Jo thân mến, tôi tên là Phương, chính xác là Phan Bình Phương.
Đấy, bây giờ thì anh biết tôi tên là gì rồi.
Ngày mai tôi sẽ về ngôi làng nơi tôi sinh ra, cũng không cách xa đây lắm, ngay cạnh cửa ngõ của thành phố Hải Phòng. Đó là quê của tôi, nơi bây giờ các cô, dì, chú, bác và các anh em họ của tôi vẫn đang sinh sống. Tôi quyết định sẽ viết cho anh, bác Jo ạ (Tôi có thể gọi anh như thế được không, giống như Lượng đã gọi anh?), bởi vì sau khi nghe giọng nói của anh trong những ngày này mà lại không thể cất lời cho anh nghe giọng nói của tôi, sau khi nghe câu chuyện của anh, bản thân tôi cũng có điều muốn nói. Sáng ngày mai khi chúng ta tạm biệt nhau tôi lại không chắc sẽ nói gì được nhiều với tấm bảng đen. Trong lúc này đây bao sự việc đang tràn ngập tâm trí tôi, tôi sẽ phải sắp xếp lại một chút cho đúng thứ tự.
Thế nên tôi quyết định sẽ cầm bút và viết những dòng này dù không biết là để làm gì. Tôi không định thay đổi thỏa thuận của chúng ta đâu, đây chỉ là một điều nhắn nhủ tôi viết cho anh ngày mai trước khi lên đường và nếu anh muốn thì hãy đọc.
Bây giờ tôi sẽ thử bắt đầu, bác Jo ạ. Việc này với tôi chẳng dễ dàng chút nào.
Tôi đã quen chỉ viết những câu ngắn và đơn giản, thoáng qua trên tấm bảng đen của tôi rồi lại xóa đi ngay. Phải viết dài bây giờ với tôi là một việc vất vả, giống như một người thọt chân mà phải leo lên tận đỉnh của quả đồi. Vậy mà tôi đã từng rất giỏi làm văn. Thời học ở ngôi trường gần Hồ Tây cũng như khi về học mấy năm ở trường làng, các giáo viên thường không ngớt lời khen ngợi tôi. Ngôi trường tôi học ở thủ đô rất đẹp. Một tòa nhà lớn màu vàng với những phòng học rộng, trần cao đến mức chứa được hết những tiếng ồn ào, nói chuyện của bọn học sinh chúng tôi.
Từ phòng học của tôi có thể nhìn thấy hồ và thỉnh thoảng tôi lại lơ đễnh ngắm làn nước mà mỗi ngày trông lại có một vẻ khác. Chắc anh cũng đã thấy Hồ Tây đẹp đến thế nào. Mọi người đều thích biển hơn nhưng với tôi mặt hồ với những lớp sóng lăn tăn và đổi sắc mỗi ngày lại là một điều bí ẩn, hấp dẫn tôi hơn những con sóng bất tận của biển. Hồi đấy tôi còn hỏi mọi người trong gia đình sao hồ lại đổi màu nhưng chỉ nhận được những câu trả lời chung chung. Thậm chí một hôm mẹ tôi còn bảo tôi phải dừng cái kiểu ngớ ngẩn trẻ con ấy đi, rằng mặt nước hồ không thể nào đổi màu, nước trong hồ không thông ra đâu cả. Nhưng tôi biết chắc là mình đúng và cuối tuần tôi thường kiếm cớ để quay lại bên hồ ngắm làn nước đổi màu ấy. Tôi chưa bao giờ giải đáp được bí ẩn đấy. Nhưng dù sao nó cũng chỉ là một bí ẩn nhỏ trong vô số những điều sẽ đến với tôi sau đó.
Đấy, có lẽ là tôi nên bắt đầu từ sự kiện lớn nhất. Câu hỏi đã ám ảnh tôi trong một thời gian rất lâu. Một tiếng súng, một âm thanh chát chúa, bất ngờ, trong khung cảnh tôi đang nhìn trộm từ phía sau cánh cửa căn phòng mà thường chúng tôi vẫn dùng làm phòng ngủ. Ở trong căn phòng bên kia bố tôi đã tạo ra một góc nhỏ nơi ông làm việc hầu như cả đêm trong giai đoạn đó. Tính toán không ngừng và ghi lại những kết quả trong một cuốn sổ viền đỏ với những trang kẻ ô vuông mà ông luôn cất cẩn thận trong một cái tủ.
Tiếng súng ấy đã đọng lại trong đầu tôi mãi mãi, cũng giống như viên đạn đã cắm sâu vào đầu bố tôi. Một tiếng súng đã cướp đi cuộc sống của ông và giọng nói của tôi. Tiếng động đã vang vọng lại cả nghìn lần và cứ mỗi lần như thế lại khiến tôi bị một cơn đau mà không thứ thuốc nào có thể chữa được. Chú Triện đã hỏi rất nhiều bác sĩ, cả những thầy thuốc châm cứu, thậm chí là thầy bói. Chú còn đưa thầy địa lý đến xem lại vị trí cái giường tôi ngủ nhưng không một ai có thể tìm được cách để âm thanh của phát súng không quay lại vang vọng trong tâm trí tôi.
Cái đêm hôm ấy cũng giống như các đêm khác, Hằng – chị tôi đã ngủ rất say còn mẹ tôi thì đi vắng. Dì Tuyết, em gái của mẹ tôi, có hai đứa con sinh đôi vẫn còn rất bé và rất hay bị ốm. Mà bọn nó rất hay ốm cùng nhau như thể đứa này là bản sao của đứa kia. Mẹ tôi đến để đỡ dì một tay và để an ủi tinh thần dì sau những ngày vất vả liên tục. Lúc đấy bố tôi đang ngồi trước bàn viết của ông, còn tôi thì nằm trong phòng bên nhưng không ngủ được. Bố nhận ra là tôi vẫn thức và ra hiệu cho tôi lại gần ông trong phòng làm việc. Tôi đến ngồi lên trên đùi bố, bố vuốt tóc tôi một hồi lâu như ông vẫn hay làm.
“Phương, hôm nay ở trường con có ngoan không?”, ông hỏi với một giọng nghẹn ngào mà tôi chưa bao giờ nghe thấy. “Con vẫn luôn là một đứa trẻ ngoan, hãy luôn như thế nhé!” Tôi ngoan ngoãn gật đầu dù không hiểu tại sao ông lại nói với tôi những điều đó. Trên mặt bàn hôm nay rất lạ là chẳng thấy giấy tờ gì, không có các con số bình thường vẫn khiến tôi tò mò nhìn trong những bảng tính toán mà mỗi lần làm xong bố lại cất rất cẩn thận.
“Phương, con có biết những tính toán bố vẫn làm khi ngồi ở đây là để làm gì không?” Tôi há mồm ngạc nhiên vì không nghĩ là lại được nghe về một trong những bí ẩn khiến tôi tò mò bấy lâu. Tôi lập tức lắc đầu rồi chờ nghe bố trả lời. “Để thay đổi số phận của nhiều gia đình như gia đình ta đây, những con tính là để làm thế đấy”. Tôi nhìn bố xem có thêm những lời giải thích khác không vì tôi không hiểu gì nhiều từ những lời bố vừa nói, nhưng ông lại yên lặng hồi lâu không nói gì thêm. Một lúc sau bố mới bảo: “Ai cũng muốn được sống một cuộc sống sung túc hơn, nhưng không phải ai cũng biết làm giàu một cách trung thực. Bố chỉ muốn giúp nhiều ông bố khác biết cách dùng tiền tiết kiệm một cách hiệu quả nhất để chuẩn bị cho con cái một tương lai tốt đẹp hơn cuộc đời của họ trước đây”. “Bố, việc tốt như thế sao bố phải suy nghĩ?”, tôi buột miệng hỏi, nhưng ông không trả lời mà chỉ tiếp tục vuốt tóc tôi. Một khoảng thời gian nữa lại trôi qua và trí tò mò của tôi dịu đi sau cảm giác âu yếm mà bàn tay ông vuốt nhẹ trên tóc, chầm chậm, đều đặn truyền sang tôi. “Nhưng giờ thì con đi ngủ đi. Nhớ hứa với bố là con sẽ ngoan ngoãn đấy nhé!” Có gì đấy trong ông khi nói ra những lời đó. Tôi không nhận ra chính xác đó là điều gì nhưng bàn tay ông lúc đấy ngừng không vuốt tóc tôi nữa như thể một ý nghĩ bất chợt đã chặn nó lại.
Tôi vẫn không ngủ nổi, thỉnh thoảng lại quay sang nhìn chị Hằng vẫn đang sung sướng ngủ ngon lành. Thỉnh thoảng tôi liếc ra ngoài, nhìn qua khe cửa để xem bố đang làm gì.
Tôi thiếp đi nhưng rồi nóng quá nên lại tỉnh giấc và nhổm dậy ngồi trên giường. Khi liếc nhìn ra phòng ngoài, tôi thấy có gì là lạ ở trong phòng làm việc của bố. Tôi rón rén, nhón chân đến gần cánh cửa và nhìn thấy bố tôi vẫn ngồi ở bàn làm việc của ông, nhưng không chỉ có một mình. Hai người đàn ông lạ đang đứng ở đó gần chỗ bố và nói nhỏ điều gì đó với ông nhưng trông hùng hổ như thể đang định ăn tươi, nuốt sống bố. Bố tôi vẫn giữ nguyên tư thế đấy, tưởng chừng như ông đã hóa đá đằng trước bàn làm việc. Chỉ một lần ông mở miệng nói gì đó, đưa cánh tay lên chỉ về phía phòng ngủ, nơi tôi đang đứng nhưng vẫn không quay người lại. Rồi một lúc sau tôi nghe thấy âm thanh chói tai của tiếng súng và đầu bố bỗng gẫy gập về phía trước. Đấy là hình ảnh cuối cùng mà tôi nhìn thấy đêm hôm đó. Và khi tôi tỉnh lại, thế giới đã thay đổi.
Tôi đã không nhận ra ngay là mình vừa chứng kiến cái chết của bố mình, mà chỉ cảm thấy ngay lập tức nỗi nhớ cái vuốt ve âu yếm của ông. Tôi hiểu rằng mình không bao giờ còn được hưởng cảm giác an ủi của những phút giây bên bố nữa. Tôi không thể nói được nữa, mặc dù trong những ngày khi chuyện mới xảy ra tôi tưởng đấy chỉ là vì tôi không muốn nói năng gì. Mẹ tôi cũng biến mất, tôi linh cảm rằng cả bà cũng sẽ không quay lại thế giới của tôi nữa. Chị Hằng và tôi được chuyển đến nhà của dì, mẹ của hai đứa trẻ sinh đôi. Rồi chỉ sau đó vài ngày hai chị em tôi cùng tất cả đồ đạc được đưa về quê ở Hải Phòng, sống ở nhà chú Triện, em trai của bố tôi, đang dạy ở một trường trung học ở làng.
Bác Jo ạ, tôi không viết tất cả những điều này chỉ để kể những đòn sấm sét giáng xuống gia đình tôi, nhưng cái chết của bố tôi là nguồn gốc của đầu óc hỗn loạn trong tôi. Và để có thể kể cho anh nghe điều mà tôi muốn kể thì sợ sẽ phải dài dòng một chút, có lẽ lại còn thỉnh thoảng lặp lại những điều tôi đã kể. Anh thông cảm nhé.
