phía dưới chiếc áo vệ sinh có một dải áo tu sĩ với một hình chữ thập bằng nhựa.

Có người nào đó tới trước đã lấy trộm đôi giầy. Đầu nạn nhân đeo một miếng vải bịt mặt đã cứng như các tông vì máu khô, miếng vải bịt ngược nên những lỗ để hở mồm, mắt lại ở phía sau gáy, hầu như bị rách nát vì những lỗ thủng của sáu phát đạn, bắn từ khoảng cách 50cm. Những vết thương ở sọ và bên trái mặt và một vài vết thương nhỏ ở trước trán, có thể đó là phát súng kết liễu.

Thế nhưng cùng với xác chết người ta chỉ tìm thấy năm vỏ đạn 9mm. Đội kỹ thuật hình sự của cảnh sát lấy năm dấu vân tay.

Một số học sinh của trường San Carlos, ở phía trước đã rủ nhau tới xem vì tò mò. Một trong số những người có mặt khi nâng xác nạn nhân là người phụ nữ bán hoa ở nghĩa trang phía Bắc. Từ sáng sớm bà đã có mặt tại đó để đăng ký học cho con gái tại một trường học gần đó. Bà có nhận xét xác chết mang những quần áo lót chất lượng cao, những bàn tay và móng tay được chăm sóc rất cẩn thận, đó là nét nổi bật của nạn nhân mặc dầu nạn nhân có nhiều vết đạn lỗ chỗ. Chiều hôm ấy người bán buôn hoa ở cửa hàng hoa ở nghĩa địa phía Bắc cách đó khoảng 5km cảm thấy một cơn đau đầu dữ dội, ở trạng thái suy sụp rất đáng ngại.

- Bà không cảm thấy ái ngại, buồn khi thấy xác một bà tội nghiệp nào đó bị vứt ngoài bãi cỏ? – Người đàn bà bán lẻ hoa hỏi người bán buôn hoa – Qua bộ quần áo lót và vẻ mặt của bà ta, bà quả là một mệnh phụ lớn, tóc trắng, những ngón tay rất thon thả, móng tay được trang điểm rất kỹ. Người bán buôn hoa báo động vì sự mệt mỏi, chị cho bà một viên thuốc giảm đau đầu, bà khuyên chị không nên suy nghĩ về những chuyện buồn, trước hết không nên đau đớn quan tâm tới những chuyện xa xôi chẳng có liên quan gì tới mình. Đến một tuần sau nhưng cả hai người vẫn chưa biết rằng họ đã được chứng kiến một hồi kịch tưởng như là chuyện huyền hoặc. Người bán buôn hoa tên là Marta de Perez, vợ của Luis Guillermo Pérez, con của Marina. Viên giám định y khoa nhận xác chết vào hồi 5h30 chiều ngày thú năm, họ để xác trong phòng lạnh đến ngày hôm sau, vì đối với người chết mà bị nhiều vết đạn thì không tiến hành việc mổ tử thi về ban đêm. Ở đó phải đợi điều tra về tung tích nạn nhân, và mổ xác hai người đàn ông vừa thu nhặt từ ngoài đường vào buổi sáng. Đến tối hai xác người đàn ông khác được đưa tới còn bỏ ở ngoài trời cùng xác một em nhỏ khoảng 5 tuổi.

Nữ bác sĩ Patricia Alvarez thực hiện ca mổ tử thi Marina Montoya từ bẩy giờ rưỡi sáng ngày thứ sáu, thấy trong dạ dày còn lại một ít thức ăn nhưng không biết là thức ăn gì, đoán bà bị giết vào hồi sáng sớm ngày thứ năm. Bà cũng rất chú ý tới chất lượng những đồ lót và những móng tay rũa và đánh bóng của nạn nhân. Bà gọi bác sĩ Pedro Morales, thủ trưởng của bà đang tiến hành ca phẫu thuật ở một bàn cách đó không xa, bác sĩ Morales đã giúp bà phát hiện ra những bằng chứng khác thường không thể nhầm lẫn về thành phần xã hội của xác chết. Họ lấy mẫu răng, chụp ảnh, chụp X quang và lấy ba cặp vân tay. Cuối cùng họ làm xét nghiệm về nhiễm phóng xạ nhưng không thấy trong dạ dầy những chất cặn của thuốc, mặc dầu vài giờ trước khi bị bắn chết Maruja đã cho bà uống hai viên thuốc ngủ.

Thực hiện đúng những lời chỉ dẫn sơ bộ, xác bà được đưa tới nghĩa trang Nam, tại đó từ ba tuần trước người ta đã đào một hố tập thể để chon 200 xác chết. Tại đó họ đã chôn bà cùng với bốn xác chết vô thừa nhận, trong đó có một em nhỏ.

Rõ ràng đó là một tháng giêng khủng khiếp, đất nước đã rơi vào tình trạng rất tồi tệ có thể hiểu được. Từ năm 1984, khi Bộ trưởng Rodrigo Lara Bonilla bị giết, chúng tôi phải chịu đựng tất cả các loại hành động đáng ghê tởm, nhưng như thế vẫn chưa hết, điều tồi tệ nhất chưa ở phía sau. Tất cả mọi yếu tố bạo lực đã được khởi động, ngày càng quyết liệt.

Trong số những sự kiện nghiêm trọng đã làm rung động cả đất nước, chủ nghĩa khủng bố ma túy được định nghĩa khủng bố mạnh mẽ và tàn bạo nhất. Bốn ứng cử viên tổng thống bị giết hại trước chiến dịch vận động tranh cứ năm 1990. Đối với Carlos Pizarro, ứng cử viên của M-19 bị chúng giết ngay trên một máy bay hành khách, mặc dầu ông đã thay đổi chuyến bay 4 lần, tuyệt đối bí mật, với tất cả mọi thủ thuật đánh lạc hướng bọn khủng bố. Ứng cử viên Ernesto Samper đã thoát chết do một tràng tiểu liên 11 viên, ông đã trúng cử tổng thống nước cộng hòa trong cuộc bầu cử tiến hành 5 năm sau. Hiện ông còn mang trong người 4 viên đạn, mỗi lần ông qua cửa nam châm ở các sân bay chuông đều kêu báo động. Đối với tướng Maza Márquez, bọn khủng bố đã cho nổ phía sau xe của ông một xe chứa 350kg thuốc nổ, nhưng chiếc xe bọc thép của ông đã chạy thoát nhưng quệt phải một người trong đội bảo vệ ông, làm người này bị thương. “Đột nhiên tôi cảm thấy như bình bị treo dựng đứng trên đỉnh một con sóng”. – Ông kể lại. Do cú xốc đó, ông phải tới bệnh viện nhờ bác sĩ tâm thần điều trị để lấy lại sự cân bằng về tâm thần và tình cảm. Việc điều trị chưa kết thúc, 6 tháng sau, một xe tải chở hai tấn thuốc nổ đã gây ra một tiếng nổ khủng khiếp biến tòa nhà đồ sộ, trụ sở cơ quan an ninh quốc gia thành tro bụi, làm 70 người bị chết, 720 người bị thương và những thiệt hại vật chất không sao tính xuể. Những tên khủng bố đợi tướng Maza tới văn phòng làm việc mới nổ, nhưng do một sự thần kỳ nào đó, ông không bị một vết xước do vụ nổ gây ra. Cũng trong năm đó, một quả bom đã phát nổ trong một máy bay hành khách năm phút sau khi cất cánh, làm 107 người chết, trong số những nạn nhân có Andrés Escabri, anh em cọc chèo của Pacho Santos và ca sĩ giọng nam cao Gerardo Arellano, người Colombia.

Dư luận chung cho rằng vụ khủng bố này chủ yếu hướng vào ứng cử viên tổng thống César Gaviria. Nhưng do một sai lầm khủng khiếp của bọn khủng bố nên không thành, vì Gaviria không khi nào có ý định đi trên chuyến bay này. Hơn nữa vì sự an ninh của hãng hàng không, nên họ đã không để ông đi trên những chuyến bay của hãng, dù một vài lần ông muốn đi. Những chuyến bay đó buộc phải hủy bỏ vì những hành khách sợ đi cùng chuyến với ông.

Thực tế đất nước đã nằm trong một vòng vây địa ngục. Mặt khác, những tên buôn ma túy từ chối không chịu ra đầu thú hoặc giảm cường độ bạo lực, vì cảnh sát không chịu ngừng bắn. Bằng tất cả các phương tiện Escobar đã tố cáo cảnh sát xông vào các làng xóm, khu phố ở Medellin bất kỳ lúc nào, đã bắt 10 trẻ em một cách ngẫu nhiên và đã giết những thanh thiếu niên vô tội đó ngay tại quán ăn hay tại chuồng nhốt gia súc. Vì cảnh sát nghĩ đơn giản rằng, những thanh thiếu niên đó là tay chân hoặc đồng đảng của Pablo Escobar hoặc trong tương lai sẽ đi theo Escobar bất cứ lúc nào vì tự nguyện hoặc do áp lực, cưỡng bức. Bọn khủng bố ngừng chém giết, đã gây ra những vụ ám sát không biết ghê tay, không chỉ là những vụ ám sát hoặc bắt cóc. Về phần mình, hai phong trào du kích mạnh nhất và lâu đời nhất là: Quân đội giải phóng dân tộc (ELN) và Các lực lượng vũ trang cách mạng Colombia (FARC) vừa mới trả lời tất cả các loại hoạt động khủng bố và đề nghị hòa bình của chính phủ César Gaviria.

