TỘI LỖI ĐẦU TIÊN

Bóng Ma Trên Mạng

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 50 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
03

❊ ❊ ❊

Sau khi tìm ra cách lấy được các số điện thoại không công khai, tôi rất háo hức tìm kiếm thông tin về mọi người – bạn bè, bạn của bạn bè, giáo viên, hay thậm chí là người lạ. Cục Cấp phép Phương tiện Cơ giới (Department of Motor Vehicles – DMV) là một kho thông tin tuyệt vời. Liệu có cách nào để tôi có thể động vào đó được không?

Để bắt đầu, tôi gọi đến văn phòng DMV từ điện thoại công cộng ở một quán ăn và nói đại loại rằng: “Tôi là sĩ quan Campbell, thuộc Phòng Cảnh sát Los Angeles, đồn Van Nuys. Máy tính của chúng tôi bị hỏng, mà vài sĩ quan ngoài hiện trường đang cần một số thông tin. Các anh có thể giúp tôi không?”

Người nhận điện ở DMV nói: “Tại sao anh không gọi bằng đường dây của lực lượng chấp pháp?”

Ồ, được rồi – có số điện thoại riêng dành cho cảnh sát. Làm thế nào để tìm được số điện thoại này đây? Dĩ nhiên, các cảnh sát ở đồn sẽ biết, nhưng… chẳng nhẽ tôi lại gọi đến đồn cảnh sát để lấy thông tin giúp mình phạm pháp ư? Ồ, tất nhiên rồi.

Gọi đến đồn cảnh sát gần nhất, tôi nói tôi đến từ Phòng Cảnh sát trưởng Los Angeles, chúng tôi cần gọi cho DMV nhưng viên sĩ quan biết số điện thoại dành cho lực lượng chấp pháp đã ra ngoài. Tôi cần người trực tổng đài cho tôi số điện thoại đó. Và cô ấy đã làm vậy. Chỉ đơn giản thế thôi.

(Gần đây, khi nhớ lại câu chuyện này, tôi nghĩ rằng mình vẫn còn nhớ số của lực lượng chấp pháp ở DMV hoặc vẫn có thể lấy được nó. Tôi nhấc điện thoại lên và quay số. DMV có một hệ thống điện thoại Centrex, vì thế, tất cả các số điện thoại đều có chung mã vùng và đầu số: 916-657. Chỉ có phần số máy cuối – 4 số cuối – là khác nhau giữa các phòng ban. Tôi chọn 4 số cuối ngẫu nhiên, kiểu gì cũng gặp một ai đó ở DMV và có được sự tín nhiệm bởi tôi đã gọi đến một số điện thoại nội bộ.

Người nghe điện nói điều gì đó tôi không hiểu.

Tôi nói: “Đây có phải là số điện thoại dành cho lực lượng chấp pháp không?”

Cô ấy nói: “Không.”

“Vậy chắc tôi gọi nhầm số rồi,” tôi nói. “Số của lực lượng chấp pháp là gì vậy?”

Cô ấy cho tôi biết! Sau ngần ấy năm, họ vẫn chưa “khôn” ra.)

Sau khi gọi đến đường dây dành cho lực lượng chấp pháp ở DMV, tôi phát hiện ra có một lớp bảo vệ thứ hai. Tôi sẽ cần một “Mã yêu cầu”. Cũng như trước kia, tôi phải bịa ra một câu chuyện ngay lúc tình thế nước sôi lửa bỏng này. Tôi nói với người nhân viên bằng giọng lo lắng: “Chúng tôi vừa có một tình huống khẩn cấp ở đây, tôi sẽ gọi lại sau.”

Tôi lại gọi đến đồn cảnh sát Los Angeles Van Nuys, nói rằng tôi là người của DMV và hiện đang soạn một cơ sở dữ liệu mới. “Mã yêu cầu của các anh là 36472 phải không?”

“Không, là 62883.”

(Tôi phát hiện ra mánh này thường rất hiệu quả. Nếu bạn hỏi một thông tin nhạy cảm nào đó, người khác sẽ lập tức sinh nghi. Nhưng nếu bạn giả vờ đã có thông tin đó và đưa cho họ thông tin sai, thường thì họ sẽ sửa lại cho bạn – trao cho bạn thông tin đang tìm kiếm.)

Chỉ với vài phút gọi điện, tôi đã có số bằng lái xe và địa chỉ nhà của bất cứ ai trong bang California, hay dùng biển số xe để lấy được các thông tin chi tiết như tên chủ xe và địa chỉ, hoặc dùng tên ai đó để lấy thông tin đăng ký xe của họ. Tại thời điểm đó, đây chỉ là một phép thử về kỹ năng của tôi nhưng sau này, DMV sẽ trở thành mỏ thông tin để tôi tận dụng theo vô vàn cách khác nhau.

Tất cả những công cụ mà tôi đã thu thập thêm giống như những món tráng miệng ở cuối bữa ăn vậy. Món chính của tôi vẫn là phone phreaking. Tôi gọi đến rất nhiều văn phòng Pacific Telephone và General Telephone, thu thập thông tin chỉ để thỏa mãn cơn khát “Mình có thể lấy được thông tin gì?”, thực hiện các cuộc gọi để xây cho mình ngân hàng thông tin về các phòng ban, các quy trình, cách nói chuyện của các công ty và chuyển cuộc gọi của tôi qua các nhà mạng đường dài để chúng khó bị truy dấu hơn. Hầu hết đều là từ điện thoại của mẹ trong căn hộ của chúng tôi.

