Tin Tức Về Một Vụ Bắt Cóc

Lượt đọc: 113 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 8

❊ ❊ ❊

Vấn đề là làm thế nào để gặp được Pablo Escobar ngay tại thành phố có nhiều người chết vì bạo lực. Chỉ hai tháng đầu của năm 1991 đã xẩy ra 1200 vụ giết người, trung bình mỗi ngày 20 vụ và trung bình cứ 4 ngày xảy ra một vụ thảm sát. Một thỏa thuận hầu như của tất cả các nhóm vũ trang, đã quyết định sẽ leo thang khủng bố tàn bạo hơn của các nhóm du kích trong lịch sử đất nước, và Medellin là trung tâm của các hoạt động vũ trang đô thị, đã có 457 cảnh sát bị giết trong vài tháng. Cơ quan an ninh quốc gia (DAS) cho biết khoảng 2000 người ở các làng xóm đã phục vụ Escobar, nhiều người trong số đó còn ở tuổi thiếu niên, họ đang bị cảnh sát truy lùng. Mỗi sĩ quan bị chết, gia đình được nhận một số tiền 5 triệu pesos, một nhân viên cảnh sát bị giết gia đình được nhận 1,5 triệu và 800 nghìn cho mỗi cảnh sát bị thương. Ngày 16 tháng hai năm 1991 ba hạ sĩ quan và 8 cảnh sát chết vì vụ nổ một xe ô tô chứa 150kg thuốc nổ trước quảng trường đấu bò tót của Medellin. Chín thường dân bị chết và 143 bị thương, đều là những người không có liên quan gì với cuộc chiến tranh này.

Đội đặc nhiệm tiến hành cuộc chiến tranh trực diện với bọn ma túy. Theo Escobar, Đội đặc nhiệm là sự hiện thân của tất cả những gì là xấu xa. Đội này do tổng thống Virgilio Bargo thành lập năm 1989, do thất vọng trước sự bất lực của những quân lớn như quân đội và cảnh sát. Nhiệm vụ thành lập Đội đặc nhiệm được trao cho Cục cảnh sát quốc gia, tránh những ảnh hưởng tiêu cực của bọn ma túy và của lực lượng bán quân sự. Lúc khởi đầu, đơn vị tinh nhuệ này không có quá 300 người, với một trung đội trực thăng vũ trang đặc biệt, luôn sẵn sàng chiến đấu, được huấn luyện bởi Special Air Service của chính phủ Anh.

Thời kỳ đầu, Đội đặc nhiệm hoạt động ở khu vực miền trung lưu vực sông Magdelena, thuộc miền trung đất nước, trong cao điểm hoạt động của những nhóm bán quân sự do những địa chủ thành lập để đấu tranh chống lực lượng du kích. Sau này, từ đó đẻ ra những nhóm chuyên môn hóa cho những cuộc hành quân ở đô thị. Tại Medellin cũng đã thành lập một quân đoàn độc lập, đơn vị này chỉ phụ thuộc vào Bộ chỉ huy cảnh sát quốc gia ở Bogota, không có cấp trung gian và hoàn toàn không bị lệ thuộc vào cơ quan chỉ huy quân sự địa phương. Do đặc nhiệm và tính chất của nó, cấp trên cũng không đi quá sâu vào công việc của Ban chỉ huy của đơn vị này. Do đó đã reo rắc sự bất đồng giữa những tên tôi phạm, những nhà chức trách địa phương với đơn vị này, vì họ cho rằng một lực lượng vũ trang tới hoạt động ở địa phương họ nhưng lại nằm ngoài quyền lực họ. Những tên ma túy chống lại đội này rất quyết liệt, họ chỉ ra rằng chính đội quân này là tác giả của mọi sự chà đạp nhân quyền. Còn nhân dân Medellin thì cho rằng không nên nhầm lẫn giữa những lời tố cáo của bọn ma túy về những vụ giết người do cảnh sát và những sự chà đạp nhân quyền và những vụ thảm sát dân thường do chính chúng gây ra, vì nhân dân biết rõ những gì xảy ra ngoài thành phố, mặc dầu phần lớn những trường hợp không được công nhận và kết luận chính thức.

Những tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc gia cũng như quốc tế đều đã lên tiếng phản đối việc thành lập đơn vị đặc nhiệm này, nhưng chính phủ Colombia không có sự trả lời thích đáng nào. Ít tháng sau khi thành lập, đơn vị đặc nhiệm đã tiến hành những cuộc hành quân lùng sục nhưng không có sự tham gia giám sát của nhân viên Viện kiểm sát tối cao. Những gì pháp luật có thể làm được là rất ít.

Những chánh án và thẩm phán với khoản tiền lương rất đạm bạc chỉ đủ để sống chứ không đủ để chi cho việc học hành và dạy dỗ con cái nên ở vào tình thế tiến thoái lưỡng nan, không có lối thoát hoặc phó mặc chúng hoặc để chúng đi theo bọn ma túy. Trước hoàn cảnh ấy, điều đáng kính phục và đau lòng là nhiều người muốn chết hơn là muốn sống. Tuy nhiên, điều đáng ngạc nhiên hơn cả và có vẻ Colombia hơn cả là sự thích nghi với tình hình của những người dân Medellin. Thích nghi với cái tốt, thích nghi với cái xấu, công thức tàn bạo nhất của sự liều mạngTuy nhiên, hình như phần lớn nhân dân thành phố Medellin không có ý thức mình đang sống tại một thành phố đẹp nhất, náo nhiệt nhất và mến khách nhất của đất nước, và trong những năm gần đây đã trở thành một trong những thành phố nguy hiểm nhất thế giới. Chủ nghĩa khủng bố đô thị đã trở thành một món gia vị kỳ lạ của nền văn hóa hàng trăm năm của sự bạo lực ở Colombia. Chính những đội du kích lâu đời – đã bị lên án như một hình thức hoạt động phi pháp của đấu tranh cách mạng. Nhân dân đã học được cách sống trong sợ hãi về những gì đã xẩy ra, nhưng không thích nghi với cuộc sống luôn phấp phỏng lo sợ về cái có thể xảy ra: một vụ nổ có thể làm tan xác con cái họ trong lúc chúng đang học tại trường, hoặc chiếc máy bay bị nổ tung trong lúc đang bay, hoặc bom nổ ngay giữa khu chợ bán hoa quả. Những quả bom không định hướng đã giết chết những con người vô tội hoặc những cú điện thoại nặc danh với những lời đe dọa đã vượt lên trên bất kỳ yếu tố nào của sự xáo trộn trong cuộc sống hàng ngày. Tuy nhiên, theo những số liệu thống kê thì nên kinh tế Medellin không bị thiệt hại nhiều

Mấy năm trước đây, những tên buôn ma túy con tỏ ra nghênh ngang, vì một ánh hào quang ma quái nào đó. Khi đó chúng không bị phát hiện, trừng phạt, thậm chí còn có uy tín nào đó trong nhân dân do những hoạt động từ thiện của họ ở những xóm nghèo có nhiều trẻ em bị bỏ rơi. Nếu ai muốn bỏ tù họ thì báo cho cảnh sát tìm kiếm họ ở các khu phố. Nhưng phần lớn xã hội Colombia nhìn chúng với con mắt tò mò và sự hứng thú của sự thỏa mãn.

Những nhà chính trị, nhà công nghiệp, nhà báo, nhà buôn và cả những kẻ xảo quyệt cũng tới dự những cuộc chè chán lu bù tại điền trang Népoleos, gần Medellin, nơi Pablo Escobar có một vườn thú riêng với những con hươu cao cổ những con hải mã đưa từ châu Phi về, ở ngoài ngõ có bầy một chiếc máy bay nhỏ, chính chiếc máy bay này đã chở chuyến hàng cocain xuất khẩu đầu tiên.

