- Này, Watson - chỉ huy Vance gọi xuống khoang giữa - Lên đây và xem ngôi nhà mới của cô đi!
Emma trôi lên cầu thang và xuất hiện trên khoang lái, ngay sau ghế ngồi của Vance. Khi mới nhìn lướt qua cửa sổ, cô hít một hơi thật mạnh vì ngạc nhiên. Đây là điểm gần nhất cô được đến với trạm không gian. Trong suốt lần làm nhiệm vụ đầu tiên cách đây hai năm rưỡi, họ đã không được lên Trạm không gian quốc tế mà chỉ nhìn nó từ xa.
- Nó tuyệt quá đúng không?
- Nó là thứ tuyệt nhất mà tôi từng thấy - Emma nói khẽ.
Quả thật như vậy. Những tia nắng đang tỏa ra từ mái giàn chính khiến Trạm vũ trụ quốc tế trông như một chiếc thuyền buồm kỳ vĩ đang bay thẳng lên trời. Được mười sáu quốc gia khác nhau chế tạo, các bộ phận của nó đã được đưa lên vũ trụ sau bốn mươi lăm lần phóng. Họ đã mất năm năm lắp ghép nó từng mảnh từng mảnh một để cho nó bay vào quỹ đạo. Nó không chỉ đơn thuần là một kỳ công của công nghệ, mà nó còn là một biểu tượng cho những gì con người có thể đạt được khi họ hạ vũ khí và hướng ánh mắt lên trời.
- Giờ thì đó là một phần của cải thật sự - Vance nói - Tôi sẽ gọi đó là một căn hộ để ngắm cảnh.
- Chúng ta đã đến nơi - phi công lái tàu con thoi DeWitt nói - Bay tốt.
Vance rời ghế chỉ huy và đứng cạnh ô cửa phía trên đầu tàu để nhìn rõ khi họ đến gần khoang hạ cánh của Trạm vũ trụ quốc tế. Đây là giai đoạn tinh tế nhất trong suốt toàn bộ quá trình phức tạp để gặp nhau theo kế hoạch. Tàu Atlantis đã được phóng đến quỹ đạo thấp hơn so với Trạm vũ trụ. Hai ngày qua, cô đã không chơi trò đuổi kịp Trạm vũ trụ đang chuyển động ầm ầm. Họ sẽ tiếp cận cô từ phía dưới, sử dụng các máy bay sử dụng hệ thống điều khiển theo phản xạ để định vị vị trí tốt nhất để hạ cánh. Emma giờ đã nghe thấy tiếng phụt mạnh của các ống xả và cô thấy con tàu đang giật mạnh.
- Nhìn xem! - DeWitt kêu lên - Đó là tia nắng đã kêu ầm ĩ trong tháng qua - anh chỉ một trong những tấm mặt trời bị thủng một lỗ lớn. Đó là một trong những mối nguy hiểm ngoài vũ trụ là những cơn mưa thiên thạch và các mảnh vụn do con người tạo ra không ngừng rơi xuống. Thậm chí chỉ một mảnh vụn nhỏ cũng có thể biến thành một vũ khí phóng nguy hiểm khi nó di chuyển với tốc độ hàng nghìn dặm một giờ.
Khi họ tiến lại gần hơn và Trạm vũ trụ đã choán hết ô cửa. Emma cảm thấy một nỗi sợ hãi choán ngợp và cả niềm tự hào lớn đến nỗi mắt cô long lanh nước. Nhà, cô nghĩ, mình đang về nhà.
Chiếc cửa chặn khí mở toang và một khuôn mặt to lớn với nước da nâu cười với họ ở đầu kia của đường ống nối tàu Atlantis với Trạm vũ trụ quốc tế.
- Họ đã mang theo những trái cam! - Luther Ames hét to với các đồng nghiệp trên trạm - Tôi có thể ngửi thấy chúng.
- Dịch vụ cung cấp tận nhà của NASA đây - chỉ huy Vance nói mà mặt lạnh như không - Rau quả của quý vị đã đến - Vance xách một túi đầy hoa quả tươi và bay qua cửa chặn khí của tàu Atlantis sang Trạm vũ trụ.
Họ đã hạ cánh hoàn hảo. Cả hai con tàu đều di chuyển với vận tốc mười bảy nghìn năm trăm dặm một giờ, cách xa trái đất, Vance đã tiếp cận Trạm vũ trụ quốc tế theo một tỉ lệ rất nhỏ là hai in-sơ mỗi giây. Anh đã nối liền khoang hạ cánh của tàu Atlantis với cảng của Trạm vũ trụ để khóa chặt và gọn.
Giờ những cánh cửa đã mở và từng người trong phi hành đoàn Atlantis bay sang Trạm vũ trụ được chào đón bằng những cái bắt tay, những cái ôm và những nụ cười hân hoan trên khuôn mặt của những người đã không được gặp khách mới trong nhiều tháng trời. Khoang đó quá nhỏ để chứa mười ba người nên hai phi hành đoàn nhanh chóng vào khoang kế bên.