Tất nhiên, các phreaker muốn ghi điểm bằng cách cho các phreaker khác thấy những thứ mới mẻ họ đã học được cách làm. Tôi thích chơi khăm lũ bạn, dù chúng là phreaker hay không. Một hôm, tôi đã hack vào bộ chuyển mạch[1] của công ty điện thoại phục vụ khu vực mà anh bạn Steve Rhoades của tôi đang sống với bà, đổi “mã lớp đường dây” (line class code) từ khu dân cư sang điện thoại công cộng. Mỗi khi Steve hay bà của cậu ta định gọi điện, họ sẽ nghe thấy câu: “Xin hãy bỏ vào 10 xu.” Tất nhiên, cậu ta biết ai đã làm trò đó và sẽ gọi điện để cằn nhằn. Tôi hứa sẽ chỉnh lại như cũ, và đúng là tôi đã làm vậy, nhưng là đổi sang dịch vụ điện thoại công cộng trong tù. Giờ thì mỗi khi họ định gọi điện, một viên trực tổng đài sẽ nói: “Đây là cuộc gọi tính phí người nghe. Xin cho biết tên.” Steve gọi và nói, “Hay lắm – đổi lại đi.” Tôi cười đủ rồi đổi lại.

Các tay phreaker đã tìm ra cách thực hiện cuộc gọi miễn phí, tận dụng kẽ hở trong một số loại “chia nhánh điện thoại” (diverter) – các thiết bị được dùng để cung cấp tính năng chuyển tiếp cuộc gọi (ví dụ, chuyển cuộc gọi đến cho các dịch vụ trả lời) vào thời kỳ trước khi tính năng chuyển tiếp cuộc gọi được cung cấp bởi các công ty điện thoại. Một phreaker sẽ gọi đến vào thời điểm anh ta biết chắc đơn vị kinh doanh đã đóng cửa. Khi dịch vụ trả lời bắt máy, anh ta sẽ hỏi một câu đại loại như: “Chỗ các anh mở cửa lúc mấy giờ?” Khi người trả lời ngắt máy, phreaker sẽ tiếp tục giữ máy; sau đó một lúc, anh ta sẽ nghe thấy âm hiệu quay số[2]. Lúc này, phreaker có thể gọi miễn phí đến bất kỳ số điện thoại nào trên thế giới – tiền cước gọi sẽ bị tính cho đơn vị kinh doanh kia.

Cũng có thể dùng bộ chia nhánh điện thoại để nhận các cuộc gọi đến cho các số gọi lại[3] trong một cuộc tấn công phi kỹ thuật.

Một cách tiếp cận bộ chia nhánh điện thoại khác là phreaker sẽ gọi đến một số “tự động xác định số điện thoại” (số ANI)[4] của các kỹ thuật viên công ty điện thoại. Một khi đã biết được số này, phreaker sẽ biến nó trở thành số gọi lại của mình. Để nhận cuộc gọi, phreaker sẽ gọi đến số chính của đơn vị kinh doanh nhận chuyển cuộc gọi. Nhưng lần này, khi bộ chia nhánh điện thoại chuyển sang đường dây thứ hai để gọi đến dịch vụ trả lời, về bản chất nó sẽ trả lời cuộc gọi đến.

Tôi dùng cách này để nói chuyện với anh bạn Steve vào một tối muộn. Cậu ta nghe máy thông qua đường dây chuyển hướng thuộc về một công ty có tên là Prestige Coffee Shop ở Thung lũng San Fernando.

Chúng tôi đang tán gẫu về phone phreaking thì bỗng nhiên có một giọng nói cắt ngang cuộc trò chuyện.

“Chúng tôi đang theo dõi các cậu đấy,” người lạ nói.

Steve và tôi cúp máy ngay lập tức. Chúng tôi gọi trực tiếp cho nhau, cười nhạo nỗ lực cỏn con của công ty điện thoại để dọa chúng tôi, nói với nhau rằng hội làm ở đó là một lũ ngớ ngẩn ra sao. Giọng nói cũ lại cắt ngang: “Chúng tôi vẫn đang theo dõi các cậu đấy!”

Bây giờ ai mới là bọn ngớ ngẩn?

Một thời gian sau, mẹ tôi nhận được một lá thư từ General Telephone (GTE), sau đó là một cuộc gặp mặt trực tiếp với Don Moody, trưởng Bộ phận An ninh của công ty, người đã cảnh báo mẹ tôi rằng nếu tôi không dừng mấy trò đang làm, GTE sẽ hủy dịch vụ điện thoại của chúng tôi vì tội lừa đảo và chiếm dụng. Mẹ đã bị sốc và bối rối bởi ý nghĩ sẽ bị cắt dịch vụ điện thoại. Và Moody đã không nói đùa. Khi tôi tiếp tục trò phreaking, GTE đã hủy dịch vụ của chúng tôi. Tôi nói mẹ đừng lo, tôi có một ý tưởng.

Công ty điện thoại gán mỗi đường dây điện thoại với một địa chỉ nhất định. Số điện thoại bị hủy của chúng tôi được gán cho Hộ 13. Giải pháp của tôi khá đơn sơ: Đến cửa hàng thiết bị và lục tìm bộ chữ cái và số mà bạn thường gắn lên cửa trước nhà mình. Tôi trở về căn hộ, bỏ số “13” xuống và đóng số “12B” lên đó.

Sau đó, tôi gọi đến GTE và nói chuyện với đơn vị xử lý việc cấp phát số. Tôi giải thích rằng có một căn hộ 12B mới vừa được thêm vào khu căn hộ và muốn họ sửa đổi hồ sơ cho phù hợp. Họ nói sẽ mất 24-48 tiếng để cập nhật hệ thống.

Tôi đợi.

Khi tôi gọi lại, tôi nói mình là người mới chuyển đến 12B và muốn đặt dịch vụ điện thoại. Người phụ nữ ở công ty điện thoại hỏi tôi muốn số điện thoại gán cho tên gì.

“Jim Bond,” tôi nói. “À, không… tại sao không biến nó thành tên hợp pháp của tôi nhỉ? James.”