Với tài sản và những hoạt động trong bóng tối, Escobar là chủ một tài sản kếch sù, ông đã trở thành một nhân vật huyền thoại, cai quản tài sản và điều khiển việc buôn bán ma túy từ trong bóng tối. Những bản thông báo có văn phòng riêng và sự đề phòng hoàn hảo đã trở thành sự thật và trở thành một bộ phận của tài sản của Escobar. Đỉnh cao của sự quang vinh của ông là người dân đã dựng lên những bàn thờ có đặt ảnh ông và thắp những ngọn nến, ở khắp các làng xã ở Medellin. Tới mức nhân dân tin rằng ông có thể làm được những chuyện thần kỳ. Trong suốt quá trình lịch sử lâu dài của mình, ở Colombia chưa có người nào có tài như Escobar đã hướng dẫn được dư luận công chúng. Nhưng cũng không có ai đồi trụy như Pablo Escobar. Điều đáng lo ngại đang tàn phá nhân cách của ông ta là hoàn toàn không có lòng khoan dung độ lượng để phân biệt giữa cái tốt và cái xấu. Ông là một con người vô hình và không biết rằng Alberto Villamizar đề nghị được gặp ông vào giữa tháng hai chỉ để yêu cầu ông trả lại vợ cho ông ta. Ông ta đã bắt đầu tìm cách tiếp xúc với ba anh em Ochoa tại nhà tù Itagui, nơi được bảo vệ rất cẩn thận.

Rafael Pardo – đã được tổng thống bật đèn xanh nhưng cũng lưu ý ông về những giới hạn: cuộc vận động của ông không phải là một cuộc đàm phán thay mặt chính phủ mà chỉ là một hành động có tính chất thăm dò – ông lưu ý Rafael không được đi đến một thỏa thuận nào để đổi lấy những phản đề nghị của chính phủ, trừ trường hợp những tên ma túy ra đầu thú trong phạm vi của chính sách quy thuận mới do chính phủ vừa ban hành. Ban sắc luật mới đã làm thay đổi triển vọng của cuộc vận động, tức là không tập trung vào việc đòi giải phóng cho những con tin như trước, mà là sự ra đầu thú của Escobar. Việc giải phóng những con tin chỉ là một hệ quả đơn giản. Như vậy là đã bắt đầu cuộc bắt cóc Maruja lần thứ hai và là một cuộc chiến tranh khác đối với Villamizar. Rất có thể Escobar đã có ý định thả Maruja cùng với Beatriz, nhưng tấn thảm kịch của Diana Turbay xảy ra nên buộc ông phải đổi kế hoạch, ngoài việc phải chịu trách nhiệm về một cái chết mà ông ta không ra lệnh việc giết Diana có thể là một thất bại đối với ông, vì đã tước đi của ông một giá trị to lớn và làm cho cuộc sống trở nên phức tạp hơn. Ngoài ra, vào thời điểm đó lực lượng cảnh sát đã tăng cường hoạt động làm cho tình hình thêm căng thẳng, buộc ông phải lặn xuống tận đáy.

Marina đã chết, nhưng trong tay ông còn lại Diana Pacho, Maruja và Beatriz. Nếu khi đó ông quyết định giết chết thêm một người như Beatriz chẳng hạn. Nhưng rồi Beatriz được trả tự do và Diana lại bị chết. Tới đó chỉ còn lại hai con tin: Pacho và Maruja. Có thể Escobar muốn giữ Pacho lại, vì Pacho có giá trị hơn Maruja trong việc mà cả, trao đổi, nhưng Maruja đã đạt được một giá trị bất ngờ, không sao tính hết sự kiên trì của Villamizar nhằm cứu sống bằng được Maruja. Những cuộc tiếp xúc bí mật tiếp tục được duy trì cho tới khi chính phủ đồng ý, ban hành một sắc luật mới với nội dung rõ ràng hơn. Từ đó, đối với Escobar, cái phao cứu hộ là vai trò trung gian của Villamizar. Vì để duy trì sự trung gian ấy nên Maruja bị giữ lại lâu hơn dự định và bị nhiều người lên án.

Villamizar bắt đầu tới thăm bà Nydia Quintero để hỏi kinh nghiệm của bà. Bà đã tiếp đón ông vui vẻ, cởi mở và bình tĩnh. Bà đã kể cho ông nghe về những cuộc nói chuyện giữa bà với anh em nhà Ochoa và với trưởng lão Fabio tại nhà tù. Qua cuộc nói chuyện, ông có cảm tưởng rằng bà đã nguôi trước cái chết của người con gái, bà không nhắc tới chuyện đó vì nỗi đau đớn, không vì sự trả thù mà vì nó có lợi cho nền hòa bình chung ở Colombia. Với tinh thần đó, bà nhờ Villamizar chuyển cho Pablo Escobar một bức thư, trong thư bà nói bà mong muốn cái chết của Diana có thể phục vụ để không một người Colombia nào nữa phải chịu nỗi đau khổ như bà. Mở đầu bằng việc chính phủ thừa nhận rằng không thể chấm dứt việc truy lùng những tên tội phạm, nhưng muốn tránh những ý định dùng vũ lực để giải thoát cho những con tin. Nhưng như mọi người đều biết, nếu trong một cuộc truy lùng bọn ma túy mà đụng phải nơi giam giữ những người bị bắt cóc thì có thể xẩy ra một thảm kịch không sao sửa chữa được, như đã xẩy ra với con gái bà. “Do đó tôi muốn đến trước mặt ông – trong thư nói – với trái tim tràn đầy đau thương tôi thỉnh cầu ông vì lòng khoan dung, độ lượng, ông hãy trả lại tự do cho Maruja và Francisco”. – “Xin ông hãy cho tôi một bằng chứng rằng chính ông đã không muốn Diana phải chết.”

Ít tháng sau, từ nhà tù, Escobar công khai nói lên sự ngạc nhiên khi biết rằng Nydia viết bức thư đó không có những lời lẽ đả kích và sự hận thù. “Tôi đau đớn biết bao – chính Escobar viết – tôi không có đủ dũng khí để viết thư trả lời bà.”

Villamizar tới nhà tù Itagui để gặp ba anh em nhà Ochoa với bức thư của bà Nydia và những lời ủy quyền của chính phủ. Có hai nhân viên an ninh đi bảo vệ ông, cảnh sát Medellin tăng thêm cho một người nữa. Ông đã gặp anh em nhà Ochoa vừa được đưa đến nhà tù với sự an ninh nghiêm ngặt nhất, phải qua ba trạm kiểm soát. Nhà tù xây bằng gạch mộc, gây cho người ta ấn tượng đây là một nhà thờ đang xây dở dang. Những hành lang hẹp, những tay vịn làm bằng những ống thép sơn mầu vàng, nhìn rõ hệ thống báo động. Ba anh em nhà Ochoa bị giam tại một phòng cuối tầng ba. Trước khi bị tù gia đình nhà Ochoa làm nghề sản xuất những bộ yên cương ngựa. Khi Villamizar tới, toàn thể gia đình Ochoa đều có mặt ở đó: anh em trai, anh em cọc chèo, những em gái Martha Nieves, người hoạt động và tháo vát nhất, Maria Lia vợ của Jorge Luis. Villamizar được mọi người đón tiếp rất niềm nở, theo đúng nghi thức. Ông tới đúng lúc ăn trưa. Mọi người đang ăn trưa tại một cái quán không có mái, ở phía cuối vườn, trên tường dán ảnh những nghệ sĩ điện ảnh nổi tiếng, một đội bóng đá nhà nghề, có một chiếc bàn ăn đủ chỗ cho 12 người. Theo nội quy an ninh, bữa ăn được chuẩn bị tại trang trại La Loma gần đó, nơi ở chính thức của gia đình. Hôm đó đã chuẩn bị những món ăn điển hình của bếp địa phương. Trong khi ăn, theo tập quán nghiêm ngặt của tỉnh Antiqua, mọi người không được nói chuyện gì khác, ngoài chuyện về các món ăn.

Sau bữa ăn, với tất cả nghi thức của một hội đồng gia đình, bắt đầu cuộc nói chuyện. Cuộc đối thoại bắt đầu không dễ dàng như bắt đầu một bữa ăn. Villamizar mở đầu bằng những lời nói chậm rãi, có tính toán, suy nghĩ chín chắn, rõ ràng, chưa nêu ra những câu hỏi, vì tất cả như đã có được câu trả lời trước. Ông đã kể lại tỉ mỉ về những cuộc đàm phán giữa ông và Guido Parra, đã kết thúc với niềm tin tưởng rằng chỉ có tiếp xúc trực tiếp với Pablo Escobar mới có thể cứu sống được Maruja.

- Chúng ta hãy cố gắng làm công việc khó khăn này – ông nói – để ngăn chặn hành động dã man này. Chúng ta hãy nói để ông ta không phạm thêm nhưng sai lầm nữa. Để bắt đầu, các ông nên biết rằng không khi nào chúng tôi có ý định giải thoát con tin bằng sức mạnh. Tôi muốn nói chuyện trực tiếp với ông ta để biết ông ta muốn gì và cái gì có thể xảy ra.