Một trong những nghiệp đoàn bị thiệt hại nhất trong cuộc chiến tranh này là những nhà báo, nạn nhân của những vụ bắt có và tàn sát. Mặc dầu cũng có sự đào ngũ do bị truy lung, đe dọa hoặc bị cám dỗ về vật chất. Giữa khoảng thời gian từ tháng 9 – 1983 đến tháng 1-1991, 26 nhà báo của các phương tiện thong tin đại chúng khác nhau đã bị các các-ten nha phiến sát hại.

Guillermo Cano, giám đốc báo El Espectador (người thức tỉnh) một người không gai góc trong báo giới, ông bị theo dõi và bị giết hại bởi hai tay súng ở ngay cửa ra vào của tòa báo ngày 17-12-1986. Ông lái chiếc xe con, mặc dầu là người bị đe dọa nhất nước do những bài xã luận tự sát của ông, kịch liệt lên án và chống lại bọn ma túy, nhưng ông kiên quyết từ chối không chịu sử dụng một ô tô bọc thép hoặc mang theo một đội bảo vệ. Bằng mọi cách bám sát và tiếp tục giết ông sau khi ông đã chết. Một tượng nửa người được dựng để tưởng niệm ông cũng bị đánh bom. Ít tháng sau, chúng làm nổ một xe tải với 300kg thuốc nổ, phá hủy hoàn toàn những máy móc thiết bị, mọi cơ sở vật của tờ báo. Một tờ báo bị bọn ma túy gây thiệt hại nhất, tàn bạo nhất mà được một số người gọi một cách sai lầm là những anh hùng, chúng đã xâm nhập vào nền văn hóa dân tộc một cách dễ dàng. Đã nẩy sinh ý nghĩ cho rằng chính pháp luật là trở ngại lớn nhất đối với hạnh phúc của mọi người, rằng pháp luật chẳng để làm gì, mà cũng chẳng cần phải đề ra, rằng sống tốt hơn, an toàn hơn là những kẻ phạm tội, an toàn hơn cả những người lương thiện. Tóm lại: Tình trạng đồi bại của xã hội, chính nó là một cuộc chiến tranh tiềm ẩn, chưa nổ ra.

Bắt cóc không phải là một hiện tượng mới trong lịch sử hiện đại của nước Colombia. Không có ai trong số 4 tổng thống của những năm trước đây tránh được sự thử nghiệm của một vụ bắt cóc, gây nên sự hỗn loạn.

Đúng thế, không biết sẽ đi đến đâu, và đến bao giờ, vì không có ai trong số 4 tổng thống chịu nhượng bộ trước những đòi hỏi của những tên bắt cóc. Trong tháng 2-1976, dưới thời chính phủ Alfonso Lópe Michensen, M-19 đã bắt cóc Raquel Mercado, Chủ tịch Tổng liên đoàn lao động Colombia, ông ta bị những tên bắt cóc xét xử và kết án tử hình vì tội phản bội giai cấp công nhân, đã bị hành quyết bởi hai phát đạn bắn vào gáy trước sự cự tuyệt của chính phủ không chịu thực hiện một loạt những đòi hỏi chính trị.

Mười sáu thành viên xuất sắc của phong trào vũ trang này đã chiếm sứ quán nước Cộng hòa Dominicana trong dịp chiêu đãi nhân ngày quốc khánh 27-2-1980, dưới thời chính phủ César Turbay. Trong suốt 61 ngày bắt giữ những con tin, hầu hết đoàn ngoại giao tại Colombia, bao gồm cả đại sứ Mỹ, Israel và Vatican. Cuối cùng phía chính phủ không chịu nộp 50 triệu USD và trả lại 311 chiến sĩ của họ bị bắt để chuộc những con tin như họ đòi hỏi. Tổng thống Turbay đã cự tuyệt không chịu đàm phán, nhưng những con tin được trả lại tự do ngày 28-4 vô điều kiện. Những tên bắt cóc đã ra khỏi Colombia dưới sự bảo trợ của chính phủ Cuba, theo đề nghị của chính phú Colombia. Những tên bắt cóc khẳng định rằng họ đã nhận được khoản tiền chuộc 50 triệu đô la tiền mặt do cộng đồng người Do thái tại Colombia đứng ra quyên góp trên toàn thế giới.

Ngày 6-11-1985, một đội quyết tử của M-19 đã chiếm tòa nhà của tòa án tối cao trong lúc rất đông người và có nhiều hoạt động nhất, đòi tòa án tối cao của nước cộng hòa phải xét xử tổng thống Belisario Betancur vì đã không thực hiện đúng lời hứa về hòa bình. Tổng thống không chịu thương lượng, quân đội đã chiếm lại tòa nhà này bằng máu lửa trong suốt 10 giờ, với số lượng không xác định về người bị mất tích, 95 dân sự bị chết, trong số đó có 9 vị thẩm phán của Tòa án tối cao, kể cả vị chánh án Alfono Reyes Echandia.

Về phần mình, tổng thống Virgilio Barco sáp hết nhiệm kỳ đã giải quyết sai lầm vụ bắt cóc Alvaro Diego Montoya, con của người tổng thư ký của ông. Sự giận dữ của Pablo Escobar, có con tin trong tay đã bẩy tháng, đã bùng nổ trút lên đầu người kế nhiệm Virgilio là César Gaviria, chính phủ của ông với những vấn đề to lớn và nghiêm trọng hơn: 10 nhân vật nổi tiếng bị bắt cóc.

Tuy nhiên, trong năm tháng đầu, Gaviria đã tạo ra được một bầu không khí ít xáo trộn hơn để kìm chế cơn bão táp. Ông đã đạt được một thỏa thuận chính trị để triệu tập Quốc hội, dành cho Tòa án tối cao đủ quyền hành để quyết định về bất kỳ đề tài nào không bị hạn chế. Dĩ nhiên, kể cả những vấn đề quan trọng và nóng hổi nhất; vấn đề dẫn độ và ân xá. Nhưng vấn đề cốt lõi cả đối với chính phủ cũng như đối với bọn ma tuý và các lực lượng du kích là trong khi ở Colombia không có một hệ thống pháp lý hữu hiệu thì hầu như không thể đề ra một chính sách hoà bình, đặt Nhà nước đứng về phía những người tốt, gạt sang một bên những kẻ xấu, những kẻ phạm tội bất kỳ mầu sắc nào.

Nhưng trong những ngày đó, vấn để không đơn giản như thế, từ các phía không có những thông tin khách quan, không phải dễ dàng trong việc giáo dục những em nhỏ biết phân biệt giữa cái xấu và cái tốt. Sự tin cậy vào chính phủ không chỉ ở những thành tích lớn về chính trị mà còn ở những hành động của các cơ quan an ninh, đã bị dư luận báo chí thế giới và các tổ chức nhân quyền quốc tế nguyền rủa.

Trái lại, Pablo Escobar đã đạt được sự tin tưởng rằng sẽ không khi nào có những đội du kích trong những ngày tốt đẹp của ông ta. Mọi người tin vào những lời nói dối của bọn ma tuý hơn là tin vào những sự thật của chính phủ.

Ngày 14-12, chính phủ ban hành sắc luật 3030, sửa đổi sắc luật 2047 và huỷ bỏ tất cả những sắc luật liên quan tới vấn đề ma tuý đã ban hành trước đó. Trong số những điều bổ sung đã nói rõ về cách tính những hình phạt về mặt pháp lý. Có nghĩa là đối với một người cùng một lúc có thể bị xét xử về nhiều tội. Ngoài một lần đã bị kết án hoặc những án sẽ xét xử sau đó, sẽ không tính gộp những năm bị tù của những án khác nhau và chỉ bị một án có thời gian bị tù dài nhất. Đồng thời cũng xác định một loạt những thủ tục và thời hạn liên quan tới việc chuyển những bằng chứng từ nước ngoài về cho việc xét xử ở Colombia. Nhưng vẫn kiên quyết duy trì hai trở ngại lớn về việc đầu thú những điều kiện mập mờ để không bị dẫn độ và thời hạn nhất định để những tội phạm có thể được trả lại tự do. Nói đúng hơn: duy trì sự dầu thú và nhận tội như những điều kiện cần thiết để không bị dẫn độ và được giảm án, nhưng chỉ dành cho những tội lỗi trước ngày 5-9-1990. Pablo Escobar đã bầy tỏ sự bất đồng bằng một lời phát biểu giận dữ, sự phản ứng của ông lần này còn có một lý do nữa, không tố cáo công khai: sự xúc tiến việc trao đổi những tin tức, bằng chứng với Hoa Kỳ và xúc tiến việc dẫn độ.

