Chiếc Âu Vàng

Lượt đọc: 69 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
HỒI THỨ HAI

❊ ❊ ❊

Chàng sinh viên Anselmus bị coi là một kẻ say rượu và điên dại ra sao - Chuyến đi thuyền qua sông Elbe - Khúc ca của nhạc trưởng Graun - Rượu ngọt bổ dạ dày ở quán Convadi và mụ bán táo bằng đồng.

“Ông kia điên rồi!” - một bà thị dân đáng kính nói như vậy, khi bà cùng gia đình đi dạo chơi trở về và đứng lại, hai tay để bắt chéo sang nhau, theo dõi những hành vi điên rồ của chàng sinh viên Anselmus. Chàng đang ôm riết lấy thân cây mộc hương và luôn miệng nói với lá với cành: “Ôi, xin hãy lóng lánh và lấp lánh một lần nữa đi, hỡi những nàng rắn vàng đáng yêu của ta, chỉ một lần nữa thôi, hãy cho ta được nghe tiếng nói như chuông ngân của các nàng! Hỡi đôi mắt xanh đẹp mê hồn, xin hãy nhìn ta một lần nữa đi, chỉ một lần nữa thôi, nếu không ta sẽ phải lìa đời trong khổ đau và khát vọng nhiệt cuồng!”. Vừa nói chàng vừa thở dài não nề và kêu lên từ đáy sâu lồng ngực thật sầu thảm, rồi vì khát khao và nôn nóng chàng rung mạnh cây mộc hương, nhưng thay vì mọi lời đáp lại chàng, chỉ có tiếng lao xao và rì rầm không thể nào hiểu được lan man trong lá cành, hình như để chế nhạo nỗi khổ đau của chàng sinh viên Anselmus.

“Ông kia điên rồi!” - bà thị dân lại nói, và lúc này Anselmus cảm thấy mình như bị ai đó lay người kéo ra khỏi mộng mị, thậm chí như bị dội nước đá lạnh để thực sự bừng tỉnh. Giờ thì chàng nhận ra mình đang ở đâu, và chàng nhớ lại là chàng đã bị ma hiện hình trêu chọc thật kỳ lạ, thậm chí sai khiến chàng nói oang oang mọi lời chàng nói với chính mình. Chàng ngây ra nhìn người đàn bà thị dân rồi cúi xuống nhặt chiếc mũ rơi xuống đất toan tháo chạy. Trong lúc đó thì người cha của gia đình đã có mặt. Sau khi đặt đứa bé ẵm trên tay xuống thảm cỏ, ông chống người lên chiếc ba toong và kinh ngạc lắng nghe, chăm chăm nhìn chàng sinh viên. Lúc này ông cúi xuống nhặt chiếc tẩu và túi thuốc sợi chàng sinh viên đánh rơi, đưa lại cho chàng và lên tiếng:

- Trời tối rồi, quý ông không nên than vãn khủng khiếp như thế nữa, nếu quý ông không mệnh hệ gì và không định trêu chọc mọi người thì chắc là đã quá chén. Xin hãy về nhà đi và lên giường nằm nghỉ!

Chàng sinh viên Anselmus rất xấu hổ, kêu lên một tiếng “Than ôi!” như sắp khóc.

- Ô, không, - người đàn ông thị dân tiếp tục, - xin quý ông chớ phiền lòng, chuyện như thế cũng có thể xảy ra với những người danh giá nhất, và vào ngày vui Chúa lên trời người ta có thể vì quá vui trong tim mà uống nhiều hơn cơn khát một vài ngụm có sao đâu. Điều này có lẽ cũng xảy ra với một người nhà Chúa - chắc quý ông đây là sinh viên thần học. Nhưng nếu quý ông cho phép, tôi xin được nhồi một tẩu thuốc bằng thuốc sợi của quý ông, tôi đã hết thuốc từ trên kia.

Người đàn ông nói điều này trong lúc Anselmus đang định nhét tẩu và túi thuốc vào trong túi. Giờ thì ông ta chậm rãi và khoan thai làm sạch nõ tẩu của chàng sinh viên, rồi cũng lại rất khoan thai và chậm rãi nhồi tẩu thuốc. Nhiều cô gái thị dân kéo đến, họ thì thầm to nhỏ với người đàn bà rồi nhìn chàng trai khúc khích cười. Anselmus có cảm tưởng mình đang đứng trên vô vàn những chiếc gai sắc nhọn và những cái đinh rực đỏ. Ngay sau khi nhận lại túi thuốc và cái tẩu chàng vụt chạy tháo thân. Và tất cả mọi chuyện thần kỳ mà chàng vừa trải qua lúc này đã ra khỏi trí nhớ, chàng chỉ còn biết rằng mình đã đứng dưới cây mộc hương và nói oang oang toàn những điều điên rồ và nhảm nhí, đối với chàng thì điều này thực khủng khiếp, vì trong thâm tâm chàng đã luôn ghê tởm những kẻ nghĩ thầm mà lại nói ra miệng. Ngài hiệu trưởng đã nói về họ rằng: “Quỷ sa tăng trong lòng họ phét lác nói ra miệng,” - chàng tin là như vậy. Ý nghĩ rằng mình vào đúng ngày Chúa lên trời đã bị coi là một sinh viên thần học say bét nhè khiến chàng không sao chịu đựng nổi.