Jorge Luis, người anh cả đóng vai trò người lĩnh xướng. Anh ta kể lại về những nỗi khổ cực mà gia đình đã phải trải qua trong cuộc chiến tranh bẩn thỉu này, những lý do và những khó khăn của việc họ ra đầu thú, và những mối lo không thể chịu đựng được nếu như quốc hội không ngăn cấm việc dẫn độ.

- Đối với chúng tôi đây là một cuộc chiến tranh rất khó khăn – anh nói. Chắc ông không thể nào hình dung được những gì mà chúng tôi phải chịu đựng. Chúng tôi đã trải qua, đã phải chịu đựng tất cả. Đây là những số liệu chính xác: Martha Nieves, em gái tôi bị bắt cóc, Alonso Cardenas em rể tôi bị bắt cóc và bị giết năm 1986, Jorge Ivan Ochoa, chú ruột tôi bị bắt năm 1983, Mario Ochoa và Guillermon Leon, anh em họ tôi bị bắt cóc và bị giết.

Đến lượt mình, Villamizar ra sức chứng minh rằng chính gia đình ông là nạn nhân của cuộc chiến tranh bẩn thỉu này. Ông cố làm cho anh ta hiểu rằng những gì xảy ra từ nay về sau, hai bên đều phải trả giá như nhau. Ông nói: “Nỗi đau khổ của tôi cũng chẳng kém gì nỗi đau khổ của ông. – Bọn ma túy định giết chết tôi từ năm 1986, nên tôi phải tránh rất xa, tận phía bên kia của thế giới, nhưng họ vẫn tiếp tục truy lùng tôi và nay họ bắt cóc vợ và em gái tôi.” Tuy nhiên đây không phải là lời than vãn, mà ông đặt ngang hàng với người đang đối thoại ông:

- Quả là một sự lạm dụng – ông kết luận, bây giờ đã đến lúc chúng ta bắt đầu hiểu nhau. Chỉ có hai người nói, những người khác trong gia đình chỉ lắng nghe những với nỗi buồn như đang có mặt trong một buổi đám ma, những phụ nữ rất chăm chú lắng nghe, theo dõi cuộc nói chuyện.

- Chúng tôi không thể làm gì được, Jorge Luis nói. Bà Nydia đã tới đây, chúng tôi hiểu hoàn cảnh của ông, nhưng tôi cũng đã nói với bà như vậy. Chúng tôi không muốn có những vấn đề.

- Trong khi cuộc chiến tranh này còn tiếp tục thì mạng sống của các ông vẫn còn bị đe dọa, nguy hiểm, mặc dầu những bức tường của căn phòng này được bọc bằng thép – Villamizar nói thêm.

Trái lại, nếu chấm dứt lúc này, các ông sẽ có cha, có mẹ và toàn thể gia đình còn nguyên vẹn. Điều này sẽ không xảy ra khi nào Escobar không chịu nộp mình cho công lý, Maruja và Francisco chưa được bình an vô sự trở về nhà. Tôi xin đảm bảo chắc chắn với các ông rằng, nếu chúng giết chết Francisco và Maruja thì các ông và gia đình các ông cũng phải trả giá.

Cuộc tiếp xúc tại nhà tù Itegui kéo dài 3 giờ, mỗi người lập luận theo cách riêng của mình để cuối cùng đều đi tới bờ vực thẳm. Villamizar xuất hiện trước Ochoa như một người hiện thực. Ông đã trình bày tỉ mỉ, trực tiếp và thẳng thắn với anh em nhà Ochoa những vấn đề có liên quan với cả đôi bên. Họ đã sống ở Cucuta – quê hương của Villamizar – quen biết nhiều người ở đó và hiểu rất rõ vùng quê đó. Cuối cùng, hai người khác tham gia vào cuộc nói chuyện đó là Martha Nieves đã làm dịu bầu không khí căng thẳng bằng những câu nói vui. Anh em nhà Ochoa hình như kiên quyết từ chối không muốn can thiệp vào cuộc chiến tranh. Lúc đầu trong cuộc chiến tranh đó họ cảm thấy được an toàn, nhưng dần dần họ nhận rõ bản chất của cuộc chiến tranh đó.

- Thôi được – Jorgo Luis kết luận. Chúng tôi sẽ chuyển bức thư tới Pablo Escobar và nói thêm với Villamizar, hiện nay ông còn đang ở đây. Nhưng tôi thấy tốt hơn ông nên nói với cha tôi. Hiện nay cha tôi đang ở trang trại La Loma, cha tôi sẽ vui mừng được nói chuyện trực tiếp với ông.

Vậy là Villamizar đã tới trang trại cùng với toàn thể gia đình, ông chỉ mang theo hai người bảo vệ đi cùng ông từ Bogota. Vậy là anh em nhà Ochoa đã hiện nguyên hình như bộ máy an ninh.

Mọi người đi xe tới tận chiếc cổng lớn, sau đó đi bộ khoảng một cây số dọc theo con đường nhỏ có nhiều cây cối được chăm sóc rất cẩn thận, rồi tới một ngôi nhà, vài ba người không mang vũ khí xuất hiện vội ngăn những người bảo vệ đi cùng Villamizar, mời họ đi theo hướng khác. Có một phút bối rối, nhưng những người chủ nhà đã trấn an những vị khách bằng cách cư xử tử tế và lý lẽ xác đáng.

- Xin mời các ông hãy đi ăn một chút gì đó ở đây – họ nói, đợi bác sĩ báo với cụ Fabio.

Ở cuối hàng cây là một khoảng đất trống, ở phía sau là một ngôi nhà lớn, ngăn nắp. Phía trước nhà là một thảm cỏ rộng mênh mông tới tận chân trời, trưởng lão đang chờ đợi khách. Ông cùng những người trong gia đình, tất cả đều là phụ nữ, hầu như tất cả đều mang khăn tang, để tang những người đã chết trong cuộc chiến tranh này. Mặc dầu khi đó là giờ nghỉ trưa nhưng gia đình vẫn chuẩn bị thức ăn và thức uống. Từ lúc chào hỏi ông Fabio, Villamizar nhận ra rằng ông Fabio đã có một báo cáo đầy đủ về cuộc nói chuyện tại nhà tù. Ông chỉ nói vắn tắt mấy lời mào đầu, Villamizar không nhắc lại nếu cuộc chiến tranh này cứ tiếp tục gia tăng thì chỉ gây thiệt hại cho gia đình, một gia đình đông đúc và làm ăn thịnh vượng như gia đình FabioÔng không lên án sự tàn sát mà cũng không lên án chủ nghĩa khủng bố. Chắc không bao lâu nữa ba người con của ông sẽ được an toàn, nhưng tiền đồ của họ ra sao thì không thể nói trước được. Như vậy, hơn ai hết, những người con của ông là những người mong muốn có hòa bình, nhưng không có hòa bình chừng nào Escobar không theo gương các con ông ra đầu thú trước pháp luật.

Don Fabio ngồi im chăm chú nghe Villamizar nói, tỏ vẻ đồng tình bằng những cái gật đầu nhẹ, ông cho rằng những ý kiến đó là đúng. Sau đó bằng những câu nói vắn tắt và dứt khoát như văn bia, ông nói liền năm phút về những điều ông suy nghĩ. Dù làm bất kỳ điều gì – ông nói – cuối cùng cũng dẫn tới điều cần thiết quan trọng nhất: trực tiếp nói chuyện với Escobar. “Rõ ràng và tốt hơn hết là nên bắt đầu từ đó”. Ông nghĩ Villamizar là người đủ tư cách làm việc ấy, vì Escobar chỉ tin vào những người mà lời nói là vàng. Chính ông là người như vậy, Don Fabio kết luận.

Vấn đề là nói rõ cho ông ta biết, cuộc viếng thăm bắt đầu từ nhà tù hồi 10 giờ sáng kết thúc tại trang trại La Loma vào hồi 6 giờ chiều. Kết quả lớn nhất đạt được là phá vỡ được tảng băng ngăn cách giữa Villamizar và gia đình Ochoa vì mục đích chung, đã được thỏa thuận của chính phủ - là Escobar phải ra trình diện trước công lý, chắc chắn điều đó đã cổ vũ Villamizar để chuyển lên tổng thống những ấn tượng của ông. Nhưng vừa về tới Bogota thì biết một tin xấu khiến chính tổng thống cũng cảm thấy đau lòng về một vụ bắt cóc mới.

