Tin Tức Về Một Vụ Bắt Cóc

Lượt đọc: 142 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

❊ ❊ ❊

Kết quả là sự bắt cóc những nhà báo đã gây sự bối rối cho tổng thống Cesar Gaviria, từ khi còn làm Bộ Trưởng thời chính phủ Virgilio Barco ông đã nghĩ: làm sao có thể tạo ra một hành lang pháp lý cho cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa khủng bố. Đó là đề tài chủ yếu trong chiến dịch vận động tranh cử tổng thống của ông.

Điều ông nhấn mạnh trong bài diễn văn tại buổi lễ nhậm chức, với sự phân biệt quan trọng rằng chủ nghĩa khủng bố của bọn ma túy là một vấn đề có ý nghĩa quốc gia, do đó cần phải có một giải pháp quốc tế. Điều ưu tiên số một là cuộc chiến tranh chống chủ nghĩa khủng bố của bọn ma túy. Đó là quả bom đầu tiên, dư luận công chúng đòi phải thẳng tay trừng trị và bỏ tù bọn ma túy khủng bố, nhưng số khác thì lại đòi dẫn độ chúng sang Mỹ, nhưng bắt đầu từ quả bom thứ tư thì lại có ý kiến đề nghị có sự khoan dung đối với chúng. Cũng với ý này, sự dẫn độ chỉ là một công cụ cần thiết để gây áp lực buộc những kẻ phạm tội phải ra đầu thú trước pháp luật. Gaviria sẵn sàng thực hiện điều đó không chút do dự.

Những ngày đầu tiên sau khi nhậm chức, ông không có thì giờ để nói chuyện với bất kỳ ai. Ông bị thu hút vào việc thành lập chính phủ và triệu tập cuộc họp quốc hội để tiến hành cuộc cải cách nhà nước cơ bản nhất trong vòng một trăm năm nay. Rafael Pardo chia sẻ sự lo lắng của tổng thống về chủ nghĩa khủng bố từ khi Luis Carlos Galan bị sát hại. Nhưng ông cũng bị cuốn hút vào những công việc ban đầu. Hoàn cảnh của ông là cá biệt. Việc cử những thành viên của hội đồng an ninh và trật tự công cộng là một trong những việc đầu tiên nhưng có ý nghĩa lâu dài. Chính phủ bị rung động bởi tác động của cuộc cải cách do một vị tổng thống trẻ nhất thế kỷ này chủ trương.

Tổng thống là người yêu mến thơ ca, thích những bài hát của nhóm Beatles, với tư tưởng muốn có những thay đổi tận gốc những cái mà chính ông đặt cho nó một cái tên rất hiện đại: cuộc cách mạng.

Pardo đi giữa cơn bão tuyết với một chiếc cặp đầy ắp giấy tờ, ông đi khắp mọi nơi, dễ dàng thích nghi để làm việc ở bất cứ nơi nào ông muốn. Laura, con gái ông, tưởng ông bị thất nghiệp nên không có giờ giấc đi về nhất định, sự thực rất đơn giản, đó là vì do hoàn cảnh bắt buộc cũng rất phú hợp với phong cách của Rafael Pardo, một con người giống nhà thơ trữ tình hơn là một viên chức nhà nước. Ông 38 tuổi, được học hành đến nơi đến chốn: đậu tú tài ở trường Gimnasio Modrno ở Bogata, tốt nghiệp khoa kinh tế tại trường đại học Universidad de los Andes, ông là giáo sư và là nhà nghiên cứu trong 9 năm ở trường đại học này, sau đó học chương trình sau đại học về môn kế hoạch tại Viện nghiên cứu xã hội ở La Haya, Hà Lan. Ngoài ra ông còn là một độc giả nhiệt tình của tất cả những cuốn sách mà ông thích, đặc biệt về hai chuyên ngành khác nhau: thơ ca và an ninh. Thời kỳ đó ông chỉ có 4 chiếc cà vạt, ông được tặng vào dịp lễ Giáng sinh trước, nhưng ông không dùng chúng trong bất kỳ trường hợp nào, tuy nhên, ông luôn mang theo một chiếc ở trong túi, chỉ dùng cà vạt trong trường hợp thật cần thiết. Ông mang quần bò và chiếc áo ja két, không quan tâm tới màu sắc và kiểu cách. Vì tính lơ đãng nên đôi tất ông mang thường mỗi chiếc một màu khác nhau, ông luôn mặc áo sơ mi dài tay vì không thể phân biệt giữa nóng và lạnh. Sở thích lớn nhất của ông là chơi poker với con gái Laura tới tận hai giờ sáng, trong im lặng tuyệt đối, mỗi ván thắng được một hạt đậu chứ không phải chơi ăn tiền.

Claudia, người vợ xinh đẹp và nhẫn nại của ông, luôn bị ông bực mình vì bà cứ đi đi lại lại trong nhà như người bị bệnh mộng du. Bà không nhớ những chiếc cốc để chỗ nào, đóng cửa ra sao, hoặc lấy đá từ tủ lạnh ra như tế nào, bà có một khả năng hầu như ảo thuật là không hề quan tâm tới những công việc mà không có liên quan tới bà. Tuy nhiên do tính lì lợm và kỳ cục nên bà không để hở mảy may đầu óc cho sự tưởng tượng và không ai biết bà đang suy nghĩ gì. Bà cũng có thái độ, tài năng không thể tưởng tượng được: trong một cuộc nói chuyện, không khi nào bà nói quá bốn từ hoặc kết thúc một cuộc cãi cọ nảy lửa chỉ bằng một từ đơn âm rất khô khan. Tuy nhiên những bạn học và những người cùng làm việc với bà không biết rõ sự vụng về của bà trong công việc nội trợ, họ hiểu bà như một người lao động thông minh, ngăn nắp, luôn có sự thanh thản lạ thường. Tính lơ đễnh của bà hình như do cố tình. Bà hay nổi nóng trước vấn đề dễ dàng và chịu nhẫn nhục khi thấy lý lẽ của mình bị đuối, bà có cá tính vững vàng; chừng mực, có tính hài hước và giễu cợt.

Tổng thống Virgilio Barco phải thừa nhận vài mặt có ích của tính bí hiểm của Pardo và tính thích làm những việc mạo hiểm của ông, vì thế tổng thống đã trao cho ông đảm nhận việc đàm phán với du kích và những kế hoạch phục hồi trong những hiệp ước hòa bình với tổ chức du kích M-19. Tổng thống Gaviria thường trao đổi với ông những bí mật quốc gia và những sự im lặng khó dò xét, ngoài ra còn trút lên đầu ông trách nhiệm an ninh và hỗn loạn nhất thế giới. Parlo nhận nhiệm vụ, tất cả văn phòng của ông chỉ đặt trong một chiếc cặp và trong hai tuần lễ nữa ông phải xin phép được sử dụng hố xí và điện thoại của một văn phòng khác. Nhưng tổng thống thường xuyên tham khảo ý kiến ông về bất kỳ vấn đề nào và lắng nghe ý kiến ông với sự chú ý đặt biệt trong những cuộc họp rất khó khăn. Một buổi chiều ông ở lại văn phòng tổng thống. Tổng thống hỏi ông:

- Rafael, anh hãy cho tôi biết ý kiến - anh có nghĩ rằng có tên ma túy nào sắp tới sẽ ra trình diện trước công lý không, và chúng ta với lý do nào để xét xử và bỏ tù chúng?

Đó chính là thực chất của vấn dề - những kẻ khủng bố bị cảnh sát truy lùng nên quyết định không ra đầu thú, vì không có gì đảm bảo an ninh cho bản thân chúng và gia đình chúng, còn Nhà nước, về phần mình không có đủ chứng cứ để buộc tội họ nếu như bắt được họ. Ý tưởng tìm ra một phương thức pháp lý để buộc họ phải nhận tội, để đổi lại thì nhà nước phải đảm bảo an toàn cho bản thân họ và gia đình họ. Rafael Pardo đã suy nghĩ về vấn đề này từ thời chính phủ trước, còn lưu giữ một số bản ghi chép đang bị lẫn trong vali khi Gaviria hỏi ông về vấn đề này. Đúng thế, đó là một nguyên tắc của giải pháp: ai ra đầu thú sẽ được giảm án,nếu kẻ phạm tội ra đầu thú sẽ xét xử, trường hợp khác sẽ được giảm án nếu nộp cho nhà nước tài sản và một số tiền. Đó là tất cả, nhưng tổng thống đã thoáng thấy điều đó, vậy là hai người có ý kiến trùng hợp về một chiến lược là không có chiến tranh mà cũng không có hòa bình, mà là công lý và bát bỏ những lập luận của chủ nghĩa khủng bố đòi hỏi sự răn đe cần thiết của sự dẫn độ.

Tổng thống Gaviria đề nghị điều đó với Bộ trưởng Tư pháp của mình là Jaime Giraldo Angel. Ông này hiểu được ý tổng thống ngay lập tức, vì đã từ lâu chính ông cũng đã suy nghĩ tìm cách giải quyết nạn ma túy bằng con đường pháp luật. Ngoài ra, cả hai đều chủ trương việc dẫn độ như một công cụ để buộc chúng phải đầu hàng.

Giraldo Angel, với vẻ đãng trí của một nhà thông thái đã giải thích rõ ràng bằng miệng một cách khéo léo, chấm dứt cách nói vòng vo, những ý nghĩ của ông và của một số người khác đã được quy định trong bộ luật hình sự. Giữa ngày thứ bảy và chủ nhật ông đã chấp bút bản dự thảo đầu tiên trên chiếc máy tính xách tay của ký giả, đầu giờ thứ hai ông đã đưa trình tổng thống khi nó hãy còn những vết xóa và những bổ sung trong tay. Đầu đề bản dự thảo viết bằng bút mực trên đầu trang, phôi thai một văn hiện có tính lịch sử: sự phục tùng pháp luật.

