Ngày 2 tháng 11 năm 2008
Chân và Giả
Sau khi "Giải Mật" ra mắt, lác đác có độc giả gọi điện hoặc gửi thư cho tôi, họ cùng hỏi tôi một câu hỏi: Đây là thật sao? Câu hỏi này nghe có vẻ rất đơn giản, câu trả lời dường như ngay trên đầu môi chót lưỡi, nhưng tôi lại thấy vô cùng khó trả lời. Khó trả lời không phải là không thể trả lời, chỉ là tôi thiếu nhiệt tình và mong muốn giải đáp vấn đề này. Thẳng thắn mà nói, tôi thà để nó trở thành bí mật giữa tôi và độc giả. Lùi một bước mà nói, những điều tôi nói thực ra cũng chẳng có giá trị gì. Chân và giả đối với tác giả dường như là vấn đề khách quan, nhưng đối với độc giả thì tuyệt đối là vấn đề chủ quan. Có thể nói, những tình tiết nhỏ tôi gặp phải trong quá trình gửi bản thảo "Giải Mật" chính là minh chứng tốt nhất cho việc tôi có trải nghiệm về phương diện này.
Ngay trước mắt, tôi không thể nào quên, thời gian tôi viết xong "Giải Mật" là ngày 3 tháng 8 năm 2002, chiều ngày hôm sau, tôi đồng thời gửi cho hai tòa soạn, một là ở Hoa Nam, một là ở Hoa Bắc. Vì đều là bạn bè nên hồi âm đến khá nhanh, nhưng kết quả đều đáng thất vọng. Ý kiến thẩm định cuối cùng của tòa soạn Hoa Nam là: muốn khóc mà không ra nước mắt, vì nhân vật và câu chuyện quá kỳ lạ, thiếu tính thời sự. Ý kiến của tòa soạn Hoa Bắc là: đề tài liên quan quá nhạy cảm, đề nghị thay cái vỏ câu chuyện khác. Tôi hiểu, nói toẹt ý của hai bên ra thì thực ra cũng chỉ là vấn đề chân và giả: bên trước trách tôi giả, sợ độc giả không chấp nhận; bên sau lại lo tôi viết thật, sợ gây rắc rối cho tòa soạn. Những ý kiến trái ngược nhau làm tôi cảm thấy rất hoang mang, may mà sau đó Lý Sư Đông của Nhà xuất bản Thanh niên Trung Quốc và Hồng Thanh Ba của Tòa soạn tạp chí "Đương Đại" - hai vị "biên tập lớn" - đã có cái nhìn khác biệt, nhờ vậy mới có kết cục tốt đẹp như hiện tại. Có người nói, tôi là trong cái rủi có cái may. Có lẽ vậy, dù sao thì tầm ảnh hưởng của Nhà xuất bản Thanh niên Trung Quốc và Tòa soạn tạp chí "Đương Đại" lớn hơn nhiều so với hai tòa soạn và nhà xuất bản trước đó. Tuy nhiên, đó là một chủ đề khác.
Nói đi cũng phải nói lại, sau khi có trải nghiệm này, tôi thực sự rất ngại nói về vấn đề chân giả của "Giải Mật". Không cần phải nói, biên tập viên trước hết là độc giả, có lẽ nên gọi là độc giả chuyên nghiệp, độc giả cao cấp, họ cũng đại diện cho ý kiến của độc giả. Tức là, sau khi một cuốn tiểu thuyết ra đời, quyền xác định thật giả thực ra không nằm trong tay tác giả, mà nằm trong tay độc giả. Lúc này, tôi mà đứng ra trả lời câu hỏi một cách thành thực thì có vẻ không khôn ngoan chút nào. Vì vậy, tôi cứ giữ im lặng thì hơn.