Khi bố tôi còn sống, điều tôi cảm nhận được là tình yêu thương và sự chăm sóc tận tình cho cả nhà và chị em tôi. Nhưng chỉ đến khi ông mất, mà đúng ra là rất lâu sau đó tôi mới thực sự hiểu ông là ai. Bà và các chú bác tôi vẫn bảo những người chết vẫn còn ở lại giữa những người sống, con đừng buồn Phương ạ, bố con vẫn ở với chúng ta, vẫn đi theo con và từ trên kia, bố vẫn theo dõi và để tay lên tóc bảo vệ cho con, vẫn vuốt tóc con tất cả những buổi tối trước khi con đi ngủ. Nhưng tiếc là những điều tín ngưỡng ấy chưa bao giờ an ủi được tôi nhiều.
Tôi cũng không nhớ bao lâu đã trôi qua từ khi thế giới quanh tôi thay đổi hết như thế.
Chỉ biết rằng đến một lúc đột nhiên tôi hiểu mình khao khát muốn biết mọi sự đã xảy ra như thế nào. Bố tôi vốn rất giỏi toán và đã cha truyền con nối cho tôi năng khiếu ấy. Chính vì thế tôi không thể hài lòng với những an ủi siêu nhiên. Ý tôi không phải là phủ nhận tín ngưỡng, nhưng tôi muốn tìm ra câu trả lời trong thế giới của người sống, cái thế giới mà tôi vẫn đang ở đó.
Tôi không nhớ gì rõ rệt về thời gian khi chúng tôi mới chuyển về quê, khi chị Hằng và tôi đột nhiên từ thành phố về ngôi trường làng. Ký ức rõ rệt nhất còn lại là một nỗi đau khốc liệt bên trong mà tôi chỉ ước có thể tống ra ngoài. Mỗi lần tiếng súng lại vọng về, cơn đau đầu lại dâng lên rồi lan xuống bụng, dạ dày, gan ruột, khiến lục phủ ngũ tạng bên trong cuộn lại đến mức làm tôi nghẹt thở. Những lúc ấy tôi chỉ muốn hét lên nhưng không thể. Nỗi đau ấy mỗi lần qua đi, dư chấn của nó lại khiến tôi tự truy hỏi, cố hiểu tại sao tôi lại bị như thế. Nhưng xung quanh tôi chỉ là một rào chắn vô hình tạo bởi không chỉ là sự câm lặng của tôi sau cú sốc mà còn là sự câm lặng của mọi người trong gia đình, tất cả đều né tránh không chịu nói gì. Tôi thì muốn biết và tìm mọi cách để hỏi nhưng gia đình tôi lại nghĩ để bảo vệ tôi thì không nên nhắc đến hay trả lời những câu hỏi đấy, không chịu cho tôi biết mọi việc đã diễn ra như thế nào. Tại sao bố tôi lại bị giết, còn mẹ tôi cuối cùng đã ra sao?
Chị Hằng cũng không giúp được gì cho tôi trong chuyện đó. Tôi nhận ra thói quen đến trường nhanh chóng quay lại với chị, những sự kiện bi thảm đó có vẻ đã qua đi như một cơn mưa đá rơi xuống và tan chảy vào lòng đất. Sau cơn bão giáng xuống đầu chúng tôi, bầu trời trong xanh đã quay lại và chị tiếp tục sống, chấp nhận cái việc bố mẹ tôi không còn ở bên cạnh, không còn đánh thức chúng tôi mỗi sáng.
Chị Hằng chỉ hơn tôi hai tuổi, nhưng sự khác biệt giữa chúng tôi thì không thể tính là bao nhiêu năm. Chị ấy sinh năm Mùi còn tôi sinh năm Dậu. Chắc là anh đã nghe nói về lịch âm và về tử vi của chúng tôi. Già Thục - mọi người vẫn gọi bà nội tôi như vậy - đã lập lá số tử vi cho chúng tôi. Khi ấy, dù tôi không hiểu gì cả nhưng tôi vẫn nhớ mẹ tôi hay nhắc lại chuyện khác biệt giữa hai chị em. Mẹ nói về điều đó với cái vẻ ưu tư mà bà luôn có kể cả khi nói những chuyện vui vẻ. Tôi vẫn không hiểu lá số tử vi có nghĩa là gì mặc dù rõ ràng là với mẹ thì đấy là một thứ cực kì quan trọng.
Tôi lúc nào cũng yêu chị mình, dù tôi cảm nhận được rằng chị ấy rất khác với tôi. Đôi khi chị như một người lạ mà hoàn cảnh đưa đẩy đến sống cùng tôi. Sự khác biệt giữa hai chị em thêm vào đời tôi một bí ẩn nữa không thể giải thích. Khi tới tuổi dậy thì, hay có lẽ là trước đấy nữa, khi chúng tôi quay về quê sống, tôi nhận ra chị rất đẹp. Tôi thường nhìn chị rồi nhìn mình trong gương và tự hỏi chẳng nhẽ chỉ vì hai năm chênh lệch giữa chị em tôi mà có tất cả những sự khác biệt này sao? Tôi tự an ủi mình chắc sẽ chỉ cần chờ thêm hai năm rồi sẽ không còn khác biệt nữa, rồi tôi cũng sẽ trở nên đẹp như chị. Nhưng đấy chỉ là những an ủi đến trong thoáng chốc, những tia sáng mà tôi nhìn thấy thoáng qua trong vài giây, những hi vọng mà cuộc đời xám xịt của tôi lập tức nuốt trôi. Thế giới đã thay đổi hoàn toàn sau tiếng súng. Không còn màu sắc, nhàm chán, cô độc.
Đôi khi tôi nghĩ là mình có thêm cả bệnh điếc hay thậm chí còn mong là mình bị thế. Nhưng rồi lại có tiếng hót của một con chim vành khuyên hay tiếng dế kêu vọng đến làm tôi xao xuyến và tôi thoát khỏi những ý nghĩ nặng nề như con đường đến trường lầy lội mỗi khi mưa xuống.
Đấy, tôi lại dông dài mất rồi. Tôi đang kể cho anh về bố tôi và mong muốn biết sự thật. Có lúc tôi đã nghĩ có lẽ ông là một tên tội phạm, một người dính dáng vào những vụ buôn bán, những vòng tay quỷ ám để đến nỗi bị giết chết như chuyện vẫn hay xảy ra với bọn người xấu. Bị câm không hề giúp tôi trong việc tìm kiếm sự thật. Giọng tôi không thể thoát ra được nữa, như thể nó đã bị nhốt lại ở một nơi nào đấy trong tôi và từ đó ám vào các suy nghĩ của tôi khiến chúng thêm tăm tối. Khi nỗi đau dâng lên trong tôi, tôi hình dung đấy chính là giọng nói bị giam hãm ở trong tôi đã gây ra cơn đau ấy. Tôi cố để nói nhưng chỉ một lúc sau tôi lại cảm thấy chỉ muốn hét lên, rồi thay vì âm thanh thì chỉ có những giọt nước mắt trào ra.
Tôi chỉ còn trông mong vào chú Triện là người sẽ trả lời được cho tôi, nhưng chú lại nghĩ rằng chỉ nên nói những câu chung chung hoặc một nửa sự thật cho một đứa bé con vừa qua cơn hoảng loạn phải chứng kiến cái chết của bố mình. Rằng sẽ phải chờ đến khi nào tôi lớn thì mới có thể hiểu được sự thật trần trụi, độc ác. Chú ấy là người rất tốt, luôn ân cần với tôi. Chú chăm lo việc học ở trường và thường tỏ ra rất hài lòng khi kết quả học tập của tôi vẫn cao dù tôi đã mất đi giọng nói. Nhưng cứ mỗi lần tôi viết vài chữ lên tấm bảng để đòi chú kể sự thật, chú lại trở thành một con người khác hẳn. Tôi đành phải ra ngoài đến ngồi bên bờ ao ở gần nhà để nhìn cái bọn cóc nhái ấy, hi vọng rằng chúng sẽ giúp tôi hiểu, mách bảo cho tôi điều gì đấy.
Tôi đã phải chờ rất lâu, đã phải trải qua nhiều năm nhặt nhạnh những mảnh nhỏ, từng lời nói mà thường là không hé được gì nhiều cho tôi, giống như người nhặt nhạnh từng mảnh nhỏ của cái cốc thủy tinh đã vỡ từ lâu và nghĩ mình sẽ ghép lại được thành cái cốc cũ. Tôi đã phải chờ cho đến khi một thằng bạn học mách cho tôi vài điều để hiểu bí mật kia. Nó là con một quan chức quan trọng trong Đảng ủy - Phó chủ tịch Hội đồng Nhân dân của huyện và có lẽ là đứa bạn duy nhất quan tâm đến việc tôi tìm hiểu sự thật.
Không phải thằng bạn ấy để ý gì đến tôi, chỉ đơn giản là việc có một đứa bạn bằng xương bằng thịt lại dính vào một vụ án như thế khiến nó tò mò đến chết đi được nên nó cố hỏi thêm chi tiết cụ thể. Dù sao thì chính nhờ nó hay đúng ra là nhờ những tin tức mà gia đình nó nắm được mà tôi đã lấy được bản báo cáo của công an quận nơi gia đình chúng tôi sống hồi đó, trong đó miêu tả chi tiết những việc đã xảy ra. Khi bản báo cáo đến tay thì tôi vừa qua tuổi mười tám được ít lâu. Bản báo cáo không nói gì nhiều hơn so với những gì tôi đã chứng kiến và đã đoán ra, nhưng ít nhất nó là một bằng chứng có thật để tôi chạy đến chìa ra với chú Triện. Một vài chi tiết không đáng kể về hiện trường vụ án, vài hình ảnh mà chỉ nhìn qua đã khiến tôi hoa mắt chóng mặt và sau khi xem xong hết thì tôi gần như ngất xỉu y như cái lần đã nghe thấy tiếng súng. Về cơ bản thì bản báo cáo nói rằng bố tôi đã bị giết ở nhà bởi những kẻ lạ mặt do một khẩu súng bắn vào gáy còn mẹ tôi có lẽ cũng bị giết chính bởi những kẻ lạ mặt đấy ở lối vào căn nhà. Việc điều tra chưa đưa ra được đầu mối gì vì thế mục đích cũng như thủ phạm của vụ giết người vẫn không được điều tra ra.
Khi chú Triện cầm những tờ giấy đấy trong tay, chú đọc chăm chú nhưng không lộ ra vẻ gì, không hề ngước mắt lên. Trong khi tôi đứng trước mặt chú với cơn giận bừng bừng nghĩ về tất cả những năm tháng mà tất cả mọi người trong gia đình tôi mà nhất là chú đã không ai chịu nói gì với tôi. Tôi đã hiểu từ lâu là mẹ tôi cũng bị giết chết nhưng không ai chịu nói ra. Mãi rồi chú Triện cũng đọc xong, chú gỡ kính và nhìn tôi. Gương mặt chú thay đổi đến mức tôi cảm giác lúc đấy chú trở thành một con người khác, một người vừa rũ được một gánh nặng.
Chú bắt đầu giải thích xa gần, đưa ra một danh sách bất tận những lí do khiến chú đã quyết định chưa kể cho tôi về cuộc sống và về cái chết của bố tôi cũng như của mẹ tôi. Chú muốn chờ đến một ngày chưa biết là bao giờ, nhưng chỉ là để bảo vệ tôi.
Bây giờ cái ngày ấy đã đến và tôi cuối cùng cũng đã biết sự thật. Câu chuyện kể ra hôm ấy đã đặt dấu chấm hết cho chuỗi thời gian chờ đợi rất dài, dập tắt cơn giận của tôi nhưng chỉ trong chốc lát. Câu chuyện ấy dù sao cũng đã không thể trả lại cho tôi thế giới cũ mà tôi có trước khi bố mẹ tôi chết đi. Tôi đã vĩnh viễn mất đi thế giới đó. Sự thật cay đắng ấy hiển hiện ra thậm chí trước cả khi câu chuyện rất dài của chú Triện kết thúc.