Gaviria xem xét rất tỷ mỉ bản dự thảo của Giraldo, nhưng chưa đem ra thảo luận tại Hội đồng Bộ trưởng cho tới khi nào chưa thật chắc chắn là nó sẽ được thông qua. Ông đã cùng Giraldo Angel và Pardo nghiên cứu kỹ lưỡng bản dự thảo, dù không phải là luật sư, nhưng những ý kiến của ông luôn chính xác. Sau đó bản dự thảo tiên tiến nhất được gửi tới Hội đồng an ninh, tại đó Giraldo Angel được sự ủng hộ của tướng Oscar Botero, Bộ trưởng Quốc phòng và Carlos Maruja Escobar, Giám đốc trung tâm giáo dục phạm nhân, một luật sư trẻ có tài, người đảm nhận việc điều hành sắc luật này trong thực tế.

Tướng Maza Marquéz không phản đối bản dự thảo, mặc dầu ông cho rằng cuộc đấu tranh chống các-ten Medellin bằng bất kỳ công thức nào cũng bằng vô ích, ngoài chiến tranh. “Đất nước này không được yên - ông thường nói - khi nào Escobar chưa bị diệt”. Vậy ông tin rằng Escobar chỉ ra trình diện để tiếp tục buôn bán ma túy từ nhà tù dưới sự che chở của chính phủ.

Bản dự án đã được trình bày trước Hội đồng bộ trưởng với sự xác định rằng không nên đặt vấn đề về một cuộc thương lượng với chủ nghĩa khủng bố để loại trừ một hiểm họa cho nhân loại, mà những người chịu trách nhiệm đầu tiên là những nước tiêu thụ ma túy. Ngược lại: Hãy dành cho chúng một hành lang pháp lý đi đến sự dẫn độ trong cuộc đấu tranh chống bọn ma túy, bao gồm cả việc không dẫn độ như là một phần thưởng lớn nhất có tác dụng cổ vũ, đảm bảo cho những ai ra đầu thú trước công lý.

Một trong những cuộc tranh luận quan trọng về thời hạn cuối cùng cho những kẻ phạm tội mà những thẩm phán cần phải quan tâm. Điều đó có ý nghĩa là không bao che cho bất kỳ kẻ phạm tội nào tái phạm sau ngày ban hành sắc luật. Fabio Villegas là Bí thư phủ tổng thống là người phản đối mạnh mẽ nhất việc giới hạn thời gian, ông dựa trên một lập luận rất mạnh mẽ: khi hết hạn đối với bọn tội phạm được tha thứ, như vậy chính phủ sẽ không còn giải pháp nào.

Tuy nhiên, đa số nhất trí với ý kiến của tổng thống rằng trước mắt không nên đi quá xa với thời hạn đã định, sợ rằng nó sẽ trở thành một vật co giãn để bọn phạm tội tiếp tục phạm tội cho tới khi chúng quyết định ra trình diện.

Để đề phòng cho chính phủ bất kỳ sự ngờ vực nào vế cuộc đàm phán bất hợp pháp hoặc không xứng đáng, Gaviria và Giraldo đã thỏa thuận khi chưa nhận được bất kỳ sự trả lợi trực tiếp nào của bọn ma túy thì trong quá trình xét xử cũng không nên đàm phán với chúng hoặc bất kỳ ai. Tức là không đàm phán về những vấn đề có tính nguyên tắc, mà chỉ đàm phán vế việc thực hiện sắc lệnh. Giám đốc cơ quan cải tạo phạm nhân không phụ thuộc vào cơ quan hành pháp mà cũng phải do chính phủ đế cử - sẽ là người chính thức đảm nhiệm bất kỳ cuộc tiếp xúc nào với bọn ma túy hoặc đại diện hợp pháp của chúng. Tất cả nội dung những cuộc trao đổi phải được ghi chép rõ ràng bằng giấy tờ. Bản dự thảo sắc luật được thảo luận rất cẩn thận và sôi nổi, bí mật chưa từng có ở Colombia, và được thông qua ngày 5-9-1990. Đó là sắc luật số 2047 về tình trạng giới nghiêm: những ai ra trình diện và thú tội sẽ được hưởng lợi ích chủ yếu là không bị dẫn độ, ngoài ra, những ai nhận hợp tác với công lý sẽ được giảm án tới một phần ba do trình diện và thú tội và thêm một phần sáu do hợp tác với pháp luật và tố cáo đồng bọn. Tổng cộng được giảm tới một nửa án đối với một hoắc nhiều kẻ phạm tội.

Đó là công lý được thể hiện một cách đơn giản và rõ ràng: cái giá treo cổ và cái gậy. Chính hội đồng bộ trưởng đã ký vào bản sắc luật cũng đã bác bỏ ba cuộc dẫn độ và thông qua ba cuộc dẫn độ khác như một bản thông báo công khai trước dư luận công chúng rằng chính phủ mới chỉ từ bỏ việc dẫn độ như một quyền lọi chủ yếu của sắc luật.

Thức tế, hơn là một sắc luật riêng lẻ, mà đó là một chính sách của tổng thống được xác định rõ ràng đối với cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa khủng bố nói chung và bọ buôn bán ma túy nói riêng, đồng thời cũng là một sắc luật chống những trường hợp thường phạm khác. Tướng Maza Márquez không phát biểu trong hội đồng an ninh về điều mà thực tế ông đã suy nghĩ về sắc luật, nhưng vài năm sau, trong chiến dịch vận động tranh cử của ông, ông đã lên tiếng công kích sắc luật đó đã làm mất đi tính nghiêm túc của công lý và là “một sự lừa dối trong thời kỳ đó”. Và sắc luật đã phá hủy sự tôn trọng lịch sử về quyền hình sự.

Con đường rất dài và phức tạp. Theo sự đòi hỏi của công lý xã hội, những kẻ bị dẫn độ như Pablo Escobar ngay lập tức chống lại sắc luật này, mặc dầu cánh cửa vẫn để hé để tiếp tục đấu tranh. Hắn chống lại vì đạo luật đã không nói rõ ràng và dứt khoát là không bị dẫn độ, cũng có ý kiến cho rằng cũng nên xem bọn ma túy như tội phạm chính trị, và cũng nên đối xử với chúng như đã đối xử với những du kích của M-19, đã được ân xá và thừa nhận họ như một đảng chính trị. Một trong những thành viên của bọn ma túy là Bộ trưởng y tế, tất cả được tham gia chiến dịch bấu cử quốc hội. Một trong những lo lắng khác của bọn ma túy là có một nhà tù chắc chắn đủ đảm bảo chắc chắn cho những kẽ bị giam và đảm bảo tính mệnh cho gia đình và đồng bọn của chúng.

Cũng có ý kiến khác cho rằng chính phủ ban hành sắc luật này là mộ sự nhượng bộ đối với bọn ma túy do áp lực của gia đình của những người bị bắt cóc. Thực tế, bản dự thảo được soạn từ trước khi xảy ra vụ bắc cóc Diana, và đã được công bố khi bọn buôn bán ma túy xiết chặt chiếc vít bằng những vụ bắt cóc Francisco Santos và Marina Montoya xảy ra gần như cùng một thời gian. Sau đó khi 8 con tin không đủ để chúng đạt được những điều mà chúng muốn, chúng lại bắt cóc thêm Maruja Pachon và Beatriz Villamizar. Ở đây có con số ào thuật: 9 nhà báo. Ngoài ra, người em gái của một nhà chính trị chạy trốn pháp luật, là người thân của Escobar, đã bị kết án trước. Rõ ràng là, trước khi sắc luật có hiệu lực, tổng thống Gaviria bắt đầu trở thành nạn nhân của chính cái mà ông đặt ra.

Cũng như cha mình, Diana Turbay Quintero là người có nhiều ham muốn quyền lực và khả năng lãnh đạo đã tác động tới cuộc đời bà. Bà đã trưởng thành giữa những nhân vật chính trị lớn, và từ nhỏ bà đã không thoát khỏi ảnh hưởng của cái thế giới này. “Diana là một người của nhà nước, tôi hiểu bà và tôi cũng mong muốn bà như thế - một người bạn gái của Diana nói. Sự quan tâm lớn nhất của đời bà là ý nguyện phục vụ đất nước”. Nhưng quyền lực cũng như tình yêu, giống như con dao hai lưỡi; quyền điều hành và sự chịu đựng. Thời gian nảy sinh một trạng thái bay bổng thuần túy, đồng thời cũng đẻ ra nhiều trái ngược: sự tìm kiếm một niềm hạnh phúc không thể kìm hãm được và thoáng qua, chỉ có thể so sánh với sự tìm kiếm một tình yêu lý tưởng hóa, khát khao nhưng lại sợ hãi, luôn theo đuổi nhưng không khi nào đạt được. Diana bị dày vò với một khát vọng vô tận muốn biết tất cả, muốn có mặt ở khắp mọi nơi, muốn phát hiện ra vì sao và như thế nào, muốn biết về ý nghĩa của cuộc đời.

Một số người cố gắng muốn tiếp cận với bà để tìm hiểu những nỗi lo lắng và hoài nghi của trái tim bà. Họ nghĩ rằng, rất ít khi bà được sống hạnh phúc. Không thể nào biết nếu như không hỏi bà về những điều đó, hai lưỡi dao của quyền lực đã gây cho bà những vết thương đau đớn nhất. Bà cảm thấy điều đó bằng chính da thịt mình, khi bà là thư ký riêng và là cánh tay phải của chính bố mình. Khí đó bà mới 28 tuổi, bị mắc kẹt giữa hai ngọn gió ngược chiều của chính quyền. Rất nhiều bạn bè đã nói rằng, bà là một trong số những người thông minh nhất mà họ được biết. Bà luôn có một lượng thông tin to lớn, đáng tin cậy và một khả năng phân tích đáng ngạc nhiên và năng lực cảm nhận tuyệt vời có thể đoán biết cả ý định thứ ba của mọi người. Những kẻ thù của bà đã nói không úp mở rằng bà là một mầm mống của sự rối loạn sau cung đình. Trái lại, một số người khác lại nghĩ rằng bà là người không quan tâm tới số phận của chính mình vì quá nhiệt tình giữ gìn số phận của cha là trên hết và chống lại tất cả, bà có thể là công cụ của những quan tòa và những kẻ xu nịnh.