Ngày 21 tháng 7 năm 2003
Khổ và Vui
"Giải Mật" xuất bản đã gần bốn năm, trong thời gian đó nó như người thân bầu bạn, đồng hành cùng tôi, vì vậy không tránh khỏi khơi dậy trong tôi những ký ức. Những dòng chữ dưới đây, đại khái là để bày tỏ mong muốn trân trọng ký ức này của tôi.
Nói thật, đối với tôi "Giải Mật" dường như không phải là một cuốn tiểu thuyết, mà giống như một đoạn lịch sử kéo dài hơn mười năm. Bản thân đoạn lịch sử này mang một đặc tính nào đó của tiểu thuyết: khúc chiết, kỳ lạ, chua xót, phức tạp, mơ hồ, tìm kiếm ngược xuôi, đúng đúng sai sai, bi bi khổ khổ, cuối cùng cũng coi như khổ tận cam lai, có một kết cục thiện lành.
Đã qua bao nhiêu năm rồi, tôi vẫn nhớ rõ cảnh tượng khi bắt đầu viết "Giải Mật": đó là một ngày của tháng 7 năm 1991, lúc đó tôi đang học tại Khoa Văn học của Học viện Nghệ thuật Giải phóng quân, là buổi tối trước ngày tốt nghiệp rời trường, phần lớn các bạn học đều đang bận rộn chuẩn bị cho việc rời trường, còn tôi lại như lên cơn mà ngồi xuống, chuẩn bị viết một "thứ lớn lao". Đây chính là khởi đầu của "Giải Mật". Hành động lỗ mãng không hợp thời này ám thị rằng tôi sẽ phải trả giá bằng gấp đôi thời gian và tâm huyết cho "Giải Mật". Nhưng tôi không bao giờ ngờ tới, cuối cùng lại phải tính bằng "hơn mười năm". Hơn mười năm đã không còn là một khái niệm thời gian, mà là một quãng đời, một cuộc nhân sinh. Trong thời gian đó, những biến đổi của tôi đã sớm khiến tôi không còn là tôi của ngày trước. Những năm tháng này, những biến động tôi trải qua nhiều và lớn đến mức không phải người thường nào cũng có. Trước hết về thân phận, tôi đã trải qua "nhiều lần thay đổi" từ quân giải phóng, đến cảnh sát vũ trang, đến quân nhân xuất ngũ, đến cán bộ nhà nước, đến kẻ nhàn rỗi có chức danh mà không có việc làm; về nơi ở, trải qua "chuyển cư thường xuyên" từ Bắc Kinh đến Nam Kinh, đến Thành Đô, đến Tây Tạng, rồi lại quay về Thành Đô; về ý nghĩa làm người, tất nhiên cũng trải qua nhiều sự kiện trọng đại của cuộc đời, ví dụ như yêu đương, hôn nhân, sinh con, nghèo khó, bệnh tật - có một lần, tôi đùa nghịch mà ngã từ xà kép xuống, suýt chút nữa là bị liệt. Tôi đã phải chịu đựng nửa năm điều trị và rèn luyện phức tạp, cuối cùng cũng giành được một cái kết cục tốt là "chỉ thỉnh thoảng khó chịu". Tóm lại, số phận của tôi không mang lại cho "Giải Mật" một cơ hội và đãi ngộ tốt, rồi nó lại trả đũa tôi, khiến tôi chịu đủ mọi giày vò, có vẻ cũng hợp tình hợp lý.