Alberto Villamizar tỏ vẻ rất ngạc nhiên. Do những cuộc tiếp xúc hang ngày giữa ông và Rafael Pardo, có lý do để chờ đợi một sắc luật mềm dẻo hơn. Trái lại ông thấy sắc luật này lại cứng rắn hơn sắc luật trước, không chỉ mình ông có nhận xét này. Dư luận phố biến là không chấp nhận sắc luật này ngay chính ngày nó được ban hành sắc luật thứ hai này, và người ta bắt đầu nghĩ tới sắc luật thứ ba.

Một sự phỏng đoán dễ dãi về những lý do của sự cứng rắn của sắc luật 3030 là bộ phận cấp tiến nhất trong chính phủ. trước cuộc phản công của những bản thông cáo kêu gọi hoà hợp và những cuộc trả lại tự do vô điều kiện cho bốn nhà báo đã thuyết phục dư luận và chỉ cho tổng thống thấy rằng ông đang bị vây hãm, ở vào thế bị động. Nhưng thực tế chưa khi nào ông mạnh như khi đó dù phải chịu áp lực của những vụ bắt cóc và khả nâng của Quốc hội có thể sẽ tuyên bố huỷ bỏ việc dẫn độ và sẽ giảm án.

Trái lại, 3 anh em Ochoa đã lựa chọn ngay sự quy thuận, ra đầu thú trước pháp luật. Điều đó được diễn giải như một sự rạn nứt trong ban lãnh đạo cao nhất của các-ten ma tuý Medellin. Mặc dầu quá trình ra đầu thú của họ đã bắt đầu từ khi ban hành sắc luật thứ nhất, hồi tháng chín, khi một thượng nghị sĩ nổi tiếng của tỉnh Antioquia yêu cầu Rafael Pardo tiếp một người còn chưa rõ danh tính. Người đó là Martha Nieves Ochoa, người đã mở đầu bước đi táo bạo này, những thủ tục để 3 anh em nhà Ochoa ra đầu thú. Theo thủ tục, người này ra cách người kia một tháng. họ đã làm đúng như vậy, Fabio, người em út ra đầu thú ngày 18-12, Jorge Luis ra đầu thú ngày 15-1 và Juan David ra đầu thú ngày 16-1. Năm năm sau, một nhóm nhà báo Mỹ đã phỏng vấn Jorge Luis tại nhà tù, câu trả lời của anh là dứt khoát: “Chúng tôi ra đầu thú để cứu mạng sống” Anh cũng thừa nhận là từ phía sau có những áp lực mạnh mẽ của những phụ nữ trong gia đình, rằng không có hoà bình cho tới khi họ được đảm bảo an ninh sinh mệnh tại nhà tù bọc thép Itagui, một khu công nghiệp của thành phố Medellin. Đó là một biểu hiện của gia đình tin tưởng vào chính phủ, mà thời đó chưa xuất hiện vấn đề dẫn độ những kẻ buôn bán ma tuý sang Mỹ.

Dona Nydia Quintero luôn quan tâm tới những điều báo trước của mình, bà không đánh giá thấp tầm quan trọng của việc tự ra đầu thú của ba anh em nhà Ochoa.

Ba ngày sau khi Fabio ra đầu thú, bà cùng con gái Maria Vichtoria và cháu gái Maria Corolina, con của Diana đã tới thăm Fabio tại nhà tù.

Tại ngôi nhà nơi bà đang sống đã đón tiếp năm người trong gia đình Ochoa trung thành với những lễ tân truyền thống của nông dân: mẹ, Martha Nieves, người con gái khác và hai người con trai còn trẻ. họ đưa những người trong gia đình bà Nydia tới nhà tù Itagui, một nhà tù kiên cố ở cuối một phố nhỏ, trên một dốc, đã được trang trí bằng những chùm hoa giấy nhiều mầu sắc, chuẩn bị để đón lễ phục sinh.

Trong phòng giam của nhà tù, ngoài Fabio trẻ nhất còn có mặt cả Don Fabio Ochoa, một trưởng lão, cha của ba anh em Ochoa. Ông đã 70 tuổi, nặng 150kg, có những nết trẻ trung như một thanh niên, ông làm nghề chăn nuôi ngựa đua ở Colombia, và là người hướng dẫn tinh thần của một gia đình đông con, những người con trai dũng cảm và những phụ nữ có các tính mạnh mẽ. Ông thích chủ trì những cuộc tiếp khách của gia đình, ông ngồi trên một chiếc ghế giống như một chiếc ngai, đội chiếc mũ của người kỵ mã, với vẻ trang trọng, nói chậm rãi, nhưng rất uyên bác của nhân dân. Bên cạnh ông là cậu con trai nhanh nhẹn và hay nói, nhưng cậu ngừng ngay khi cha nói.

Trước hết, Don Fabio khen ngợi lòng dũng cảm của bà Nydia, người đã đi cùng trời cuối đất để tìm cách cứu sống con gái mình Diana. Về khả năng giúp đỡ bà để bà tiếp xúc trực tiếp với Pablo Escobar, ông nói rất hùng hồn: tôi sẽ làm với sự cố gắng cao nhất có thể, nhưng không chắc có thể đem lại kết quả nào đó. Trong cuôc tiếp, cậu Fabio trẻ tuổi đề nghị bà Nydia hãy nói với tổng thống và cần phải tăng thời hạn cho việc ra đầu thú. Bà Nydia nói rằng bà không thể làm được việc đó, chính bố con Ochoa có thể làm được việc này bằng cách gửi một bức thư cho những nhà chức trách có thẩm quyền. do đó không thể sử dụng bà như người chuyển những lời đố tới tổng thống. Fabio hiểu rõ điều đó, khi tiễn bà, anh nói một câu tự an ủi: “Chừng nào còn sống thì còn hy vọng”.

Khi bà Nydia trở về Bogota, Azucena trao cho bà bức thư của Diana, trong thư đề nghị bà tổ chức đêm Noel với các con của Diana. Hero Buss gọi điện mời bà tới ngay Cartagena để có một cuộc nói chuyện riêng. Sau ba tháng bị giam giữ, anh thanh niên người Đức này có trạng thái tinh thần và thể xác đều tốt, đã làm cho Nydia an tâm về sức khoẻ của con gái bà. Hero Buss không gặp Diana từ tuần đầu sau khi bị bắt cóc, nhưng qua những người gác và người phục vụ hai người vẫn có thể trao đổi tin tức với nhau, anh biết Diana vẫn khoẻ mạnh. Nỗi lo lắng nghiêm trọng duy nhất luôn ám ảnh bà là có thể xẩy ra một cuộc giải thoát vũ trang. “Bà không thể tưởng tượng sự nguy hiểm thường xuyên có thể xẩy ra nếu một người của chúng bị chết, Hero Buss nói, mà họ luôn giật mình, đến một tiếng động nhỏ chúng cũng có thể nhầm lẫn với một cuộc tiến công”. Lời khuyên duy nhất của anh là bằng bất cứ giá nào cũng không để xẩy ra một cuộc tiến công vũ trang nhằm giải thoát những con tin, và cần đòi sửa đổi sắc luật để gia hạn cho việc ra đầu thú.

Chính hôm trở về Bogota, bà Nydia đã bầy tỏ sự lo lắng của bà với Bộ trưởng Tư pháp. Bà cùng con trai Julio César Turbay Quintero, nghị sĩ quốc hội tới thăm tướng Oscar Botero, Bộ trưởng Quốc phòng, với vẻ buồn rầu, lo lắng. Thay mặt cho tất cả những người bị bắt cóc, bà đề nghị chỉ nên dùng cơ quan tình báo chứ không nên dùng vũ lực để giải thoát cho những con tin. Sự suy nhược của bà mỗi ngày một tăng và cảm giác về một thảm kịch mỗi lúc một rõ. Bà cảm thấy đau lòng. Bà ngồi khóc hàng giờ. Bà cố gắng để làm chủ được mình, nhưng liên tiếp bà nhận được những tin rất xấu. Qua đài phát thanh bà nghe rõ lời phát biểu của bọn ma tuý với lời đe doạ sẽ nhét xác người bị bắt cóc vào một bao tải lớn và vứt trước dinh tổng thống nếu chính phủ không chịu sửa đổi nội dung sắc luật thứ hai.

Nydia gọi điện cho tổng thống nước cộng hoà trong trạng thái tinh thần suy sụp. Rafael Pardo thay mặt hội đồng an ninh đã tiếp bà.

- Tôi yêu cầu ngài hỏi vị chủ tịch hội đồng an ninh quốc gia xem có cần thiết phải tu chỉnh bản sắc luật không, nếu không chúng sẽ vứt xác người bị bắt cóc trước dinh tổng thống. Cũng trong trạng thái tâm thần như vậy, ít giờ sau bà yêu cầu gặp đích thân tổng thống để thay đổi thời hạn của sắc luật. Trước khi gặp, tổng thống đã biết tin bà Nydia phàn nàn rằng ông là người không thông cảm với nỗi đau của người khác nên ông đã ra sức giải thích để bà kiên nhẫn và sáng suốt hơn. Ông giải thích rằng sắc luật 3030 vừa mới ban hành, cần phải chờ đợi một thời gian mới rõ kết quả của nó như thế nào. Nhưng bà Nydia cứ khăng khăng cho rằng những lập luận của tổng thống chẳng qua chỉ là những lời biện hộ cho cái cần phải làm trong thời điểm thích hợp.