“James Bond,” cô ta nhắc lại, không có phản ứng gì – ngay cả khi tôi trả thêm phí để chọn số của riêng mình: 895-5…007[5].

Sau khi cài xong máy điện thoại, tôi gỡ số “12B” ngoài cửa và trả lại đó số “13”. Phải mất vài tuần để ai đó bên GTE phát hiện ra và hủy dịch vụ.

Nhiều năm sau tôi mới biết rằng đó là khi GTE bắt đầu lập hồ sơ về tôi. Năm đó tôi 17 tuổi.

Cũng vào khoảng thời gian đó, tôi biết một gã tên là Dave Kompel, dù đã đầu hai đít chơi vơi nhưng vẫn chưa hết đống mụn tuổi dậy thì, tệ đến mức chúng làm mặt gã biến dạng. Trong vai trò phụ trách bảo trì máy tính cỡ trung PDP-11/70 chạy hệ điều hành RSTSE của Khu học chánh Los Angeles, gã cùng một vài người bạn sở hữu những kiến thức về máy tính mà tôi rất khâm phục. Thèm khát được tiếp nhận vào hội của họ để được chia sẻ thông tin, tôi đưa ra đề nghị với Dave và một người trong số bạn của gã, Neal Goldsmith. Neal là một gã béo phì, tóc ngắn và có vẻ được một gia đình giàu có nuông chiều. Cuộc đời gã có lẽ chỉ xoay quanh đồ ăn và máy tính.

Neal nói với tôi rằng họ sẽ chỉ đồng ý cho tôi vào hội nếu tôi có thể chứng minh được mình trước. Họ muốn tôi truy cập vào một hệ thống máy tính gọi là “Ark”. Đây là một hệ thống ở Digital Equipment do nhóm phát triển RSTSE sử dụng. Gã bảo tôi: “Cậu phải hack vào Ark thì chúng tôi mới biết là cậu đủ trình để cùng chúng tôi chia sẻ thông tin.” Và để giúp tôi bắt đầu, Neal đã có sẵn số dial-up[6] mà một người bạn làm ở Đội Phát triển RSTSE cho gã.

Gã ra thử thách này cho tôi bởi gã biết tôi sẽ không đời nào làm được.

Thử thách này có thể bất khả thi, nhưng chắc chắn tôi sẽ thử.

Số modem hiện ra trên màn hình đăng nhập của Ark, nhưng tất nhiên bạn phải nhập số và mật khẩu hợp lệ. Làm thế nào tôi có thể lấy được những thông tin xác minh này?

Tôi có một kế hoạch có thể sẽ thành công, nhưng để bắt đầu, tôi cần biết tên của người quản trị hệ thống – không phải người trong nhóm phát triển mà là người quản lý các hệ thống máy tính bên trong Digital. Tôi gọi đến phòng chuyển cuộc gọi cho cơ sở ở Merrimack, New Hampshire, nơi đặt Ark, và yêu cầu được nối máy đến phòng máy tính.

“Anh muốn gọi đến phòng nào?”, người ở phòng chuyển cuộc gọi hỏi.

Á! Tôi chưa bao giờ nghĩ đến việc tìm hiểu xem Ark thuộc phòng nào. Tôi nói đại: “Phòng phát triển RSTSE.”

“À, ý anh là phòng có sàn nâng. Tôi sẽ nối máy cho anh.” (Các hệ thống máy tính lớn thường được đặt trên các sàn nâng để hệ thống dây cáp cồng kềnh có thể chạy bên dưới.)

Một phụ nữ nhấc máy. Tôi đang tham gia một canh bạc, nhưng họ sẽ không thể truy dấu được cuộc gọi này, nên ngay cả khi họ có nghi ngờ, tôi cũng không mất gì nhiều.

“Có phải PDP-11/70 cho Ark đặt ở phòng này không?” tôi hỏi, đưa ra tên hệ thống máy tính DEC mạnh nhất bấy giờ, thứ mà tôi đoán nhóm phát triển đang sử dụng.

Câu trả lời của người phụ nữ kia đã khẳng định điều này.

“Tôi là Anton Chernoff,” tôi trơ trẽn khẳng định. Chernoff là một trong những nhà phát triển chủ chốt trong đội phát triển RSTSE, vì thế, tôi đang liều mình chấp nhận rủi ro lớn rằng cô ta không quen giọng của Anton. “Tôi đang gặp trục trặc trong việc đăng nhập vào tài khoản ở Ark.”

“Vậy thì anh phải liên hệ với Jerry Covert.”

Tôi hỏi số máy lẻ của anh ta; cô ta đưa cho tôi không chút ngại ngần. Khi gọi cho Jerry Covert, tôi nói: “Hey, Jerry, Anton đây,” đoán rằng ngay cả khi anh ta không biết Chernoff ngoài đời thì hẳn cũng biết đến cái tên.

“Hey, anh dạo này thế nào?” anh ta trả lời vui vẻ, rõ ràng là chưa đủ quen với Chernoff ngoài đời để biết rằng giọng tôi không giống giọng anh ta.

“Tôi vẫn ổn,” tôi nói, “nhưng các anh vừa xóa một trong số tài khoản của tôi à? Tôi đã tạo một tài khoản để kiểm tra một vài đoạn mã tuần trước, nhưng giờ lại không đăng nhập vào được nữa.”

Anh ta hỏi tài khoản đăng nhập của tôi là gì.

Theo kinh nghiệm, tôi biết rằng trong hệ thống RSTSE, số tài khoản là tổ hợp của số dự án và số lập trình viên, ví dụ như 1.119 – mỗi số có thể dao động đến 254. Các tài khoản truy cập luôn có số dự án là 1. Trước đó, tôi cũng phát hiện ra rằng đội phát triển RSTSE sử dụng số lập trình viên bắt đầu từ 200.

Tôi nói với Jerry tài khoản thử nghiệm của mình là “1.119”, thầm cầu nguyện rằng nó chưa được gán cho ai.