Vì chịu đủ mọi giày vò, tôi nhiều lần định vứt bỏ nó, từ bản thảo sáu vạn chữ chắt lọc ra một truyện ngắn hai vạn chữ (tức "Tử Mật Hắc Mật", đăng trên "Tiền Tuyến Văn Nghệ" số mùa xuân năm 1994), lại từ bản thảo mười một vạn chữ biên soạn ra một cuốn tiểu thuyết vừa bốn vạn chữ (tức "Cuốn sổ tay của Trần Hoa Nam", đăng trên "Thanh Niên Văn Học" tháng 9 năm 1997), đều là bằng chứng cho thấy tôi từng muốn từ bỏ nó. Nhưng mỗi lần từ bỏ đều không thành công, vì nó đã mọc rễ quá sâu trong lòng tôi, tôi đã không thể nào nhổ tận gốc được. Cũng như một cái cây rễ chằng chịt, dù bạn có chặt ngang thân cây, năm sau vẫn mọc ra những cành nhỏ, không chịu khuất phục trước cái chết. Cứ như thế, "Giải Mật" sinh mà chết, chết mà sinh, chết đi sống lại, lảo đảo đi qua, bước chân của nó thật khập khiễng, khó coi, nhưng trong sự khập khiễng đó dường như lại lộ ra mấy phần ương ngạnh và sức mạnh bộc phát không sợ hãi. Tôi cảm nhận sâu sắc rằng, trong quá trình sáng tác "Giải Mật", tất cả ưu điểm và khuyết điểm trong tính cách của tôi đều được bộc lộ một cách tối đa. Vì vậy, tôi gần như cố chấp khẳng định, đây không phải là một lần viết lách, mà là một cuộc mạo hiểm trong vận mệnh của tôi, một lần leo trèo, một lần định mệnh. Chính vì thế, tôi dành tình cảm đặc biệt cho "Giải Mật", nó gần như là toàn bộ tuổi trẻ của tôi, một phần vận mệnh của tôi. Là nỗi khổ và niềm vui chân thực của tôi, cũng là ký ức không bao giờ phai nhạt của tôi. Cũng chính vì thế, tôi dành sự cảm động và tưởng nhớ đặc biệt đối với gia đình, bạn bè, biên tập viên, nhà văn, nhà phê bình đã giúp đỡ và quan tâm để "Giải Mật" có được kết cục tốt đẹp như ngày hôm nay, cũng như một số độc giả nhiệt tình có liên hệ với tôi.
Ngày 19 tháng 6 năm 2006
Con báo trên đỉnh núi
Vì "Giải Mật", các loại danh tiếng của tôi "nổi như cồn", khơi dậy niềm đam mê "giải mã" tôi của không ít người. Trung Quốc có không ít tiểu thuyết gia thích nhấn mạnh rằng, những gì họ viết là thật - có người thật việc thật, để viết tốt "người thật việc thật" đó, họ đã đi nơi này nơi kia sống bao nhiêu năm, phỏng vấn bao nhiêu người. Theo logic này, tất nhiên tôi phải quen biết Dung Kim Trân, ít nhất là các yếu nhân của đơn vị đặc biệt 701. Tôi từng có nhiều năm đời sống quân ngũ, dường như càng có hiềm nghi này. Một phóng viên từng dùng ba trăm chữ chỉ thẳng vào mặt người khác rằng, tôi vì viết cuốn sách không nên viết này mà từng bị quản thúc tại một nơi nào đó, chấp nhận sự thẩm tra vô cùng vô tận, cuối cùng bị đơn vị đặc biệt 701 khai trừ.
Thật sao?
Đây là một vấn đề sâu xa, dường như tôi vẫn chưa đủ tư cách để trả lời.