- Sự thay đổi thời gian không phải là điều cơ bản để cứu sống những con tin - ông giải thích, nhưng bà Nydia đã cảm thấy mệt mỏi về cách lập luận đó, mà đó là điểm duy nhất còn thiếu cần bổ sung để đạt được mục đích ra đầu thú của những tên khủng bố.

- Xin ngài hãy sửa đổi, Diana sẽ được trả lại tự do

Tổng thống Gaviria nhất định không chịu nhượng bộ. ông cho rằng ấn định một thời gian cố định là khó khăn lớn nhất của chính sách đầu thú của ông, nhưng chống lại không chịu thay đổi để bọn ma tuý không đạt được cái mà chúng hy vọng ở những vụ bắt cóc.

Sắp tới Quốc hội sẽ họp trong sự chờ đợi bấp bênh, sẽ không cho phép vì một sự mềm yếu của chính phủ mà phải dành quyền ân xá hoặc giảm án cho bọn ma tuý.

“Nền dân chủ không khi nào bị nguy hiểm vì những vụ giết hại 4 ứng cử viên tổng thống, và cũng sẽ không bị suy yếu vì bất kỳ vụ bắt cóc nào – Gaviria nói sau đó. Thực tế khi đó chính là thời điểm nguy hiểm, bọn ma tuý đang ấp ủ hy vọng về khả năng chúng sẽ được ân xá”. Tức là: mối nguy hiểm tiềm tàng không nhìn thấy là chúng bắt cóc cả lương tâm của Quốc hội. Gaviria đã nhận ra điều đó và quyết định: nếu điều đó xẩy ra thì lòng quyết tâm không gì lay chuyển nổi của ông sẽ nhấn chìm quốc hội.

Từ cách đây ít lâu, bà Nydia đã có ý nghĩ rằng tiến sĩ Turbay sẽ làm điều gì đó kinh thiên động địa vì những người bị bắt cóc. Ví dụ như một cuộc biểu tình đông đảo trước dinh tổng thống, một cuộc đình công, một bức thư phản đối gửi tới Liên hiệp quốc…Nhưng tiến sĩ đã không làm những việc ấy. “Ông ta luôn là người như vậy, do sợ trách nhiệm và tính khiêm nhường của ông - bà Nydia nói, nhưng bà cũng biết ông đang chết ở trong lòng vì đau đớn”. Đúng như vậy, tưởng như ông sống nhẹ nhõm, thanh thản, nhưng càng ngày ông càng thêm buồn. Đó là lúc ông quyết định viết cho tổng thống nước cộng hoà một bức thư riêng “để ông ta làm điều mà ông cho là cần thiết”.

Bác sĩ Gustavo Balcazar tỏ ra lo lắng trước sự suy sụp của vợ mình là Nydia. Ông thuyết phục bà tới ngày 29-1 sẽ tới nghỉ tại ngôi nhà của Tabio ở nông thôn một thời gian cho khuây khoả, cách Bogota khoảng một giờ ô tô, để làm nhẹ đi nỗi u sầu. Từ khi con gái bị bắt cóc bà đã không trở về ngôi nhà đó, bà mang theo một bức tượng Đức mẹ đồng trinh và hai ngọn nến to, mỗi ngọn dùng trong 15 ngày và tất cả những thứ cần thiết để khỏi thoát ly thực tế. Bà trải qua một đêm dài vô tận trong cảnh cô đơn giá lạnh của thảo nguyên. Bà quỳ gối cầu nguyện trước tượng Đức mẹ đồng trinh che chở cho con bà bằng một chiếc chuông thuỷ tinh không vỡ để chúng phải tôn trọng tính mệnh con bà, để Diana không sợ hãi, để những viên đạn nẩy lên không trúng vào người con bà. Đến 5 giờ sáng, sau một giấc mơ ngắn đầy hãi hùng, tại chiếc bàn của nhà ăn, bà bắt đầu ngồi viết một bức thư với tất cả tâm hồn mình gửi tới tổng thống nước cộng hoà. Sáng sớm bà giật mình viết vội những ý nghĩ thoáng qua của mình, bà bật lên tiếng khóc, bà xé bản nháp nhưng vẫn chưa hết khóc, bà viết lại bức thư sạch sẽ trong bể nước mắt. Trái với chính những điều mà bà đã suy nghĩ trước đó, bà đã viết một bức thư chí lý và gay gắt nhất. “Tôi không có ý định viết một tài liệu để công bố - bà mở đầu bức thư - tôi chỉ muốn gửi tới ngài tổng thống của đất nước tôi - người mà tôi luôn kính trọng - những suy nghĩ thận trọng của tôi và một lời thỉnh cầu đau buồn nhưng có lý”. Mặc dầu tổng thống đã nhiều lần hứa rằng sẽ không khi nào có ý định tiến hành hoạt động vũ trang để giải thoát cho Diana. Nydia gửi lời đề nghị tha thiết:

“Đất nước đã biết, các ngài đã biết, nếu một trong những hành động đó mà đụng phải những người bị bắt cóc có thể xẩy ra một thảm kịch khủng khiếp”. Bà cho rằng những nguy hiểm do sắc luật thứ hai gây ra đã làm gián đoạn quá trình giải phóng những con tin đã được mở đầu bởi những kẻ ma tuý trước Noel. Nydia lưu ý ngài tổng thống với nỗi lo sợ mới và sáng suốt: nếu chính phủ không đưa ra một vài quyết định ngay lập tức để huỷ bỏ những trở ngại này thì những con tin sẽ gặp nguy hiểm, đề tài này đang nằm trong tay quốc hội. “Vấn đề này sẽ bị thất bị một cách buồn thảm, không chỉ chúng tôi, thân nhân của những người bị bắt cóc phải chịu đựng mà toàn thể đất nước này phải chịu đựng những năm tháng dài vô tận nữa – bà viết, bà kết luận với lòng kính trọng lịch lãm: “Theo niềm tin và lòng kính trọng tôi bày tỏ với ngài, người đứng đầu nhà nước mà lại không có thể đưa ra một sáng kiến nào đó giúp đỡ tôi, nhưng tôi thấy phải cầu khẩn ngài hãy bảo vệ một số người vô tội không sơ nguy hiểm chỉ vì yếu tố thời gian”. Khi bà đã viết xong bức thư bằng những chữ rất đẹp và sạch sẽ, bức thư dài hai trang của quyển vở bình thường. Nydia để lại bức thư trong phòng của nữ thư ký riêng của tổng thống, cô sẽ biết bức thư đó cần gửi cho ai.

Cũng chính buổi sáng hôm đó, các phương tiện thông tin đại chúng dồn dập đưa tin những tên cầm đầu băng Priscos đã bị giết gồm: anh em David Ricardo và Armando Alberto Prisco Lopera, bị kết án đã hạ sát 7 quan chức chính phủ trong những năm đó và là bộ óc của những vụ bắt cóc, trong số những nạn nhân có Diana Turbay và những người trong ê-kíp của bà. Một tên chết với cái tên giả Francisco Munoz Serna, nhưng khi Azucena Lievano xem ảnh in trên báo đã nhận ra hắn chính là Don Pacho, người chịu trách nhiệm canh giữ Diana và Azucena trong suốt thời gian bị giam giữ. Cái chết của Pacho và cái chết của em hắn chính vào thời điểm hỗn loạn đó. Đó là một tổn thất không thể đền bù đối với Escobar, không lâu sau sẽ được biết qua những việc cụ thể.

Bằng những lời lẽ đe doạ trong một thông cáo bọn ma tuý nói rằng David Ricardo không phải chết trong khi chiến đấu, mà bị cảnh sát bắn hạ trước mặt vợ con anh trong lúc vợ anh đang có chửa.

Về người em Armando, bản thông cáo cũng khẳng định rằng không phải anh bị chết trong chiến đấu, như cảnh sát nói, mà anh bị giết tại trang trại của Rionegro, trong lúc anh đang bị liệt do hậu quả của một vụ mưu sát trước đó. Chiếc xe lăn, trong thông cáo nói, đã nhìn rõ trong bản tin thời sự của đài truyền hình địa phương. Đó là bản thông cáo đã nói về Pancho Santos. Bản thông cáo cho biết, trong khoảng thời gian 8 ngày, ngày 25-1 sẽ hành quyết hai con tin theo thứ tự: người đầu tiên sẽ là Marina Montoya. Đó là một tin bất ngờ, vậy người ta đoán rằng Marina bị giết nhanh chóng cũng như khi chúng bắt cóc bà hồi tháng chín.

“Tôi đã nói tới điều đó khi tôi gửi tới tổng thống bức thư nói về những người bị giết”. Bà Nydia nói nhỏ về cái ngày khủng khiếp đó. Đó không phải là sự bốc đồng, mà cũng không phải do nóng nẩy, mà bà cũng không cần thiết phải điều trị bệnh tâm thần. “Vấn đề là ở chỗ chúng sẽ giết ai, người mà chúng sẽ giết chính là con gái tôi, vì tôi không có khả năng vận động những ai có thể ngăn chặn việc đó”.