Như vậy là: Fortunato Gaviria Botero, người em họ và là bạn thân thiết nhất của tổng thống từ tuổi ấu thơ đã bị 4 người mang mặt nạ có vũ khí bắt cóc tại trang trại Pereira của ông. Tổng thống không hủy bỏ lời cam kết tham dự cuộc họp hội đồng khu vực của những quan chức của đảo San Andrés, ông ra đi chiều thứ sáu nên chưa thể khẳng định những kẻ bắt cóc em họ ông có phải là bọn ma túy hay không.

Sáng sớm ngày thứ bảy, trong lúc ông đang bơi ngoài bãi biển thì người ta báo cho ông biết tin Fortunato đã bị những kẻ bắt cóc giết hại – không phải bọn ma túy – chúng bí mật chôn xác nạn nhân tại một cánh đồng trống, không có quan tài. Qua phẫu thuật người ta phát hiện trong phổi nạn nhân có đất, do đó có thể Fortunato đã bị những kẻ bắt cóc chôn sống.

Phản ứng đầu tiên của tổng thống là hủy bỏ cuộc họp với hội đồng địa phương San Andrés và trở về Bogota ngay lập tức, nhưng các bác sĩ đã ngăn cản ông, không nên bay trước 24 giờ, sau một giờ ở dưới độ sâu 60 bộ. Tổng thống Gaviria đồng ý, nhưng cả nước nhìn thấy ông xuất hiện trên vô tuyến đang điều khiển cuộc họp của hội đồng địa phương với bộ mặt buồn rầu. Nhưng tới 4 giờ chiều bất chấp lời khuyên của bác sĩ, ông trở về Bogota để tổ chức đám tang cho người em họ. Ít lâu sau, ông nhớ lại ngày hôm đó là ngày bi đát nhất trong cuộc đời ông, ông nói với giọng chua chát.

- Tôi là người Colombia duy nhất mà không có một vị tổng thống tiền nhiệm để phàn nàn.

Ngay sau khi ăn xong bữa cơm trưa với Villamizar tại nhà tù, Jorge Luis Ochoa gửi một bức thư cho Escobar để truyền thêm sức mạnh cho ông để ông ra đầu thú. Ông mô tả Villamizar là một con người nghiêm túc, có thể tin cậy được. Escobar trả lời ngay lập tức “Hãy nói với thằng cha con đĩ này là tôi không muốn nói chuyện với hắn.” Villamizar được biết qua cú điện thoại của Martha Nieves và Maria Lia, tuy nhiên hai người này yêu cầu ông hãy trở lại Medellin để tiếp tục tìm kiếm những con đường khác, Lần này Villamizar tới Medellin không mang theo đội bảo vệ. Ông bắt một taxi về thẳng khách sạn Intercontinental, và khoảng 15 phút sau, người lái xe của gia đình Ochoa tới đón ông. Đó là một thanh niên khoảng 20 tuổi rất dễ thương, vui tính, người lái xe quan sát ông một lát qua chiếc gương phản chiếu. Cuối cùng anh ta hỏi:

- Ông rất sợ?

Qua chiếc gương, Villamizar cười với người lái xe.

- Xin bác sĩ cứ yên tâm – người lái xe nói. Ông nói thêm với giọng mỉa mai: Đi với chúng tôi sẽ chẳng có chuyện gì xảy ra với ông.

- Xảy ra chuyện gì?

Lời nói đùa đó làm cho Villamizar thêm yên tâm và tin tưởng rằng ông sẽ không phí công trong những chuyến đi tiếp theo. Không khi nào ông biết họ vẫn theo dõi ông từng bước, kể cả giai đoạn công việc tiến triển tốt nhất, ông cảm thấy luôn bị một bóng đen của quyền lực siêu nhiên đe dọa.

Thoạt đầu, Escobar thấy chẳng có gì cần nói với Villamizar về sắc luật mới đã mở cánh cửa chắc chắn chống bọn ma túy. Không nghi ngờ gì nữa, với sự tính toán kỹ lưỡng của tay chơi cờ gian bạc bịp cứng rắn cho rằng cái ân huệ phải trả là việc trả lại tự do cho Beatriz, nhưng món nợ lịch sử vẫn còn nguyên vẹn.

Tuy nhiên, anh em nhà Ochoa nghĩ rằng Villamizar phải cố nài. Ông đã bỏ qua những lời nhục mạ của Escobar, đề nghị tiếp tục tiến tới, được anh em nhà Ochoa ủng hộ. Ông còn trở lại Medellin hai ba lần nữa cùng Escobar đề ra một chiến lược hành động chung.

Jorge Luis viết cho Escobar một bức thư nữa, trong thư nói đã có những đảm bảo cho việc ông ra đầu thú, ông sẽ được đảm bảo tính mệnh và không bị dẫn độ với bất kỳ lý do nào. Nhưng Escobar không trả lời. Khi đó chính Villamizar quyết đinh viết thư giải thích cho Escobar về tình thế và đề nghị của ông.

Thư viết ngày 4-3 tại phòng giam của anh em nhà Ochoa với sự cố vấn của Jorge Luis người đã nói với ông rằng bức thư đó được gửi không đúng lúc. Villamizar phải thừa nhận rằng sự tôn trọng nhân quyền là điều cơ bản để đạt được hòa bình. “Tuy nhiên, có một sự kiện mà không thể không thừa nhận: những người vi phạm nhân quyền không có một lời xin lỗi để tiếp tục vi phạm nhân quyền và chỉ ra rằng chính sự vi phạm nhân quyền là ở phía khác.”

Sự đổ lỗi cho nhau đã gây trở ngại cho những hành động của cả hai phía, điều chủ yếu là chính ông đã đạt được trong ý nghĩa là trong nhưng tháng đầu tranh đòi trả lại tự do cho vợ ông. Gia đình Villamizar đã là nạn nhân của bạo lực dai dẳng, trong đó ông không có trách nhiệm nào: cuộc mưu sát chống lại ông, việc giết hại Luis Carlos Galan, em rể ông việc bắt cóc vợ và em gái ông.

“Em dâu tôi Gloria Pachon de Galán và tôi – ông nói thêm chúng tôi không hiểu và không thể chấp nhận bấy nhiêu hành động tàn bạo và phi lý không thể nào giải thích và biện hộ được. Trái lại, việc trả lại tự do cho Maruja và những nhà báo khác là điều kiện cần thiết để cùng nhau đi trên con đường hòa bình chân chính ở Colombia.”

Hai tuần lễ sau, bức thư trả lời của Escobar mở đầu bằng một nhát roi: Kính thưa bác sĩ, tôi rất lấy làm tiếc, nhưng tôi không thể làm vui lòng ngài được”. Liền sau đó ông đã chú ý tới tin tức nói rằng một số nghị sĩ đồng tình với gia đình những người bị bắt cóc đề nghị không nên đề cập tới đề tài dẫn độ khi những người bị bắt cóc chưa được trả lại tự do. Escobar xem đề tài đó là thích hợp, vậy thì những vụ bắt cóc không thể được xem như là một áp lực đối với những nghị sĩ, vì những vụ bắt cóc đã xảy ra từ trước khi họ được bầu, nhưng dầu sao chăng nữa, về vấn đề này, ông ta cũng đưa ra lời cảnh báo bất ngờ: “Thưa bác sĩ Villamizar, ngài nên nhớ rằng vấn đề dẫn độ đã là nguyên nhân gây ra nhiều nạn nhân, nếu cộng thêm hai nạn nhân nữa cũng không làm thay đổi nhiều quá trình đang phát triển.”

Đó là lời cảnh báo từ một phía, như vậy Escobar không nêu lại vấn đề dẫn độ như một lập luận chiến tranh sau sắc luật, không để chỗ cho ai chịu ra đầu thú, mà đã tập trung vào để tài vi phạm nhân quyền của đội đặc nhiệm mà họ phải đương đầu. Đó là một chiến thuật tài chính: chiếm lĩnh trận địa, giành thắng lời từng phần, tiếp tục cuộc chiến tranh với những lý do khác có thể nhân lên tới vô tận mà không cần phải ra đầu thú.