Đó là một dự đoán ăn may. Anh ta kiểm tra và nói với tôi rằng chưa có tài khoản 1.119 nào. “Chết tiệt,” tôi nói. “Chắc ai đó đã xóa nó đi rồi. Anh tạo lại cho tôi được không?”

Chernoff muốn gì thì sẽ có đó. “Không thành vấn đề,” Jerry nói. “Anh muốn mật khẩu là gì?”

Tôi nhìn thấy một lọ mứt dâu trong tủ bếp phía đối diện, liền nói: “‘jelly’ đi”.

Trong chớp mắt, anh ta nói: “Được rồi đấy.”

Tôi bị choáng, adrenaline[7] tăng cao. Tôi không thể tin việc này lại dễ dàng như vậy. Nhưng liệu mọi chuyện có suôn sẻ như thế không?

Từ máy tính của mình, tôi gọi đến số mà Neal, người-sẽ-trở-thành-hướng-dẫn-viên-của-tôi, đã đưa cho. Cuộc gọi được kết nối và dòng chữ này xuất hiện:

RSTS V7.0-07 * The Ark * Job 25 KB42 05-Jul-80 11:17 AM

# 1,119

Password:

Dialup password:

Chết tiệt, chết tiệt, chết tiệt. Tôi gọi lại Jerry Covert, vẫn giả là Chernoff. “Này, tôi đang gọi từ nhà, và nó yêu cầu mật khẩu kết nối.”

“Anh không nhận được trong e-mail à? Mật khẩu là ‘buffoon.’”

Tôi thử lại lần nữa và tôi đã vào được!

Trước hết, tôi phải bắt đầu lấy hết đống mật khẩu của tất cả mọi người trong đội phát triển đã.

Khi gặp Neal, tôi bảo gã,: “Truy cập vào Ark chỉ là chuyện nhỏ như con thỏ. Tôi còn có mật khẩu của mọi nhà phát triển RSTSE.” Gã đảo mắt ra vẻ: Thằng này ngáo à?

Gã quay số modem và vào đến màn hình đăng nhập của Ark. Bảo gã “dịch ra chỗ khác”, tôi nhập thông tin xác minh và nhận được dấu nháy “Ready” (Sẵn sàng).

“Thỏa mãn chưa, Neal?” tôi hỏi.

Gã không thể tin nổi vào mắt mình, như thể tôi đã cho gã thấy một tấm vé trúng số. Sau khi vặn hỏi cặn kẽ cách tôi lấy được quyền truy cập, Neal, Dave và vài người bạn khác cùng đến một công ty tên là PSI gần thành phố Culver, nơi họ đặt chiếc modem mới nhất, nhanh nhất, chạy với tốc độ 1.200 baud[8] – nhanh gấp bốn lần những modem 300 baud mà chúng tôi có. Họ bắt đầu tải về mã nguồn RSTSE.

Giang hồ cũng có luật. Thay vì tin tưởng và chia sẻ thông tin với tôi, bọn họ lại tải về mã nguồn RSTSE và giữ cho riêng mình.

Sau này, tôi mới biết rằng lũ khốn đó thực ra đã gọi đến DEC và nói với họ rằng Ark đã bị hack, và khai ra tên của tôi. Bọn chúng đã chơi đểu tôi. Nào ngờ những gã đó đã định chỉ điểm tôi, đặc biệt là sau khi họ thu về được chiến lợi phẩm lớn như vậy. Đây là lần đầu tiên tôi bị những người mà mình tin tưởng phản bội.

Năm 17 tuổi, dù đang theo học trung học nhưng tôi đã quyết chí theo đuổi giấc mơ trở thành Tiến sĩ hacking RSTSE. Tôi sẽ truy tìm mục tiêu bằng cách kiếm các công ty đăng quảng cáo tìm người có kinh nghiệm máy tính với RSTSE. Tôi sẽ gọi, khẳng định mình đến từ đội hỗ trợ kỹ thuật của DEC, và thường nói chuyện với nhân viên quản trị hệ thống để họ đưa số dial-up và mật khẩu của tài khoản đặc quyền.

Tháng 12 năm 1980, tôi vô tình gặp Micah Hirschman, một tên nhóc có cha sở hữu một tài khoản ở Bloodstock Research, một công ty vốn cũng dùng RSTSE. Đoán rằng công ty này đang lưu giữ các ghi chép lịch sử về huyết thống của ngựa đua dành cho những người phối giống và hội cá cược, tôi dùng tài khoản của Hirschman kết nối với Bloodstock Research để có thể khai thác một lỗ hổng an ninh và chiếm quyền truy cập bằng một tài khoản đặc quyền, sau đó Micah và tôi sẽ nghịch hệ điều hành để tự học về nó, đơn giản là cho vui.

Vụ việc này về sau đã để lại hậu quả nghiêm trọng cho chúng tôi. Một đêm muộn, Micah đăng nhập mà không có tôi, Bloodstock đã phát hiện ra vụ đột nhập và báo động cho FBI, thông báo vụ tấn công thông qua tài khoản của Hirschman. Cục điều tra đã đến thăm ngài Hirschman. Ông ta nói rằng mình không biết gì về vụ tấn công. Khi Cục gây áp lực lên ông ta, ông ta chỉ vào con trai, còn Micah thì nói ra tên tôi.

Tôi đang ở trong phòng ngủ trên tầng hai căn hộ của chúng tôi, lên mạng, hack vào các bộ chuyển mạch của Pacific Telephone thông qua một modem dial-up. Nghe thấy tiếng gõ cửa, tôi mở cửa sổ và gọi xuống, “Ai đấy?” Câu trả lời khiến tôi hãi hùng: “Tôi là Robin Brown đến từ FBI.”

Tim tôi bắt đầu đập mạnh.

Mẹ gọi tôi: “Ai đấy?”