Điều tôi có tư cách nói là, có hai nghề nghiệp luôn khiến tôi vô cùng mê hoặc: một là điệp viên, hai là chuyên gia giải mã. Điệp viên có mặt của những ngôi sao hạng A, ở khách sạn năm sao, lái Rolls-Royce, ngồi khoang hạng nhất, thậm chí còn có du thuyền và máy bay riêng. Họ phong lưu phóng khoáng đi lại giữa các địa điểm sang trọng trên không, trên mặt đất và trên mặt nước, trên mặt luôn nở nụ cười tự tin và đầy cám dỗ. Tuy nhiên, dưới màn đêm, mỗi giấc ngủ của họ đều bao phủ trong bóng tối của cái chết. Một điệp viên nổi tiếng đã để lại bài thơ như thế này: Sáng sớm thức dậy/Nhìn thấy mình vẫn còn sống/Thật là một điều hạnh phúc biết bao... Mạng treo đầu ngọn tóc, đây chính là bí mật sinh tử của một điệp viên, họ cứ thế trải qua và đón chào mỗi ngày và đêm. So sánh thì, chuyên gia giải mã bị gác lại trên cao, ngoài cửa có trọng binh canh giữ, trong ngăn kéo có đủ loại thuốc bổ quý giá, lo lắng về sinh tử là chuyện viển vông. Tuy nhiên, đằng sau sự sống vững chãi là cảnh ngộ sinh không bằng tử, ngày ngày ngồi câm lặng, đêm đêm suy tưởng, sự sống giống như không phải để sống, mà là để chờ chết. Nếu nói điệp viên giữa sự sống và cái chết còn có mặt lãng mạn, phong tình, thú vị, thì chuyên gia giải mã thậm chí không có nổi những tưởng tượng tương tự, họ chỉ có sự nặng nề và giày vò không thấy ánh mặt trời.
Mật mã là sự nghiệp của thiên tài. Giải mã mật mã, là một thiên tài nỗ lực suy đoán "tâm" của một thiên tài khác. Tâm này không phải là tâm hồn tươi đẹp, mà là tâm địa âm mưu, là vực thẳm vạn trượng, là cái bẫy trộm trời, là nấm mồ của một thiên tài chôn vùi một thiên tài khác. Người ta thường nói, một người giấu, vạn người tìm. Bản chất của mật mã là không thể giải mã. Trong trường hợp bình thường, khả năng một bộ mật mã cao cấp bị giải mã trong thời hạn bảo hiểm gần như bằng không, còn việc giải mã vượt quá thời hạn bảo hiểm thì giá trị lại bằng không. Sự ghê gớm của mật mã nằm ở chỗ đó, nỗi bi ai của chuyên gia giải mã cũng nằm ở chỗ đó. Trong lịch sử nhân loại, những thiên tài bị chôn vùi trong giới giải mã là nhiều nhất, chẳng trách có người nói, thứ trên đời có thể chôn vùi từng người, thậm chí từng thế hệ thiên tài, có lẽ chỉ có mật mã chết tiệt đó mà thôi, nó vây hãm hàng loạt tinh anh nhân loại lại với nhau, dường như không phải muốn sử dụng tài năng của họ, mà chỉ muốn khiến họ chết ngạt, chôn vùi trong lặng lẽ.
Nỗi bi ai của Dung Kim Trân cũng nằm ở chỗ đó.
Tôi muốn nói, Dung Kim Trân không chỉ đơn thuần là Dung Kim Trân, anh ta là con báo chết cóng trên đỉnh núi Kilimanjaro. "Kilimanjaro là một ngọn núi cao 19.710 feet so với mực nước biển, đỉnh núi quanh năm tuyết phủ. Đỉnh phía tây của nó được người Maasai gọi là Ngạc A Kỳ - Ngạc A Y, nghĩa là điện thờ của Thượng đế. Gần đỉnh phía tây, có xác một con báo đã khô cứng vì lạnh. Con báo lên cái nơi cao lạnh lẽo như vậy để làm gì, chưa ai từng giải thích." Hemingway đã nói như thế. Có người nói, con báo này là biểu tượng của tất cả những người thách thức giới hạn của nhân loại. Mà giới hạn là gì? Là vô tri, là vô đáy, là bí ẩn không có lời giải. Tôi cảm thấy, thách thức giới hạn cũng chẳng khác nào giải mã mật mã, ngay cả khi ngộ ra được bí ẩn cao cấp nhất hay thấp kém nhất thế gian, kết quả có thể vẫn là thất bại. Theo ý nghĩa đó, mật mã cũng không chỉ đơn thuần là mật mã, nó chính là tuyết trên đỉnh Kilimanjaro.