Sự thất vọng của Alberto Villamizar không phải là nhỏ. “Hôm đó là một ngày khủng khiếp trong cuộc đời tôi”. - Ông nói. Ông tin rằng không phải chờ đợi những cuộc hành quyết. đó sẽ là những ai? Phải chăng sẽ là: Diana, Pacho, Maruja, Beatriz, Richard? Đó là một sự tranh cãi về cái chết mà tôi cũng không muốn hình dung về nó. Ông tức giận gọi điện cho tổng thống Gaviria:

- Xin ngài hãy ngừng ngay những hành động đó – ông nói.

- Không. Alberto - tổng thống Garivia trả lời với vẻ bình tĩnh đáng ngạc nhiên. Tôi được bầu lên không phải để làm việc đó.

Với vẻ giận dữ Villamizar cắt máy điện thoại ông thấy choáng váng vì sự hăng hái của chính mình: “Và bây giờ tôi còn phải làm gì?” – Ông tự hỏi. để bắt đầu ông cầu cứu sự giúp đỡ của cựu tổng thống Alfonso López Michensen và Misael Pastrana, đức ông Dario Castrillon và đức hồng y Peteira. Tất cả đều ra tuyên bố công khai phản đối những phương pháp của bọn ma tuý, đòi chúng phải tôn trọng mạng sống của những con tin. Qua đài phát thanh quốc gia, cựu tổng thống López Michensen đưa ra lời kêu gọi chính phủ và Escobar hãy chấm dứt cuộc chiến tranh và tìm kiếm một giải pháp chính trị.

Vào thời điểm đó tấn thảm kịch đã là một việc đã rồi. Ít phút hồi rạng sáng ngày 21-1, Diana đã viết trang nhật ký cuối cùng: “Đã gần năm tháng, mà chỉ có chúng tôi mới biết rõ điều này – bà viết – tôi không muốn mất đi niềm tin và niềm hy vọng được an bình vô sự để trở về nhà”.

Bà không cô đơn. Sau khi Azucena và Orlando được trả lại tự do, bà đề nghị được ở với Richard, sau Noel bà đã được toại nguyện. Đó là sự may rủi cho cả hai người. Hai người đã chuyện trò với nhau đến khi không còn gì để nói, họ nghe đài tới tận sáng sớm vì họ đã có thói quen ngủ về ban ngày, sống về đêm. Họ biết tin về cái chết của băng Priscos qua một cuộc nói chuyện với những người gác. Một người khóc, người kia cho rằng đó là sự kết thúc. Không nghi ngờ gì chính họ nói tới những người bị bắt cóc, một người hỏi: “Thế bây giờ chúng ta sẽ làm gì với số hàng hoá”. Người đang khóc cũng không nghĩ tới điều đó. Chúng ta sẽ dùng hết những thứ đó.

Diana và Richard đều không buồn ngủ sau bữa ăn sáng. Ít ngày trước, khi họ được thông báo là sẽ đổi chỗ ở, điều đó không làm họ chú ý, vì trong thời gian ngắn ở cùng nhau, đã hai lần họ phải chuyển tới nơi chú ẩn gần đó, đề phòng những cuộc tiến công có thật hoặc tưởng tượng của cảnh sát. Ít lâu trước 11 giờ sáng ngày 25 họ đang ở trong phòng của Diana bình luận về những cuộc nói chuyện thầm thì của những người gác thì họ nghe thấy tiếng động cơ của máy bay trực thăng đang bay về hướng Medellin.

Trong những ngày gần đây, cơ quan tình báo của cảnh sát nhận được nhiều cú điện thoại vô danh cho biết về sự vận động của những người có vũ trang trên con đường nhỏ Sabaneta, thuộc quận Copacabna, đặc biệt ở các trang trại Alto de la Cruz, Villa del Rosario và La Bola. Rất có thể những người canh giữ Diana và Richard co kế hoạch chuyển họ tới Alto de la Cruz là trang trại an toàn nhất, vì nó nằm trên đỉnh cao một dốc thẳng đứng và có nhiều cây cối, từ đó có thể khống chế được toàn bộ thung lũng cho tới tận Medellin.

Hậu quả của những lời tố cáo qua điện thoại và những dấu hiệu khác nên cảnh sát đã suýt nữa thì khám xét ngôi nhà. Đó là một cuộc hành quân lớn với sự tham gia của 2 đại uý, 9 sĩ quan, 7 hạ sĩ quan và 99 nhân viên cảnh sát xuất phát từ mặt đất và từ trên không bằng 4 máy bay trực thăng vũ trang.

Tuy nhiên, những người gác không chú ý tới những máy bay trực thăng, vì hàng ngày chúng thường bay qua lại khu vực này nhưng không có chuyện gì xẩy ra. đột nhiên một người gác ngó đầu qua cửa sổ, sợ hãi hét tướng lên:

- Chúng ta đã rơi vào tay pháp luật!

Diana và Richard đã chậm trễ không nhận ra hành động này của cảnh sát. Cảnh sát tới rất đúng lúc - tên gác đều là những tên ít cứng rắn, hình như chúng rất sợ nên không giám tự vê. Diana đang đánh răng. Bà mặc sơ mi trắng giặt ngày hôm trước, với chiếc quần bò mầu xanh đã mặc hôm bị bắt cóc, nay đã trở nên rộng đối với bà, vì bà đã sụt nhiều cân và đi giầy tenis. Richard thay chiếc áo sơ mi và lấy những thiết bị quay phim mà anh đã được trả lại trong những ngày này. Những tên gác như bị điên do tiếng ồn của trực thăng mỗi lúc một tăng, chúng bay lượn ngay trên nóc nhà, chúng bay về phía thung lũng rồi quay trở lại, bay sát ngọn cây. Những tên gác la hét, đẩy những người bị bắt cóc về phía chiếc cửa ra vào. Chúng đưa cho họ những chiếc mũ mầu trắng để dễ trà trộn với nông dân, từ trên cao nhìn xuống tưởng họ là những nông dân trong vùng. Chúng choàng lên người Diana một miếng vải mầu đen, còn Richard mặc chiếc áo ja-két bằng da. Những tên gác ra lệnh cho những con tin chạy về phía núi, chúng cũng chạy về hướng đó nhưng súng đã lên nòng sẵn sàng nhả đạn vào những chiếc trực thăng. Diana và Richard trèo lên một con đường hẹp đầy đa, dốc rất cao, mặt trời trên đỉnh đầu, nóng bỏng. Diana cảm thấy kiệt sức, chỉ còn ít mét nữa thì trực thăng phát hiện ra bà. Nghe thấy tiếng súng nổ đầu tiên. Richard nằm xoài trên mặt đất “không cử động - Diana hét - giả vờ như người đã chết”

Trong nháy mắt Diana đã lao tới cạnh anh nằm úp mặt xuống đất.

- Chúng nó giết chết tôi rồi – bà thét. Chân tôi không cử động được. đúng thế, không thể, nhưng không cảm thấy đau đớn. Bà yêu cầu Richard xem xét phía sau lưng bà, vì trước khi ngã bà cảm thấy ở thắt lưng như có điện giật. Richard vén chiếc áo sơ mi thấy ở phía xương chậu trái có một lỗ nhỏ sạch không chảy máu. tiếng súng vẫn tiếp tục, mỗi lúc một gần. Diana năn nỉ một cách thất vọng, đề nghị Richard để bà ở lại đó, anh hãy trốn đi, nhưng anh vẫn ở lại cạnh bà, chờ đợi sự giúp đỡ để bà được an toàn. Trong khi đó, bà đặt tay vào bức ảnh Đức Mẹ Đồng Trinh, bà luôn mang theo bên mình, bà cầu nguyện Đức mẹ. Đột nhiên ngừng tiếng súng, xuất hiện trên con đường hẹp hai nhân viên của đội đặc nhiệm, vũ khí lăm lăm trong tay.

Richard quỳ gối bên cạnh Diana, giơ cao tay nói: “Đừng bắn”. Một nhân viên đội đặc nhiệm nhìn anh với vẻ ngạc nhiên:

- Pablo Escobar đâu?

- Tôi không rõ - Richard nói - Tôi là Richard Bercerra, nhà báo. Diana Turbay cũng ở đây, nhưng bà bị thương.

- Có gì làm bằng chứng không - nhân viên cảnh sát hỏi.

Richard đưa cho anh xem chứng minh thư. Họ và một vài nông dân địa phương giúp đỡ chuyển Diana trên một chiếc cáng tạm thời làm bằng chiếc khăn trải giường. vết thương đau đớn làm bà không chịu đựng nổi, nhưng vẫn bình tĩnh và sáng suốt, biết chắc bà sẽ chết.