Sự việc bắt đầu khi manh nha hình thành những hình thức tín dụng nhân dân và các dự án kinh doanh sử dụng nguồn vốn ấy. Những người nông dân, thương nhân có nhiều lựa chọn mới cho việc tiết kiệm, đầu tư tiền mình có. Chú Triện nhắc đi nhắc lại rằng đấy là một cuộc cách mạng trong lĩnh vực tín dụng. Bố tôi ngay từ khi học xong đại học đã nghiên cứu lĩnh vực tín dụng và bảo hiểm, ông nghiên cứu các phương thức để những người nông dân có thể gửi tiền vào các quỹ để phòng ngừa khi mùa màng thất bát hoặc dành dụm tiền cho con cái học hành khởi nghiệp sau này, một dạng như các quỹ bảo hiểm bây giờ. Ông đã từng có cơ hội nghiên cứu các mô hình đấy hoạt động ở các nước khác và tin tưởng mô hình đấy có thể được áp dụng ở Việt Nam.
Bố tôi có đầu óc toán học. Chú Triện bảo chính đầu óc đấy đã giúp bố tính toán và tiên đoán trước được nhiều điều. Khi nền kinh tế được mở cửa, bố đã xây dựng một dự án với một mô hình quỹ tín dụng mới, một điều hoàn toàn mới mẻ ở Việt Nam nhưng bố tôi tin tưởng rằng thời điểm đó là chín muồi để thực hiện. Dự án đó sẽ giúp cho rất nhiều người nông dân có cơ hội kiếm được nhiều hơn để thoát cảnh nghèo. Nghe chú nói trong đầu tôi hiện lại những lời tôi đã nghe được từ bố, “để con cái họ có được một tương lai tươi sáng hơn”.
Dự án của bố đã đi vào hoạt động rất thành công. Sự nhạy bén của ông đã đem lại một quỹ tín dụng với giá trị cực lớn, nhưng những người xung quanh không phải ai cũng hiểu bản chất của quỹ tín dụng. Người thì phản đối vì động chạm đến lợi ích khác của họ, có những kẻ thì lóa mắt bởi số tiền mà họ tưởng ông vớ bẫm. Dự án kinh doanh bố tôi hình dung đã thành công, thu hút được nhiều khoản tiết kiệm nhưng lại làm dấy lên sự tham lam gian ác có trong những người sẵn sàng làm tất cả để cướp tài sản của người khác. Bọn chúng không quan tâm đến việc số tiền đó là tài sản của rất nhiều người dân, đến số đông những người đàn ông, đàn bà mỗi ngày vẫn phải bán mặt cho đất, bán lưng cho trời”, như già Thục nói. Chú Triện bảo bố hiểu rõ sẽ phải đối mặt với những rủi ro gì khi thực hiện dự án nhưng ông không ngờ được rằng mình bị giết bởi những kẻ muốn cướp đi số tiền trong quỹ tín dụng.
Chú Triện nói với tôi là người ta đã chưa điều tra ra thủ phạm. Sau khi đã giết bố tôi, bọn chúng ra khỏi nhà và bất chợt bắt gặp mẹ tôi đúng lúc đấy vừa từ nhà em gái trở về. Bọn chúng đã bắn thẳng vào bà hai phát súng sát tim từ khoảng cách rất gần. Theo chú Triện thì mẹ tôi chỉ là nạn nhân tình cờ, nếu bà không về nhà vào đúng lúc ấy thì có lẽ bà vẫn còn sống. Rồi như đọc được những câu hỏi của tôi, chú Triện nói thêm: “Phương ạ, chúng ta muốn tự tra vấn mình bao nhiêu cũng được, nhưng nhiều điều chúng ta không thể biết được. Cháu đang tự hỏi bố cháu có tính toán những rủi ro trong công việc đấy của mình không? Chú có thể nói rằng không chỉ bố cháu đã tính trước mà ông còn sẵn sàng chấp nhận tất cả những hệ quả trong công việc của mình. Có lẽ ông hình dung được mình có thể chết như thế, nhưng ông cũng hy vọng dự án của mình có thể tồn tại được, có thể giúp cho chị em cháu và con cái những gia đình khác nữa.”
Như thế có nghĩa là theo chú Triện, tôi sẽ phải tự hào vì bố tôi và coi ông như một người hùng đã hy sinh đời mình cho một mơ ước, một khát vọng đổi đời, một điều gì đấy ông tin vào, một điều đã vượt lên trên lợi ích của bản thân, kể cả những điều cao cả nhất với ông như tình cảm gia đình, như tính mạng của người thân mình.
Vậy mà tôi không hề cảm thấy niềm tự hào ấy. Sự thật bấy lâu tôi mong chờ đã không thể khiến cho nỗi đau của tôi được tan đi mà ngày qua ngày trong tôi dần dần dâng lên một mối hận với bố tôi. Đôi lúc nỗi đau ấy đổi hướng sang căm hận những kẻ đã cướp đi của tôi điều quý báu nhất trên đời và đã lấy đi tiếng nói của tôi. Tôi không nghĩ tiếng nói của mình quan trọng lắm cho dù những người thân trong nhà đều coi câm là một thứ tật nguyền nghiêm trọng.
Tệ thật bác Jo ạ, tôi không thể nào viết cho có lớp có lang được, cứ thế là đâm đầu vào viết.
Nhưng biết đâu những từ tôi viết ra lại có thể giúp ích điều gì... Những người khác, bạn bè trong lớp, bọn trẻ ở làng đều tự suy diễn về việc tôi bị câm. Chúng nó không biết chuyện gì đã khiến tôi mất đi giọng nói, nhưng cái việc tôi không thể nói được bị chúng nó coi như một sự tàn tật, một điều kỳ lạ, một dạng điên (còn chuyện có một thời tôi cũng nói được thì chỉ là một chi tiết không quan trọng với chúng nó).
Việc tôi đến từ một trong những ngôi trường danh giá nhất nước, nổi tiếng đến mức mà những người ở làng này người ta cũng biết tiếng, việc kết quả học tập của tôi năm này qua năm khác vẫn luôn là một trong số những học sinh giỏi nhất lớp hay việc tôi là cháu của một trong những thầy giáo giỏi nhất làng đều không giúp ích gì. Với các bạn, tôi chỉ đơn giản là một đứa con gái câm, thính giác nhạy bén hơn bình thường của tôi đã khiến tôi nhiều lần nghe được những lời bạn bè bình luận. Không nói, chắc nó bị điên rồi, mày không nghĩ thế à? Ai không nói được sẽ bị chịu những tổn thương lên não và trước sau gì cũng trở thành điên và cứ thế.
Hồi đầu khi tan trường tôi thường cùng chị Hằng về nhà, nhưng việc ấy chỉ kéo dài trong năm đầu tiên thôi. Sau đấy thì Hằng – nữ hoàng sắc đẹp của trường, càng ngày càng được nhiều anh theo đuổi và cứ mỗi ngày lại có một anh chàng đưa chị về nhà. Tôi thì bị tất cả phớt lờ và thế là dần dần tôi quen về nhà một mình. Để an ủi cho sự cô đơn, nhục nhã đó, tôi thường để tâm lắng nghe tất cả những gì vọng vào tai mình. Tôi tập trung nghe những âm thanh ở nông thôn, tiếng dòng sông, tiếng những con người làm việc vọng lại từ khoảng cách rất xa. Khi một con nghé ọ lên, âm thanh ấy có thể lọt đến tai tôi. Chưa kể tiếng bọn ếch, cái lũ cóc nhái ấy có tiếng kêu ngộ nghĩnh như gãi vào đôi tai của tôi. Dần dần tôi còn có thói quen đi một mình vào rừng chơi. Ở trong rừng cũng thế. Thính giác của tôi có thể báo trước sự có mặt của các con vật và theo thời gian tôi học được cách nhận biết từng âm thanh. Từ tiếng sột soạt của bọn gà lôi đến tiếng bọn khỉ nhảy nhót, đi theo con đầu đàn. Hoặc là tiếng trườn hết sức lặng lẽ nhưng vẫn đến được tai tôi của bọn rắn lục mà mọi người ở trong làng đều sợ. Cứ thế vì luôn phải ở một mình, tôi lại càng làm tăng thêm suy nghĩ của mọi người rằng đứa con gái câm kia thật là lạ, và một ngày nào đó chắc là nó sẽ phát điên.
Trong gia đình, tất cả đều đã quen với tình trạng của tôi là con bé Phương không nói được nữa. Chú Triện rất lo lắng khi tôi nói với chú là tôi bị những cơn đau đầu khủng khiếp. Chú đã đưa tôi đi khám khắp nơi nhưng chưa bao giờ tìm được một phòng khám hay bệnh viện nào hiểu được vấn đề của tôi để giúp tôi nói lại được. Chuyện đã xảy ra, không làm được gì nữa cả, thế thôi. Mọi người đều nghĩ giọng nói của tôi đã chết, đã bị chôn sâu dưới lòng đất. Kể cả chị Hằng cũng không còn bận tâm đến chuyện đấy nữa, mặc dù chị là người duy nhất mà tôi có thể mở lòng, dù chỉ là vài lần hiếm hoi. Càng lớn chị Hằng càng chỉ quan tâm đến đám con trai trồng cây si trước nhà: đám theo đuổi chị, vấn đề của chị chỉ là chọn ai trong số ấy. Còn về phần tôi, tôi thì chẳng có ai và theo chị thì tôi phải cố tìm kiếm lấy một người. Nhưng ai biết được phải làm thế nào đây!
Cuộc sống câm lặng của tôi vẫn không thay đổi gì; và cả những năm học cấp III chuyên ngữ cũng thế; tôi đã chọn học ngoại ngữ mà chú Triện luôn đánh giá cao là tiếng Pháp. Những cơn đau của tôi vẫn nấp đâu đó bên trong để thỉnh thoảng bùng lên. Chị Hằng lớn dần và trở thành thiếu nữ, ngày càng đẹp hơn, được bọn con trai và thậm chí là cả cánh đàn ông đứng tuổi khao khát. Tôi cũng lớn dần, hai năm đã qua rồi lại hai năm nữa nhưng sự khác biệt với chị chỉ ngày một rõ rệt hơn. Trường cấp III của tôi nằm ngay trong thành phố Hải Phòng, nhưng điều đấy cũng không hề khiến lịch trình hàng ngày của tôi thay đổi, chỉ có đường đến trường và đường về nhà là dài hơn ra. Tôi vẫn luôn một mình một bóng trên những con đường ấy.
Trong khi đấy tiếng mẹ đẻ lại ngày càng làm tôi đau lòng, không ai cố tình cả nhưng rất nhiều những câu thành ngữ hay được nhắc lại vô hình đâm vào tim tôi “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”, cái câu những người già dạy con cháu ấy nhiều khi khiến tôi nghẹn giọng. Đã bao năm nay tôi không còn bố để vâng lời, ông đã đi theo những dự án của mình mất rồi, ông đã quyết chịu mọi trách nhiệm của mình, như lời chú Triện đã nói.
Trước khi biết rõ những điều bi thảm đã xảy ra với gia đình mình, điều ám ảnh nhất của tôi là kiếm được tấm chồng. Hay người yêu hoặc bạn trai cũng được, miễn là một trang nam nhi ở bên cạnh để có thể nắm lấy tay tôi. Dù không xinh đẹp nhưng cơ thể con gái của tôi, da thịt tôi vẫn khao khát điều ấy. Nhưng đến khi xong cấp III thì tôi bắt đầu có ý nghĩ mình sẽ không kiếm nổi chồng thế nên tôi sẽ không có ông chồng nào để theo cả. Tôi đơn độc và sẽ mãi đơn độc như thế này.