Bà sinh ngày 8-3-1950, dưới sự hộ mệnh của chòm sao Thiên Ngư, khi cha bà đã xếp hàng chờ đến lượt làm tổng thống nước công hòa. Bà là một người có khả năng lãnh đạo bẩm sinh ở bất cứ nơi nào: ở Trường trung học Andino của thủ đô Bogota, ở trường Sacret Heart, New York và ở trường đại học Santo Tomas de Anquino, cũng ở Botoga, nơi bà đã tốt nghiệp khoa luật, không đợi lĩnh bằng.

Bà đến với nghề báo chí muộn nhưng may mắn, đó là quyền lực không có ngai, vì đối với bà đó là cuộc tái ngộ với cái tốt nhất ở chính mình. Bà thành lập tạp chí Hoy. Hoy và đài truyền hình Criton như là một con đường thẳng nhất để làm việc vì hòa bình “Tôi không thích và đã vượt qua sự đấu đá với bất kỳ ai, tôi cũng không có nhiệt tình để cãi cọ với bất kỳ ai” - bà nói. Tôi hoàn toàn có thái độ hòa hợp. Do đó, bà đã ngồi đàm phán với Carlos Pizarro, Tư lệnh của tổ chức du kích M-19, người đã phóng một tên lửa suýt nữa thì trúng căn phòng nơi tổng thống Turbay, cha bà đang ở, một người bạn đã kể lại chuyện đó đến chết cười. “Diana hiểu phát tên lửa đó như là một nước cờ chứ không phải là một cú đấm của một võ sĩ quyền Anh chống lại thế giới”.

Việc bắt cóc bà xảy ra gần như là một chuyện tất yếu, ngoài ý nghĩa con người, bà còn có một sức nặng chính trị khó điều khiển. Ngài cựu tổng thống Turbay đã nói riêng và nói công khai rằng không có tin tức gì từ bọn ma túy, chứng tỏ rằng ông rất khôn ngoan trong khi chưa biết rõ ý đồ của bọn chúng là gì, nhưng sự thật sau khi Francisco Santos bị bắt cóc đã nhận được một bức thư của chúng. Ông đã thông báo tin đó ngay cho Hernando Santos, cũng nhanh như ông bay từ Italia trở về, ông đã mời Hernando tới nhà để thảo luận về một hành động chung. Santos gặp ông dưới ánh sáng lù mù trong thư viện rộng lớn của ông. Ông bị choáng váng vì tin chắc chắn rằng Diana và Francisco sẽ bi hành quyết. Điều làm ông xúc động nhất, như tất cả mọi người đều thấy ở Turbay vào thời kỳ này là mặc dầu bị đè nặng bởi nỗi bất hạnh nhưng ông vẫn chú ý giữ gìn phẩm giá.

Bức thư gửi cho hai người gồm 3 trang viết tay theo keiuer chữ in, không có chữ ký, với lời mở đầu rất đáng ngạc nhiên: “hãy nhận từ chúng tôi – những người buôn bán ma túy lời chào trân trọng”. Điều duy nhất không thể nghi ngờ về tính xác thực của bức thư là do văn phong chính xác, trực tiếp không thể nhầm lẫn của Pablo Escobar. Đầu tiên là sự thừa nhận việc bắt cóc hai nhà báo và những người bi bắt cóc” đều mạnh khỏe, song trong điều kiện tốt ở nơi giam giữ, có thể xem là bình thường”.

Phần còn lại của bức thư là những lời nguyền rủa sự ngược đãi của cảnh sát, cuối cùng nêu ra ba điều thiết yếu để giải phóng cho những con tin: phải chấm dứt hoàn toàn những cuộc hành quân chống bọn chúng ở Medellin và Bogota’ rút đội quân đặc nhiệm, tức là đơn vị đặc biệt của cảnh sát chống bọn buôn bán ma túy; thay viên chỉ huy trưởng và 20 sĩ quan khác là những kẻ đã gây ra những vụ tra tấn và giết hại khoảng 400 thanh niên trong một làng ở phía Bắc Medellin. Nếu không thực hiện những điều kiện kể trên, những người buôn bán ma túy sẽ phát động một cuộc chiến tranh hủy diệt trong phạm vi cả nước, với những vụ đánh bom ở những thành phó lớn, giết chết những quan tòa, những nhà chính trị và các nhà báo. Bức thư kết luận: “Nếu xảy ra cuộc đảo chính quân sự, chúng tôi rất hoan nghênh. Chúng tôi chẳng có gì để mất.”

Cần trả lời bằng văn bản chứ không bằng đối thoại, và cần phải trả lời trong thời hạn ba ngày tại khách sạn Intercontinental ở Medellin, nơi có một phòng dành riêng cho Hernando Santos. Những người trung gian cho những cuộc tiếp xúc tiếp theo sẽ do chính những người có thể bị dẫn độ chỉ định.

Ông hernando Santos chấp nhận đề nghị của Turbay là không phổ biến nội dung bức thư cho bất kỳ ai trong khi chưa có tin tức chắc chắn: “Chúng ta không thể xuất hiện để chuyển lời nhắn chẳng của ai cả gửi tổng thống- Turbay kết luận – không nên đi quá xa cái mà phẩm giá cho phép chúng ta”.

Ông Turbay đề nghị với Santos: mỗi người nên viết một bức thư trả lời riêng, sau đó sẽ hợp thành một bức thư chung. Hai người đã làm như vậy kết quả là, về thực chất là có một bản tuyên bố nghiêm túc nói rõ họ không có quyền gì mà can thiệp vào những công việc của chính phủ, nhưng sẵn sang nêu ra sự vi phạm pháp luật và nhân quyền mà những tên buôn bán ma túy đã tố cáo cảnh sát với những bằng chứng rõ ràng. Còn về những cuộc truy lùng của cảnh sát, trong thư trả lời có lưu ý rằng họ không có bất kỳ quyền nào để ngăn cản cảnh sát làm việc đó, mà cũng không thể đòi việc thay thế 20 sĩ quan bị buộc tội, một khi không có những bằng chứng, mà họ cũng không thể viết báo tố cáo những việc làm của cảnh sát khi không có những bằng chứng cụ thể

Aldo Buenaventura, một công chức, người rất thích xem đấu bò tót từ khi còn là học sinh quốc học Zipaquira, bạn cũ của Hernando Santos được ông tuyệt đối tin tưởng đã mang bức thư trả lời. Ông gọi điện thoại đến phòng số 308 dành riêng ở khách sạn Intercontinental:

- Có phải ngài là Santos?

- Không – Aldo trả lời, nhưng tôi thay mặt ông ta tới đây

- Thế ông có mang cho chúng tôi bức thư trả lời không?

Tiếng nói vang lên rất khác biệt, khiến Aldo hỏi đích thực ngài là Pablo Escobar ? có tiếng trả lời là phải. Hai thanh niên ăn mặc sang trọng và rất mốt lên phòng. Aldo trao cho họ bức thư. Họ xiết chặt tay Aldo với lời chào rất lịch sự rồi đi khỏi khách sạn.

Trước đó một tuần lễ Turbay và Santos tiếp luật sư Gui Parra Montoya, người tỉnh Antioquia, với một bức thư mới của bọn ma túy. Trong giới chính trị ở Bogota, Parra là người vô danh tiểu tốt, hình như là một con người luôn hoạt động trong bong tối. Ông 48 tuổi, đã hai lần tham gia nghị viện, đại diện cho Đảng Tự Do, và một lần là đại diện của Liên Minh nhân dân toàn quốc, tổ chức tiền bối của M-19. Ông đã từng là cố vấn pháp lý của dinh tổng thống nước cộng hòa, thời tổng thống Carlos Llera- Restrepo. Tại Medellin, nơi ông hành nghề luật sư từ tuổi thanh niên, ngày 10-5-1990 ông bị bắt vì nghi có dính líu với bọn khủng bố, nhưng hai tuần sau ông được trả lại tự do vì không có bằng chứng. Mặc dù vậy, và những vấp váp khác, ông vẫn được xem là một luật sư uyên bác và có tài thương lượng.

Tuy nhiên, vì là đặc phái viên bí mật của bọn ma túy, nên ông khó hình dung ra người nào đó có những biểu hiện bề ngoài đáng chú ý. Ông là người rất coi trọng những tấm huân chương. Ông luôn mặc bộ đồng phục mầu xám bạc, bộ đồng phục của những nhân viên hành pháp thời bấy giờ, với chiếc áo sơ mi mầu sắc rực rỡ, thắt cà vạt mầu tươi trẻ, nơ to, kiểu Italia. Ông có phong thái rất trịnh trọng và lời nói hoa mỹ, khiến ông là người đáng yêu hơn là người lịch sự. nếu để phục vụ hai ông cùng một thời gian, mà yêu cầu ông chết, ông cũng sẵn sàng chết, với sự hiện diện của một vị cựu tổng thống và ngài chủ bút của một tờ báo quan trọng nhất đất nước đã làm cho ông thêm hùng biện. “Kính thưa tiến sĩ Turbay, kính thưa bác sĩ Santos, các ông hãy trao phó ở nơi tôi những gì mà các ngài muốn”. – Ông nói. Trong công việc này nếu phạm một sơ suất nhỏ có thể mất mạng như chơi

- Tôi là luật sư của chính Palbo Escobar

Hernando liền chớp lấy sai lầm này, hỏi:

- Vậy thì bức thư mà ông mang tới cho tôi chính là bức thư của Escobar?

- Không – Guido Parra cải chính, không chớp mắt: bức thư đó là của những người buôn ma túy, nhưng thư trả lời của các ông thì cần phải gửi cho Escobar vì ông ta có tác động quyết định tới cuộc đàm phán.