Đến khu vườn Kosel, chàng định chạy vào đại lộ Cây Bạch Dương thì nghe có tiếng gọi với theo:

- Anh Anselmus! Anh Anselmus! Trời đất ơi, anh chạy đi đâu mà vội vàng đến thế!

Chàng sinh viên đứng sững lại như mọc rễ xuống đất, tin chắc rằng lại sắp có chuyện bất hạnh nữa xảy ra. Chàng lại nghe thấy tiếng gọi:

- Anh Anselmus, quay trở lại đi thôi, chúng tôi chờ anh bên bến sông!

Lúc này chàng sinh viên mới nhận ra người vừa gọi mình là hiệu phó Paulmann, bạn của chàng; chàng quay trở lại sông Elbe, gặp hiệu phó cùng hai cô con gái của ông và cả ông Heerbrand, một nhân viên lục sự, đang chuẩn bị lên thuyền. Hiệu phó Paulmann mời chàng cùng sang sông và qua đêm tại nhà mình ở ngoại ô thành Pirna. Anselmus vui sướng nhận lời. Chàng tin rằng mình đã thoát khỏi mọi tai họa ác độc đeo đuổi chàng suốt cả ngày hôm nay. Nhưng khi họ qua sông thì phía bờ bên kia, cạnh khu vườn Anton, người ta bắn pháo hoa. Những quả pháo lao vun vút và vèo vèo bay tít tắp lên cao, những ngôi sao sáng rực rỡ nổ tung trong không trung, rắc xuống xung quanh mình hàng ngàn tia sáng và những ngọn lửa nhỏ nổ tí tách. Anselmus ngồi trầm ngâm bên cạnh người chèo thuyền. Nhưng khi nhìn thấy trên mặt nước hình ảnh phản chiếu những tia sáng và đốm lửa nổ lách tách bắn vung vãi trên vòm trời thì chàng lại tưởng mình vừa nhìn thấy những con rắn óng ánh vàng bơi lượn trên sóng nước. Tất cả những điều kỳ lạ dưới bóng cây mộc hương bỗng sống động trong tâm trí của chàng, niềm ao ước khôn cùng và nỗi khát vọng cháy bỏng lại xâm chiếm hồn chàng, giống như trước đây nó đã làm xao xuyến trái tim chàng trong khoái cảm đớn đau.

- Ôi, các nàng đến đó ư, hỡi các nàng rắn vàng của ta, xin hãy hát đi, hát lên nào!

Nghe tiếng hát của các nàng ta sẽ lại nhìn thấy đôi mắt xanh huyền diệu và yêu dấu của ta. Ôi các nàng ở dưới lớp sóng kia! - Anselmus kêu lên như thế rồi có một cử chỉ rất quyết liệt, như thể chàng định tức khắc rời thuyền lao xuống nước.

- Quỷ ám ông phải không? - Người chèo thuyền hét lên và tóm ngay lấy vạt áo của Anselmus. Hai cô gái ngồi cạnh chàng kêu thét lên sợ hãi vội nhao sang mạn thuyền phía bên kia. Viên lục sự nói gì đó vào tai ông hiệu phó, ông này trả lời nhiều, nhưng chàng chỉ lõm bõm hiểu được một đôi lời: “Vẫn là chứng động kinh, ông chưa nhận ra à?”. Ngay sau đó ông hiệu phó đứng lên, ngồi xuống cạnh chàng sinh viên với nét mặt có phần nào nghiêm nghị và trang trọng của quan chức, ông cầm lấy tay chàng, lên tiếng hỏi:

- Anh làm sao thế, anh Anselmus?