Tôi tự nhủ nếu đó là số phận của mình, nếu giọng nói của tôi khi mất đi đã mang theo cả cầu nối để tôi có thể có một người con trai mà một ngày nào đó sẽ cưới tôi làm vợ, thì tốt nhất là tôi nên tự tách mình ra xa những người khác và sống càng cô đơn càng tốt. Việc gì phải chống lại số phận, buông xuôi theo nó có phải hơn không? Tôi quyết định sau cấp III sẽ không học tiếp nữa để chờ xem tôi nên làm gì.
Gia đình tôi dĩ nhiên là phản đối kịch liệt quyết định đấy. Chú Triện vốn theo sát việc học hành của tôi và chứng kiến kết quả học tập tốt, thậm chí đạt nhiều giải thưởng của tôi nên muốn tôi về Hà Nội học.
Theo chú thì tiếng Pháp của tôi đã khá vững nhưng cần hoàn thiện hơn nữa và cần hiểu sâu hơn về văn hóa Pháp, những điều thiết yếu để làm cái nghề dịch thuật mà chú đã định cho tương lai của tôi. Tôi thì không thích thú gì với ý tưởng sẽ phải chịu đựng đợt tra tấn mới, phải gặp gỡ làm quen với những người mới và nhận lấy hàng đống sự cảm thông giả tạo hay những câu nói đùa ngu ngốc, những lời châm chọc. Mà thật ra thì đấy chính là lý do chủ yếu đã khiến tôi đi đến giải pháp cô lập mình khỏi những người khác. Tôi làm mình làm mẩy, dằn dỗi hàng tuần liền, cho đến lúc già Thục quyết định can thiệp. Tôi ngạc nhiên khi thấy bà bênh tôi “Con bé không phải làm điều mà nó không thích. Nó đã đủ khổ rồi, đừng làm nó khổ thêm nữa. Bà thấy nó muốn ở cái nhà này bao lâu, thậm chí ở cả đời cũng được”.
Sau khi được bà bênh vực, tôi tìm được cách thỏa hiệp với chú Triện để tránh mang tiếng với họ hàng và người quen: tôi sẽ học tiếp nhưng chỉ là một khóa cao đẳng về văn thư, tôi sẽ vẫn tiếp tục học tiếng Pháp và các môn trang bị kiến thức về thế giới như chú nhất định muốn thế.
Một thời gian sau căn phòng mà trước đây có cả chị Hằng ở cùng trở thành phòng riêng của tôi. Trong khi tất cả những người còn lại trong nhà, chú Triện, thím Nga vợ chú, già Thục, hai đứa con của cô chú, rồi cả con mèo Mun nữa đều ngủ cả trong một căn phòng khác thì tôi được ưu ái có phòng riêng vì hoàn cảnh mồ côi. Tuy chỉ là một căn phòng nhỏ xíu, chỉ bằng góc làm việc mà bố tôi đã cơi nới thêm trong căn nhà của gia đình tôi ngày xưa ở Hà Nội, nhưng ở trong đấy tôi có cảm giác được an toàn. Đấy là vỏ bọc che chở cho tôi nên tôi không quan tâm đến việc nhiều người chê nó bé tí. Còn chị Hằng thì đã chọn được một người trong số những cái đuôi của chị và theo như chú Triện thì chị đã chọn đúng người: một tay nhà giàu buôn bán trên Hà Nội. Anh ta đã khá đứng tuổi rồi và thuộc nhóm người đã biết tận dụng cơ hội những năm đầu đổi mới để làm giàu, những đổi mới mà chính bố tôi đã xây dựng dự án đầy tham vọng của ông rồi mất mạng vì nó. Khi chị Hằng lấy chồng, già Thục dù mừng cho cháu gái nhưng hôm đón dâu tôi nghe thấy bà quan sát chú rể rồi thì thầm vào tai thím Trà: “Người làm ra tiền bạc chứ tiền bạc không làm ra được con người”.
Tôi tham gia vào tất cả các lễ cưới hỏi ở quê nhưng không chịu đưa chị về nhà chồng trên Hà Nội. Chỉ nghĩ đến việc phải quay về đấy là tôi đã thấy sợ, dù mỗi lần chị Hằng về quê thăm cả nhà lại kể đủ chuyện mọi thứ thay đổi thế nào, thủ đô bây giờ sôi động ra sao. Hôm cưới trông chị tôi tuyệt đẹp, nhưng đôi lúc trên gương mặt chị lại thoáng hiện ra nét lo âu mà dù đã trang điểm kỹ nhưng tôi vẫn nhận ra. Gia đình chú rể rất kỹ tính, khi làm lễ tạ ông tơ bà nguyệt đã kết chỉ xe duyên, chú rể phải đưa nửa quả cau cho cô dâu, rồi rót rượu mỗi người uống một nửa. Trong nghi lễ cuối cùng khi cô dâu sẽ phải nhún chân hạ mình trước chú rể hai lần để chờ anh ta chấp nhận, tôi nhận ra trong mắt chị Hằng có một ánh nhìn thách thức, thoáng qua như một điềm xấu.
Tội nghiệp chị Hằng, đời chị sau này còn phải hạ mình nhục nhã bao nhiêu lần nữa! Hồng nhan bạc mệnh, đúng như lá tử vi mà già Thục đã xem cho chị. Điều đã từng khiến mẹ tôi lo lắng cho chị đã trở thành sự thật sau lễ cưới. Khi mới về nhà chồng, chị đã rất hào hứng kể chuyện về ngôi nhà mới của mình ở Hà Nội cho tôi nghe, để rồi sau đấy, chị đã phải trải qua bao đêm không ngủ ở đó. Cứ nghĩ đến điều đó tôi lại hay chạnh lòng nhớ về những giấc ngủ say sưa êm đềm của chị khi còn bé.
Đã có cả một tập giấy trên bàn tôi rồi bác Jo ạ, không hiểu rồi anh có đủ hứng thú để đọc hết không. Nhưng tôi sắp kể được ra rồi, sắp rồi, tôi chỉ đang cố gắng sắp xếp lại đầu óc rối tung rối mù của mình để có thể kể cho anh chính xác những gì tôi cảm nhận.
Tôi sẽ không dông dài về chị mình nữa. Chị ấy đã có một quãng đời bất hạnh bên người đàn ông đấy. Khi gặp nhau, anh ta đang ở trên đỉnh cao giàu có nhưng sau đó là trượt dốc. Rồi anh ta phải vào tù để lại chị tôi với ba mặt con. Chị tôi đã phải làm cái nghề mà chúng tôi ở quê biết là một nỗi nhục cho gia đình. Già Thục ngoài chuyện tử vi thì mỗi lần nói chuyện với con dâu về chị Hằng là bà lại lẩm bẩm: “Đẹp quá chỉ khổ thôi mà...”
Tôi thì không thấy vẻ đẹp của chị là quá nhiều, có chăng là vẻ đẹp của tôi quá ít. Khi soi gương tôi không thấy mình xấu, nhưng mà nhạt nhẽo. Tôi tự nhủ vì lẽ đó mà đàn ông không để ý đến mình, và còn chuyện tôi là đứa tật nguyền nữa. Bao nhiêu năm nay tôi phải nghe đi nghe lại cùng một câu xì xào sau lưng mình: “Không nói được à, chắc con bé đấy điên?”
Tôi đã kể cho anh nghe về bà nội tôi chưa nhỉ? Già Thục quả là một con người đặc biệt! Không ai biết chính xác bà bao nhiêu tuổi. Từ xưa đến nay bao giờ bà cũng là người lãnh đạo trong nhà; như thể một cột trụ quan trọng mà nếu thiếu thì cả nhà này sẽ sụp xuống. Bà nói rất ít, chỉ toàn những câu ngắn từa tựa như những câu tục ngữ đã hằn sâu trong trí nhớ nhưng thật ra là những lời kết tinh từ sự khôn ngoan hiểu biết của bà. Bà giống như rượu chưng cất, loại nếp làng Vân chỉ mấy ngày Tết mới có mà chú Triện vốn hay ca ngợi vì quá trình chưng cất công phu và độ mạnh, độ thơm của nó.
Mắt bà kém nhiều rồi, nhưng tầm nhìn của bà thì luôn vượt qua những bức tường và cả cánh đồng ngoài kia. Đôi khi tôi tưởng tượng nếu mình và bà có thể hợp với nhau, chia sẻ giọng nói, thính giác và thị giác thì không biết bà cháu tôi sẽ làm được bao nhiêu việc.
Ông nội tôi tham gia kháng chiến và hy sinh. Trước khi ra đi, ông đã kịp để lại cho bà tôi ba đứa con trai, một cơ nghiệp lớn cho gia đình. Bác Hùng, người con cả chưa kịp tiếp tục xây dựng cơ nghiệp đó thì đã hy sinh khi cùng những người lính khác hành quân vào chi viện cho Mặt trận miền Nam. Đơn vị của bác đã bị tấn công ở Quảng Trị, quân Mỹ đã xác định tọa độ của họ trên một đoạn đường mòn Hồ Chí Minh rồi dập pháo tan tành. Bà nội tôi đã cố để tìm được thi thể bác đưa về quê nhưng không được. Đấy là một trong những nỗi đau lớn nhất mà bà không bao giờ nguôi ngoai, không tìm nổi một lời giải thích cũng như không thể chấp nhận nó. Một sự độc ác của số phận, chính anh cũng nói rằng số phận có thể rất độc ác còn gì, bác Jo.
Vậy thì số phận của tôi là gì? Tôi vẫn tự hỏi mình nhiều lần trong không gian chật hẹp của căn phòng, trước kia trong khi nhìn chị Hằng say sưa ngủ và sau này khi chị đã đi lấy chồng thì tôi tự hỏi mình điều đấy khi ngắm nhìn màn đêm qua khung cửa sổ bé tí và lắng nghe tiếng đập cánh của lũ dơi ở xa xa.
Số phận của tôi là sống cả đời với trái tim tan nát ư? Tôi chưa bao giờ yêu ai, thậm chí chưa hề được nếm thứ tình cảm nào tương tự thế, nhưng tôi hiểu cảm giác ấy, cái cảm giác sau này tôi chứng kiến từ những người phụ nữ mà vì một trong hàng nghìn trò trớ trêu của cuộc đời đã phải ly biệt với người đàn ông mình yêu. Số phận của tôi là con tằm nằm yên trong kén nhưng không biết nhả tơ. Phải rồi, cảm giác của tôi là thế đấy, sự xa cách với những người đàn ông có thể yêu thương ôm tôi vào lòng khiến tôi cảm thấy như mình đang cuộn trong một cái kén, giữ tôi nằm im trong sự cô đơn của mình. Khi đêm về nghe muôn vàn âm thanh của thiên nhiên, khác biệt hẳn với những âm thanh ban ngày, tôi lại suy nghĩ, rồi tưởng tượng, tưởng tượng, rồi suy nghĩ. Tôi nằm mơ thấy một bàn tay đàn ông ấm áp giống như tay bố tôi vuốt ve tóc tôi; tôi nhìn thấy bàn tay ấy, tìm kiếm nó, vươn tay mình ra để chạm vào nó. Nhưng không một ai, chưa bao giờ có một ai ở gần tôi cả. Những đêm trăng tròn tôi nổi giận với ông tơ bà nguyệt, những đấng thần linh lo chuyện kết duyên mà lẽ ra tay chồng tội lỗi của chị Hằng phải kính cẩn tạ ơn. Tôi ngắm vầng trăng tròn vành vạnh, tưởng tượng ra ông tơ bà nguyệt rồi hỏi “Cháu muốn bắc thang lên tận trên đấy gặp ông bà, vì ông bà có thèm để ý đến cháu đâu. Ông bà phải lo chuyện kết duyên cơ mà”, rồi tôi cầu xin dù trong lòng nhiều khi đã nản “Cháu xin ông bà, cháu xin ông bà hãy lo cho cháu, nhìn đến cháu chỉ một chốc lát thôi”.