Sự khác nhau này là quan trọng, vì cá nhân Escobar không để lại một bằng chứng nào trước pháp luật. Trong những bức thư có thể nêu ra những hứa hẹn, chẳng hạn như những cuộc đàm phán về những vụ bắt cóc, chữ viết phải viết theo kiểu chữ in, có thể giải mã được, với những chữ ký của những người buôn bán ma túy hoặc với bất kỳ tên thông thường nào như Manuel, Gabriel, Antonio…

Trái lại, những người có thể sẽ bị buộc tội thì chữ viết phải rõ rang, tự nhiên như chữ của học sinh, và không chỉ ký với họ và tên của mình, mà còn phải lấy dấu vân tay của ngón tay cái

Trong thời gian xẩy ra những vụ bắt cóc, các nhà báo có lý do để nghi ngờ về sự tồn tại của những người bị bắt cóc. Có thể những tên buôn bán ma túy ký trong thư không phải là ai khác mà chỉ là bí danh của Escobar, nhưng cũng có thể ngược lại, chỉ là một lời cầu khẩn của những tên có thể bị dẫn độ.

Guido Parra hình như lúc nào cũng sẵn sàng để đi tới đó theo sự đề nghị viết tay của bọn ma túy, nhưng phải đọc bức thư đó bằng kính lúp. Điều mà ông tìm kiếm cho khách hang của mình là một sự đối xử tương tự như đã đối xử với những tổ chức du kích. Ngoài ra, ông còn nêu vấn đề cần quốc tế hóa vấn đề buôn bán ma túy với đề nghị cần đưa ra thảo luận tại LIên Hiệp Quốc.

Tuy nhiên, trước sự phủ định kiên quyết của Turbay và Santos nên họ đã nêu ra một vài công thức khác nhau. Như vậy dã bắt đầu một quá trình thương lượng lâu dài, đầy khó khăn, cuối cùng bị sa lầy vào một ngõ cụt không có lối ra. Từ bản thong báo thứ hai, Santos và Turbay đã tiến hành những cuộc tiếp xúc cá nhân với tổng thống.

Tổng thống Gaviria đã tiếp hai người vào hồi tám giờ rưỡi tối ngày tại cửa thư viện riêng của ông. Ông bình tĩnh hơn thường lệ, ông muốn biết tin tức mới về những con tin. Turbay và Santos cho ông biết về hai bức thư trao đổi gần đây và vai trò trung gian của Guido parra.

- Đã chọn người trung gian sai lầm – Tổng thống nói. Guido là người thong minh, một luật sư giỏi, nhưng là con người cực kỳ nguy hiểm. Nhưng ông ta được sự ủng hộ hết mình của Escobar. Ông chăm chú đọc những bức thư, làm cho người ta có ấn tượng rằng khi đó ông không thấy gì khác. Những lời bình luận của ông đã sẵn sàng và hoàn hảo, khi kết thúc cuộc gặp gỡ, với những lời dự đoán không thừa một lời. ông nói không có đội trinh sát nào có tin tức về nơi giam giữ những con tin. Như vậy, điều mới đối với tổng thống là sự khẳng định những con tin nằm trong tay Palo Escobar.

Ngay trong đêm ấy, Gaviria đã thể hiện sự khôn khéo của mình khi nêu ra sự ngờ vực trước khi đưa ra quyết định cuối cùng. Ông tin những bức thư ấy có thể là những bức thư giả, rằng Guido Parra đang chơi một trò chơi xa lạ, kể cả khả năng đó là một trò chơi của một người nào đó chẳng có liên quan gì với Escobar. Những người đối thoại với tổng thống tối hôm đó ra về kém phấn khởi hơn so với lúc mới tới, vậy bề ngoài tổng thống xem trường hợp này là một vấn đề nghiêm trọng của Nhà Nước, có rất ít chỗ cho những tình cảm của cá nhân ông.

Khó khăn chủ yếu để đi đến một thỏa thuận là Escobar sẽ thay đổi những điều kiện theo sự tiến triển của hắn ta để trì hoãn việc thả những con tin với hy vọng đạt thêm lợi thế và bất ngờ, trong khi quốc hội tuyên bố về sự dẫn độ và cũng có thể cả về quyền miễn giảm. điều đó chưa khi nào thể hiện rõ rang như bức thư mà Escobar đã biện hộ một cách rất khôn khéo với những hân nhân của những người bị bắt cóc. Nhưng đúng là người ta giữ kín điều đó với Guido Parra để thong báo cho ông ta về sự vận động chiến lược và những triển vọng lâu dài của cuộc đàm phán. “Tốt hơn là anh nên truyền đạt tất cả những lo lắng tới Santos để ông ta không làm rắc rối chúng ta hơn nữa – ông viết trong một bức thư. Điều đó phải được viết ra rõ rang thì sẽ không có trường hợp nào bị dẫn độ, vì bất kỳ tội gì và không dẫn độ tới bất kỳ nước nào. Ông cũng đòi hỏi sự chính xác trong bản thú tội khi ra đầu thú. Hai điểm cơ bản là sự canh gác trong nhà tù đặc biệt và sự an ninh cho đồng bọn và gia đình họ.

Tình bạn giữa Hernando Santos và cự tổng thống Turbay luôn dựa trên một cơ sở chính trị, nay trở thành mối quan hệ cá nhân than thiết. Hai người có thể ngồi đối diện nhau hang giờ nhưng tuyệt đối im lặng, không nói với nhau lời nào, nhưng không có ngày nào là hai người không nói chuyện với nhau qua điện thoại về những ấn tượng thân thiết, những giả định bí mật, những tin tức mới. Hai người đã thỏa thuận với nhau về một mật mã để trao đổi với nhau những tin tức tuyệt mật. Đó không phải là việc dễ dàng. Hernando Santos là người có tinh thần trách nhiệm đặc biệt, theo ông chỉ một lời nói có thể cứu vãn hoặc giết chết một mạng người, ông là người rất tình cảm, dễ xúc động với một ý thức bộ lạc có sức nặng trong mọi quyết định của ông. Những ai đã chung sống với ông trong những ngày con trai ông bị bắt cóc đều sợ rằng ông không thể sống qua được vì quá đau đớn. Có những đêm ông hoàn toàn không ăn, không ngủ luôn để chiếc điện thoại trong tầm tay và giật nảy mình mỗi khi tiếng chuông đầu tiên réo. Trong những tháng đau khổ ấy rất ít khi ông sống chan hòa với mọi người, ông theo một chương trình điều trị bệnh tâm thần để có thể chịu đựng được nếu xẩy ra cái chết của con trai ông, điều mà ông tin là không tránh khỏi, ông chỉ sống ẩn náu trong phòng làm việc, ông giết thời gian bằng cách xem lại bộ sưu tập tem tuyệt vời của ông và đọc những bức thư bị cháy dở trong một tai nạn máy bay. Vợ ông, bà Elene Calderon, mẹ của 7 người con, đã mất bẩy năm trước đó, nay ông sống rất cô đơn. Bệnh tim và bệnh đau mắt của ông mỗi ngày một nặng, không có sự cố gắng nào để nến nỗi đau thương. Thái độ gương mẫu của ông trong những ngày bi thảm là vẫn duy trì được tờ báo bên bờ của tấn thảm kịch cá nhân.

Một trong những cột trụ chính chống đỡ ông trong thời kỳ cay đắng đó là Maria Victoria, con dâu ông.

Kỷ niệm đối với Maria là, sau khi xẩy ra vụ bắt cóc nhà bà đầy người bà con và bạn bè của chồng bà tới hỏi thăm, uống rượu whisky, cà phe và nằm lăn trên những tấm thảm cho tới tận đêm khuya. Họ toàn nói những chuyện về chính mình, trong khi cú sốc do vụ bắt cóc và hình ảnh người bị bắt cóc cứ lu mờ dần.

Khi ông Hernando từ Italia về liền đi thẳng tới nhà của Maria Victoria, ông chào Maria với niềm xúc động mãnh liệt và nỗi đau xé long, nhưng khi cần bàn những việc bí mật về vụ bắt cóc thì bà đề nghị để bà được ở lại một mình cùng với các con. Maria Victoria là người có cá tính rất mạnh mẽ và những suy nghĩ chinh chắn luôn có ý thức về vai trò của mình trong một gia đình toàn đàn ông. Bà đã khóc đẫy một ngày nhưng thấy vững vàng hơn khi xác định được vai trò và vị trí của mình trong ngôi nhà riêng của bà.

Hernando không chỉ hiểu những lý lẽ của bà mà còn chỉ trích tính cẩu thả của bà và tìm thấy ở bà chỗ dựa vững chắc nhất trước nỗi bất hạnh. Từ đó hai cha con duy trì mối quan hệ mật thiết và tin tưởng lẫn nhau. Ngoài sự tiếp xúc trực tiếp, hang ngày còn giao dịch với nhau qua điện thoại, thư từ hoặc qua người trung gian, thậm chí đến cả thần giao cách cảm, hơn thế nữa trong những lời khuyên của những người thân cận nhất cũng đủ để tự xem xét mình để biết họ suy nghĩ va muốn nói với mình điều gì. Họ có những ý nghĩ tốt về bà, một trong số những ý nghĩ của bà là viết trên mặt báo những lời nhắn nhủ của tòa soạn để tìm cách chuyển tới Pacho những tin tức về cuộc sống gia đình.

Những nạn nhân được ít người nhắc tới là Liliana Rojas Arias, vợ của người quay phim Orlando Acevedo và Martha Lupe Rojas, mẹ của Richard Becerra. Mặc dầu họ không phải là những bạn gần, mà cũng không phải là người bà con, nhưng vụ bắt cóc đã khiến họ trở nên gần gũi với nhau. “Chúng tôi gần gũi nhau do có cùng nỗi đau đớn” – Liliana nói.

Trong khi Liliana đang cho Erick Yeset, đứa con trai một tuổi rưỡi bú thì đài tivi Cripton đưa tin: tất cả ê kíp của Diana Turbay bị bắt cóc. Chị 24 tuổi, mới lấy chồng trước đó ba năm, sống ở tầng hai trong ngôi nhà của bố mẹ chồng, khu San Andres,. Phía nam thủ đô Bogota. “Đó là một cô gái vui tính – một người bạn gái của chị nói – thật không nên xẩy ra một tin xấu như vậy đối với chị”.

Ngoài vui tính là bản chất của chị, khi qua cú sốc đầu tiên, chị đặt đứa con trước chiếc vô tuyến trong giờ đưa tin thời sự để nó nhìn thấy cha nó, chị cứ tiếp tục làm như thế cho tới khi nào chấm dứt việc bắt cóc.