Chàng sinh viên hầu như người đờ đẫn, ngồi thừ ra, vì trong tâm khảm của chàng đang có một mối bất hòa ghê gớm, chàng muốn chế ngự nó nhưng vô ích uổng công. Một mặt, chàng thấy rõ là những gì mà chàng coi là ánh sáng lóng lánh của những con rắn vàng chỉ là sự phản quang của pháo hoa tại khu vườn Anton, nhưng mặt khác, chàng lại có một cảm giác kỳ lạ chưa từng có pháo hoa tại khu vườn Anton, nhưng mặt khác, chàng lại có một cảm giác kỳ lạ chưa từng có bao giờ, bản thân chàng không biết liệu đó là hoan lạc hay khổ đau, nhưng ngực chàng đã đau thắt mỗi khi người lái thuyền đập mạnh mái chèo xuống mặt sông, đến nỗi như tức giận, nước xoáy tròn bắn lên rào rào và xôn xao, và trong âm vang ấy chàng nghe thấy tiếng lao xao và thì thào đầy bí ẩn: “Anselmus! Anselmus! Chàng không thấy chúng em luôn bơi phía trước chàng hay sao? Em gái nhỏ lại nhìn chàng rồi đó - hãy tin - hãy tin - hãy tin vào chúng em!”. Trong ánh phản quang chàng ngỡ mình đã nhìn thấy ba vệt xanh rực rỡ. Nhưng rồi, khi chàng buồn rầu nhìn xuống nước để xem liệu có đôi mắt xanh huyền diệu từ sóng nước ngước nhìn chàng hay không, chàng lại nhận ra rằng những vệt lung linh ấy là do ánh sáng từ các ô cửa kính của các ngôi nhà ven sông tạo thành. Anselmus vẫn ngồi câm lặng với những nỗi giằng xé trong lòng; nhưng ông hiệu phó Paulmann đã hỏi lại giọng quyết liệt hơn:

- Anh Anselmus, anh làm sao thế hả?

Chàng sinh viên đáp lại giọng dè dặt:

- Ôi, ông hiệu phó yêu quý, giá như ông biết được là dưới cây mộc hương bên tường rào ở khu Linke kia, ngay trong lúc mắt tôi mở to và tỉnh táo, tôi đã mơ thấy những chuyện thật lạ lùng thì chắc ông đã không bất bình khi thấy tôi lơ đãng!

- Ô hô, anh Anselmus, - hiệu phó Paulmann ngắt lời chàng - tôi vẫn cho anh là một người vững trí, nhưng mà mộng mơ, mà lại mộng mơ khi mắt nhìn thao láo và rồi bất thình lình muốn đâm đầu xuống sông, điều này, anh thứ lỗi cho nhé, điều này chỉ có kẻ loạn trí hay kẻ điên mới làm!

Chàng sinh viên Anselmus vô cùng sầu muộn vì những lời nói khắc nghiệt của bạn mình, nhưng lúc đó cô con gái cả của Paulmann, một thiếu nữ mười sáu tuổi rất xinh đẹp và rạng rỡ, đã đỡ lời:

- Nhưng bố ơi, biết đâu chàng Anselmus gặp phải một chuyện gì đó rất đặc biệt, có lẽ chàng tưởng mình tỉnh táo mà thực tình lại ngủ dưới bóng cây mộc hương, mơ thấy toàn những điều kỳ quặc và còn lưu lại trong tâm tưởng.

- Vâng, thưa tiểu thư khả ái, thưa ông hiệu phó khả kính, - viên lục sự Heerbrand lên tiếng - lẽ nào trong khi thức người ta lại không thể đắm chìm vào một trạng thái mơ màng nào đó hay sao? Thực tế chính tôi đã có lần như vậy, khi uống cà phê vào buổi chiều tôi chìm vào suy tưởng, tức là vào cái khoảnh khắc đích thực của sự tiêu hóa vật chất và tinh thần, hình như nhờ một sự hứng cảm mà tôi đã nhìn thấy vị trí của một tập hồ sơ bị thất lạc, và chỉ mới hôm qua thôi, cũng bằng cách như vậy, tôi đã nhìn thấy những con chữ tiếng Latinh có nét gẫy ngoằn ngoèo, to lớn và tuyệt vời nhảy múa trước đôi mắt sáng đang mở to của mình.

- Ô, ông lục sự rất khả kính, - hiệu phó Paulmann đáp lại - ông luôn luôn có thiên hướng thi nhân, và dĩ nhiên rất dễ dàng rơi vào huyễn tưởng và lãng mạn.