Kết quả là, trong bức thư của mình, Escobar tỏ ra thông cảm trong ý nghĩa là cuộc chiến tranh của ông và cũng là cuộc chiến tranh của Villamizar, ông ta tiến hành cuộc chiến tranh này là để che chở cho gia đình, nhưng một lần nữa ông tố cáo và đòi phải trừng trị đội đặc nhiệm thủ phạm đã tàn sát 400 thanh niên ở các làng xã quanh Medellin. Những hành động đó – ông nói – đã biện hộ cho những vụ bắt cóc những nhà báo như một công cụ để gây áp lực đòi phải đưa ra xét xử những cảnh sát đã gây tội ác. Có một điều bất ngờ là không có nhân viên nào của chính phủ có ý nghĩ tiếp xúc trực tiếp với Escobar để thảo luận vấn đề liên quan tới những vụ bắt cóc. Ông kết luận, dù có chăng nữa những lời kêu gọi và những lời thỉnh cầu tha thiết đòi trả lại tự do cho những con tin cũng vô ích, vì cái trò chơi đang diễn ra là mạng sống của gia đình và đồng bọn của những kẻ buôn ma túy. Cuối cùng kết luận: “Nếu chính phủ không nghiên cứu lắng nghe những vấn đề chúng tôi đã nêu ra, chúng tôi sẽ hành quyết Maruja và Prancisco, điều đó rõ ràng”.

Bức thư chứng tỏ Escobar muốn tìm kiếm sự tiếp xúc trực tiếp với chính phủ. Không loại trừ việc ông ra đầu thú nhưng phải trả giá đắt hơn là mọi người nghĩ, ông sẵn sàng thu cái giá đó không kể những khấu trừ về mặt tình cảm.

Villamizar hiểu rõ điều đó, chính tuần đó ông đã gặp tổng thống nước cộng hòa, ông đã báo cáo với tổng thống. Tổng thống chú ý lắng nghe và ghi vào sổ tay. Trong những ngày đó Villamizar cũng tới thăm ông Viện trưởng Viện kiểm sát, cố gắng tìm ra một hình thức mới để hành động cho phù hợp với tình hình mới. Cuộc viếng thăm đó rất có kết quả. Ngài viện trưởng nói với ông rằng đến cuối tuần sẽ công bố một bản báo cáo về cái chết của Diana Turbay, trong bản báo cáo đó quy trách nhiệm cho cảnh sát đã hành động không có mệnh lệnh và thiếu cẩn trọng, đã quy trách nhiệm cho 3 sĩ quan của đội đặc nhiệm. Ông cũng cho biết đã tiến hành điều tra 11 nhân viên đội đặc nhiệm, những người đã bị Escobar tố cáo với tên tuổi chức vụ rõ ràng. Những việc đó đã được tiến hành. Ngày 3-4 tổng thống nước cộng hòa đã nhận được báo cáo của Viện kiểm sát quốc gia về những sự việc đã dẫn tới cái chết của Diana Turbay.

Cuộc hành quân – trong báo cáo viết – đã bắt đầu hình thành từ 23-1 khi cơ quan tình báo của cảnh sát ở Medellin nhận được những cú điện thoại nặc danh đáng tin cậy về sự có mặt của một toán vũ trang ở phần thượng quận Copacabana. Hoạt động tập trung ở vùng Sabaneta, đặc biệt ở các trang trại Villa del Rosario, La Bola và Alto de la cruz. Ít ra trong số lần gọi điện thoại có một vài lần báo nơi đó có giam giữ một số nhà báo bị bắt cóc và có một Bác sĩ, tức là ám chỉ Pablo Escobar. Tin tức này được nêu ra trong bản phân tích và được xem là cơ sở của những cuộc hành quân của ngày hôm sau, nhưng trong báo cáo không nêu ra sự có mặt của những nhà báo bị bắt cóc.

Thiếu tướng Miguel Gómez Padilla – Giám đốc Cục cảnh sát quốc gia tuyên bố: ông được báo cáo chiều ngày 24-1, tức là ngay ngày hôm sau đã tiến hành cuộc hành quân thăm dò, tìm kiếm lùng sục với hy vọng “có thể bắt được Pablo Escobar và một nhóm buôn bán ma túy. Nhưng, thoạt đầu không nêu ra khả năng có thể gặp hai con tin cuối cùng Diana Turbay và Richard Becera.”

Cuộc hành quân bắt đầu hồi 11 giờ sáng ngày 25-1, khi ông vừa ra khỏi trường huấn luyện Carlos Holguin ở Medellin, có đại úy Jairo Salcedo Rarcia cùng 6 sĩ quan, 5 hạ sĩ quan và 40 nhân viên. Bản báo cáo chỉ ra rằng trong nhiệm vụ được giao không phải là để bảo vệ lối rút lui của đại úy Helmer Ezequil Torres Vela, người chịu trách nhiệm chiếm trang trại La Bola, nơi thực tế đang có mặt Diana và Richar nhưng trong bản tường trình của ông sau đó trước Ban thanh tra quốc gia, chính đại úy lại khẳng định rằng ông rời khỏi nơi đó hồi 11 giờ sáng với 6 sĩ quan, 5 hạ sĩ quan và 40 nhân viên. Có 4 trực thăng cùng tham gia cuộc hành quân.

Những cuộc lùng sục ở các trang trại Villa del Rosario và Alto de Cruz đã hoàn thành không gặp trở ngại nào. Hồi một giờ chiều bắt đầu cuộc hành quân ở trang trại La Bola. Trung úy Ivan Diaz Alvarez kể lại rằng ông từ trực thăng đổ bộ xuống một cao nguyên thì nghe thấy tiếng súng nổ ở sườn núi. Chạy theo hướng đó, ông nhìn thấy 9 hay 10 người mang súng trường và tiểu liên chạy trốn giữa tiếng súng nổ “Chúng ta hãy ở lại đây ít phút để quan sát xem cuộc tiến công đến từ đâu – người hạ sĩ quan nói – khi chúng tôi nghe thấy ở phía dưới có tiếng người đàn ông thét to gọi ông: “Hãy cứu tôi với”.

Về phần mình, viên sĩ quan hét: “Dừng lại, anh là ai” Người đàn ông trả lời, anh ta là Richard, nhà báo, yêu cầu giúp đỡ vì Diana bị thương. Viên sĩ quan kể lại rằng, khi đó không giải thích vì sao, anh ta bật ra câu hỏi:

“Pablo ở đâu” Richard trả lời: “Tôi không biết, nhưng xin ngài hãy cứu giúp tôi”. Khi đó viên sĩ quan tới gần anh với tất cả sự an toàn, đồng thời vai người trong nhóm anh cũng xuất hiện. Viên hạ sĩ quan kết luận:

“Đối với chúng tôi bất ngờ thấy ở đó những nhà báo, nhưng đó không phải là mục tiêu của chúng tôi trong cuộc hành quân này.” Báo cáo này hầu như trùng hợp từng điểm với lời kể của Richard Becerra với Ban thanh tra. Sau đó anh đã mở rộng lời tuyên bố với chi tiết rằng anh ta nhìn thấy một người bắn vào Diana, rồi bà đứng dậy, hai tay giơ về phía trước rồi ngã về phía trái, ở cách chỗ Richard khoảng 15m. “Khi ngớt tiếng sút – Richard kết luận – tôi nằm xoài trên mặt đất.”

Còn về viên đạn duy nhất gây ra cái chết của Diana, qua kiểm tra kỹ thuật chứng minh rằng viên đạn đã xuyên vào xương chậu và đi lên phía trên bên phải. Qua chụp điện được biết đó là viên đạn cực nhanh với tốc độ từ hai nghìn đến 3 nghìn métgiây, tức là 3 lần lớn hơn tốc độ của tiếng động. Không thể phục hồi được, xương bị vỡ thành 3 mảnh, làm bà sút cân và biến dạng, rơi vào tình trạng rất nguy kịch, không sao cứu chữa được, Hầu như chắc chắn đó là một viên đạn ca-líp 5.56, có thể được bắn bằng một khẩu súng có những điều kiện ký thuật tương tự, có thể là súng AUG do Áo chế tạo tìm thấy ở cách đó không xa, không phải loại súng mà cảnh sát thường dùng. Ngoài lề bản báo cáo có lời ghi chú của các bác sĩ mổ xác: “Nếu không bị trúng đạn, Diana có thể sống thêm 15 năm nữa.”