Cả chị cũng như bà Martha Lupe được đài truyền hình cho biết là họ sẽ được giúp đỡ, khi nào con của LIliana bị ốm thì họ sẽ giúp đỡ mọi khoản chi tiêu. Cả Nydia Quintero cũng gọi điện để trấn an chị, tiếp thêm cho chị sự bình tĩnh, mà chưa khi nào chị có. Bà đã hứa với chị rằng, bà sẽ vận động chính phủ không chỉ vì mình con gái bà mà vì tất cả ê-kíp, bà sẽ thong báo cho chị biết bất kỳ tin tức nào mà bà có về những người bị bắt cóc. Bà đã làm đúng như vậy.

Martha Lupe sống cùng hai cô con gái, khi đó mới 14 tuổi và 11 tuổi, hoàn toàn sống phụ thuộc vào Richard, khi đi với nhóm của Diana anh có nhắn lại rằng chuyến đi “chỉ kéo dài trong 3 ngày”, chính vì thế mà sau tuần lễ đầu tiên vẫn chưa thấy Richard trở về, bà bắt đầu lo lắng.

Chị không tin đó mà một linh tính, nhưng đúng như vậy. Khi ra đi anh có dặn cần gọi điện tới đài truyền hình vào bất kỳ giờ nào để hỏi tin tức cho tới khi nào biết là đã có chuyện gì xảy ra.

Từ đó đài truyền hình làm việc suốt cả ngày, chờ đợi họ trở về, và chị đã gọi điện cho đài truyền hình mỗi khi trái tim chị thúc dục. Chị lo lắng và suy nghĩ rằng trong số con cái của những người bị bắt cóc thì con của chị là những đứa trẻ bị bỏ rơi nhất.

“Tôi chẳng có thể làm được gì khác, ngoài khóc và cầu nguyện”- chị nói.

Nydia Quintero cố ra sức thuyết phục chị, rằng còn rất nhiều việc cần phải làm để giải phóng cho những người bị bắt cóc. Họ mời chị tham dự những cuộc họp công cộng và tôn giáo, nhắc nhở chị phải giữ vững tinh thần đấu tranh. Liliana cũng suy nghĩ như vậy về Orlando và anh có thể bị bỏ rơi và một trong hai trường hợp: hoặc anh là người có thể bị hành quyết cuối cùng và anh la người ít quan trọng, hoặc anh là người có thể bị hành quyết đầu tiên, có thể gây ra sự xúc động mạnh mẽ trong nhân dân, nhưng ít gây hậu quả nghiêm trọng cho bọn bắt cóc. Ý nghĩ này làm bà chìm trong tiếng khóc không thể chống đỡ nổi, kéo dài suốt thời gian từ khi xẩy ra vụ bắt cóc..

“Tất cả các đêm, sau khi ru đứa con ngủ, tôi ngồi một mình, ngồi khóc nhưng mắt vẫn nhìn ra cửa đợi chồng trở về”, bà nói. “Tôi cứ tiếp tục như vậy, hết đêm này đến đêm khác cho tới khi nào tôi được gặp lại chồng tôi”.

Đến giữa tháng 10, tiến sĩ Turbay gọi điện chuyển cho Hernando Santos một trong số những bức thư đã được giải mã theo cốt riêng. “Tôi có một số tờ báo rất hay nếu như ông thích xem đấu bò tót. Nếu ông muốn xem thì tôi sẽ gửi cho ông”. Hernando hiểu ngay đó là một tin tức quan trọng về những người bị bắt cóc. Tất nhiên ông tới ngay nhà ông Turbay ở Monteria, với bằng chứng là Diana và những người trong ê-kíp của bà vẫn còn sống mà gia đình đã thiết tha yêu cầu từ trước đó vài tuần. Tiếng nói không thể nhầm lẫn của Diana: “Cha kính mến, trong hoàn cảnh như hiện nay, con rất khó mà có thể gửi tới cha những lời này, nhưng sau rất nhiều lần đề nghị, cuối cùng họ đã giúp đỡ con”. Chỉ gói gọn trong một câu nhưng đã chỉ ra phương hướng cho những hành động trong tương lai: con vẫn xem tivi và nghe tin tức thường xuyên của đài phát thanh”.

Tiến sĩ quyết định thong báo ngay với tổng thống tin tức này và cố gắng muốn có sự chỉ đạo mới nào đó. Tổng thống Gaviria đã tiếp hai ông vào cuối giờ làm việc, luôn luôn tại thư viện riêng của gia đình, ông thư giãn đôi chú trong một cuộc tán gẫu hiếm hoi. Ông đóng cửa, mời mọi người uống rượu Whisky và nói những chuyện chính trị bí mật, một cách thoai mái. Qua trình đầu thú của bọn ma túy hình như đang dẫm chân tại chỗ, do sự ngoan cố của bọn chúng. Ngài tổng thống sẵn sang tháo gỡ ách tắc này bằng cách làm sáng tỏ một vài điều về mặt pháp lý trong đạo luật gốc. Ông đã làm việc đó suốt cả buổi chiều, và tin rằng vấn đề có thể được giải quyết ngay chính đêm nay. Ông hứa sẽ đem lại tin tốt lành ngay ngày hôm sau. Theo như đã thỏa thuận, hôm khác họ lại gặp nhau với một người khác đáng ngờ và đen tối, mới nói chuyên với người này qua câu đầu tiên đã thấy đó là một cuộc nói chuyện không có triển vọng. “Đó là một thời điểm rất khó khăn- Gaviria nói với họ. Tôi muốn giúp đỡ các ông, tôi đã làm tất cả những gì có thể, nhưng tới một lúc không thể làm gì thêm”. Đó là cốt lõi về sự thay đổi của tổng thống. Ông Turbay liền nhận ra điều đó, khoảng 10 phút sau, ông đứng dậy, với vẻ bình tĩnh và trịnh trọng, ông nói:” Thưa ngài tổng thống, tôi nói không một chút hận thù – ngài đương hành động theo cương vị của ngài, còn chúng tôi hành động như những người cha trong gia đình. Tôi hiểu điều đó, xin ngài không nên làm điều gì có thể ảnh hưởng tới cương vị người đứng đầu nhà nước. Ông kết luận và chỉ tay về phía chiếc ghế tổng thống.

- Đúng, tôi ngồi trên chiếc ghế đó và tôi cũng hành động từ chiếc ghế đó.

Gaviria đứng dậy, người tái xanh vì xúc động, ông tiễn hai người với tận thang máy. Một người giúp việc cùng xuống thang máy với hai vị khách rồi ra mở cửa xe ô tô đậu ở phía sân sau nhà. Không ai nói gì cho tới khi ra khỏi vào một đêm của tháng mười mưa và buồn. Tiếng ồn ào của xe cộ ngoài đại lộ làm họ nhức óc, qua cửa kính bọc thếp của chiếc xe.

- Ở phía này chẳng có gì cần làm – Turbay thở dài sau một hồi lâu suy nghĩ. Giữa đêm qua và đêm nay đã xẩy ra chuyện gì đó mà tổng thống không thể nói với chúng ta. Sau cuộc nói chuyện đáng buồn đó với ngài tổng thống, ông quyết định Dona Nydia Quintero phải ra tay và xuất hiện ở hàng đầu. Bà đã từng là vợ của cựu tổng thống Turbay Ayala, chú bà, với ông bà đã có 4 người con, trong số đó Diana là con gái cả. Bẩy năm trước khi xảy ra vụ bắt cóc, mối tình của bà với cựu tổng thống đã bị tan vỡ, do Tòa Thánh, bà đã lấy đời chồng thứ hai là nghị sĩ dân chủ Gustavo Balcazar Monzon. Do kinh nghiệm đã từng là đệ nhất phu nhân, bà biết rõ những giới hạn của một cựu tổng thống, trước hết trong cách cư xử với người kế nhiệm mình. Điều duy nhất cần làm- bà Nydia nói – là làm sao để tổng thống thấy rõ nghĩa vụ và trách nhiệm của mình” Đó chính là điều bà muốn, dù không có nhiều ảo tưởng.

Hoạt động công khai của bà từ khi chưa công khai hóa vụ bắt cóc, đã đạt được quy mô to lớn không thể tưởng tượng được. Bà đã tổ chức chiếm lĩnh đài phát thanh và truyền hình trong cả nước bằng cách huy động những nhóm thiếu nhi tới đọc một bản kiến nghị yêu cầu phải trả lại tự do cho những con tin. Ngày 19-10, ngày hòa hợp dân tộc, bà đã vận động các nhà thờ ở các thành phố và các tỉnh tiến hành lễ cầu nguyện vào hồi 12 giờ trưa để cầu nguyện cho cuộc sống hòa hợp giữa những người Colombia với nhau. Tại Bogota bà đã tổ chức mít tinh tại quảng trường Simon Bolivar, cùng giờ với những cuộc diễu hành hòa bình cùng chiếc khăn màu trắng ở rất nhiều khu phố và đốt một ngọn đuốc thắp sáng liên tục cho tới khi nào những con tin bình yên vô sự trở về. Do sự vận động của bà, những bản tin của đài phát thanh và truyền hình bắt đầu truyền đi tên tuổi và những bức ảnh của tất cả những người bị bắt cóc, tính từng ngày họ bị giam giữ, sẽ bớt dần những bức ảnh của những con tin nếu họ được trả lại tự do. Cũng do sang kiến của bà, trước khi bắt đầu những trận đấu bóng đá trong cả nước, đều đọc bản kêu gọi trả lại tự do cho những người bị bắt cóc. Maribel Gutierrez, hoa hậu toàn quốc năm 1990, mở đầu bài phát biểu của mình bằng một lời kêu gọi đòi trả lại tự do cho những người bị bắt cóc.