Tôi chưa kể gì nhiều cho anh về thím Trà, bác Jo ạ, nhưng bởi vì cũng không có gì nhiều nhặn để kể. Bản thân thím cũng hầu như không quan tâm nói chuyện với tôi ngoài vài câu lạnh lùng, thường là ra lệnh bảo tôi làm gì đấy. Như thể thím muốn nhắc tôi là dù chồng thím có ưu ái cho tôi ở riêng một phòng thì không có nghĩa là tôi được miễn việc nhà. Thím biết nỗi đau khổ của tôi nhưng thỉnh thoảng lại buột mồm nói vài câu như những mũi tên độc xuyên qua màng nhĩ chạy thẳng xuống tim tôi, hay xuống một chỗ nào đó không xác định được nơi nỗi đau của tôi ẩn nấp. Thím cố tình ác ý hay chỉ vô tình, tôi cũng không biết nữa. “Thuyền không lái như gái không chồng, đừng có làm con ngốc thế, mày phải chui ra khỏi cái hốc đấy, đừng có rúc mãi vào đấy, ra ngoài tìm lấy tấm chồng đi chứ. Kiểu gì chẳng có một đứa cho mày ở đâu đó” là câu nói yêu thích của thím; hay thỉnh thoảng khi chuẩn bị đi đâu đấy, thím lại nhìn tôi rồi vừa đội nón lên vừa bảo “gái không chồng như nón không quai”. Hay khi tôi ở đồng chạy về sau khi trốn đi xem bọn côn trùng và mơ mộng những điều khả dĩ hơn là kiếm được tấm chồng, thím lại liếc xéo tôi rồi rủa “chạy đi, cứ chạy đi, chạy trời không khỏi số!” Ban ngày tôi theo học khóa cao đẳng của mình, đi học đầy đủ và đạt kết quả tốt, nhưng đến đêm thì mơ mộng và đau khổ. Những điều mơ mộng cũng làm tôi đau khổ dù là nỗi đau đến chậm hơn so với những mũi tên độc của thím Trà, chúng đến đánh thức cơn đau của tôi và thường khiến tôi thao thức hàng giờ rồi mới chợp mắt được và để tôi yên vài tiếng. Những cơn mơ kiểu như người yêu của tôi có thể sẽ từ dòng sông đến, sẽ lái một con thuyền đến ngay trước điểm tôi đang đứng. Nhưng rồi chẳng có gì xảy ra trong đời thực, khiến tôi cảm thấy mình như cánh bướm bị tách khỏi nhụy hoa, như khu rừng thiếu bóng chim vàng anh, biểu tượng của tình yêu ở nước tôi. Tôi thấy mình như cây liễu ủ rũ buồn tủi không có bóng tùng quân bên cạnh. Rồi đột nhiên cơn mơ mộng lại quay lại với tôi, tôi mơ thấy một ngày may mắn tôi bỗng ở trong câu chuyện về Tiên Dung, nàng công chúa đã gặp một anh đánh cá nghèo khổ trong một lần tắm sông và quyết định cưới anh ta. Chẳng nhẽ đời tôi không thể có một mối duyên như vậy sao?
Một hoàng tử rời bỏ cuộc sống nhung lụa của mình và đến làng tôi, chàng nhìn thấy tôi đang ngồi mơ mộng bên cửa sổ và khi biết về câu chuyện đời tôi chàng sẽ quyết định xin cưới cô gái Phương bé bỏng làm vợ, cô gái mà cả làng đều chỉ coi là đứa câm...
Không, điều đó không thể xảy ra. Tôi biết rõ là như thế bác Jo ạ, nhưng ban đêm là lúc để tôi mơ mộng, để trí tưởng tượng giang cánh đưa tôi bay cao, rồi sau đó lại hất tôi ngã nhào xuống mặt đất.
Tôi thấy mình cô đơn như một cánh én lẻ loi mất phương hướng lang thang trong màn sương mù, mang trên đôi cánh của mình gánh nặng của sự bất hạnh.
Giờ đây tôi không chỉ là cái Phương không chịu nói nữa mà còn là cái Phương không chịu ăn. Thân hình tôi vốn nhỏ bé nên tôi vốn không ăn uống gì nhiều, nhưng giai đoạn ấy còn tệ hơn nữa đến mức tôi không ăn nổi một bát cơm mỗi bữa. Mà có vẻ cũng không có ai bận tâm đến điều đấy.
Ít lâu sau khi tôi có được bản báo cáo của công an về vụ cướp xảy ra trong nhà tôi, một buổi sáng khi chỉ có tôi ở nhà với già Thục thì bỗng thấy bà lấy gậy dộng cành cạch xuống sàn. Đấy là dấu hiệu bảo ai đang ở gần đấy phải đến bên cạnh bà ngay. Tôi nhìn bà không hiểu bà cần sai bảo gì, nhưng già Thục chỉ ra hiệu bảo tôi ngồi xuống bên cạnh. “Cái lũ đàn ông!” bà thốt lên rồi nhìn đăm đăm vào một thứ gì đấy mà tôi không nhìn ra. “Ở trên giường thì chúng nó nằm trên ta, còn khi có đồ ăn thức uống gì thì chúng nó cũng ngồi mâm trên”. Tôi im lặng nhìn bà không hiểu những lời vàng ngọc ấy có ý nghĩa gì, mà thật ra đây là lần đầu tiên tôi thấy bà nói một điều có vẻ không như những lời vàng ngọc. “Chịu đựng, chịu đựng, chỉ biết chịu đựng mà thôi, như con trâu đã bị đóng ách. Kéo cày, kéo mãi, mà lại còn phải cúi đầu nữa chứ. Phải rồi Trời Phật ơi, đấy là nghĩa vụ, là số phận của chúng ta mà”. Tới lúc đấy tôi bắt đầu hiểu ra điều bà định nói với tôi. Trước đây bà đã từng khuyên nhủ chúng tôi về chuyện hôn nhân, nhưng thường là với chị Hằng còn tôi thì không nghĩ bà sẽ nói về cái chủ đề kiêng kỵ đấy của tôi bằng những lời như vậy. Rồi xảy ra một điều lạ, tôi chưa thấy bao giờ. Bà nội khi nói thường chỉ nhìn thẳng về phía trước nhưng lần này bà lại quay ra phía tôi, nhìn thẳng vào tôi và lần đầu tiên tôi thấy mình nhìn trực diện vào mắt bà, hai con ngươi màu đen vẫn còn cực kỳ sống động nổi bật trên gương mặt nhăn nheo của bà, chứa đựng trong đấy dường như tất cả yêu thương trên cõi đời này. “Trên đời này nhiều nỗi khổ lắm Phương ạ, con phải biết đời là bể khổ, phải biết đối mặt với nó. Con đừng tự hủy hoại mình trong mơ mộng viển vông rồi đau khổ nữa. Hãy chấp nhận vận rủi của mình con ạ, nhưng phải ngẩng cao đầu, dồn sức mình vào điều khác. Con là một đứa con gái thông minh, thông minh nhất nhà này, con có thể làm được nhiều việc trong đời mình”. Rồi bà nội ngừng lời, lấy lại thế ngồi quen thuộc của bà, buông người thoải mái hơn trên chiếc ghế đang gắn liền như một phần của cơ thể bà. “Con xem cái thằng chồng lừa lọc của chị con đấy, nó đã gây ra những chuyện gì. Con Hằng đẹp nhất làng để làm gì cơ chứ? Đẹp thế có làm nó hạnh phúc, thanh thản, thoải mái được chút nào không? Mà bà còn lo thể nào khi mấy đứa con lớn lên biết mẹ nó đã phải làm cái nghề gì thể nào chúng nó cũng quay ra hắt hủi”.
Tôi ngồi im nhìn bà, còn bà lại chiếu cái nhìn ra phía chân trời một lúc rồi mới lại cất lời:
“Bố con cũng thông minh lắm, Phương ạ. Bố con tuổi Mão, cái tuổi ấy lắm tài, nhiều tham vọng, giỏi kinh doanh. Ngay từ hồi học tiểu học bố con đã được chọn vào lớp chuyên cùng với những học sinh giỏi nhất. Lớp đấy là lớp chuyên toán mà bố con lại rất có năng khiếu môn đấy. Đến khi lớn thì bố con học được cách ứng dụng toán vào công việc làm ăn; có lần bố con kể cho bà rằng bố con quyết định công việc dựa trên con số, tỷ lệ phần trăm mà những con tính phức tạp cho ra, rằng cách đấy đã luôn giúp bố con chọn ra được công việc hiệu quả. Tuy nhiên, dần dần bố con không chỉ thỏa mãn với việc kiếm tiền nữa mà đam mê thứ khác – những mô hình khả thi mà theo ông sẽ có ích hơn nhiều so với lý tưởng hay những lời nói suông của đồng nghiệp. Tuổi Mão nhiều hoài bão Phương ạ, nên bố con không chỉ muốn làm giàu cho bản thân mình mà còn muốn thay đổi thế giới xung quanh. Bố con tin mình sẽ làm được...” Tôi chưa bao giờ nghe bà nội nói chuyện lâu đến thế; tôi vừa nghe vừa nhìn bà sửng sốt, cố kiềm chế cơn đau mà tôi cảm nhận đang chực bùng lên khi tiếng súng vọng lại trong đầu tôi.
“Bà chưa bao giờ nói chuyện được nhiều với bố con về tử vi. Với bố con thì những vì sao chỉ là một phần của thiên văn học chứ không thể là yếu tố quyết định số phận của một con người hay thậm chí là một dân tộc. Bà đã thử vài lần, nhưng lần cuối cùng bố con trả lời bà dứt khoát rằng lá số tử vi lập ra dựa trên giờ sinh nên chỉ có nhiều nhất là 518.400 số phận khác nhau trong khi có đến hàng tỉ người trên Trái đất. Thế nên số phận của một người không chỉ phụ thuộc vào giờ sinh và sự kết hợp của các sao lúc đó. Con số đấy thật ra bà biết rất rõ, bố con đã nhân số giờ sinh, số ngày, số tháng, số năm của lịch âm để tính ra nó và muốn chỉ ra rằng tử vi không có tác dụng. Đã nhiều lần bà chứng kiến con trai mình sử dụng trí thông minh của nó và tin là mình luôn có lý, thế nên bà biết có giải thích lại rằng 518.400 lá số tử vi khác nhau đó chính là những chiếc lá trên cây đời cũng không để làm gì, bà không thể thay đổi số phận của bố con. Mệnh Mão tội nghiệp! Lá số tử vi của bố con là một trong những lá số các thầy tranh cãi nhiều nhất. Cha của bà, tức là cụ của con, thầy đồ giỏi nhất làng này cũng đã hiểu ngay rằng tử vi của bố con quá phức tạp nên bản thân cụ cũng không giải nổi. Cụ đã nhờ nhiều người khác, những thầy tử vi có tiếng trong vùng thậm chí là ở tận trên thủ đô, nhưng câu trả lời mỗi lần lại khác. Người thì bảo bố con có thể làm quan, hoặc là đại gia, nhưng cũng có người đọc được mối họa chết người sẽ giáng xuống không chỉ bố con mà cả gia đình”.