Một sự kiện đáng ngờ là có mặt một người dân sự đi cùng trong máy bay trực thăng chở Diana bị thương tới tận Medellin. Hai nhân viên cảnh sát cũng cho rằng người đó có vẻ như một nông dân khoảng từ 35 đến 40 tuổi, hôm đó ông ta đội một chiếc mũ vải. Họ nói rằng người này bị bắt trong quá trình diễn ra cuộc hành quân. Người ta cố tìm ra tông tích của người này và thấy phải xích tay ông ta lại để đưa ra tận trực thăng. Một trong những nhân viên đội đặc nhiệm nói thêm rằng, người này được trao cho viên trung úy, rồi họ đã hỏi cung anh ta trước mặt mọi người, sau thả anh ta ở nơi anh ta bị bắt. “Người này chẳng có liên quan gì, vì súng nổ ở phía dưới, mà ông ta lại ở phía trên chúng tôi.” Sự giải thích này đã bác bỏ tin nói rằng người nông dân này đã có mặt trên máy bay trực thăng, nhưng đội lái máy bay lại khẳng định ngược lại. Những lời tuyên bố khác rõ ràng hơn. Viên trung sĩ Luis Rios Ramorez kỹ thuật viên súng máy trên trực thăng khẳng định rằng người đàn ông có mặt trên máy bay, nhưng rồi sau ông ta được trả tự do chính nơi xảy ra cuộc hành quân.

Điều bí hiểm này kéo dài cho tới ngày 26-1, khi xuất hiện xác một người tên là José Humberto Vaqué Muno ở quận Girardota, gần Medellin. Anh bị chết vì ba phát đạn 9mm, một trúng vào ức và hai trúng vào đầu. Trong hồ sơ lưu trữ của cơ quan tình báo cho biết tung tích của người này, chính anh ta là một thành viên của các-ten Medellin. Trong hồ sơ lưu trữ, những nhân viên điều tra đánh số vào ảnh của anh ta bằng con số 5, lẫn với hai tên tội phạm đã được nhận diện là những người đã canh giữ Diana Turbay.

Hero Buss nói: “Tôi không nhận ra bất kỳ người nào, nhưng tôi tin chắc rằng người trong ảnh số 5 rất giống một tên giết người thuê mà tôi đã nhìn thấy sau vụ bắt cóc. Azucena Liévano cũng tuyên bố rằng, người trong ảnh số 5, không có râu, rất giống một trong những người gác về ban đêm tại ngôi nhà Diana và bà bị giam giữ trong những ngày đầu tiên sau khi bị bắt cóc. Richar Becerra cũng nhận ra người trong ảnh số 5 là người bị xích trên máy bay, nhưng làm sáng tỏ: “Tôi nhận ra qua nét mặt nhưng tôi không thể khẳng định chắc chắn.” Orlando Acevedo cũng nhận ra người này.

Cuối cùng, vợ của Váquez Munoz nhận ra xác chết, bà nói ngày 25-1-1991 vào hồi 8 giờ sáng chống bà ra khỏi nhà đi tìm một xe taxi thì bị hai người mặc thường phục bắt ở ngoài phố, đưa lên một chiếc xe. Anh chỉ kịp gọi thét lên: “Ana Luica”. Nhưng bị chúng mang đi. Tuy nhiên, lời tuyên bố này không được để ý, vì không có thêm bằng chứng về vụ bắt cóc.

“Tóm lại, bản báo cáo viết đã chú ý tới những bằng chứng được cung cấp để có thể khẳng định rằng trước khi tiến hành cuộc lục soát tại trang trại La Bola, một số nhân viên cảnh sát quốc gia tham gia cuộc hành quân được ông Véquez Munoz một người dân địa phương cho biết có một số nhà báo đang bị giam giữ ở nơi này, và chắc chắn rằng sau khi biết tin này cảnh sát đã giết chết ông, còn hai người chết khác cũng đã được xác định.”

Cơ quan điều tra đặc biệt, đã kết luận một cách thích đáng rằng không có lý do để khẳng định rằng tướng Gómez Padilla, và những sĩ quan cao cấp khác của Bộ chỉ huy cảnh sát quốc gia đã được biết trước về cuộc hành quân. Còn về vũ khí đã gây tử thương cho Diana không có nhân viên nào trong đội đặc nhiệm của đội cảnh sát quốc gia ở Medellin sử dụng. Những nhân viên đội đặc nhiệm tiến hành cuộc lùng sục ở La Bola cần phải trả lời về nguyên nhân gây ra cái chết của ba người mà xác của họ được phát hiện tại đó.

Chống lại quan tòa 93 của tòa án quân sự, bác sĩ Diego Radael de Jesús Coley Nieto và người thư ký của ông đã tiến hành cuộc điều tra một cách nghiêm túc do có những lời tố cáo những nhân viên của Cục an ninh quốc gia ở Bogota.

Công bố bản báo cáo này, Villamizar cảm thấy tin tưởng hơn để viết bức thư thứ hai gửi Escobar hiểu rằng theo những cơ chế hiến pháp và pháp chế, tổng thống rất khó khăn trong việc điều hành, điều khiển rất nhiều đơn vị vũ trang phức tạp. Tuy nhiên ông cho rằng Escobar rất có lý khi tố cáo sự vi phạm nhân quyền của các lực lượng cảnh sát, và đòi hỏi đảm bảo tính mệnh cho gia đình ông và những người thân cận, khi ông ra đầu thú. “Tôi chia sẻ quan điểm của ông – Villamizar viết – rằng cuộc đấu tranh do ông và tôi đang tiến hành, về thực chất có cùng một mục đích: cứu mạng sống của những người thân của chúng ta và mạng sống của chính chúng ta và tìm kiếm hòa bình cho đất nước.”

Trên cơ sở của hai mục đích ấy, tôi đề nghị ông cùng hành động theo một chiến lược nhất định.

Ít ngày sau, ông trả lời Villamizar với niềm tự hào bị thương tổn do vết thương của quyền lợi công cộng. “Tôi biết rằng đất nước bị chia sẻ thành nhiều mảnh: tổng thống, quốc hội, cảnh sát, quân đội – ông viết. Nhưng tôi cũng biết rằng Tổng thống là người Tổng chỉ huy.” Phần còn lại của bức thư dài bốn trang, Escobar nhắc lại những hành động đàn áp của cảnh sát, ông chỉ nêu ra một số số liệu mới nhất chứ không nhắc lại những lập luận đã nói trong thư trước. Ông bác bỏ tin nói rằng những người buôn bán ma túy đã hành quyết Diana Turbay hoặc định giết bà ta, vì trong trường hợp này không phải mặc quần áo màu đen để những chiếc trực thăng nhầm bà với những phụ nữ nông dân. Nay bà đã “chết rồi không còn giá trị như một con tin.” Cuối cùng không cần nói quanh co, cũng không cần những lời lẽ lịch sự, Escobar đã viết những lời từ biệt Villamizar:

“Ông không nên bận tâm về những lời ông đã tuyên bố với báo chí đòi phải dẫn độ tôi. Tôi biết tất cả sẽ tốt đẹp, tôi không ôm ở trong lòng mối hận thù vì cuộc đấu tranh để bảo vệ gia đình ông, không có mục tiêu khác với mục tiêu của cuộc đấu tranh mà tôi đang tiến hành để bảo vệ gia đình tôi.”

Villamizar liên hệ câu nói đó với một câu nói trước đó của Escobar, khi ông nói rằng ông cảm thấy đau lòng có Maruja ở trong tay như một con tin, ông không có ý định chống lại bà, mà là đấu tranh chống lại chồng bà. Villamizar đã nói về điều đó theo cách khác: “Tại sao hai chúng ta đấu tranh với nhau mà ông lại giam giữ vợ tôi?” Ông đề nghị đổi ông lấy Maruja để đàm phán trực tiếp. Escobar không chấp nhận.