“Một gã nói hắn đến từ FBI,” tôi trả lời.

Mẹ chỉ cười vang. Bà không biết đó là ai, nhưng bà không nghĩ đó có thể là FBI.

Tôi hoảng loạn, ngắt luôn điện thoại khỏi giá để modem máy tính và giấu dưới gầm giường thiết bị đầu cuối máy tính[9] TI-700 mà Lewis De Payne đã cho tôi mượn vài tuần trước. Thời đó, trước khi có máy tính cá nhân (PC), tất cả những gì tôi có là một thiết bị đầu cuối và một modem để kết nối đến một hệ thống ở công ty hay trường đại học. Không có màn hình máy tính: phản hồi cho câu lệnh của tôi sẽ được in ra trên một cuộn giấy nhiệt dài.

Tôi chợt nhớ ra một sự thật rằng tôi có cả tấn giấy nhiệt dưới gầm giường, chứa đầy thông tin sẽ chứng minh rằng tôi đã hack nhiều giờ mỗi tuần vào máy tính và bộ chuyển mạch của các công ty điện thoại, cũng như rất nhiều máy tính của các công ty cá nhân.

Khi tôi đi xuống dưới nhà, viên đặc vụ chìa tay ra, tôi bắt tay ông ta. “Tôi đã tóm cổ Stanley Rifkin,” ông ta ngụ ý rằng tôi biết ông ta đang nhắc đến ai. Đó là kẻ đã thực hiện vụ trộm lớn nhất lịch sử, cuỗm đi 10 triệu đô-la từ Ngân hàng Security Pacific National (SPNB) thông qua một pha gài bẫy điện chuyển khoản ngân hàng. Tay đặc vụ nghĩ điều này sẽ dọa được tôi, có điều tôi biết Rifkin chỉ bị bắt bởi gã đã trở về Mỹ và khoe khoang chiến tích. Nếu không thì giờ này gã vẫn đang sống xa hoa ở nước ngoài.

Nhưng đây là một cảnh sát liên bang, và lúc đó vẫn chưa có bộ luật liên bang nào dành cho loại tội phạm đột nhập máy tính mà tôi đang làm. Ông ta nói: “Cậu có thể phải ngồi tù 25 năm nếu cứ tiếp tục quậy phá công ty điện thoại.” Tôi biết ông ta chẳng làm gì được mình, ông ta chỉ đang cố dọa tôi mà thôi.

Điều đó không có tác dụng. Ngay khi ông ta bỏ đi, tôi lại lên mạng. Tôi không đốt đống giấy đã in. Đúng, điều đó thật ngu ngốc. Tôi vốn đã là kẻ cứng đầu cứng cổ rồi.

Nếu chuyến viếng thăm của tay đặc vụ không làm tôi sợ, thì phản ứng của mẹ tôi mới là điều không ai ngờ đến. Với bà, toàn bộ việc này chỉ như một trò đùa ngớ ngẩn: Một thằng bé chỉ ngồi chơi máy tính ở nhà thì có thể gây hại gì được? Bà không có chút khái niệm nào về những gì tôi đang toan tính.

Cảm giác hồi hộp và thỏa mãn khi làm những việc mình không được phép làm thực sự quá tuyệt vời. Tôi bị cuốn theo sự mê hoặc của công nghệ điện thoại và máy tính. Tôi cảm thấy mình như một nhà thám hiểm, khám phá không gian mạng không giới hạn, lẻn vào các hệ thống với sự hồi hộp và thỏa mãn đơn thuần, cao tay hơn hẳn các kỹ sư với nhiều năm kinh nghiệm, tìm ra cách vượt qua các rào cản an ninh, học hỏi cách mọi thứ vận hành.

Chẳng mấy chốc tôi bắt đầu vướng phải một số rắc rối với các nhà chức trách. Micah sau đó đã đi Paris. Khi chuyến bay của hãng Air France đã cất cánh được vài giờ, một thông báo trên hệ thống PA vang lên: “Xin mời hành khách Micah Hirschman ấn nút gọi tiếp viên.” Khi cậu ta ấn nút, một tiếp viên đi về phía cậu ta và nói: “Cơ trưởng muốn nói chuyện với anh trong buồng lái.” Các bạn có thể tưởng tượng sự ngạc nhiên của cậu ta.

Cậu ta được dẫn vào buồng lái. Cơ phó đang nói với ai đó qua bộ đàm rằng Micah đã có mặt, rồi đưa micro cho cậu ta. Một giọng nói vang lên trên bộ đàm: “Đây là đặc vụ FBI Robin Brown. Cục điều tra đã phát hiện ra anh vừa rời nước, đang trên đường đến Pháp. Tại sao anh lại đến Pháp?”

Toàn bộ tình huống này thật lố bịch. Micah đưa ra câu trả lời, và tay đặc vụ vặn vẹo cậu ta thêm vài phút. Hóa ra FBI nghĩ rằng Micah và tôi đã thực hiện một vụ hack lớn kiểu như Stanley Rifkin, có thể chúng tôi đang chuẩn bị cho một vụ lừa đảo chuyển hàng triệu đô-la từ một ngân hàng ở Mỹ đến một ngân hàng nào đó ở châu Âu.

Mọi thứ giống như một cảnh quay trong một bộ phim cướp nhà băng, và tôi yêu thích sự hồi hộp của nó.

Sau khi được nếm mùi kích thích, tôi nghiện luôn – và tôi ngày càng thèm khát cảm giác đó. Ngồi trên ghế của trường trung học, nhưng đầu óc tôi chỉ toàn là những hoạt động hacking và phreaking tới mức chẳng còn chút tập trung và động lực nào cho trường lớp. Hạnh phúc thay, tôi đã phát hiện ra một giải pháp tốt hơn rất nhiều so với việc trở thành một gã bỏ học giữa chừng hay đợi cho đến khi Khu học chánh Los Angeles thể hiện sự không hài lòng và đuổi học tôi.