Nghe đến đoạn đấy trong lời kể của bà, trong đầu tôi chợt hiện lại hình ảnh bố tôi đêm ấy ngồi trước bàn làm việc; có lẽ chính trong khoảnh khắc ấy ông đã nhận ra đời mình có thể kết thúc bất hạnh, có lẽ bố đã tự hỏi mình giống như tôi đã tự chất vấn cả ngàn lần rằng tại sao đời ông lại phải diễn ra như thế.
Tôi những muốn hét lên để già Thục ngừng lại, tôi túm lấy tay bà... nhưng bà thậm chí còn không nhận ra.
“Những sao chiếu mệnh mà bố con không muốn thừa nhận ấy chính là lá của cây đời Phương ạ. Tổ tiên ông bà chính là rễ cây, thân cây là mảnh đất nơi cái cây ra đời. Lá số tử vi nói cho con những điều đấy Phương ạ, và còn nhiều điều nữa: tài năng của con, điểm yếu của con. Nó mách con nghề nào phù hợp với con, mệnh nào hợp với con để cùng làm ăn, để có quan hệ tình cảm. Nói cho con những việc sẽ xảy đến trong đời. Nhưng những sự kiện xảy ra cũng giống như những lá cây mọc tiếp theo những chiếc lá đầu tiên, sinh ra từ những vì sao chiếu mệnh chiếu sáng đời con từ khi ra đời, và chính những hành xử của con sẽ quyết định những chiếc lá tiếp theo sẽ ra đời như thế nào, tức là quyết định cây đời sẽ lớn tiếp ra sao”.
Tôi ngồi yên với bàn tay vẫn đang bám chặt vào cánh tay gầy guộc của bà nội nhưng tôi nhận ra mình đang không siết chặt bàn tay nữa. Tôi không còn hiểu gì nữa.
Lẽ nào bà nội đang bảo tôi rằng bố tôi có thể có một số phận khác? Nhưng nếu thế thì tại sao bà không nói với bố, sao bà lại để bố chết như vậy, câu hỏi ấy điên cuồng xoáy vào đầu tôi.
“Lá số tử vi của bố con là lá số phức tạp nhất bà thấy trên đời, đọc được ra đã khó mà giải được lại càng khó. Một trong những thầy tử vi giỏi nhất ở Hà Nội đã bảo bà trước với bà rằng đúng năm bố mất sẽ là một năm hạn nặng của bố con, vì đấy là năm hiếm hoi có đủ một bộ ba sao đặc biệt thường vẫn đem lại vận may, nhưng vị trí của ba ngôi sao năm ấy lại có thể đem lại những vận hạn chết người. Liệu có cách hóa giải không ư? Có thể. Nhưng bố con đến tử vi còn không tin thì nói gì đến chuyện giải hạn...”
Tôi buông tay bà ra chạy đi lấy cái bảng để trong phòng rồi viết lên đấy: tôi không chịu nổi ý nghĩ không thể làm được gì để thay đổi số phận, tôi đưa cái bảng đến trước mặt bà nội mà quên mất rằng mắt bà tôi đã kém lắm rồi nên không biết liệu bà có thể đọc những từ tôi viết.
“Sau cái chết của bác Hùng, chắc con cũng hiểu bà đau lòng đến mức nào khi mất thêm một người con nữa? Mọi sự việc đều phức tạp, nhưng đồng thời lại dễ hiểu thôi, cháu của bà ạ. Mọi sự việc đều liên hệ với nhau, đời bố con, mẹ con với đời các con, với đời tổ tiên ngày xưa, của những người khác trong gia đình ta”. Bà lại lặng đi một lúc rất lâu, rồi nói tiếp với kiểu nhìn quen thuộc của bà, chăm chăm hướng về đâu đó ở phía trước.
“Không biết có bao giờ con hiểu hết được những điều này không... Số phận là hệ quả của những việc ta làm Phương ạ, của con, của tổ tiên... của những kiếp trước. Đến lượt số phận của những người sinh ra sau con lại phụ thuộc một phần vào những việc con làm. Bà biết chắc rằng việc bố con lựa chọn chấp nhận rủi ro vì nhận thức được điều đang làm cho những gia đình khác, chấp nhận có thể chết để mang phúc cho những cây đời sau, để gốc rễ vững vàng hơn...”
Tôi nghĩ ngay đến việc chứng kiến cái chết của bố đã lấy đi mất giọng nói của tôi, nhưng chưa kịp viết điều đấy lên bảng thì già Thục đã bảo tôi đi làm ít xôi với thịt lợn, dặn tôi cũng phải ăn phần của mình. Tôi ngồi ăn với bà, nhai chầm chậm để theo đúng nhịp với bà và để chia sẻ sự im lặng đã quay về cuốn quanh bà như cũ.
Thế là lại một tờ giấy được thêm vào tập giấy trên bàn. Tôi chưa bao giờ viết nhiều như thế bác Jo ạ, kể cả khi còn đi học. Bao năm nay tôi đã quen diễn đạt chỉ bằng vài dòng trên tấm bảng đen, nên giờ đây nhìn từng này câu chữ viết lên mặt giấy khiến tôi chóng mặt. Nhưng tôi vẫn tiếp tục, vì tôi cần kể cho anh một chuyện thực sự quan trọng. Cho dù tôi có lạc trong ma trận ký ức này thì tôi cũng sẽ phải tìm được lối ra mà tôi đang tìm kiếm.
Sau khi già Thục nói với tôi những lời ấy, tôi bắt đầu cố ăn lại đều đặn và ngẫm nghĩ về những lời bà nói. Bà là người duy nhất trong gia đình mà tôi kính nể về trí tuệ. Với những người khác trong gia đình thì không nhưng bà nội là người tôi vô cùng yêu quý. Bà là thần hộ mệnh của gia đình tôi, và bà vẫn luôn là người chỉ đường dù càng ngày bà càng nói ít hơn xưa, dù cùng với tháng ngày qua đi bà ngày càng ngồi lại lâu hơn, bất động hàng giờ liền trên ghế, mắt khép hờ. Nhờ bà mà tôi đã thôi không tự hành hạ mình vì tình cảnh cô đơn khốn khổ và không được ai để ý, cho dù tôi vẫn không chịu đi chơi ngoại trừ những cuộc đi dạo để trò chuyện với thiên nhiên.
Sau khi biết được các tình tiết khác của vụ cướp mà tôi đã tận mắt chứng kiến một phần, và sau khi cơn giận của tôi với bố và những kẻ đã giết bố mẹ tôi tan biến dần đi thì tôi lại rơi vào một trạng thái trễ nải với những suy nghĩ và tưởng tượng u ám. Một phần cũng vì cách tôi vội vàng diễn giải những lời bà nội nói: tôi cho rằng ý bà là tôi sẽ không bao giờ có được một người đàn ông cho mình. Mãi về sau tôi mới hiểu những lời đấy của bà thông tuệ đến thế nào, rằng bà nội luôn mong muốn che chở cho tất cả chúng tôi trong gia đình, nhưng những lời của bà hồi đấy đã chẳng may bị tôi hiểu nhầm và khiến tôi càng sa đà vào những tư tưởng u ám.
Rồi một ý tưởng vọt đến trong đầu tôi vào một ngày giông bão, khi tôi lao ra khỏi nhà vì cảm thấy cần thoát khỏi cái hang trú ẩn nhỏ nhoi nơi tôi vẫn trốn. Chính trong lúc đứng dưới cơn bão, chân ngập trong bùn, tôi đã đi đến một quyết định. Tôi sẽ tự tử. Vâng, tôi biết quyết định như thế là một việc tệ hại, không chỉ bản thân việc tự tử mà thậm chí nghĩ về nó hay kể về nó cũng đã khó để có thể chấp nhận. Nhưng hôm đấy khi quyết định xong lòng tôi thanh thản kỳ lạ, như thể cơn bão đã gột rửa hết lớp bùn lầy suy nghĩ trong tôi. Tôi thấy giải pháp đấy là cách duy nhất để thoát ra, thậm chí nó chính là hồi cuối lẽ ra đã phải có từ lâu của vở kịch đã mở màn với vụ cướp đã giết chết bố mẹ tôi. Thử nghĩ xem nếu đêm đấy tôi hét lên thay vì ngất đi thì chuyện gì sẽ xảy ra? Những tên giết người ấy chắc sẽ phải giết cả tôi, anh không nghĩ thế sao? Nếu mẹ tôi bị giết chỉ vì bà về nhìn thấy mặt chúng, thì bọn chúng đâu có xá gì một đứa trẻ tám tuổi có thể trở thành một nhân chứng bất lợi; chỉ việc thêm một phát súng là xong. Sau khi đã nói chuyện được với chú Triện, tôi đã từng hỏi chú về giả thuyết đấy, tôi còn hỏi chú không biết bố tôi đã nói gì với chúng khi ông chỉ tay về phía căn phòng nơi tôi và chị Hằng đang ngủ.
Có lẽ là một lời khẩn cầu, một nguyện ước cuối cùng của ông để cứu lấy hai đứa con? Nhưng chú Triện vẫn như mọi lần, chỉ đưa ra một loạt các giả thuyết, nên cuối cùng tôi cũng không hiểu ý kiến của chú là gì. Có thể bố tôi đã nói “hai đứa con gái tôi đang ngủ trong căn phòng bên kia” để cố không cho bọn chúng nổ súng. Nhưng nếu mọi sự là vậy, nếu số phận của chúng tôi đã được khắc họa trước bằng những tông bi thảm đến thế, bố và mẹ thì bị giết, chị Hằng làm đĩ ở thủ đô, đêm đêm phải chịu ô nhục để nuôi dạy ba đứa con, thì tôi rúc trong một giấc mơ đến lúc người đàn ông của mình xuất hiện để làm gì? Một hoàng tử hay một người nông dân đi nữa cũng sẽ không hiện ra với tôi.
Không, tiếp tục sống như tôi đang sống thế này thật chẳng để làm gì, với mỗi ngày trôi qua lại phải chịu thêm một cơn bão không dứt với những nỗi đau, với những cơn mơ mộng viển vông khốn khổ, với cơn giận cuồng nộ trong tôi vì bố đã chọn dự án của ông và những tên giết người đã giết ông để mong lấy đi số tiền ông có được, với cái cảm giác tê liệt đã khoác lên một vỏ bọc ngăn cách tôi. Với những điều như thế thì ngay cả một thân tre dẻo dai nhất cũng sẽ gẫy gập, và tôi cũng thế.
Tôi quyết định sẽ phải tìm được một cách tự tử đàng hoàng, giữ được nhân phẩm, và trước đó thì phải hoàn thành trách nhiệm mà tôi thấy mình cần làm để đền đáp công ơn chú Triện: hoàn thành khóa học mà chú rất kỳ vọng ở tôi. Học xong tôi sẽ tìm cách sắp xếp để làm sau khi mọi người nhìn vào vụ tự tử sẽ chỉ có vẻ là một tai nạn. Chúng tôi đã phải chịu nhiều cú sốc và tai tiếng nên thật lòng tôi không muốn mình lại thêm vào một cú sốc nữa ảnh hưởng đến uy tín của gia đình. Còn chuyện tôi chết đi sẽ tác động thế nào đến những đời sau thì dù kính trọng già Thục vô cùng nhưng trong hoàn cảnh của tôi thì những việc đấy là những thứ cuối cùng mà tôi quan tâm đến. Lúc đấy tôi chỉ còn một năm nữa là học xong khóa cao đẳng, đủ thời gian để tôi tính toán và sắp xếp tất cả.
Những điều đấy xảy ra cách đây khoảng mười năm bác Jo ạ, trùng với thời điểm dịch SARS xuất hiện và phải được cách ly. Cơn mưa tầm tã ngày giông bão ấy dường như đã làm trôi đi tất cả những lớp vỏ chồng chất lên tôi bấy lâu, giúp tôi nhìn thấy ánh sáng le lói của lối ra. Nhưng rồi những việc tôi trù tính hôm ấy dưới cơn mưa đã không diễn ra như dự định.