Đối với Villamizar khi đó đã hơn 20 lần tới trại giam gặp anh em Ochoa. Ông được thường thức những món ăn tuyệt với của nhà bếp địa phương do những phụ nữ ở trang trại La Loma mang tới với sự thận trọng để phòng bất kỳ âm mưu nào. Đó là một quá trình hiểu biết lẫn nhau, tin tưởng lẫn nhau trong đó họ đã dành ra hàng giờ để đoán từng câu nói, từng cử chỉ, những ý định của Escobar. Villamizar trở về Bogota hầu như trên chuyến máy bay cuối cùng của cầu hàng không Bogota – Medellin, nhiều lần phải mang theo những chai nước khoáng để trút bớt sự căng thẳng bằng những hớp nước suối đơn độc. Ông đã thực hiện đúng lời hứa là không tham dự bất kỳ hoạt động nào của sinh hoạt xã hội, mà cũng không đi thăm bạn bè. Chẳng làm gì, chỉ ở nhà. Khi áp lực gia tăng ông trèo lên sân thượng suy ngẫm hàng giờ nhìn về hướng mà ông cho rằng nơi Maruja đang bị giam giữ, hàng giờ ông lẩm bẩm những lời muốn nói với Maruja, cho tới khi buồn ngủ. Sáu giờ sáng ông thức đầu công việc của một ngày mới. Khi nhận được bức thư trả lời hoặc có điều gì thú vị, Martha Nieves hoặc Maria Lia gọi điện thoại cho ông, chỉ nói một câu vắn tắt:

- Thưa bác sĩ, vào hồi 10 giờ ngày mai. Khi không có những cú điện thoại, ông dành thì giờ cho những hoạt động của chiến dịch Colombia đòi hỏi, chiến dịch của đài truyền hình dựa trên những tư liệu do Beatriz cung cấp về điều kiện sống của những người bị bắt cóc tại nhà giam. Đó là sáng kiến của Nora Sanin, Giám độc Hội bảo vệ môi trường quốc gia và được Maria del Rosario Ortiz bạn thân của Maruja, cháu họ của Hernando Santos tiến hành, cùng Gloria de Galan và những người khác trong gia đình: Monica, Alexandra, Juana và những người em cùng tham gia.

Họ vận động để hàng ngày có những cuộc diễu hành của các nghệ sĩ điện ảnh, nhà hát, vô tuyến, cầu thủ bóng đá, các nhà khoa học, chính trị tham gia đòi trả lại tự do cho những người bị bắt cóc và tôn trọng nhân quyền. Ngay từ buổi diễu hành đầu tiên đã dấy lên một phong trào rầm rộ thu hút sự chú ý của dư luận công chúng. Alexandra với chiếc máy quay phim trên tay chạy hết nơi này đến nơi khác trong cả nước để săn những hình ảnh. Trong ba tháng của chiến dịch có 50 nhân vật tham gia những cuộc diễu hành. Nhưng Escobar không hề lay chuyển. Khi Rafael Puyama, nghệ sĩ chơi đàn clavesin nói rằng ông có thể quỳ gối để cầu xin trả lại tự do cho những người bị bắt cóc, Escobar đã trả lời ông: “Đến cả 30 triệu người Colombia tới quỳ gối trước mặt tôi, tôi cũng không thả những người bị bắt cóc.” Tuy nhiên, trong một bức thư gửi Villamizar ông đã khen ngợi chương trình tivi, vì không chỉ đấu tranh đòi trả lại tự do cho những con tin mà đồng thời cũng đấu tranh đòi tôn trọng nhân quyền. Sự dễ dàng với những con gái của Maruja và những người được mời tham gia cuộc diễu hành chiếu trên màn ảnh nhỏ đã làm cho Maria Victoria vợ của Pacho Santos lo lắng, vì bà có tính nhút nhát bẽn lẽn không thể vượt qua mỗi khi xuất hiện trên sân khấu. Những chiếc micro bất ngờ xuất hiện phỏng vấn bà, ánh sáng trớ trêu của những đèn chiếu, con mắt soi mói của những chiếc máy ảnh và những câu hỏi luôn chờ đợi những câu trả lời giống nhau đã làm cho bà buồn nôn vì sợ hãi đến nghẹt thở.

Ngày sinh nhật bà, mọi người tới tấp gửi tới bà những lời chúc mừng qua tivi, trong đó Hernando Santos nói thao thao bất tuyệt: “Con hãy vào đi”, nhưng hầu như bà đều trốn thoát, nhưng một đôi lần bà phải đối mặt với ông, và không chỉ tin rằng mình sẽ chết do một cuộc ám sát, mà khi nhìn thấy ông và nghe thấy ông nói trên màn ảnh nhỏ bà cảm thấy lố bịch và ngu xuẩn.

Sự phản ứng của bà chống lại đám đông dân chúng khi đó là bất lợi. Bà đã học qua một lớp học về xí nghiệp nhỏ và một khóa học về báo chí. Bà trở lại cuộc sống tự do và tham dự những cuộc vui chơi là do quyết định của riêng bà. Bà đã nhận những lời mời mà trước đó bà rất ghét, tham dự những hội nghị và những buổi hòa nhạc, bà mặc những bộ quần áo của màu sắc vui tươi, dự những cuộc vui thâu đêm, như vậy đã làm tiêu tan hình ảnh một mệnh phụ đầy lòng trắc ẩn.

Hernando và những người bạn trai tốt hiểu bà, ủng hộ bà, giúp bà thoát khỏi nỗi buồn riêng. Nhưng đã không biết bao nhiêu lần bà phải chịu đựng sự phán xét của xã hội. Bà biết rằng có nhiều người ca ngợi bà trước mặt nhưng lại công kích bà ở sau lưng. Họ đã gửi tới tặng bà những đóa hoa hồng, những hộp socola không có tên người gửi, không có danh thiếp kèm theo, cả những lời tỏ tình không có địa chỉ. Bà thưởng thức những thứ đó với sự tưởng tượng rằng những thứ đó chính là của chồng bà, có thể đã tới tay bà qua một con đường bí mật từ khi bà phải sống cảnh cô đơn. Nhưng địa chỉ những người gửi sau đã biết rõ qua những cú điện thoại, đó là một gã gàn dở. Một phụ nữ cũng qua điện thoại đã nói với bà không úp mở:

- Tôi đã phải lòng bà.

Trong những ngày tự do sáng tạo Marivé do ngẫu nhiên đã gặp lại một người bạn gái cũ, một nhà tiên tri, người đã thấy trước số phận bi thảm của Diana Turbay. Bà thấy giật mình khi thấy nhà tiên tri đưa ra một lời dự đoán bi đát về số phận bà, nhưng nhà tiên tri đã trấn an bà. Đầu tháng hai họ lại gặp nhau, bà nhắc lại câu hỏi cũ và không hỏi gì thêm và không chờ đợi lời bình luận nào. Nhà tiên tri nói với bà: “Pacho hãy còn sống”

Bà tin vào điều tiên tri đó một cách quả quyết như chính mắt bà đã nhìn thấy Pacho.

Sự thực, trong tháng hai mặc dầu ông ta nói rằng có tin, nhưng Escobar ông không tin vào những sắc luật, sự nghi ngờ đối với ông là vấn đề sống còn, và ông thường nói nhờ có sự nghi ngờ đó mà ông còn có thể sống đền ngày nay.

Ông không tin ở bất kỳ cái gì. Chính ông là người chỉ huy ông, là đội an ninh bảo vệ ông, là cơ quan do thám và phản gián, một nhà chiến lược không thể dự kiến được và một người không được thông tin khác thường.

Trong hoàn cảnh luôn thay đổi hàng ngày, đội bảo vệ ông có 8 người. Ông biết tất cả các loại kỹ thuật thông tin, can thiệp vào các đường dây, theo dõi những dấu vết. Hàng ngày ông cử nhân viên đi khắp mọi nơi, trao đổi những cuộc đối thoại như những thằng điên và gọi điện thoại về nhà ông để những người nghe trộm bị rối như tơ vò về những chuyện vớ vẩn, không thể phân biệt đâu là thật, đâu là giả. Khi cảnh sát cung cấp hai số điện thoại để gọi thông báo cho họ biết nơi ở của Escobar, ông thuê những học sinh nhỏ tuổi để phá rối những tên chỉ điểm làm cho đường dây luôn bận trong suốt 24 trên 24 giờ. Những mưu mẹo của ông để xóa đi những dấu vết hoạt động của ông quả là vô tận. Ông không tham khảo ý kiến của ai và không thông báo cho những luật sư của ông biết, không làm gì khác ngoài việc đặt họ đúng sàn pháp lý.

Việc ông từ chối không chịu tiếp Villamizar vì ông sợ có cái gì đó tiềm ẩn ở dưới da, như một máy điện tử có thể phát hiện ra nơi ông đang ở. Ý ông muốn nói tới máy truyền tin cực nhỏ dùng pin cực tiểu mà tín hiệu nó phát ra có thể bắt được từ nơi rất xa do một máy thu đặc biệt - một radiogoniómetro - cho phép máy tính có thể xác định gần chính xác nơi phát ra tín hiệu. Escobar rất tin tưởng về độ chính xác gian giảo của chiếc máy này, nó không giống như một vật quái dị mà người nào đó mang chiếc máy thu đặt ở dưới da. Chiếc máy định vị dùng để xác định vị trí của một đài phát thanh hoặc một điện thoại di động. Do đó Escobar sử dụng nó ở mức ít nhất có thể, nếu sử dụng phương tiện này thì ông thích dùng trong khi chiếc xe đang chạy. Ông dùng giao thông đặc biệt để chuyển những bức thư viết tay. Nếu có liên quan với một người nào đó, không khi nào ông nói người đó ở đâu, mà thường hẹn gặp ở nơi ở của người khác. Khi kết thúc những cuộc gặp gỡ ông thường đi về theo một hướng bất ngờ, hoặc đi ngược chiều, trên một xe chở khách nhỏ mang biển số giả, phục vụ công cộng chạy trên những con đường quy định nhưng bỏ qua những trạm dừng xe, vì ông mang theo đủ bộ sậu cùng đội bảo vệ của chủ. Một trong những thú vui của Escobar là thỉnh thoảng ông tự lái xe.