Emma là người thứ năm vào trạm. Cô chui ra khỏi ống nối và hít một hỗn hợp mùi mới. Đó là thứ mùi hơi chua và có hơi da thịt của những người bị nhốt quá lâu trong không gian kín. Luther Ames, người bạn cũ huấn luyện trong đội phi hành gia, là người đầu tiên chào cô.
- Tôi nghĩ đây là bác sĩ Watson! - anh nói to rồi ôm cô vào lòng - Chào mừng cô lên trạm! Càng nhiều phụ nữ càng vui!
- Này, anh biết tôi không phải là phụ nữ mà.
Anh nháy mắt.
- Chúng ta giữ bí mật đó giữa hai ta thôi - Luther lúc nào cũng khoác lác. Đó là một người đàn ông có thể khiến cả căn phòng vui vẻ hẳn lên. Mọi người thích Luther vì anh yêu quý tất cả. Emma rất vui khi có anh trên trạm.
Đặc biệt là khi cô quay sang nhìn những người bạn khác trên trạm. Đầu tiên, cô bắt tay Michael Griggs, chỉ huy trạm và thấy anh ta chào lịch sự nhưng gần như theo kiểu nhà binh. Diana Estes, một phụ nữ Anh được Cơ quan vũ trụ Châu Âu gửi lên, không nồng nhiệt hơn là mấy. Cô cười nhưng thật ngạc nhiên là cặp mắt cô xanh như tảng băng trôi, lạnh lùng và xa cách.
Tiếp theo, Emma quay sang anh người Nga, Nicolai Rudenko, người ở trên trạm lâu nhất - gần năm tháng. Những bóng đèn trong khoang tàu dường như đã làm trôi hết mọi màu sắc trên mặt anh ta và biến nó thành một màu xám xịt như đám râu hoa mọc lởm chởm của anh. Khi họ bắt tay, hầu như anh không nhìn cô. Người đàn ông này, cô nghĩ, cần được về nhà. Anh ấy đang buồn và rã rời.
Kenichi Hirai, phi hành gia của trung tâm NASDA trôi về phía trước chào cô. Ít ra thì anh nở một nụ cười trên mặt và bắt tay rất chặt. Anh lẩm bẩm chào cô và nhanh chóng lui về phía sau.
Lúc này khoang tàu đã trống không, những người còn lại trong nhóm rải rác đi về các khu vực khác của trạm không gian. Cô thấy chỉ còn lại cô và Bill Haning.
Debbie Haning đã mất cách đây ba hôm. Tàu Atlantis sẽ đưa Bill về nhà, không phải đến bên giường bệnh của vợ anh mà tới mộ của cô. Emma lướt đến bên anh.
- Tôi xin lỗi - cô nói khẽ - Tôi rất tiếc!
Anh chỉ gật đầu và quay đi.
- Lạ thật! - anh nói - Chúng tôi luôn nghĩ nếu có chuyện gì đó xảy ra thì người gánh chịu sẽ là tôi. Tôi là một anh hùng vĩ đại trong gia đình, là người phải nhận những mối nguy hiểm. Chúng tôi chưa bao giờ nghĩ rằng cô ấy sẽ là người… - anh hít sâu. Cô thấy anh đang cố gắng giữ bình tĩnh. Và cô biết lúc này không thích hợp để nói những lời an ủi. Ngay cả một sự đụng chạm nhẹ cũng có thể làm sụp đổ sự chống cự yếu ớt của anh về mặt cảm xúc.
- Ồ, Watson! - cuối cùng anh nói - Tôi nghĩ tôi nên là người chỉ cho cô mọi việc vì cô sẽ đảm nhận công việc của tôi.
Cô gật đầu.
- Bất cứ khi nào anh sẵn sàng, Bill ạ.
- Vậy hãy làm việc đó ngay bây giờ. Có rất nhiều điều tôi cần nói cho cô biết. Không có nhiều thời gian để chuyển giao đâu.
Dù Emma đã quen với cách bố trí của trạm không gian, khi nhìn vào cấu trúc thực sự bên trong, cô cảm thấy chóng mặt. Tình trạng không trọng lượng của con tàu, nghĩa là không có việc thẳng đứng hay lộn ngược, không có sàn nhà hay trần nhà. Mọi bề mặt đều có thể đóng vai trò là nơi làm việc. Nếu cô quay quá nhanh trong không trung thì cô sẽ mất cảm giác về phương hướng ngay lập tức. Những cơn buồn nôn cuộn lên làm cô phải di chuyển rất chậm và cố gắng tập trung vào một điểm khi di chuyển.
Cô biết kích cỡ của Trạm vũ trụ quốc tế có không gian sống tương đương hai chiếc Boeing 747. Nhưng không gian sống đó được gắn hàng chục khoang to bằng chiếc xe buýt. Chúng được nối với nhau như những đồ chơi của hãng Tinkertoys bởi những điểm nối gọi là các nút. Tàu con thoi đã hạ cánh trên nút thứ hai. Được gắn cùng trên nút đó là phòng thí nghiệm của cơ quan vũ trụ Châu Âu, phòng thí nghiệm của Nhật Bản và phòng thí nghiệm của Mỹ. Phòng này đóng vai trò là cửa vào những phần còn lại của Trạm vũ trụ.