Tôi gặp phải một loạt những khó khăn mà tôi không tính trước. Tôi biết anh thấy có vẻ điên rồ, nhưng mặc dù đã quyết tâm như thế nhưng tôi không đủ gan để biến quyết tâm thành hành động thực sự. Hay đúng hơn là tôi lập ra nhiều kế hoạch để làm sao cho vụ tử tự trông chỉ như một tai nạn, nhưng ngoài chuyện những kế hoạch của tôi đều không hẳn thuyết phục thì tôi còn gặp phải chuyện cứ run bắn lên khi thử làm. Tôi biết cách chọc cho một con trâu nổi điên lên, nhưng cứ nghĩ đến việc mình bị sừng trâu húc lòi ruột là tôi thấy hãi hùng. Nhảy xuống ao và từ từ chết chìm tôi thấy có vẻ êm ái hơn và có lẽ là chịu đựng được, nhưng một đứa con gái đã lớn như tôi, lại luôn chui rúc ngoài sông ngoài ruộng mà chết đuối thì có vẻ không hợp lý lắm. Chạy qua đường ray để tàu hỏa đâm vào cũng không thuyết phục vì ở nước tôi tàu chạy khá chậm. Khi nghe được tin đồn về một số thanh niên hay đến khu vực mỏ than cách làng tôi không xa lắm và bị ngã xuống những hố than rất sâu chết mất xác, tôi mò mẫm đến đấy tìm hiểu nhưng không tìm được thứ gì có thể hợp với kế hoạch của mình.
Năm học cuối của tôi ở khóa cao đẳng trôi qua nhanh hơn những năm trước đấy. Chú Triện vui lắm khi chứng kiến tôi nhận bằng cao đẳng ngành văn thư chuyên về Ngôn ngữ và văn hóa Pháp.
Hôm đấy chú đã tâm sự với tôi rất lâu, chú nói về sự thông thái, về trí tuệ những vị tổ tiên trong dòng họ, rồi chú bảo vì biết chắc thể nào tôi cũng sẽ không bao giờ buông xuôi chuyện học, rằng thể nào tôi cũng tốt nghiệp tốt nên chú đã liên lạc với một người bạn làm Tổng biên tập ở một tờ báo tiếng Pháp ở Hà Nội. Thế nên tôi sẽ được giao một số công việc, như thế cũng tức là tôi sẽ bắt đầu kiếm được tiền. Chú Triện quả là người nhân hậu! Dù không thành đạt như người anh, dù đầu óc chú không đặc biệt thông minh và có năng khiếu về toán như bố tôi nhưng chú luôn biết cách nhìn nhận sắp xếp cuộc đời theo một trình tự logic, như hệ quả của những hành xử đúng đắn. Với chú nếu không bị những điều bí ẩn và không thể biết trước giáng xuống thì cuộc đời sẽ diễn ra tuần tự, chính xác như một hệ quả số học.
Tôi viết lên bảng rằng tôi cảm ơn chú, nhưng tôi không có ý định rời nhà lên sống ở thủ đô. Hóa ra chú Triện cũng đã nghĩ đến điều đó, chú bảo sẽ có một cô nhân viên của chú tổng biên tập kia ghé qua làng tôi sớm để gặp và thỏa thuận các điều kiện hợp tác với tôi.
Cuộc gặp đó thế là đã thay đổi hành trình tôi đã dự định cho cuộc đời mình trước viễn cảnh bất hạnh đen đủi mà tôi tự gán cho mình vào cái ngày giông bão ấy, khi tôi ướt sũng và run rẩy như một chú gà con lạc mẹ.
Tôi dọn sạch hang trú ẩn của mình và chuẩn bị cho cuộc gặp theo những lời dặn dò chi tiết của chú Triện. Tôi phải tỏ ra biết ơn vì chị nhân viên kia đến gặp, không được đòi hỏi tiền nong mà chờ để tự họ đưa ra mức bồi dưỡng cho những tài liệu tôi dịch, phải hứa sẽ luôn hoàn thành công việc trong thời hạn được giao.
Nhưng rồi tất cả sự chuẩn bị của tôi theo lời dặn của chú cuối cùng lại không hề cần thiết. My, chị nhân viên chỉ nói qua loa chuyện công việc, rồi sau khi nhấm nháp tách trà tôi mời chị liền quay ra kể lể với tôi về mâu thuẫn với một đồng nghiệp chỉ luôn rình cơ hội để tranh giành quyền lực và nói xấu chị, ngược lại một người tuổi Dậu như tôi thì chắc chắn sẽ hợp tuổi Ngọ của chị.
Mới đầu tôi không hiểu chị kể những chuyện cãi cọ giữa đồng nghiệp với nhau cho tôi làm gì, thậm chí tôi còn tưởng đấy là một cách để khiến tôi đừng nhận công việc này vì biết đâu chị định cho một người thân nào khác làm. Nhưng càng nghe chị nói tôi càng thấy rõ chị My không phải là kiểu người mưu mô thế nên tôi tự nhủ chỉ cần cố chịu nghe một lát rồi chị sẽ đi. Chị ấy rất tự nhiên còn tôi thì khó chịu vì không quen có người khác ở phòng mình, vì bình thường kể cả người nhà cũng hầu như không bao giờ vào phòng tôi. Nhưng chị My lại có vẻ rất thoải mái và cứ tiếp tục kể lể dông dài về mâu thuẫn của chị với tay đồng nghiệp kia.
Tôi cũng không biết tại sao mình lại viết lên tấm bảng mấy câu, có lẽ tôi hy vọng làm thế sẽ có thể kết thúc sớm đoạn độc thoại của chị, bác Jo ạ. Chỉ là mấy nhận xét ngắn ngủi, những điều mà theo tôi là hiển nhiên, những điều tôi vẫn thường nghe mọi người trong nhà nói từ năm này qua năm khác, chẳng hạn như tuổi Mùi như anh đồng nghiệp bao giờ cũng xung với tuổi Sửu, anh ta cảm thấy bị át vía nên chị phải thử tìm cách trấn an; thỉnh thoảng chị chịu khó giả vờ không biết để anh ta chỉ dẫn cho thì anh ta sẽ thấy an lòng hơn. Mặc dù tôi viết những dòng đó không phải để khuyên bảo phải làm như thế nào, nhưng chị My lại coi là thế và cảm ơn tôi rất nhiều cho đến tận lúc ra về. Chị bảo chắc chắn hai chị em sẽ hợp làm việc với nhau và thể nào chị cũng quay lại gặp tôi.
Và cứ thế, trong lúc tôi loay hoay trong hoàn cảnh của mình vì làm gì tôi cũng thấy mình bất hạnh và chỉ muốn kết thúc cuộc đời tôi theo cách nào đỡ gây tai tiếng cho gia đình thì chị My, rồi một chị bạn khác của chị, rồi chị bạn của chị bạn kia và rất nhiều người phụ nữ khác nữa bỗng dưng kéo đến cái hang tôi ẩn náu, kể lể cho tôi nghe những vụ cãi cọ, những mâu thuẫn của họ để nhận lại từ tôi vài câu phán ngớ ngẩn, hiển nhiên. Mà cũng chỉ toàn phụ nữ đến, kể cả trong chuyện này cánh đàn ông cũng không hề lại gần tôi.
Tất cả đám đông nhộn nhịp từ thủ đô đến nhà tôi như thế khiến ở làng mọi người bắt đầu để ý, rồi dần dần dân làng cũng bắt đầu đến xin hỏi chuyện của họ với tôi. Chú thím tôi mỗi người phản ứng một cách, còn già Thục lúc đó đã qua đời nên không còn ngồi nghỉ trong cái ghế của bà nữa mà chỉ từ ban thờ im lặng quan sát chúng tôi.
Thím Trà càng ngày càng cay nghiệt hơn với tôi, thím than thở chuyện tốn chè pha mời những người khách đến gặp tôi. Thỉnh thoảng thím lại phun ra những lời cay độc mà câu yêu thích nhất của thím là “May ra có đứa rước hộ đi cho”. Chú Triện thì lo công việc mới này sẽ khiến tôi phân tâm không làm tốt nghề dịch của tôi đang có vẻ bắt đầu rất thuận lợi. Tội nghiệp chú tôi, chú không biết chính chú mới là vấn đề chính của tôi. Tôi đã tích trữ được mấy lọ thuốc giấu dưới gối, đấy có vẻ là cách phù hợp nhất với lòng dũng cảm hay đúng hơn là sự nhát gan của tôi. Nhưng tôi vẫn chưa thể nuốt hết chỗ thuốc ấy vì ân hận không muốn để lại cho chú một gánh nặng lương tâm đến thế.
Những buổi tối khi nằm dưới gốc muỗm cổ thụ phủ bóng lên ngôi nhà, tôi tự ngẫm cuộc đời mình đỡ đau khổ hơn trước nhưng vẫn bế tắc như thế. Những lời bà nội đã giúp khép miệng vết thương rớm máu trong tôi vì nghĩ mình sẽ không có một người đàn ông nào trong đời, nhờ bà tôi không còn cảm thấy cơn đau đớn xé ruột mà những mơ mộng viển vông của tôi tạo ra nữa. Nhưng tôi vẫn chưa xóa được nỗi hận sau khi khám phá sự thật đằng sau cái chết của bố mẹ tôi. Dù đã nghe về số phận của ông, về những điều đã đẩy ông đến cái kết bi thảm đó, ý định kết liễu cuộc đời mình vẫn bám chặt rễ trong đầu tôi. Chỉ có điều vẫn chưa biết phải làm thế nào và nhất là cảm giác có lỗi với chú Triện nên tôi vẫn chưa thực hiện được ý định ấy.
Trong lúc đó, bỗng có một cuộc sống khác tự dưng hiện đến với tôi và bắt đầu song hành với cuộc sống cũ: Cả làng tôi bây giờ đều bàn tán về cô gái câm biết bói. Mặc dù tôi chẳng bói ra được bất cứ điều gì nhưng mọi người đều tin rằng tật nguyền thay vì khiến tôi phát điên thì lại tạo ra một phép lạ, một dạng phép lạ mà văn hóa của chúng tôi dễ dàng chấp nhận.
Trong hoàn cảnh đấy tôi còn biết làm gì nữa hả bác Jo? Chấp nhận cuộc đời như thế? Coi cuộc đời mới tôi có được sau cuộc gặp với chị My là một món quà của số phận, một sự đền đáp nhỏ bé những gì số phận đã cướp của tôi. Trước đây tôi cô đơn, bất hạnh và luôn oán hận những người đã khiến đời tôi thay đổi, và bây giờ vẫn vậy. Mà người tôi oán hận nhất chính là bố tôi.
Mọi người đến xem bói đều cố để lại ít tiền dù tôi đã cố từ chối. Những khoản nhỏ thôi, nhưng cộng thêm vào những khoản tiền ít ỏi mà tôi kiếm được từ việc dịch thì cũng đủ để thỉnh thoảng tôi có thể chui ra khỏi hang ẩn náu của mình và đi xa một chuyến. Hai ba ngày gì đó, đến những nơi tôi chưa đặt chân đến bao giờ. Đấy tất nhiên không phải là những chuyến đi chơi. Tôi mang theo những lọ thuốc của mình để cố thử xem liệu mình có dám uống chúng ở một nơi nào đó xa nhà không? Những lọ thuốc ngủ mà tôi tích trữ với lý do bị đau đầu liên miên, rồi mỗi năm lại thay thuốc cũ bằng thuốc mới. Nhưng dù đã đi xa khỏi nhà, nỗi nhục mà tôi tưởng tượng sẽ để lại cho chú Triện nếu tôi tự tử vẫn quá lớn và luôn ngăn tôi lại trước khi tôi dám làm cái hành động để kết liễu đời mình. Và thế là mỗi lần tôi lại lủi thủi quay về, lại tiếp tục công việc dịch của tôi và tiếp tục viết những câu hiển nhiên, ngớ ngẩn lên tấm bảng của mình cho những người đến xem bói. Rồi hy vọng đến lần đi xa sau sẽ được việc.