Nửa giờ sau, cựu tông thống Turbay nhận được cú điện thoại từ một nguồn tin quân sự, báo cho ông biết rằng, Diana con gái ông và Francisco Santos đã được giải thoát ở Medellin nhờ một cuộc tiến công của đội đặc nhiệm. Ngay lập tức ông gọi điện cho Hernando Satos, hét tướng lên vì vui mừng thắng lợi. Ông ra lệnh cho những nhân viên trực điện thoại của tòa báo báo tin cho toàn thể gia đình biết, trong lúc đang phân tán mỗi người một nơi. Sau đó ông gọi điện tới nhà Alberto Villamizar, ông báo tin như tin vừa nhận được. “Thật tuyệt vời” Villamizar thét lên vì vui mừng. Niềm vui của ông là chân thành, nhưng liền sau đó ông nhận ra rằng, một khi Pacho và Diana được giải thoát, thì người duy nhất còn lại có thể sẽ bị hành quyết là Maruja và Beatriz vì hai người này còn ở trong tay Escobar.

Trong khi ông gọi điện khẩn cấp sau đó ông mới biết rằng tin này đã được radio tung lên không trung. Ông bấm số máy gọi cho Rafael Pardo, thì chuông điện thoại réo. Một lần nữa Hernando Santos gọi để nói với ông một cách buồn rầu rằng, Turbay đã sửa tin đầu tiên. Người được giải thoát không phải là Francisco Santos mà là người quay phim Richard Becerra và Diana bị thương. Tuy nhiên, ông Hernando Santos không bối rối nhiều về sự nhầm lẫn của Turbay đã làm ông rụng rời chân tay vì mừng hụt.

Martha Lupe Rojas không có mặt tại nhà, khi họ gọi điện báo tin Richard con bà đã được giải thoát bà tới nhà người em. Bà rất chú ý những tin tức của đài phát thanh mà bà nghe được qua chiếc đài con bà luôn mang theo bên mình. Nhưng hôm đó, lần đầu tiên từ khi con trai bà bị bắt cóc, chiếc đài bị hỏng.

Chiếc xe chở bà tới đài truyền hình có người nào đó nói con bà đã được giải thoát, tiếng nói quen thuộc của nhà báo Juan Gossain làm bà trở lại với thực tế: những tin tức từ Medellin còn chưa rõ ràng. Có tin nói rằng Diana Turbay đã bị chết, nhưng không biết tin gì về Richard Bacerra. Bà Martha Lupe bắt đầu thì thầm cầu nguyện: “Xin chúc hãy phù hộ con để những viên đạn bay đi nơi khác không trúng vào người Richard”. Chính lúc đó, từ Medellin Richard gọi điện về nhà báo tin anh được bình an vô sự, nhưng không có mẹ ở nhà. Nhưng tiếng hét cảm động của Gossain đã trả lại linh hồn cho Martha Lupe.

- Thật tuyệt! Thật tuyệt! Richard Becerra hãy còn sống! Bà Martha Lupe bật ra tiếng khóc, không thể nào kìm lại được cho tới chiều tối khi bà gặp lại con tại đài truyền hình Cripton. Nay bà kể lại: “Nó chỉ còn lại bộ xương, người xanh xao, đầy râu, nhưng nhờ trời nó còn sống”.

Rafael Pardo nhận được tin đó trước mấy phút tại văn phòng do cú điện thoại của một người bạn nhà báo cho biết tin tức đầy đủ về việc giải thoát con tin. Ông liền gọi điện cho tướng Maza Mázquez, rồi gọi cho tướng Gómez Padilla, Giám đốc cảnh sát nhưng không ai biết về cuộc hành quân giải thoát con tin. Một lát sau tướng Gómez Padilla gọi điện báo cho ông biết rằng đó là một cuộc chạm trán bất ngờ với Đội đặc nhiệm trong quá trình một cuộc hành quân truy lùng Escobar. Những đơn vị tham gia cuộc hành quân không hề có tin tức gì về việc những người bị bắt cóc đang bị giam cầm tại đó.

Từ khi nhận được tin từ Medellin, tiến sĩ Turbay cố gắng gọi điện cho Nydia đang có mặt tại nhà nghỉ Tabio, nhưng điện thoại bị hỏng. Ông cử một xe con cùng đội trưởng đội bảo vệ ông tới gặp và báo tin cho Nydia biết Diana được bình an vô sự, hiện đang có mặt tại một bệnh viện của Medellin để kiểm tra sức khỏe. Nydia nhận được tin này vào hồi hai giờ chiều, lẽ ra bà phải hét lên vì vui sướng của cả gia đình, thì bà lại tỏ ra buồn rầu, ngạc nhiên và thốt lên:

- Chúng nó đã giết chết con tôi rồi!

Trên đường trở về Bogota, trong khi nghe tin tức của đài phát thanh bà tỏ ra nghi ngờ. “Tôi tiếp tục khóc - sau bà nói – nhưng khi đó tôi khóc không ra tiếng như trước, mà chỉ rơi nước mắt”. Bà về qua nhà một lát để thay quần áo trước khi ra sân bay. Tại đó bà sẽ đợi ông già Foker, người trong thời gian gần 30 năm đã giúp việc bà, để cùng bay đi Medellin. Tin tức lúc này là Diana đang được các bác sĩ cấp cứu, nhưng Nydia không tin vào bất cứ cái gì và bất kỳ ai ngoài linh tính của bà. Bà yêu cầu được nói chuyện với tổng thống nước cộng hòa.

- Thưa ngài tổng thống – chúng đã giết chết Diana, con gái tôi rồi – bà nói. Đó là tác phẩm của ngài, là lỗi tại ngài, là hậu quả của tâm hồn sắt đá của ngài. Ngài tổng thống vui mừng đối đáp lại bà với một vài tin tức tốt lành.

- Không, thưa bà - ông nói với giọng trấn tĩnh hơn. Hình như có một cuộc hành quân nào đó, nhưng tin tức chưa rõ ràng. Nhưng Diana hãy còn sống.

- Không. Nydia nói - chúng nó đã giết chết Diana rồi.

Tổng thống nói chuyện trực tiếp với Medellin, không nghi ngờ gì nữa.

- Nhưng tại sao bà biết?

Nydia trả lời với niềm tin tuyệt đối: - Vì trái tim một người mẹ đã mách bảo tôi điều đó.

- Đúng, trái tim của bà quả là chính xác. Một giờ sau Maria Emma Mejia cố vấn của tổng thống về Medellin lên máy bay rời Medellin mang về cho tổng thống một tin rất xấu. Vì mất máu Diana đã chết, sau một vài giờ các bác sĩ đã tìm mọi cách cứu chữa nhưng vô ích. Bà bị mê man trên chiếc trực thăng chuyển về Medellin từ nơi gặp cảnh sát, từ đó bà luôn trong trạng thái hôn mê. Bà bị thương, vỡ xương sống ở ngang thắt lưng vì một phát đạn cực nhanh cỡ trung bình làm vỡ xương chậu gây ra tê liệt toàn thân, không khi nào có thể phục hồi được.

Nydia bị một cú sốc rất mạnh khi nhìn thấy con gái tại bệnh viện, không quần áo nằm trên bàn mổ, phủ một tấm vải trắng đầy máu, vẻ mặt thẫn thờ không có biểu hiện nào của sự sống, da không còn mầu sắc vì mất máu. Có một vết mổ lớn trên ngực, qua vết mổ các bác sĩ đã luồn tay vào để bóp trái tim một lát sau khi bà ra khỏi phòng mổ. Bà cảm thấy đau đớn và thất vọng. ngay tại bệnh viện Nydia triệu tập một cuộc họp báo tàn bạo. “Đây là một cái chết, lịch sử một cái chết đã được báo trước” - bà mở đầu. Bà tin chắc rằng Diana là nạn nhân của một hoạt động vũ trang theo lệnh của Bogota - theo những tin tức mà bà được thông báo khi tới Medellin. Bà đã làm một cuộc điểm lại rất tỷ mỷ về những lời của gia đình và của chính bà đã gửi lên tổng thống nước cộng hòa yêu cầu cảnh sát không nên mở những cuộc hành quân giải thoát cho những con tin. Bà nói sự điên rồ và trọng tội của bọn ma túy là thủ phạm gây ra cái chết của con gái bà, nhưng cả chính phủ và cá nhân ngài tổng thống cũng phải chịu phần trách nhiệm, trước hết là tổng thống “con người có thái độ thờ ơ đến lạnh lùng, bỏ ngoài tai tất cả những lời thỉnh cầu rằng không nên tiến hành những hoạt động vũ trang để giải thoát cho những con tin, vì như vậy sẽ nguy hiểm tới tính mệnh những người bị bắt cóc”.