Chàng sinh viên Anselmus lúc này thấy thoải mái dễ chịu, bởi mọi người đều vẫn chấp nhận chàng, cho dù chàng ở trong cảnh ngộ đáng buồn nhất vì bị coi là loạn trí và nát rượu; và dẫu rằng trời khá tối, lần đầu tiên chàng nhận ra là Veronika có đôi mắt màu xanh sẫm rất đẹp, trong khi chàng không hề nghĩ gì đến đôi mắt xanh mê hồn nhìn mình đứng dưới cây mộc hương. Đối với chàng lúc ấy mọi chuyện phiêu lưu ở dưới cây mộc hương đã hoàn toàn biến mất, chàng cảm thấy người nhẹ nhàng và vui tươi, thậm chí còn vui tươi, hăng hái đến mức đưa tay ra đỡ lấy Veronika, người đã nói lời bênh vực cho chàng - khi nàng bước xuống thuyền, rồi khi nàng khoác tay vào tay chàng, chàng đã dẫn nàng trở về nhà thật vô cùng khéo léo và vui sướng, chàng chỉ trượt chân duy nhất có một lần, vì suốt cả quãng đường cũng chỉ có duy nhất một vũng bẩn nên chiếc áo váy trắng của Veronika cũng chỉ bị bẩn chút xíu thôi. Sự thay đổi đáng mừng đó của chàng sinh viên Anselmus không qua nổi con mắt phó hiệu trưởng Paulmann, ông lại thấy yêu mến chàng và mong chàng thứ lỗi cho những lời khắc nghiệt ông lỡ miệng nói với chàng trước đây. “Phải, phải rồi!”, ông bổ sung thêm, “người ta đã có những dẫn chứng cho thấy rằng: có những ảo ảnh nào đó thường hiện ra đối với con người, có thể hành hạ và làm cho con người rất hoảng sợ, nhưng đó chỉ là bệnh tật về thể xác, loài đỉa hút máu người giúp ta chữa bệnh này, bằng cách ta cho đỉa cắn vào hậu môn, như một học giả quá cố lừng danh đã chứng minh”. Chàng sinh viên Anselmus lúc này thực sự chẳng hiểu gì, không biết có phải chàng say rượu, mất trí hay là bị bệnh tật, nhưng đối với chàng thì loài đỉa thật vô dụng, vì mọi ảo ảnh ở nơi chàng đã hoàn toàn biến mất, và mỗi lúc chàng càng cảm thấy sôi nổi hào hứng hơn, nhất là khi thấy mình mỗi lúc càng thành công hơn trong những nỗ lực làm đẹp lòng nàng Veronika xinh đẹp. Sau bữa ăn tối thanh đạm là tiết mục âm nhạc như thông lệ, chàng sinh viên Anselmus phải ngồi bên cây đàn dương cầm, Veronika cho khán giả được nghe giọng hát trong trẻo của nàng.

- Thưa tiểu thư quý mến, - viên lục sự Heerbrand lên tiếng - tiểu thư có chất giọng như tiếng chuông thủy tinh!

- Không phải thế! - Anselmus buột miệng nói luôn, bản thân chàng cũng không hiểu vì sao, còn mọi người đều nhìn chàng kinh ngạc và phiền lòng. “Chuông thủy tinh trong cây mộc hương ngân nga thật tuyệt vời! Thật tuyệt vời!” - chàng lẩm bẩm trong miệng.

Veronika đặt tay lên vai chàng và nói:

- Chàng vừa nói gì vậy, Anselmus?

Ngay tức khắc chàng đã lại tươi tỉnh và bắt đầu chơi nhạc. Hiệu phó Paulmann nhìn chàng khó đăm đăm, nhưng viên lục sự Heerbrand đã đặt bản nhạc lên giá đỡ và hát khúc ca Dũng cảm của nhạc trưởng Graun thật xúc động lòng người. Chàng sinh viên Anselmus chơi một vài đoạn nhạc, sau đó là phần hòa tấu chàng trình diễn cùng Veronika một tác phẩm do chính ông hiệu phó Paulmann sáng tác, khiến không khí lại trở nên vô cùng tươi vui. Đêm về khuya, viên lục sự Heerbrand đưa tay với mũ và chiếc gậy, nhưng hiệu phó Paulmann đã bước đến chỗ ông với cái vẻ bí mật, nói với ông:

- Ô, ông lục sự kính mến, ông không muốn đích thân nói với chàng Anselmus hay sao? - về chuyện - chúng ta đã nói đến ấy mà!