Vượt qua kỳ thi GED[10] sẽ giúp tôi có được tấm bằng tương đương với bằng tốt nghiệp cấp ba mà không làm phí phạm thêm thời gian của tôi cũng như của các giáo viên. Tôi đăng ký thi và hóa ra, nó dễ hơn rất nhiều so với những gì tôi nghĩ – chắc chỉ tương đương trình độ lớp 8.

Còn gì tuyệt vời hơn khi được trở thành một sinh viên đại học chuyên ngành máy tính, vừa lấy được tầm bằng vừa thỏa mãn cơn khát vô độ của tôi dành cho những kiến thức về máy tính? Mùa hè năm 1981, ở tuổi 17, tôi đăng ký vào Cao đẳng Pierce, một trường học hệ hai năm ở vùng Woodland Hills gần đó.

Quản lý phòng máy tính của trường, Gary Levi, nhận ra niềm đam mê của tôi. Ông đã nâng đỡ tôi, cho tôi một vị trí đặc biệt thông qua việc cấp cho tôi “tài khoản đặc quyền” – trên hệ thống RSTSE.

Món quà của ông có hạn sử dụng. Ông rời trường; không lâu sau đó, trưởng khoa Khoa học Máy tính, Chuck Alvarez, để ý thấy tôi đang đăng nhập vào một tài khoản đặc quyền và bắt tôi thoát ra ngay lập tức. Tôi giải thích rằng Levi đã cho phép tôi, nhưng điều đó không có tác dụng; gã đá tôi ra khỏi phòng máy tính. Khi cha cùng tôi đến gặp Alvarez, gã đã đưa ra lời bào chữa: “Con anh đã biết quá nhiều về máy tính và trường Pierce không còn gì để dạy cậu ta nữa.”

Tôi bỏ học.

Tôi đã mất quyền truy cập vào một hệ thống tuyệt vời, nhưng hồi cuối những năm 1970 đầu những năm 1980, thế giới máy tính cá nhân bước vào giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ, đem đến những chiếc máy tính để bàn đầu tiên có cả màn hình hoặc thậm chí được tích hợp luôn. Máy Commodore PET, máy Apple II và máy tính cá nhân IBM đầu tiên bắt đầu biến máy tính trở thành công cụ cho mọi người, và giúp máy tính trở nên tiện lợi hơn rất nhiều cho người thường xuyên sử dụng… bao gồm cả các hacker. Đúng là không còn gì tuyệt hơn.

Lewis De Payne luôn là chiến hữu hacking và phreaking thân thiết nhất của tôi ngay từ lần đầu tiên cậu ta gọi đến và nói rằng muốn gặp mặt để học hỏi tôi. Dù lớn hơn tôi 5 tuổi – điều này tạo ra khá nhiều khác biệt – nhưng chúng tôi vẫn cùng chia sẻ niềm vui sướng của bọn trẻ con đối với phreaking và hacking. Cả hai chúng tôi đều có chung mục tiêu: truy cập vào máy tính, truy cập vào mật khẩu, truy cập vào thông tin của các công ty mà chúng tôi không được phép. Tôi chưa bao giờ phá hỏng tập tin máy tính của bất kỳ ai hay kiếm chác một xu nào từ những truy cập mà tôi chiếm được; và theo như tôi biết, Lewis cũng vậy.

Chúng tôi tin tưởng nhau – dù giá trị quan của cậu ta khác với tôi. Một ví dụ điển hình là vụ hack US. Leasing.

Tôi xâm nhập vào hệ thống của US. Leasing thông qua một chiến thuật đơn giản đến lố bịch, tới mức tôi còn cảm thấy xấu hổ.

Tôi gọi đến một công ty đã xác định từ trước, hỏi phòng máy tính của họ, chắc chắn rằng mình đang nói chuyện với nhân viên quản trị hệ thống, và bảo anh ta: “Tôi là [một cái tên hư cấu nào đó hiện ra trong đầu tôi lúc đó], đến từ đội hỗ trợ kỹ thuật DEC. Chúng tôi phát hiện ra một lỗi nghiêm trọng trong phiên bản RSTSE của các anh. Các anh có thể mất dữ liệu.” Đây là một đòn tấn công bằng kỹ thuật xã hội rất mạnh, bởi nỗi sợ mất dữ liệu lớn đến mức hầu hết mọi người đều không ngần ngại hợp tác.

Khi người bên kia đã nhận thức được nỗi sợ, tôi nói tiếp: “Chúng tôi có thể vá lại hệ thống của các anh mà không làm gián đoạn các hoạt động.” Lúc này anh ta (hoặc, đôi khi là cô ta) sẽ nóng lòng đưa cho tôi số điện thoại dial-up và quyền truy cập vào tài khoản của quản lý hệ thống. Nếu nhận được bất kỳ phản ứng nào, tôi sẽ nói mấy điều đại loại như: “Được rồi, tôi sẽ gửi thông tin cho các anh qua e-mail” và chuyển sang mục tiêu khác.

Người quản trị hệ thống ở US. Leasing đã cung cấp cho tôi mật khẩu để truy cập vào tài khoản quản lý hệ thống ngay lập tức. Tôi đăng nhập vào hệ thống, tạo một tài khoản mới, vá lại hệ điều hành bằng một cửa hậu – mã phần mềm cho phép tôi có quyền truy cập ẩn mỗi khi muốn vào lại.