Lời tuyên bố đanh thép này của bà Nydia được các phương tiện thông tin đại chúng trực tiếp truyền đi cả nước gây nên một phản ứng mạnh mẽ trong dư luận công chúng, bầy tỏ tình đoàn kết với nạn nhân và sự tức giận trong chính phủ. Tổng thống triệu tập khẩn cấp một cuộc họp gồm Gabio Villegas, tổng thư ký riêng của tổng thống, Miguel Silva, thư ký riêng của tổng thống, Rafael Pardo, cố vấn an ninh, Mauricio Vargas, cố vấn báo chí. Mục đích của cuộc họp là soạn thảo một tuyên bố bác bỏ mạnh mẽ những lời buộc tội của Nydia. Nhưng khi thảo luận, một ý kiến cơ bản, sâu sắc đi đến kết luận rằng: không nên bàn cãi về nỗi đau cuả một người mẹ. Tổng thống đã hủy bỏ cuộc họp và ra lệnh: - Tất cả chúng ta hãy tới dự tang lễ Diana, không phải chỉ mình tổng thống mà toàn bộ chính phủ phải có mặt tại tang lễ Diana. Nhưng sự gay gắt của Nydia không chỉ dừng ở đó. Qua một người nào đó, bà đã nhờ chuyển tới tổng thống một bức thư. Khi biết tin Diana đã chết, rất có thể ngài sẽ vĩnh viễn mang trong tâm trí mình một câu trả lời đã được chuẩn bị sẵn: “Rõ ràng không nên chờ đợi sự trả lời của tôi.” - trong thư viết. khi kết thúc lễ cầu nguyện, xác nạn nhân được đặt trong nhà thờ lớn – rất ít trường hợp được như vậy. Ngài tổng thống đứng dậy khỏi ghế, một mình bước ra gian giữa của nhà thờ, tất cả đều nhìn theo ông, qua ánh chớp của máy chụp ảnh, máy camera của truyền hình, ông giơ tay trước mặt Nydia, tin chắc bà cũng giơ tay ra. Nydia xiết chặt tay ông với cái nhìn lạnh lùng. Thực tế, đối với bà đó là một cử chỉ làm bà cảm thấy nhẹ nhõm, điều mà bà sợ khi đó là sợ tổng thống ôm hôn bà. Trái lại, bà quý trọng lời thăm hỏi chia buồn của Ana Milena, vợ tổng thống.

Nhưng chưa hết. Vừa mới giảm bớt nỗi đau đớn, Nydia yêu cầu được gặp tổng thống để thông báo điều gì đó quan trọng mà tổng thống cần biết, trước khi bà đọc điếu văn trong ngày hôm đó về cái chết của Diana.

Silva đã chuyển đầy đủ yêu cầu đó tới tổng thống, tổng thống mỉm cười nhớ ra rằng chưa khi nào ông tiếp bà Nydia. - Bà tới để trút lên đầu tôi tất cả những lời trách cứ - ông nói. Nhưng thôi được, xin mời bà cứ đến. Ông tiếp bà như những buổi tiếp khách khác. Quả nhiên, Nydia bước vào phòng ông với bộ đồ đen, vẻ khác thường: giản dị, đau đớn. Bà đi thẳng vào vấn đề, không nhìn vào tổng thống từ câu nói đầu tiên:

- Tôi tới đây muốn được phục vụ ngài một việc.

Sự bất ngờ là bà đã xin lỗi tổng thống, vì bà cứ tưởng tổng thống là người ra lệnh tiến hành cuộc hành quân nên đã gây ra cái chết của con bà. Bây giờ bà mới biết nguồn tin đó là không đúng. Ngoài ra, bà cũng nói với tổng thống rằng vào thời điểm ấy họ đã lừa dối bà, cuộc hành quân đó cũng không phải để truy lùng Escobar mà là để giải thoát cho những con tin, nơi ở của chúng được biết qua cuộc tra tấn để lấy khẩu cung một tên giết thuê do cảnh sát bắt được. Tên chuyên nghề đâm thuê chém mướn - bà Nydia giải thích, sau được phát hiện như một trong số những tên bị chết trong chiến đấu. Câu chuyện bà kể lại một cách mạnh mẽ, rạch ròi, chính xác, với hy vọng gây cho tổng thống sự hứng thú, nhưng bà không nhận thấy ở tổng thống bất kỳ biểu hiện nào của lòng trắc ẩn. “Ông như một tảng băng” sau này bà nói khi nhắc tới cuộc gặp gỡ đó. Ông không cần biết vì sao và vào lúc nào, không thể kìm được, bà đã bật lên tiếng khóc. Bà cố mím môi tự kiềm chế, bà thay đổi đề tài và cách nói. Bà phàn nàn về sự thờ ơ và lạnh lùng của tổng thống nên không thực hiện đúng hiến pháp để cứu sinh mạng những người bị bắt cóc.

- Ngài hãy suy nghĩ xem - bà kết luận - nếu con gái ngài ở vào hoàn cảnh ấy, ngài phải làm gì. Bà nhìn thẳng vào mặt tổng thống, hứng khởi vì không thấy tổng thống ngắt lời bà. Cũng như chính tổng thống sau này kể lại: “Bà ta hỏi tôi, nhưng tôi không có thì giờ để trả lời”. Tất nhiên, Nydia đã kết thúc bằng một câu hỏi khác: “Thưa ngài tổng thống, ngài không nghĩ rằng do sự lãnh đạo sai lầm của ngài nên đã đưa đến hậu quả này?”

Lần đầu tiên ngài tổng thống không nhìn thấy bóng tối của sự ngờ vực. Ít năm sau ông nói: “Chưa khi nào tôi phải chịu đựng nhiều đến thế.” Nhưng ông chỉ chớp mắt nói với giọng bình thản: - Rất có thể.

Bà Nydia đứng dậy, đưa tay bắt tay tổng thống trong im lặng, bước ra khỏi phòng trước khi tổng thống kịp mở cửa. Miguel Silva bước vào phòng tổng thống, tổng thống rất xúc động cầm bản tiểu sử tên giết thuê vừa bị chết.

Không mất thời gian, Gaviria viết một bức thư riêng gửi Viện trưởng Viện kiểm sát tối cao yêu cầu tiến hành cuộc điều tra vụ này để đưa ra xét xử.

Hầu hết mọi người đều nhất trí cho rằng hành động vũ trang của đội đặc nhiệm là nhằm mục đích bắt sống Pablo Escobar hoặc một tên cầm đầu quan trọng khác, nhưng theo logic này thì quả là một sự ngu ngốc nên đã tới thất bại không sửa chữa được. Theo tin nhanh của cảnh sát, Diana đã bị trúng đạn khi diễn ra cuộc bắn nhau, trong lúc đang chờ đợi sự yểm trợ của máy bay trực thăng và quân trên mặt đất. Bà và người quay phim chưa kịp đề nghị sự giúp đỡ của đội đặc nhiệm, thì trong lúc chạy trốn, một trong số những tên bắt cóc đã bắn trúng lưng Diana làm gãy cột sống. Richard thì được bình an vô sự. Diana được chuyển ngay tới bệnh viện đa khoa của Medellin trên một trực thăng của cảnh sát, bà đã qua đời tại đó vào hồi 4 giờ 35 phút chiều.

Tin của Pablo Escobar về cuộc hành quân rất khác, trùng với những điểm cơ bản như Nydia đã kể với tổng thống.

Theo Escobar, cảnh sát tiến hành cuộc hành quân vì biết tin những người bị bắt cóc đang bị giam giữ tại đó. Do tra tấn hai tên giết thuê nên cảnh sát đã xác minh được tên thật và số chứng minh thư của chúng.

Theo bản thông cáo chúng bị cảnh sát bắt và tra tấn và một tên trong bọn chúng đã từ trực thăng hướng dẫn những người chỉ huy cuộc hành quân. Hắn nói rằng Diana bị chết do cảnh sát khi bà chạy trốn và đã được giải thoát khỏi tay bọn bắt cóc. Cuối cùng Escobar nói rằng trong cuộc chạm súng đã làm ba nông dân vô tội bị chết, mà cảnh sát đã giới thiệu với báo chí như những kẻ giết thuê bị chết trong chiến đấu. Bản báo cáo này đã làm cho Escobar hài lòng đúng như điều ông ta chờ đợi để tố cáo cho sự vi phạm nhân quyền của cảnh sát.

Richard Becerra là nhân chứng sống duy nhất còn lại, anh bị các nhà báo săn đuổi ráo riết ngay chính đêm xảy ra tấn bị kịch tại salon của sở cảnh sát trung ương tại Bogota. Anh vẫn mặc chiếc áo da mầu đen khi bị bắt cóc, đội một chiếc mũ nan do những người bắt cóc cho để trà trộn với nông dân. Trạng thái tâm thần của anh chưa khá hơn để cung cấp một số tư liệu giúp làm sáng tỏ sự kiện này.

Ấn tượng mà anh để lại cho người đồng nghiệp dễ thông cảm của anh là sự nhầm lẫn các sự kiện không cho phép được có một ý niệm rõ ràng về cuộc đụng độ vũ trang giữa cảnh sát và bọn ma tuý. Tuyên bố của anh về viên đạn đã giết chết Diana do một tên bắt cóc bắn là vì nhầm lẫn, nhìn không rõ.

Vượt lên trên tất cả những ý kiến khác nhau, mọi người đều tin rằng Diana bị chết do trúng đạn khi đôi bên bắn nhau. Tuy nhiên kết luận cuối cùng hãy còn nằm trong tay ông tổng thanh tra viết trong bản báo cáo gửi lên tổng thống sau những phát hiện của bà Nydia Quintero.

Tấn thảm kịch vẫn chưa kết thúc. Trước sự phân vân của dư luận về số phận của Marina Montoya.