Bà Nydia tham gia hội những thân nhân của những người bị bắt cóc. Bà đã bí mật vận động những luật sư, thong qua Hội đoàn kết vì Colombia, một tổ chức mà bà đã lãnh đạo trong 20 năm qua, nhưng bà luôn cảm thấy như mình đang di vòng quanh cõi hư vô. Bà đã làm quá sức đối với một người có đức tính kiên quyết, dễ xúc động, nhạy cảm nhưng lúc nào cũng sáng suốt như bà. Nhưng việc đòi trả lại tự do cho những con tin phụ thuộc vào cuộc vận động của tất cả cho tới khi bà nhận ra rằng tất cả đều ở trong một ngõ cụt không có lối ra. Chẳng phải Turbay, mà cũng chẳng phải Hernando Santos, chẳng có ai có đủ sức nặng để có thể gây áp lực với tổng thống để ông thương lượng với bọn bắt cóc. Sự khẳng định của bà gần như là rõ rang và dứt khoát, sau khi nghe tiến sĩ Turbay kể lại sự thất bại trong cuộc gặp gỡ tổng thống lần cuối cùng. Vậy thì bà phải ra tay hành động theo cách riêng của bà và bà đã mở mặt trận thứ hai bằng mọi cách để tìm kiếm tự do cho con gái mình theo một con đường thẳng.

Trong những ngày đó, Hội đoàn kết vì Colombia, tại văn phòng của mình ở thành phố Medellin nhận được một cú điện thoại nặc danh của một người nào đó nói rằng có những tin tức trực tiếp của Diana. Người này nói rằng một người bạn cũ của ông ta sống trong một trang trại gần Medellin đã nhét vào sọt rau của ông một mảnh giấy nói rằng Diana đang ở đó. Rằng trong lúc xem đá bong, những người canh gác những con tin đều chìm ngập trong bia, say túy lúy, nằm lăn lóc trên sàn nhà, không còn khả năng phản ứng nếu xẩy ra một cuộc tấn công chớp nhoáng để giải thoát con tin. Để đảm bảo chắc chắn cho cuộc hành quân, Diana còn gửi kèm theo cả bản sơ đồ trang trại này. Đó là một tin tức có sức thuyết phục khiến Nydia tới ngay Medellin để trả lời.

“Tôi đề nghị với người cung cấp tin đó – bà nói – không nên bà luận với bất kỳ ai, vì tin do ông ta cung cấp có thể gây ra mối nguy hiểm cho con gái tôi và cho cả những người canh gác, nếu nhu có ai đó định giải thoát cho những con tin “.

Tin tức về Diana đang ở Medellin đã làm cho ông Turbay và bà Nydia nẩy ra ý định tới thăm Martha Nieves và Angelito Ochoa em gái của Jorge Luis, Fabio và Juan David Ochoa, những người đã bị kết án vì tội buôn bán ma túy, làm giầu bất chính và được biết họ là những người bạn thân của Palo Escobar. “Tôi đi với mong muốn mãnh liệt được họ giúp đỡ cho tôi được tiếp xúc trực tiếp với Escobar” – Mấy năm sau Nydia đã kể lại như vậy khi nói tới những ngày cay đắng đó. Nhưng anh em nhà Ocha đã tố cáo với bà về sự hành hạ của cảnh sát đối với bản thân và gia đình họ. Bà chú ý lắng nghe và bầy tỏ sự thong cảm đối với trường hợp của họ, nhưng họ cũng nói với bà rằng họ không có thể làm gì với Pablo Escobar. Martha Nieves biết rằng việc bà muốn gặp Escobar có liên quan tới những người bị bắt cóc. Chính bà ta cũng bị M-19 bắt cóc vào năm 1981 để đòi gia đình phải chuộc bằng một số tiền rất lớn. Angelita, em gái bà cũng đã từng là một nạn nhân của bạo lực cảnh sát, của những cuộc khám xét nhà cửa, của những hành động vi phạm nhân quyền không sao kể xiết.

Nydia không nhụt chí, vẫn tiếp tục đấu tranh. Cuối cùng bà chỉ yêu cầu họ chuyển giúp một bức thư tới tận tay Escobar. Bà đã gửi bức thư đầu tiên cho con gái qua Guido parra, nhưng không có hồi âm. Anh em nhà Ochoa từ chối không nhận gửi giúp ba lá thư khác, sợ sau đó Escobar có thể kết án họ gây ra sự thiệt hại nào đó. Tuy nhiên, cuối cùng cuộc tiếp xúc được tiếp tục, họ thấy rõ nguyện vọng tha thiết của Nydia. Bà trở lại Bogota với long tin tưởng chắc chắn rằng cánh cửa đã hé mở với hai ý nghĩa: một là tiến tới việc giải thoát cho con gái bà, hai là ba anh em nhà Ochoa sẽ ra đầu thú một cách hòa bình. Bà thấy đó là một thời cơ thuận lợi để thông báo với tổng thống về cuộc vận động của bà.

Tổng thống đã vui vẻ tiếp bà. Nydia nói thẳng với tổng thống về những điều phàn nàn của anh em nhà Ochoa về sự ngược đãi của cảnh sát. Tổng thống chú ý lắng nghe bà nói, ông chỉ nêu ra một vài câu hỏi đúng lúc. Ý định của ông là rõ rang, không đưa ra lời buộc tội nào trước việc tầy đình mà Nydia đã làm. Về phần mình, Nydia nêu ra ba điểm: giải phóng những con tin, ngài tổng thống cần ngăn cản để không xẩy ra một cuộc giải thoát bằng vũ trang mà kết quả có thể rất bi thảm và đề nghị ông gia hạn để những kẻ có thể bị dẫn độ ra đầu thú. Điều đảm bảo duy nhất mà tổng thống không cho phép, cả trường hợp Diana và bất kỳ trường hợp nào khác, là giải thoát cho những con tin mà không được sự đồng ý của gia đình họ.,

Đó là chính sách của chúng tôi – ông nói. Hơn nữa, Nydia hỏi tổng thống xem ngài có đảm bảo rằng không có ai dám làm việc đó mà không có phép của tổng thống?

Trước đó một tháng Nydia đã trở lại nói chuyện với anh em Ochoa, tại ngôi nhà của một người bạn gái. Cũng như bà đã tới thăm một người em dâu của Escobar, người đã nói với bà rất nhiều về sự ngược đãi của cảnh sát, mà bà ta và những người em của bà là nạn nhân. Nydia mang theo một bức thư gửi Escobar, dài hai trang rưỡi, khổ bình thường, viết với những chữ rất bay bướm và một văn phong đúng mực và cởi mở, sau nhiều lần viết nháp. Mục đích của bà là đi thẳng vào tim đen của Escobar.

Mở đầu bức thư nói rằng bức thư này không có ý định gửi tới một chiến sĩ có đầy đủ khả năng làm bất cứ điều gì để đạt được mục đích của mình, mà gửi tới Pablo, một con người “nhậy cảm, biết yêu quý mẹ mình, vì mẹ mình mà có vợ và có những đứa con thơ không được bảo vệ, gửi tới một con người biết yêu quý và sẵn sàng bảo vệ vợ con”.

Mọi người đều biết rằng Escobar quyết định tiến hành những vụ bắt cóc để kêu gọi sự chú ý của dư luận công chúng ủng hộ sự nghiệp của ông ta, nhưng ông ta cũng cho rằng những điều đã làm là qua đáng.

Hậu quả là – bức thư kết luận – ông thể hiện như một con người nhân đạo, và trong một nghĩa cử vĩ đại và nhân đạo, thế giới sẽ hiểu, xin ngài hãy trả lại chúng tôi những đứa con bị bắt cóc”.

Người em dâu của Escobar tỏ ra xúc động thực sự khi đọc bức thư này, “bà hãy tuyệt đối tin tưởng rằng bức thư này sẽ làm cho rất nhiều người xúc động” bà ta nói một mình. Tát cả những gì mà bà đang làm sẽ làm cho Escobar xúc động và điều đó sẽ có lợi cho con gái bà”. Cuối cùng chính em dâu của Escobar gấp bức thư bỏ vào phong bì và dán phong bì.

- Xin bà cứ yên tâm - em dâu của Escobar chân thành nói với bà Nydia, - không có gì phải nhi ngờ cả. Pablo Escobar sẽ nhận được bức thư này vào chính ngày hôm nay.

Ngay đêm hôm đó Nydia trở về Bogota chờ đợi kết quả bức thư và quyết định yêu cầu ngài tổng thống điều mà tiến sĩ Turbay không dám yêu cầu: một cuộc ngừng bắn của cảnh sát trong khi tiến hành những cuộc đàm phán về việc trả tự do cho những con tin. Bà đã gặp tổng thống, nhưng tổng thống Gaviria đã không úp mở nói với bà rằng ông không thể ra lệnh đó được.

“Một việc mà chúng tôi sẵn sang làm là một chính sách công bằng như một giải pháp – sau ông nói. Nhưng hủy bỏ những cuộc hành quân cũng không phục vụ gì cho việc giải phóng những con tin, mà có nghĩa là chính phủ sẽ bó tay không thể tiếp tục những cuộc truy lùng Escoba”.

Nydia cảm thấy bà đang đối mặt với một con người bằng đá, không chút quan tâm tới tính mạng con gái bà. Bà phải nén cơn giận trong lúc nghe tổng thống giải thích rằng đề tài sức mạnh không phải là vấn đề để đem ra đàm phán, rằng đề tài này không cần phải xin phép trước khi hành động mà cũng không cần phải đợi lệnh của tổng thống mới hành động, nó nằm trong giới hạn của pháp luật.

Cuộc tiếp xúc giữa tổng thống và Nydia đã thất bại hoàn toàn.