Tôi chia sẻ thông tin về cửa hậu này với Lewis vào lần nói chuyện sau đó. Lúc đó, Lewis đang hẹn hò với một ả hacker có lúc nhận tên là Susan Thunder, người về sau đã trả lời một phóng viên rằng hồi đó thỉnh thoảng “đi khách” để kiếm tiền mua thiết bị máy tính. Tôi vẫn thấy ngán ngẩm mỗi khi nghĩ đến câu nói đó của ả. Dù sao thì Lewis đã nói với Susan rằng tôi đã đột nhập vào US. Leasing và đưa cho ả thông tin đăng nhập. Hoặc cũng có thể, như sau này cậu ta khẳng định, Lewis không hề đưa nó cho ả mà là ả đã nhìn thấy những thông tin này được viết lên một mảnh giấy mà cậu ta để quên cạnh máy tính của mình.

Không lâu sau đó, bọn họ “đường ai nấy đi”, và tôi đoán là không vui vẻ gì. Sau đó ả đã trả thù tôi. Cho đến tận hôm nay, tôi vẫn không biết vì sao ả lại nhắm vào tôi, trừ khi ả nghĩ rằng Lewis chia tay với ả để có thể dành nhiều thời gian hơn với tôi, hacking, và vì thế, ả đổ lỗi vụ chia tay cho tôi.

Dù vì lý do gì, ả đã dùng thông tin đăng nhập ăn cắp được để xâm nhập vào hệ thống máy tính của US. Leasing. Những câu chuyện kể lại sau đó về vụ này nói rằng ả đã phá hoại rất nhiều tập tin của họ. Và ả đã gửi tin nhắn đến tất cả các máy in để in ra, in liên tục cho đến khi hết giấy:

MITNICK WAS HERE

MITNICK WAS HERE

(tạm dịch: Mitnick đã ở đây)

FUCK YOU

FUCK YOU

(tạm dịch: Cha mày!)

Điều khiến tôi nóng máu nhất trong vụ này là trong một thỏa thuận nhận tội về sau, chính phủ đã khăng khăng buộc tội tôi dù tôi không hề làm việc này. Tôi đã phải đối mặt với lựa chọn nhận tội cho hành động lăng mạ và lố bịch này hoặc vào trại cải tạo thanh thiếu niên.

Susan đã trả thù tôi trong một thời gian dài, ngắt dịch vụ điện thoại của tôi, và nhiều lần yêu cầu công ty điện thoại ngắt số của tôi. Hành động trả đũa nho nhỏ của tôi đã diễn ra một cách tình cờ.

Một lần, trong khi đang hack một công ty điện thoại, tôi cần một đường dây điện thoại đổ chuông liên tục mà không có ai trả lời. Tôi đã gọi đến một bốt điện thoại công cộng mà tôi vô tình nhớ số. Trái đất thật tròn, Susan Thunder sống gần đó và đã đi ngang qua chính cái bốt điện thoại ấy vào đúng lúc đó. Ả nhấc máy, nói “A-lô” và tôi nhận ra giọng ả.

Tôi nói: “Susan, Kevin đây. Tôi chỉ muốn cho cô biết tôi đang theo dõi cô từng bước. Đừng đùa với tôi!”

Tôi hy vọng trò này dọa ả được vài tuần.

Tôi đã có quãng thời gian vui vẻ, nhưng quãng đời né tránh luật pháp của tôi không kéo dài mãi.

Tháng 5 năm 1981, vẫn 17 tuổi, tôi chuyển các hoạt động học ngoại khóa sang Đại học California tại Los Angeles (UCLA). Trong phòng thí nghiệm máy tính, các sinh viên thường làm bài tập về nhà hoặc học về máy tính và lập trình. Còn tôi ở đó để hack các máy tính từ xa bởi chúng tôi không đủ điều kiện để sắm một máy tính tại nhà, vậy nên tôi tìm đến các máy tính ở những nơi như trường đại học.

Tất nhiên, trong phòng thí nghiệm không có kết nối ra bên ngoài – bạn có thể kết nối từ modem tại mỗi trạm, nhưng chỉ đến một số nội bộ khác trong trường, không phải đến một số bên ngoài – điều đó có nghĩa là chúng không có giá trị với những gì tôi muốn làm.

Không sao, trên tường phòng máy tính là một dây điện thoại duy nhất không có số: Nó chỉ dành cho các cuộc gọi đến. Cũng giống như hồi trung học trong phòng thí nghiệm máy tính của thầy Christ, tôi sẽ nhấc máy lên và gạt khóa công tắc, việc này cũng có tác dụng như quay số vậy. Gạt nhanh 9 lần liên tiếp, tương đương với quay số “9”, sẽ có âm hiệu quay số cho một đường dây ra bên ngoài. Sau đó, tôi gạt 10 lần, tương đương với quay số “0”, để gọi một nhân viên trực tổng đài.

Khi nhân viên trực tổng đài nghe máy, tôi nhờ cô ta gọi lại cho tôi vào số điện thoại dùng cho modem ở thiết bị đầu cuối máy tính tôi đang sử dụng. Các thiết bị đầu cuối máy tính trong phòng thí nghiệm thời đó chưa có modem đi kèm bên trong. Thay vào đó, để tạo kết nối modem, bạn phải đặt tai nghe điện thoại vào một bộ nối âm cạnh đó, bộ nối âm này sẽ gửi tín hiệu từ modem vào tai nghe điện thoại và truyền ra ngoài thông qua đường dây điện thoại. Khi nhân viên trực tổng đài gọi lại trên đường dây modem điện thoại, tôi đã nghe máy và nhờ cô ta gọi vào một số điện thoại hộ tôi.

Tôi đã dùng cách này để gọi đến rất nhiều công ty sử dụng DEC PDP-11 chạy RSTSE. Nhờ vào trò giả danh hỗ trợ kỹ thuật của DEC, tôi có thể dùng kỹ thuật xã hội để lấy thông tin đăng nhập dial-up và hệ thống của họ. Vì không có máy tính cá nhân, tôi đã lang thang từ khuôn viên đại học này đến đại học khác để có thể có được vài lần truy cập máy tính mà tôi thèm khát. Tôi háo hức vô cùng mỗi khi lái xe đến một trường đại học để lên mạng. Tôi sẽ lái xe vượt quá tốc độ cho phép suốt 45 phút ngay cả khi điều đó chỉ đem lại 15 phút dùng máy tính.