Ngày 30-1 bọn ma tuý công bố một thông cáo mới thừa nhận chúng đã ra lệnh hành quyết Marina ngày 23-1. Nhưng vì lý do bí mật và lý do liên lạc chúng tôi không có thông tin ngay nên không biết chính xác thời gian xẩy ra vụ hành quyết hoặc đã trả lại tự do cho bà. Nếu như bà đã bị hành quyết, chúng tôi cũng không hiểu vì những lý do gì mà cảnh sát chưa tìm thấy xác bà.

Bác sĩ pháp y Pedro Morales, tham gia việc mổ xác bà, đã đọc bản thông cáo trên báo chí và hình dung ra rằng xác của người đàn bà có những quần áo lót rất đẹp và những ngón tay không chê vào đâu được chính là xác Marina Montoya. Sự thực là như thế.

Tuy nhiên, sau khi đã biết về tung tích nạn nhân, có người nào đó nói rằng chính bộ trưởng Tư pháp đã gọi giây nói gây áp lực với Viên pháp y nói không biết xác đó đã chôn ở mộ tập thể nào. Luis Giullermo Péréz Montoya, con trai của Marina vừa đi ăn sáng thì nghe tin đài phát thanh truyền đi tin tức đầu tiên. Tại Viện pháp y người ta đưa cho anh xem bức ảnh một phụ nữ đã biến dạng do những phát đạn, nên khó mà nhận ra bà. Tại nghĩa trang phía Nam phải chuẩn bị một đội đặc biệt của cảnh sát, vì tin tức đã phát đi, cần phải mở lối cho Luis Guilermo Pérez để anh có thể tới tận hố chôn người tập thể, giữa đám đông tò mò.

Theo nội quy của pháp y, xác vô thừa nhận cần phải chôn cất, có đánh số vào người, tay, chân để còn có thể nhận ra trong trường hợp xác bị thối rữa. Cần phải gói tử thi trong một miếng vải bằng chất plastic mầu đen như người ta dùng để đựng rác và buộc ở chỗ ngang đầu gối và tay bằng những sợi thừng bằng nylon rất bền. Xác Marina Montoya - theo ý kiến của con bà - hoàn toàn không có quần áo, đầy bùn đất, bị vứt vào hố tập thể, không có vết săm trên da nói về lai lịch người bị chết như quy định của pháp luật. Bên cạnh bà là một xác em nhỏ gói trong bộ quần áo vệ sinh màu hồng, được chôn cất cùng thời gian với bà.

Sau khi khai quật, được rửa bằng một vòi nước cực mạnh, xác bà được đặt trong nhà tròn. Người con đã xem xét hại hàm răng của bà, qua một phút do dự. Anh nhớ rằng Marina thiếu một răng nanh bên trái, nhưng tử thi lại có bộ răng hoàn hảo. Nhưng khi xem xét những bàn tay, anh đặt những bàn tay của mẹ anh trên bàn tay của anh thấy hoàn toàn giống nhau. Một nghi ngờ khác vẫn còn dai dẳng, có thể là mãi mãi? Luis Guillermo Pérez cho rằng xác mẹ anh đã được xác định ngay từ khi mới phát hiện ra, nhưng lại được gửi tới chôn ở hố chôn người tập thể, không làm những thủ tục để không để lại dấu vết nào có thể làm xôn xao dư luận và gây bối rối cho chính phủ.

Cái chết của Diana xẩy ra còn trước cả khi tìm thấy xác Marina, đã tác động tới tình hình đất nước. Khi tổng thống Gaviria từ chối không chịu điều chỉnh sắc luật thứ hai, không chịu lùi bước trước những lời lẽ gay gắt của Villamizar và những lời thỉnh cầu tha thiết của Nydia.

Tóm lại, những lập luận của ông là những sắc luật không phải chỉ để phục vụ riêng cho những vụ bắt cóc mà để phục vụ chung cho quyền lợi của nhân dân. Nếu như Escobar không bắt cóc các nhà báo để gây áp lực với chính phủ để không ra đầu thú và không bị dẫn độ nhưng đạt được sự ân xá. Những suy nghĩ này đã đưa tới việc điều chỉnh cuối cùng bản sắc luật. Đó là một việc làm khó khăn sau khi khước từ những lời thỉnh cầu của bà Nydia với bao nỗi đau đớn khác nữa để thay đổi ngày ban bố sắc luật, nhưng tổng thống kiên quyết đối đầu với nó.

Villamizar nhận được tin này qua Rafael Pardo. Thời gian đợi chờ hầu như đã hết. Không có một phút yên ổn. Ông sống phụ thuộc vào chiếc radio, không phải là một tin xấu. Ông gọi điện cho Pardo vào bất kỳ giờ nào. “Sự việc đến đâu rồi?” - Ông hỏi. “Tình hình này sẽ đi tới đâu?” Pardo trấn an ông bằng những liều thuốc của chủ nghĩa duy lý. Tất cả mọi đêm ông đều trở về nhà với tâm trạng như vậy. “Cần phải ban hành ngay sắc luật này, nếu không chúng nó sẽ giết chết tất cả.” - ông nói. Pardo đã gọi điện cho ông, báo tin tất cả đã sẵn sàng để tổng thống ký vào bản sắc luật cuối cùng. Sự chậm trễ là vì tất cả các bộ trưởng đều phải ký tên vào bản sắc luật này, nhưng tìm mọi nơi chưa biết Alberto Casas Santamaria, bộ trưởng giao thông hiện đang ở đâu. Cuối cùng qua điện thoại của một người bạn cũ: - Thưa ngài Bộ trưởng - ông nói - hoặc là nửa giờ sau ngài phải có mặt tại đây để ký vào bản sắc luật, hoặc ngài sẽ thôi giữ chức bộ trưởng.

Ngày 29-1, sắc luật 303 được ban hành, sắc luật đó giải quyết tất cả những vướng mắc cho tới khi đó đã cản trở việc ra đầu thú của những người buôn bán ma tuý. Đúng như dự đoán trong chính phủ, không khi nào có sự tin tưởng chung cho rằng vì sự chậm trễ ban hành sắc luật 303 đã là nguyên nhân gây ra cái chết cho Diana. Do đó, như thường xẩy ra, đã làm nảy sinh những sự bất đồng khác, những người nghĩ rằng sắc luật đó là một sự nhượng bộ bọn ma tuý, do áp lực của dư luận công chúng bị khích động, còn những người khác thì lại hiểu sắc luật đó là một hành động không thể chống đỡ của tổng thống.

Mặc dầu dù muộn đối với Diana Turbay, dù sao đi nữa thì tổng thống Gaviria đã ký kết vào bản sắc luật vì niềm tin, cố tình cho rằng sự chậm trễ có thể được hiểu như là bằng chứng của nghiệt ngã, sự chậm trễ này là một biểu hiện của sự yếu đuối.

Ngày hôm sau, vào hồi 7 giờ sáng Villamizar gọi điện cho tổng thống để cám ơn về sắc luật. Gaviria nghe điện trong tuyệt đối im lặng, chú ý lắng nghe những lý lẽ của ông ta và chia sẻ nỗi buồn với ông về những gì đã xẩy ra trong ngày 25-1. Đó là một ngày khủng khiếp đối với tất cả. Khi đó Villamizar gọi điện cho Guido Parra với tâm hồn thanh thản, nhẹ nhõm: “Chắc bây giờ anh không phàn nàn rằng sắc luật này là không tốt.” - ông nói. Guido Parra đã đọc rất kỹ bản sắc luật đó.

- Đã sẵn sàng - ông nói. Ở đây không có bất kỳ vấn đề nào. Này, nếu như chúng ta không tránh né từ trước.

Villamizar muốn biết bước tiếp theo là gì.

- Chẳng là gì cả - Guido Parra nói. Đó là vấn đề của 48 giờ.

Bọn ma tuý biết tin ngay lập tức trong một thông cáo huỷ bỏ những cuộc hành quyết đã công bố, thể theo đề nghị của một số nhân vật của đất nước. Có thể ý muốn nói tới bức thư đã công bố trên đài phát thanh của López Michensen, Pastrans và Castrillon. Nhưng về cơ bản, không xem cử chỉ đó như là sự chấp nhận sắc luật.

“Chúng tôi tôn trọng cuộc sống của những con tin hiện đang nằm trong tay chúng tôi” bản thông cáo viết. Như là một sự nhân nhượng đặc biệt, bản thông cáo cũng công bố rằng, vào giờ đầu tiên trong ngày họ sẽ phải trả lại tự do cho một người bị bắt cóc.

Villamizar đang ngồi cùng Guido Parra, ông giật mình vì ngạc nhiên.

- Vì sao lại chỉ có một? - ông hét.

Ông đã nói với tôi sẽ thả tất cả kia mà.

- Xin hãy bình tĩnh, Alberto - ông nói - Đây là vấn đề của 8 giờ.

Nguyên tác: Noticia de un secuestro Dịch giả: Đoàn Đình Ca Đánh máy: Thùy An, Lê Thanh, Thùy Trâm, Thiên Thanh, Minh Khuyên, Hồng Hạnh, Yên Hà, Thu Thủy
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.