Cuối cùng khả năng quốc hội sẽ tuyên bố tán thành việc dẫn độ và ân xá, có thể sẽ xảy ra trong tháng hai. Escobar biết rõ điều đó, ông tập trung thêm sức mạnh vào hướng chính phủ. Rõ ràng tổng thống Gaviria phải đương đầu với một thực tế khó khăn hơn là ông tưởng. Tất cả đều có liên quan tới những sắc luật ra đầu thú trước công lý đã tới nơi. Cơ quan cải tạo phạm nhân và Bộ tư pháp luôn ở tình trạng báo động để tiếp nhận bất kỳ cuộc đầu thú nào.

Về phần mình, Villamizar hoạt động không chỉ vì lợi ích của riêng ông mà cũng vì sự nguy hiểm của ông, nhưng sự cộng tác chặt chẽ giữa ông và Rafael Pardo được duy trì công khai với chính phủ theo con đường trực tiếp, không cam kết điều gì trước, trái lại nó giúp ích để tiến lên không qua đàm phán. Khi đó Escobar cần hiểu rằng, chính phủ không khi nào cử một đại biểu chính thức để đàm phán với ông ta - mà đó là một giấc mộng vàng của ông ta - và ấp ủ hy vọng rằng quốc hội sẽ xóa án cho ông, không xem ông như một kẻ buôn bán ma túy biết ăn năn hối cải hoặc nấp dưới bóng của một nhóm vũ trang nào đó. Đó không phải là sự tính toán của một thằng điên. Trước khi quốc hội dàn xếp về vấn đề này, những đảng phái chính trị đã đạt được một thỏa thuận bí mật về những vấn đề sẽ đưa ra thảo luận tạ quốc hội, với những lý lẽ pháp lý, chính phủ đã đạt được sự nhất trí rằng sự dẫn độ không nằm trong danh sách, vì cần nó như là một công cụ của chính sách quy thuận. Nhưng khi Tòa án tối cao quyết định sẽ gây ấn tượng mạnh mẽ rằng quốc hội có thể bàn bạc về bất kỳ đề tài nào, không có bất kỳ giới hạn nào, đề tài dẫn độ lại nổi lên từ đống đổ nát hoang tàn. Vấn đề ân xá không cần phải nêu ra, nhưng cùng có thể: tất cả còn ở nơi vô tận.

Tổng thống Gaviria không phải là người từ bỏ hết đề tài khác. Trong sáu tháng ông đã áp đặt lên những cộng sự của ông một hệ thống liên lạc cá nhân bằng những bức thư viết tay trên bất kỳ mảnh giấy nào, bằng những câu ngắn gọn nhưng nói lên đầy đủ. Đôi khi ông chỉ gửi có tên của người mà ông sẽ gửi, ông trao cho người nào gần nhất, người đó biết bức thư đó cần gửi cho ai.

Ngoài ra, bằng cách này, đối với những cố vấn của ông có tính nhút nhát không thể nào phân biệt được giữa giờ làm việc và giờ nghỉ.

Gaviria không nhận ra điều đó, nên khi ông nghỉ cũng có kỷ luật như khi làm việc, tiếp tục gửi những bức thư những chỉ thị trong lúc đang dự tiệc hoặc vừa đi câu cá ở biển vể. “Những người chơi tennis với ông như một Hội đồng bộ trưởng”, một trong những cố vấn của ông nói. Ông có thể ngủ một giấc ngủ trưa rất sâu từ năm đến mười phút trong lúc đang ngồi ở bàn làm việc, khi thức giấc ông lại tỉnh như sáo trong khi những cố vấn của ông đang rất buồn ngủ. Phương pháp làm việc của ông có vẻ như rất thảm hại, nhưng có thể giải quyết những công việc có hiệu quả, mạnh mẽ hơn cả những giác thư rất hình thức.

Cách làm việc này rất hiệu quả khi tổng thống định ngăn chặn một đòn của Tòa án tối cao chống lại việc dẫn độ với lập luận rằng đó là một vấn đề thuộc về pháp luật chứ không phải vấn đề thuộc hiến pháp. Bộ trưởng chính phủ Hemberto de la Calle đã thuyết phục được sự tham gia của đa số. Nhưng những vấn đề mà mọi người quan tâm đã kết thúc do sự áp đặt của chính phủ, thực hiện những vấn đề mà chính phủ muốn. Nhưng những vấn đề mà mọi người quan tâm đã kết thúc do sự áp đặt đã làm vừa lòng chính phủ, và đối với những ai xem việc dẫn độ như là một trong những yếu tố gây ra sự hỗn loạn xã hội, và trước hết là nguyên nhân của chủ nghĩa khủng bố man rợ.

Như vậy là sau nhiều sự vòng vèo, lắt léo đã kết thúc cuộc tranh luận bao gồm cả đề tài của Ban nhân quyền.

Ở giữa tất cả, những anh em nhà Ochoa vẫn sợ rằng Escobar bị ám ảnh bởi chính những ma quái của chính mình sẽ lao vào một thảm họa khủng khiếp có tầm cỡ như ngày tận thế. Đó là một mối sợ hãi tiên tri.

Đầu tháng ba, Villamizar nhận được của anh em nhà Ochoa một bức thư khẩn cấp: “Xin mời ông hãy tới ngay, sẽ xảy ra những sự việc rất nghiêm trọng”. Họ đã nhận được một bức thư của Escobar dọa sẽ làm nổ 50 tấn thuốc nổ để phá hủy một di tích lịch sử của thành phố Cartagena de Indias nếu chính phủ không trừng phạt những cảnh sát đã tàn phá những làng xóm của Medellin: 100kg vì mỗi thanh niên bị giết ngoài vòng chiến đấu. Bọn buôn bán ma túy xem thành phố Cartagena như một thánh địa không được đụng tới cho tới ngày 28-9-1989, khi một khối thuốc nổ làm rung chuyển nền móng và biến thành tro bụi những cửa kính của Hotel Hilton, giết chết hai bác sĩ đang tham dự một hội nghị tại khách sạn. Bắt đầu từ đó thấy rõ di sản văn hóa của nhân loại đó cũng không thể thoát khỏi cuộc chiến tranh. Sự đe dọa mới không cho phép một phút do dự.

Tổng thống biết tin ấy qua Villamizar chỉ một ít ngày trước khi hết hạn. “Bây giờ chúng ta đấu tranh không để cứu Maruja mà để cứu Cartagena” - Villarmizar nói với tổng thống để ông dễ suy nghĩ. Tổng thống đã cảm ơn ông Villarmizar về tin tức mà ông đã thông báo, chính phủ sẽ áp dụng những biện pháp để ngăn chặn thảm họa, nhất định không lùi bước trước áp lực của bọn ma túy. Vì thế một lần nữa Villarmizar bay đi Medellin với sự giúp đỡ của anh em Ochoa, cuối cùng đã thuyết phục được Escobar không dễ dàng. Ít ngày hết hạn, Escobar trong một lời cam đoan viết vội đã đảm bảo rằng sẽ không xảy ra chuyện gì với những nhà báo bị bắt cóc trong lúc này và hoãn việc nổ bom ở những thành phố lớn. Nhưng cũng nói một cách dứt khoát, nếu sau tháng tư những cuộc hành quân của cảnh sát ở Medellin vẫn tiếp tục thì cả thành phố Cartagena de Indias sẽ không còn một viên gạch nguyên vẹn.

Nguyên tác: Noticia de un secuestro Dịch giả: Đoàn Đình Ca Đánh máy: Thùy An, Lê Thanh, Thùy Trâm, Thiên Thanh, Minh Khuyên, Hồng Hạnh, Yên Hà, Thu Thủy
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.