Trong mười năm nay tôi đã nghe những người đến xem bói kể biết bao là chuyện, bác Jo ạ! Những người phụ nữ đủ các lứa tuổi, họa hoằn có được vài người đàn ông nữa, mỗi người có một nỗi niềm riêng muốn cầu xin, mỗi người mang theo mình những oán hờn, hối hận, ghen tị của mình. Một vòng quay bất tận những con người như thế diễu qua trước mắt tôi. Những tình yêu tan vỡ, những nỗi đau khổ, rất nhiều nỗi khổ, những bi kịch lớn nhỏ, sự lừa dối.
Một biển khổ như già Thục vẫn nói.
Có những câu chuyện khiến tôi buồn phiền lây, có những chuyện tôi lại phải cố nén để không phì cười. Lại có những chuyện khiến tôi nung nấu thêm ý định tự tử của mình đến mức tôi lao đi tìm một khách sạn để có thể đến đấy uống hết chỗ thuốc. Và những chuyện khác nữa khiến tôi cảm thấy mình bớt cô đơn. Vâng, đúng thế đấy, như người ta vẫn nói khi biết đến nỗi khổ của những người khác thì mình sẽ thấy đỡ khổ hơn. Trước đấy khi tiếng súng giết chết bố làm đảo lộn cuộc đời tôi, tôi đã không còn cảm thấy được cái cảm giác cùng ai đấy nói chuyện hay ở bên cạnh ai đấy.
Tôi buồn lây khi nghe cảnh cô con dâu than thở không biết phải làm sao để thoát khỏi ông bố chồng đã hơn chín mươi tuổi nhưng vẫn ăn khỏe như hùm đến mức mình ông ăn gần hết phần thức ăn cả nhà có được. Tất nhiên là không ai muốn giết quách ông đi nhưng chỉ mong ông sớm lìa đời, nếu không thì không biết phải làm sao để sống tiếp. Tôi chạnh lòng nhớ già Thục, nhớ đến ánh sáng tinh thần bà nội đã giữ trong gia đình, đến ánh nhìn đôn hậu mà chỉ một số người già mới có được. Khi bà mất, dù căn nhà không sụp đổ như tôi vẫn nghĩ, nhưng bà đã để lại cả một khoảng trống mênh mông, một điều gì đó thiêng liêng đã mãi mãi ra đi cùng bà. Sao không thể siêu thoát như thế thay vì ở lại trên cõi đời này đấu tranh với những nỗi bất hạnh lặp lại ngày này qua ngày khác, trĩu nặng trên đầu tôi như những đám mây lớn đen kịt?
Tôi thấy mình bớt cô đơn trong giây lát khi nghe người mẹ tâm sự chuyện lo lắng cho đứa con lấy chồng Tây rồi theo chồng sang tận bên kia đại dương ở nơi đất khách quê người xa lạ. Tôi không nghĩ đến người con gái và may mắn của cô vì đã có người yêu cô ấy đến mức xin cưới và đưa cô đi cùng mà nghĩ về người mẹ, về tâm trạng vui buồn lẫn lộn trong lòng người mẹ ấy, với một bên là nỗi cô đơn bà sẽ phải nếm trải ở tuổi già xế bóng khi người con gái duy nhất lại ở xa bà và một bên là niềm hy vọng cô sẽ có một tương lai hạnh phúc đang chờ.
Tôi buồn cười với câu chuyện nhà kia có hai dì cháu chênh nhau có ba tuổi, lại giống hệt nhau đến nỗi người dì bị chồng bỏ đã ghen tị với cuộc sống vợ chồng của cô cháu gái nên lẻn vào giường giả vờ làm người cháu mà anh chồng không hề nhận ra.
Năm tháng cứ thế trôi đi, cứ mỗi năm Tết lại đến trong khi tôi gần như không nhận ra một năm nữa đã lại trôi qua. Vừa Tết Canh Thìn rồi sang Quý Tỵ rồi đến Nhâm Ngọ. Tất cả những con người khốn khổ, hay than thở và rối trí vẫn đi qua đi lại nơi trú ẩn của tôi mỗi dịp trước và sau Tết ấy đã khiến kế hoạch của tôi dần lụn bại. Giống như một đám đông trong đó mỗi người bọn họ lại giúp tôi nguôi ngoai một chút, dập tắt dần ý định tự kết liễu kiếp đau khổ của tôi. Tôi vẫn thỉnh thoảng tìm đến một nơi nào đó mà những bài báo tôi dịch có nhắc đến, mang theo những lọ thuốc bất ly thân của mình, những lọ thuốc mà hàng năm tôi lại đổi từ thuốc cũ sang thuốc mới để nhỡ lúc nào tôi uống thì chúng vẫn còn đủ mạnh để giúp tôi đạt được mục đích.
Dù bây giờ tôi đã biết mình sẽ không bao giờ đủ dũng khí để nuốt hết chỗ thuốc ấy, tôi vẫn luôn mang chúng bên người như một hành lý không thể thiếu, giống như cơn đau vẫn luôn theo tôi, một nghiệp chướng không chịu buông tha mà đã ăn sâu mãi mãi vào một nơi nào đó trong cơ thể tôi. Đó mới chính là dị tật thật sự của tôi chứ không phải tật câm như người ngoài vẫn thấy.
Vậy đấy bác Jo, giờ có lẽ tôi có thể ngừng chất đầy thêm những mảnh giấy viết tay này. Nhưng quả thật tôi cần phải trút lòng mình, giờ thì tôi biết chắc là như thế. Bởi vì khi nghe xong câu chuyện của anh, ngày hôm qua và cả sáng nay nữa tôi có một cảm giác kỳ lạ, một cảm giác mà tôi chưa từng thấy bao giờ. Một điều gì đấy đã len lỏi chạm được vào nơi cơn đau của tôi ẩn nấp. Không chỉ là một từ ngữ, một câu nói nào đấy, nếu chỉ thế thì một người quen lắng nghe như tôi hẳn đã nhận ra. Một điều gì đấy đã xảy ra khi anh kể xong câu chuyện của mình, cả đêm qua tôi đã tự hỏi mình, đã chờ đợi để khám phá ra câu trả lời cho điều bí ẩn mới đó.
Rồi trước khi đặt bút viết cho anh những dòng này, dường như một cánh cửa sổ của nội tâm tôi đã mở ra và tôi có thể bắt đầu nhìn vào bên trong.
Tôi đã bồn chồn, run rẩy như thể đang chuẩn bị vượt qua một ngưỡng cửa quan trọng đến mức tôi đã òa khóc và thút thít không biết trong bao lâu nữa.
Ôi bác Jo, tôi xin lỗi, tôi thật ngốc nghếch dài dòng trước khi có thể nói được với anh điều mà tôi muốn anh hiểu.
Vâng, bác Jo ạ, anh phải hiểu điều đó, vì tôi không nghĩ có ai đã từng nói với anh hay anh có thể tự nhận ra được. Có lẽ tôi hơi bất cẩn khi viết ra những từ này, nhưng cả đời tôi chỉ học được một việc là lắng nghe. Nghe những tiếng nói của thiên nhiên, những chuyện kể của người đời và sau đó nữa là tiếng nói của cảm xúc, ngôn ngữ của cảm xúc có lẽ là khó nhất vì để lắng nghe được chúng thì không chỉ cần có đôi tai thính nhạy...
Nếu câu chuyện của anh được kể trong gian phòng nơi tôi trú ẩn, có lẽ tôi sẽ chỉ viết lên tấm bảng của mình rằng anh là người tốt, rằng cho dù anh đã làm những điều đáng chê trách trong đời, dù anh đã khiến những người khác phải chịu thiệt thòi đau khổ, bản chất của anh vẫn là một người tử tế. “Nhân chi sơ, tính bản thiện”, con người ta ai sinh ra cũng với bản chất nhân hậu chính là câu mà chúng tôi được học khi bắt đầu cắp sách đến trường, thậm chí trước cả khi học chữ; nhưng rồi với rất nhiều người càng lớn lại càng khó hay thậm chí là không còn cảm nhận được đốm sáng của bản thiện, đốm sáng nhỏ bé và quý báu đã bị vùi lấp đâu đó trong ta dưới vô vàn những rác rưởi chất đống của cuộc đời. Và có lẽ vì thế mà con người ta bước tiếp trên đường đời ngày một nặng nề, đốm lửa thiện leo lắt dưới tro tàn của bao đau khổ sẽ ngày một khó bùng lên.
Nhưng tôi cảm nhận được rất rõ đốm lửa thiện trong anh, bác Jo ạ, và giờ đây anh gần tìm được đốm sáng bản thiện ấy rồi.
Bản thân tôi lâu nay cũng đang tìm kiếm bản thiện trong tôi. Tôi biết nó ở đâu đó ngay dưới những cơn đau, nhưng tôi không đủ dũng cảm để bới tung lên và tìm kiếm nó. Tôi quả là một đứa hèn nhát, tôi không đủ dũng cảm để chết mà cũng không đủ dũng cảm để sống, tôi đã tự dằn vặt mình về điều đấy trong những chuyến đi xa vô tích sự của tôi, trong tất cả những khách sạn nơi mỗi lần đặt chân đến là mỗi lần tôi lại mong sẽ có đêm cuối cùng của mình ở đấy.
Cho đến lúc có chút ánh sáng chiếu rọi và tôi nhìn được vào sâu trong lòng mình. Một tia sáng mà có lẽ giống như ánh sáng lục nổi tiếng trong một bộ phim của Pháp vài năm trước, ánh rạng lên cuối cùng của hoàng hôn, ánh sáng đầy năng lượng cuối ngày. Tia sáng đấy cuối cùng đã chiếu tỏ cho tôi con đường để đến được bản thiện của mình, bác Jo ạ.
Chính câu chuyện của anh đã chỉ đường cho tôi, nó kể cho tôi hay một con người như anh, một con người tốt như anh cũng đã từng làm những việc như anh đã kể và phải chịu những nỗi đau như anh đã tả, và vậy thì một người như tôi cũng sẽ có thể rũ bỏ được nỗi đau đã làm tổ trong tôi bấy lâu nay, tống khứ nó đi cùng với những tiếng vọng khủng khiếp vẫn dội đi dội lại trong đầu tôi. Và tha thứ, tha thứ cho người cha đã bỏ tôi lại một mình, tha thứ cho những kẻ ngu xuẩn và độc ác đã giết ông.
Chính nó đấy bác Jo ạ, đấy chính là cảm giác lần đầu tiên tôi cảm nhận được, nó bắt đầu len lỏi trong tôi từ ngày hôm qua.
Và giờ đây khi đã tới nơi, tôi ao ước được nói với anh lời cảm ơn, bác Jo ơi. Lần này nước mắt tôi lại đang ứa ra, nhưng cùng với những lời cảm ơn thầm lặng tôi đang nhủ thầm trong tâm, tôi bỗng nghe thấy những tiếng vọng lặp đi lặp lại... Ôi trờ i ơi, là giọng nói của tôi, chính là giọng nói của tôi đang vang lên hòa cùng với tôi, cảm ơn, cảm ơn bác Jo.
Cảm ơn.