Bill dẫn cô ra khỏi phòng thí nghiệm của Mỹ, đến điểm nút tiếp theo, đó là điểm nút số một. Ở đây, họ dừng lại một lúc và nhìn qua mái vòm quan sát. Trái đất đang quay chậm dưới họ và những đám mây đục như sữa đang lượn vòng trên biển.
- Đây là nơi tôi thường lui tới mỗi khi rảnh - Bill nói - Chỉ cần nhìn ra ngoài cửa sổ. Như thế khiến tôi cảm thấy sợ hãi. Tôi gọi nơi này là Nhà thờ của Đất mẹ - anh quay đi không nhìn cảnh đó nữa và chỉ một cánh cửa vào một nút khác - Ngay trước mặt chúng ta là cửa chặn khí các hoạt động đi lại trên trạm. Còn cánh cửa bên dưới chúng ta dẫn đến khoang sinh hoạt. Chỗ ngủ của cô ở đó. Phương tiện cứu hộ để quay về trái đất nằm ở đầu kia phòng thí nghiệm để cô có thể đến đó khi có trường hợp khẩn cấp.
- Ba thành viên trong đoàn ngủ trong khoang này à?
Anh gật đầu.
- Ba người khác ngủ trong khoang dịch vụ của Nga. Cô có thể đi qua cánh cửa ở đây. Giờ chúng ta hãy đến đó!
Họ rời nút số một, bơi như cá qua mê cung các đường hầm và đến khoang dịch vụ của Nga trên trạm.
Đây là phần cũ nhất của Trạm vũ trụ quốc tế, phần được phóng lên quỹ đạo lâu nhất và sự già nua của nó hiện rõ. Khi họ đi qua Zarya - lò năng lượng và lò đẩy động cơ - cô thấy nhiều vết ố trên tường, có cả những vết cào xước và sứt mẻ. Những gì lúc đầu chỉ là những bản thiết kế trong đầu cô giờ đã bắt đầu biến thành những chi tiết cụ thể và có cảm giác. Trạm vũ trụ không chỉ là một mê cung những phòng thí nghiệm lấp lánh mà nó cũng là nơi ở của con người. Những hao mòn và hư hỏng do sự cư trú thường xuyên của con người hiện hữu rất rõ.
Họ bay vào khoang dịch vụ của Nga. Ở đó, Emma gặp một cảnh tượng kỳ lạ của Griggs và Vance. Cả hai đều lộn ngược. Hay mình là người lộn ngược? Emma nghĩ và thấy buồn cười khi sống trong thế giới đảo lộn không trọng lực này. Giống như khoang sinh hoạt, khoang dịch vụ của người Nga có một phòng trưng bày, một nhà vệ sinh và các chỗ ngủ cho ba thành viên. Ở góc xa, cô thấy một lối ra khác.
- Lối đó có dẫn ra tàu Soyuz cũ không? - cô hỏi.
Bill gật đầu.
- Giờ chúng tôi dùng nó làm kho chứa đồ linh tinh. Đó là tất cả những gì chúng tôi có thể làm với nó. Thân tàu Soyuz đã từng được sử dụng làm thuyền cứu hộ trong trường hợp khẩn cấp, giờ quá cũ kỹ. Pin của nó đã cạn từ lâu.
Luther Ames thò đầu ra khỏi khoang dịch vụ của Nga.
- Này mọi người! Đã đến lúc trình diễn rồi đấy! Cả nhóm sẽ ôm nhau ở trung tâm hội nghị truyền thông. NASA muốn những người trả tiền thuế nhìn thấy lễ hội tình yêu của chúng ta ở trên này.
Bill thở dài mệt mỏi.
- Chúng ta như những con vật trong sở thú. Ngày nào cũng phải cười với mấy cái máy ảnh ngu ngốc.
Emma là người cuối cùng tham gia vào cuộc di cư lên khoang sinh hoạt. Khi cô đến đó, hơn mười người đã tụ tập bên trong. Trông họ như một đám tay và chân, ai cũng lắc lư, cố không va vào nhau.
Trong khi Griggs tổ chức mọi việc, Emma nán lại ở nút số một. Cô trôi trong không trung và từ từ trôi về phía mái vòm. Cảnh đẹp ngoài ô cửa khiến cô nghẹt thở.
Trái đất ở bên dưới phô bày hết vẻ đẹp của nó, một chuỗi những ngôi sao tạo thành đường viền nhẹ nhàng trên đường chân trời. Giờ họ đang đi vào chỗ tối, và ở bên dưới cô thấy những dấu ấn quen thuộc trôi dần vào bóng tối. Houston! Đó là lễ hái quả đầu tiên của họ trong đêm.
Cô cúi sát về phía cửa sổ, áp tay vào kính. Ôi, Jack, cô nghĩ, em ước anh có ở đây. Em ước gì anh có thể nhìn thấy cảnh tượng này.
Rồi cô vẫy tay. Và cô biết chắc chắn rằng ở nơi nào đó dưới màn đêm dưới kia, Jack đang vẫy tay đáp lại cô.