Sau thất bại của những cuộc gặp gỡ với tổng thống nước cộng hòa, các ong Turbay và Santos quyết định tới gõ những cửa khác, nhưng không đâu tốt hơn là gõ cửa những người nổi tiếng. Nhóm này được thành lập bởi cựu tổng thống Alfonso Lope Michelsen và Misael Pastrana, nghị sĩ Diego Montana Cuellar, đức hồng y Mario Revollo, giám mục địa phận Bogota. Tháng mười, thân nhân của những người nổi tiếng tại nhà Hernando Santos. Họ đã bắt đầu bằng việc kể lại những cuộc tiếp xúc với tổng thống Gaviria. Điều duy nhất mà trong thực tế họ quan tâm tới những cuộc gặp gỡ đó là cựu tổng thống Lopez Michelsen, về khả năng cải tổ sắc luật với những giới hạn nghiêm ngặt của pháp luật để mở những cửa mới cho chính sách ra đầu thú của bọn ma túy. “Cần phải đút đầu chúng vào” Pastrans cũng tỏ ý tán thành việc tìm ra những công thức mới để gây áp lực buộc chúng phải ra trình diện, nhưng bằng vũ khí nào ? Hernando Santos lưu ý Montana Cuellar e rằng ông không thể huy động được sự ủng hộ của du kích.

Sau một cuộc trao đổi dài, với nhiều tin tức, Lopez Michelsen rút ra kết luận đầu tiên: “chúng ta sẽ tiếp tục trò chơi với bọn ma túy”- ông nói. Và ông đề nghị gửi một bức thư công khai để mọi người biết rằng những người nổi tiếng có lưu ý tới tiếng nói của những gia đình những người bị bắt cóc. Mọi người đều nhất trí cử Lopes Michelsen chấp bút bức thư đó.

Sau hai ngày đã xong bản dự thảo thứ nhất và được đem ra đọc tại một cuộc họp mới với sự tham gia của Guido parra cùng một luật sư khác nữa của Pablo Escobar. Trong bức thư này lần đầu tiên đề cập tới vấn đề, rằng bọn buôn bán ma túy có thể xem như một sự phạm tội tập thể, mang tính đặc thù (sui generis). Ông thốt lên một cách vui mừng. Đã vạch ra một con đường hoàn toàn mới cho thương lượng. Guido Parra giật mình.

Một tội phạm có tính đặc thù. ông thốt lên vì vui mừng. Quả là một thiên tài!

Xuất phát từ đó, theo cách của ong, đã đề ra được một khái niệm tuyệt vời phá tan ranh giới u ám giữa tội phạm hình sự với tội phạm chính trị, có thể trở thành ước mơ của bọn buôn bán ma túy vì chúng được hưởng cùng cách đối xử như đối với du kích.

Trong lần đọc đầu tiên, mỗi người có thể bổ sung ý kiến của mình. Cuối cùng, một trong những luật sư của Escobar đề nghị những người nổi tiếng tìm kiếm một bức thư của tổng thống Gaviria đảm bảo mạng sống của Escobar một cách chính thức và rõ rang.

- Rất lấy làm tiếc – Hernando Santos nói – đề nghị này sẽ làm hỏng việc, tôi không muốn dính líu vào việc này.

- Tôi lại càng không muốn dính líu – Turbay nói.

Lopez Michelsen cũng từ chối một cách mạnh mẽ. Viên luật sư khi đó đề nghị xin được gặp tổng thống để ông nói lên sự đảm bảo đối với mạng sống của Escobar.

- Vấn đề này không nên bàn ở đây – Lopez kết luận

Trước khi nhóm những người nổi tiếng họp để soạn thảo bản tuyên bố của họ, Pablo đã thông báo về những ý định thầm kín nhất của ông. Chỉ có như vậy thì ông mới chấp nhận. Ông ta đã chỉ đạo Guido Parra trong một bức thư viết vội, “tôi cho phép anh toàn quyền tìm kiếm một hình thức mà những người nổi tiếng mời anh trao đổi ý kiến. “- trong thư viết. Liền sau đó họ lần lượt nêu ra một loạt những quyết định của những người nổi tiếng để đối phó với bất kỳ sáng kiến nào khác. Bức thư của những người nổi tiếng đã sẵn sang trong 24 giờ với một tin quan trọng về những cuộc vận động trước: “Vai trò tích cực của chúng tôi đã đạt được một quy mô mới, không chỉ giới hạn trong một cuốc giải thoát nhất thời cho những con tin, mà cốt để đạt được một sự hòa hợp vì một nền hòa bình và tổng thể.” Đó là một định nghĩa mới không kém phần quan trọng, làm tăng thêm niềm hy vọng.

Tổng thống Gavira thì cho đó là một giải pháo tốt, nhưng ông vẫn kiên trì nhấn mạnh rằng cần phải phân biệt rõ ràng để tránh bất cứ sự hiểu lầm nào về lập trường chính thức của chính phủ. Ông đã chỉ thị cho Bộ trưởng Tư pháp phải phổ biến rộng rãi điều luật của chính phủ để những tên buôn bán ma túy ra đầu thú. Nhưng Escobar thì lại không thích chính sách đó, dù chỉ là một dòng.

Rất nhanh, vì đã được đọc bức thư đó rên báo ngày 11-10, Escobar đã gửi cho Guido Parra một bức thư trả lời rất giận dữ để lưu hành trong các sa lông ở Bogota.

“Bức thư của những người nổi tiếng gần như rất trắng trợn - thư viết - Chúng tôi sẵn sàng nhanh chóng thả những con tin, nhưng chính phủ trì hoãn việc nghiên cứu và trả lời bức thư của chúng tôi. CÓ thể vì họ tin rằng chúng tôi lại bị lừa một lần nữa”. Lập trường của bọn ma túy cũng giống lập trường đã nêu trong bức thư đầu tiên. Đó không phải là một cuộc thương lượng mà cũng không phải là một trò chơi xem ai là người khôn và ai là thằng ngốc. Thực tế là, ở vào thời điểm ấy, Escobar đã đi trước những người nổi tiếng đến vài năm ánh sáng, ý định của Escobar khi đó là chính phủ dành riêng cho ông ta một lãnh thổ với sự đảm bảo chắc chắn, một doanh trại nhà tù, như ông ta nói, cũng giống như đối với M-19 đã có trước khi hoàn thành việc trình diện. Trước đó hơn một tuần Escobar đã gửi cho Guido Parra một bức thư rất chi tiết về nhà tù đặc biệt dành cho Escobar, như ông ta muốn. Trong thư nói rõ tốt nhất là tại một địa điểm cách Medellin 12km, một trang trại, tài sản riêng của ông ta, nhưng đứng tên một người ở quận Envigado để thu lợi tức, nay có thể sửa sang để trở thành nhà tù.

“Làm được việc đó cần phải có tiền, những tên ma túy phải đóng góp một phần tùy theo giá thành”, và kết thúc bằng một câu bất ngờ: “Tôi nói với anh tất cả điều đó vì tôi muốn anh nói với thị trưởng quận Envigado rằng anh thay mặt tôi để nói với ông ta về điều đó. Tôi cũng muốn anh nói với ông ta để có một bức thư công khai gửi Bộ trưởng tư pháp nói rằng bọn buôn bán ma túy không chấp nhận sắc luật số 2047 vì chúng sợ sự an toàn của chúng, và quận Evigado cần góp phần vào việc đem lại một nền hòa bình cho nhân dân Colombia, có đủ khả năng để tổ chức một nhà tù đặc biệt để có thể che chở chắc chắn cho cuộc sống của những người ra đầu thú. Nói thẳng và rõ ràng để họ nói với Gaviria và đề nghị ông ta cho lập một doanh trại. Ý định này đã được nói rõ trong bức thư và đòi hỏi Bộ tư pháp phải trả lời công khai. “Tôi biết rằng điều đó sẽ là một quả bom” - Escobar nói trong bức thư, và kết thúc một cách trắng trợn “với điều đó chúng tôi sẽ tiến hành điều mà chúng tôi muốn”.

Tuy nhiên, ông bộ trưởng đã từ chối bản đề nghị và những vấn đề họ nêu ra, buộc Escobar phải hạ giọng trong một bức thư khác, lần đầu tiên hắn mất nhiều hơn là những cái hắn đòi hỏi. Để đổi lấy một nhà tù doanh trại hắn hứa sẽ giải quyết những bất đồng, xung đột giữa những các-ten, băng nhóm để đảm bảo việc ra đầu thú của một trăm tên buôn bán ma túy, và cuối cùng mở ra một khe hở vĩnh viễn cho hòa bình. “Chúng tôi không đòi hỏi ân xá, không đối thoại với ai, chẳng đòi hỏi gì vì họ nói nhưng họ không làm”. Đơn giản, đó chỉ là một đòi hỏi đầu hàng trong khi tất cả mọi người ở đất nước này đòi hỏi phải đối thoại và một hiệp định chính trị. Tóm lại, họ xem thường cả cái quý giá nhất: Tôi không có những vấn đề về sự dẫn độ, vì tôi biết rằng nếu họ bắt sống được tôi, như họ đã làm với tất cả”.

Chiến thuật của họ là khai thác được những lợi ích lớn nhất ở những người bị bắt cóc. “hãy nói với ngài Santos, Escobar viết trong một bức thư khác - rằng muốn có những bằng chứng về sự sống sót của Prancisco thì trước hết hay xem bản báo cáo in trên báo America’s Watch, về một cuộc tiếp xúc với Juan Méndez, giám đốc của tờ báo này, và một bản báo cáo về những vụ thảm sát, những cuộc tra tấn và những vụ mất tích ở Medellin. Nhưng trong những ngày này Hernando Santos đã học được cách điều khiển tình hình. Ông nhận ra rằng việc trao đổi lại những đề nghị đã gây nên sự trì trệ lớn cho cả hai phía. Trong số đó, Guido Parra hồi cuối tháng mười đã rơi vào tình trạng bối rối, loạn tâm thần. Bức thư của Hernando trả lời Escobar không được công bố, dù chỉ một dòng, và cũng không nhận được thư trả lời, trong khi không có những bằng chứng rõ ràng rằng con trai ông hãy còn sống. Alfonso Lopéz Michelsen ủng hộ ông vơi lời đe dọa là sẽ rút lui khỏi nhóm những người nổi tiếng. Quả nhiên, sau hai tuần lễ Guido Parra nói với Hernando Santos một tin quan trọng. “Tôi và vợ tôi tới theo đường quốc lộ, tôi sẽ tới nhà ông vào hồi 11 giờ - tôi sẽ mang tới cho ông một món ăn tráng miệng rất ngon, và chắc ông chưa có ý niệm về món tráng miệng sẽ ngon như thế nào. Hernando giật nảy mình liền nghĩ ngay điều Guido mang tới cho Francisco. Nhưng đó chỉ là những lời ghi âm trong một minicasete. Cần hơn hai giờ để nghe hết băng caset đó, vì không có máy ghi âm chuyên dụng nên có người phát hiện ra cả tiếng trả lời của điện thoại tự động.