Tôi không thể ngờ được rằng một sinh viên tại một trong các phòng thí nghiệm máy tính đã lén biết được những gì tôi đang làm và chỉ điểm tôi.

Mãi cho đến tận một tối nọ, khi ngồi trước thiết bị đầu cuối trong phòng thí nghiệm ở UCLA, nghe thấy tiếng ồn ào, tôi ngẩng đầu lên và nhìn thấy một toán nhân viên an ninh trường đang xông thẳng vào chỗ tôi. Tôi cố ra vẻ hóng hớt và tự tin, một thằng nhóc không biết tất cả những chuyện này nghĩa là gì.

Họ lôi tôi ra khỏi ghế và đưa tay tôi vào còng.

Đúng vậy, California lúc này đã có một bộ luật khép tội hacking. Nhưng tôi vẫn là trẻ vị thành niên, vì vậy, tôi không phải đối diện với án tù.

Dù vậy tôi vẫn hoảng loạn, sợ gần chết. Cái túi to đeo vai tôi để trong xe chứa đầy giấy tờ in ra cho thấy tất cả các công ty mà tôi đã đột nhập. Nếu họ lục soát xe, tìm thấy đống giấy đó và biết chúng là gì, tôi sẽ phải đối mặt với hậu quả thê thảm hơn rất nhiều so với bất cứ sự trừng phạt nào mà họ có thể đưa ra cho tội sử dụng máy tính của trường khi tôi không phải là sinh viên.

Một nhân viên an ninh trường lần ra được xe của tôi sau khi tịch thu chìa khóa xe và tìm thấy chiếc túi hack lậu.

Sau đó, họ đẩy tôi đến phòng an ninh của trường, giống như muốn bắt giam tôi, và nói rằng tôi bị giam giữ vì đã “xâm phạm trái phép”. Họ gọi mẹ đến đón tôi.

Cuối cùng, UCLA không tìm được ai có thể hiểu đống giấy in của tôi. Trường cũng chưa bao giờ đâm đơn kiện nào. Chẳng có hình phạt nào ngoài việc đưa trường hợp của tôi lên Ban Quản chế Quận, nơi có thể yêu cầu Tòa án Vị thành niên xét xử vụ việc… nhưng họ đã không làm vậy.

Có lẽ tôi là kẻ bất khả xâm phạm. Có lẽ tôi có thể tiếp tục làm những thứ mình vẫn làm, thỉnh thoảng đối mặt với một vài vụ rắc rối nhưng không đáng bận tâm. Dù vụ này dọa tôi sợ chết khiếp, nhưng một lần nữa tôi lại tránh được một viên đạn.

❀ ❀ ❀

[1] 18* Thiết bị chuyển mạch (switch): Thiết bị dùng để kết nối các đoạn mạng với nhau theo mô hình mạng hình sao. Theo mô hình này, thiết bị chuyển mạch đóng vai trò là thiết bị trung tâm, tất cả các máy tính đều được nối về đây. (BTV)

[2] 19* Âm hiệu quay số (dial tone): Tiếng trong máy điện thoại phát ra cho biết có thể quay số điện thoại mà ta muốn gọi. (BTV)

[3] 20* Số gọi lại (call-back): Khi Alice gọi cho Bob và máy của Bob đang bận, nếu dịch vụ điện thoại cho phép, Alice có thể để lại số điện thoại để Bob có thể gọi lại cho Alice. Lưu ý rằng câu chuyện xảy ra trước khi có điện thoại di động, người nghe điện thoại thường không có cách nào biết được mình vừa lỡ điện thoại cũng như lỡ điện thoại của ai. (ND)

[4] 21* Tự động xác định số điện thoại (automatic number identification): Một tính năng tự động của mạng viễn thông nhằm xác định số điện thoại gốc trong các cuộc gọi nhằm mục đích tính tiền cước. (BTV)

[5] 22* James Bond: Tên của điệp viên 007 trong loạt phim hành động cùng tên nổi tiếng của Mỹ. (ND)

[6] 23* Dial-up: Thuật ngữ trong ngành công nghệ thông tin, chỉ việc kết nối Internet hoặc các mạng nội bộ thông qua giao thức kết nối sử dụng đường truyền điện thoại. Để truy cập vào giao thức này, bạn cần có tên và mật khẩu. (Wikipedia)

[7] 24* Adrenaline: Hoóc-môn có tác dụng trên thần kinh giao cảm, do cơ thể tiết ra khi con người sợ hãi, tức giận hay thích thú, khiến nhịp tim đập nhanh hơn và giúp cơ thể chuẩn bị cho những phản ứng chống lại nguy hiểm. (BTV)

[8] 25* Baud: Số đo tốc độ truyền dữ liệu giữa máy tính và các thiết bị khác, được đo bằng số bit trên giây (bps). (BTV)

[9] 26* Thiết bị đầu cuối máy tính (terminal computer): Thiết bị phần cứng điện tử hoặc điện cơ được sử dụng để nhập dữ liệu vào và hiển thị hoặc in dữ liệu ra từ một máy tính hoặc một hệ thống điện toán. (Wikipedia)

[10] 27* GED (General Education Development): Kỳ thi để lấy bằng tương đương bằng tốt nghiệp trung học ở Mỹ dành cho những người chưa tốt nghiệp phổ thông trung học, hoặc đã tốt nghiệp ở những quốc gia khác ngoài Mỹ nhưng vì lý do nào đó mà bằng cấp không sử dụng được, hoặc dành cho những người muốn ôn lại kiến thức phổ thông cơ bản để chuẩn bị bước vào đại học. (BTV)

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của William L. Simon, Kevin Mitnick

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.