Pacho Santos, người biết nhiều nghề, nhưng khoa nói thì rất kém. Ông muốn nói cùng tốc độ của tư duy nhưng nói vấp váp, lặp đi lặp lại nhiều lần, nhưng điều đáng ngạc nhiên về những lời nói của ông được ghi trong băng caset là hoàn toàn ngược lại. Ông nói chậm rãi, tiếng nói rõ ràng, câu cú hoàn chỉnh. Thực tế đó là hai bức thư, một gửi cho gia đình và một gửi cho tổng thống đã được ghi âm từ tuần lễ trước.

Sự láu cá của bọn bắt cóc là ở chỗ Pacho đã ghi âm những dề mục của tờ báo hàng ngày để làm bằng chức cho ngày ghi âm, đó là một sai lầm mà Escobar không thể tha thứ. Luis Canon, biên tập viên pháp lý của báo El Tiempo đã thay đổi thời gian bằng kỹ thuật của một nhà báo lớn.

- Vậy Pacho bị giam tại Bogota - ông nói.

Quả nhiên, bản tin mà Pacho đã đọc và ghi âm trong caset có nhan đề tin giờ chót, chỉ là bản tin địa phương, phạm vi lưu hành của nó chỉ giới hạn ở phía bắc thành phố, ngày tháng ghi trong caset không có ý nghĩa quan trọng, điều quan trọng là biết rõ địa điểm và nếu Hernando không chống lại một cuộc giải thoát vĩ trang.

Đó là một thời điểm phục sinh đối với ông, trước hết vì nội dung bức thư cho biết chắc chắn rằng người con của ông bị bắt cóc đã chấp nhận cách giải quyết của ông trong vụ bắt cóc này. Ngoài ra, trong gia đình luôn có ấn tượng rằng Pocha là người dễ bị tổn thương nhất trong số anh em do tính nóng nảy và thiếu kiên định. Không ai có thể hình dung rằng anh ta luôn có ý nghĩ lành mạnh và làm chủ được mình trong suốt 60 ngày bị giam giữ.

Hernando mời cả gia đình tới nhà ông và đọc bức thư cho mọi người nghe, tới tận sáng. Chỉ có mình Guido bị bố rối. Ông khóc. Hernando lại gần và an ủi ông, mồ hôi ra ướt đầm cả áo, ông tỏ ra hoảng hốt.

- Ông nên nhớ rằng, cảnh sát sẽ không giết chết tôi, - Guido Parra nói trong nước mắt - nhưng Pablo Escobar sẽ giết chết tôi, vì tôi biết quá nhiều về ông ta.

Maria Vichtoria tỏ ra không xúc động, bà cho rằng Parra đang đùa với những tình cảm của Hernando đã khai thác mặt yếu của ông, nhưng mặt khác lại nhân nhượng ông đôi chút để tự giải thoát anh hơn là giải thoát cho người khác. Guido Parra hiểu ra điều đó vào một lúc nào đó về ban đêm vì anh nói với Hernando: “Người đàn bà này như một cái trống định âm.

Trong điểm đó là những sự việc ngày 7-11, khi xẩy ra vụ bắt cóc Maruja và Beatriz. Những người nổi tiếng không còn chỗ đứng. Ngày 22-11 như đã công bố, Diego Montana Cuallar nêu ra với những đồng chí của mình công thức tiêu diệt nhóm bắt cóc, những ý kiến này đã được trao cho tổng thống, trong một cuộc họp long trọng, tổng thống đã nói những kết luận về những đề nghị cơ bản của bọn ma túy.

Nếu như tổng thống Gaviria chờ đợi ở luật quy thuận sẽ dẫn tới sự đầu hàng ồ ạt và ngay lập tức của những tên buôn bán ma túy thì đó là một sự vỡ mộng. Thực tế đã không xảy ra như thế. Những phản ứng của giới báo chí của các giới chính trị, của những luật sư nổi tiếng, kể cả tiếng nói có giá trị của những luật sư của bọn ma túy đều nói sắc luật 2047 cần được sửa đổi. Bắt đầu, đã để ngõ khả năng để bắt kỳ quan tòa nào cũng có thể hiểu về sự dẫn độ theo cách riêng của mình. Một kẽ hở khác là những bằng chứng quyết định chống lại những kẻ buôn bán ma túy đều ở ngoài nước, nhưng tất cả những yếu tố về sự hợp tác với Hoa Kỳ đều trở nên khó khăn và thời hạn để đạt được sự hợp tác là rất eo hẹp. Giải pháp - mà không có trong điều luật - thì lại co giãn về thời hạn chuyển lên tổng thống nước cộng hòa trách nhiệm thương lượng để chuyển về nước những bằng chứng.

Alberto Villamizar cũng không thấy trong sắc luật sự ủng hộ mà ông mong đợi. Tới thời điểm ấy, những sự thay đổi giữ ông với Bantos và Turbay và những cuộc họp đầu tiên giữa ông với những luật sư của Pablo Escobar đã cho phép ông có một khái niệm tổng quát về tình hình. Ấn tượng đầu tiên của ông là sắc luật về sự quy thuận cùng một lúc, nhưng thiếu sót, để rất ít chỗ cho hành động giải thoát cho những người bị bắt cóc. Trong khi đó thời gian trôi qua nhưng vẫn không có tin tức gì về những người bị bắt cóc và cũng không có mảy may bằng chứng về họ hãy còn sống. Cơ hội duy nhất của họ để liên lạc là một bức thư gửi qua Guido Parra, trong thư đã cổ vũ hai người thêm lạc quan và tin tưởng chắc chắn rằng ông sẽ không làm gì khác, ngoài việc vận động để hai người sớm được trả lại tự do. “Anh biết rằng hoàn cảnh của em thật là khủng khiếp, nhưng em hãy yên tâm”. - Ông viết cho Maruja.

Sự thực Villamizar rất bối rối, ông đã gõ tất cả các sửa, sự ủng họ duy nhất trong tháng mười một dài vô tận là lời hứa của Rafael Pardo, rằng ngài tổng thống đang suy nghĩ về một sắc luật bổ sung và làm sáng tỏ hơn sắc luật 2047 “sắc luật bổ sung đã sẵn sàng” - ông nói. Rafael Pardo tới nhà ông hầu như tất cả các buổi chiều và giữ vững ông ở trong vòng các cuộc vận động, nhưng chính ông ta cũng không biết nên bắt đầu từ đâu. Kết luận của ông về những cuộc nói chuyện chậm chạp với Santos và Turbay là những cuộc thương lượng bị sa lầy. Ông không tin vào Guido Parra, ông biết rõ ông này từ cuộc gian lận tại Đại hội, ông ta là một kẻ cơ hội và mờ ám. Tuy nhiên, tốt hay xấu thì ông ta cũng là con bài duy nhất, ông quyết định chơi con bài này cho tới cùng. Không có con bài nào khác, mà thời gian thì rất em hẹp. Theo yêu cầu của ông, cựu tổng thống Turbay và Hernando Santos hẹn gặp Guido Parra với điều kiện có bác sĩ Santiago Uribe, luật sư của Escobar, người có tiếng là nghiêm túc, cùng tham dự. Guido Parra đã mở đầu cuộc nói chuyện bằng những câu thường lệ, cao giọng, nhưng đầu tiên Villamizar đã kéo ông ta xuống mặt đất bằng một cú lộn nhào.

- Tôi tới đây không phải để nói những chuyện vớ vẩn - ông nói. Chúng ta hãy nói về những vấn đề cần bàn. Ông đã bị sa lầy và đang đi xin những quả trứng thối, nhưng ở đây không có trứng thối, mà ở đây chỉ có một con đường: đơn giản là phải ra đầu thú và thừa nhận tội lỗi, những người ra đầu thú sẽ không bị dẫn độ, mà chỉ bị tù 12 năm. Điều đó đã nói rõ trong sắc luật. Ngoài ra, còn có thể được giảm án và đảm bảo mạng sống. Còn những điều khác chỉ là những điều vớ vẩn.

Guido Parra không có nhận xét nào để cao giọng.

- Thưa bác sĩ – ông nói - ở đây chính phủ nói rằng sẽ không dẫn độ họ, mọi người đã nói về điều đó, nhưng ở chỗ nào nói về tính giới hạn của sắc luật?

Villamizar đồng ý. Nếu chính phủ nói rằng sẽ không dẫn độ, rõ ràng đó là tinh thần của sắc luật, lúc này cần thuyết phục chính phủ để sửa đổi sự mập mờ của sắc luật. Hơn nữa, những sự diễn giải sai lệch về tội phạm đặc thù, hoặc không nhận tội hoặc tố giác sai, chẳng phải là cái gì khác ngoài sự đãng trí cố hữu của Guido Parra. Vậy lẽ dĩ nhiên là đối với bọn có thể bị dẫn độ - gọi đúng với cái tên của nó – đòi hỏi duy nhất và thực tế của chúng lúc đó là không bị dẫn độ. Tất nhiên không thể đạt được sự chính xác cho sắc luật. Nhưng trước hết đòi hỏi ở Guido Parra cũng có sự thẳng thắn và quyết tâm như bọn có thể bị dẫn độ đòi hỏi.

Trước hết muốn biết Parra được phép đàm phán tới đâu, thứ hai, sau bao nhiêu lâu khi bản sắc luật được sửa đổi thì những con tin được trả lại tự do.

Guido Parra là con người chính xác:

- 24 giờ sau – ông nói.

- Tất cả - Villamizar nói.

- Tất cả.

Nguyên tác: Noticia de un secuestro Dịch giả: Đoàn Đình Ca Đánh máy: Thùy An, Lê Thanh, Thùy Trâm, Thiên Thanh, Minh Khuyên, Hồng Hạnh, Yên Hà, Thu Thủy
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.