- Vâng, rất vui lòng, - Heerbrand đáp lại, và sau khi mọi người đã ngồi xuống thành một vòng tròn, ông bắt đầu lên tiếng, không một chút quanh co:

- Ở vùng này có một ông già kỳ dị và lạ lùng, người ta bảo ông nghiên cứu các khoa học bí hiểm, nhưng thực ra làm gì có ngành khoa học nào như thế, cho nên tôi xem ông là một nhà khảo cổ học và hơn nữa còn là một nhà hóa học thực nghiệm. Tôi không nói đến ai khác mà chính là ông đổng lý văn khố cơ mật Lindhorst của chúng ta[1]. Ông hiện đang sống, như các vị đã biết, cô đơn trong một ngôi nhà cổ hẻo lánh, và nếu không bận công vụ, người ta thường thấy ông trong thư viện hoặc trong phòng hóa nghiệm của mình, nơi ông không cho phép bất kỳ ai bước chân vào. Ngoài những cuốn sách quý hiếm ông có vô số các bản thảo viết tay bằng tiếng Ả Rập cổ hoặc tiếng Kopti[2], thậm chí bằng cả những ký tự lạ lùng không thuộc vào bất kỳ một ngôn ngữ nào đã được ta biết đến. Ông muốn cho sao chép lại các bản thảo này một cách hoàn mỹ nhất, và để làm việc đó lại cần đến một người hiểu biết, có khả năng dùng ngòi bút, tất nhiên là với mực nho rồi, để vẽ lại một cách chính xác nhất và trung thành nhất mọi ký tự lên giấy bằng da thuộc. Ông để cho người đó làm việc ngay trong một căn phòng đặc biệt của nhà mình và dưới sự giám sát của mình, ngoài bữa ăn miễn phí trong thời gian làm việc, mỗi ngày ông trả công một quan tiền và hứa có những món quà rất giá trị nếu hoàn thành công việc thật mỹ mãn. Thời gian làm việc mỗi ngày từ mười hai giờ đến sáu giờ. Từ ba đến bốn giờ thì nghỉ tay và ăn trưa. Vì ông đã cậy nhờ một vài người trẻ tuổi thử làm việc sao chép các bản thảo, nhưng uổng công vô ích, cho nên sau cùng ông phải nhờ vả tôi tìm giúp ông một thợ vẽ khéo tay, tôi nghĩ ngay đến anh đấy, anh Anselmus ạ, bởi tôi biết không những anh viết rất sạch mà còn biết dùng ngòi bút vẽ rất khéo, rất đẹp nữa. Vì vậy, trong thời buổi khó khăn này và chờ đến lúc được tuyển dụng ở đâu đó, anh có muốn mỗi ngày kiếm một quan tiền không, và cả tặng phẩm nữa, nếu vậy thì ngày mai, đúng mười hai giờ trưa, anh hãy cố gắng đến gặp ông đổng lý, chắc là anh cũng sẽ biết nơi trú ngụ của ông. Nhưng anh hãy giữ gìn thận trọng, chớ có để rớt mực, nếu có vết mực ở bản sao, anh sẽ phải bắt đầu lại từ đầu, không có sự thương xót nào đâu, còn nếu để mực rớt vào bản gốc thì ông đổng lý có khả năng ném anh qua cửa sổ, vì ông là một người dữ tợn. Chàng sinh viên Anselmus vui sướng khôn xiết về lời đề nghị của viên lục sự Heerbrand, bởi vì chàng không chỉ biết viết sạch và vẽ giỏi mà từ lâu chàng đã thực sự đam mê nghệ thuật viết chữ đẹp vất vả này. Chàng cám ơn những người đỡ đầu mình bằng những lời chân thành nhất và hứa trưa mai sẽ không bỏ lỡ mất dịp may. Đêm hôm ấy Anselmus không nhìn thấy gì khác ngoài những quan tiền lấp la lấp lánh và chỉ nghe thấy những thanh âm thật đáng yêu của chúng. Chẳng ai lại nỡ trách một con người tội nghiệp, một kẻ đã bị số phận hẩm hiu và đỏng đảnh đánh lừa biết bao niềm hy vọng, phải góp nhặt ky cóp từng đồng xu và phải hy sinh biết bao là lạc thú và niềm vui sống của tuổi xuân đòi hỏi và khát khao.

Ngay từ sáng sớm Anselmus đã tìm kiếm, sắp xếp các kiểu bút chì, bút lông quạ và mực tầu của chàng, vì cho rằng ông đổng lý chẳng thể tìm được dụng cụ nào tốt hơn thế. Chàng đặc biệt ưu tiên xem lại và sắp xếp các bức thư họa kỳ tài của mình cùng các bản ký họa để khi được yêu cầu, chàng có thể trao cho ông đổng lý các bằng chứng về năng lực của mình. Mọi chuyện diễn ra thật may mắn, hình như có ngôi sao hạnh phúc dẫn dắt chàng nên chiếc nơ ở cổ đã nằm ngang đúng chỗ ngay từ lần buộc đầu tiên, không có đường chỉ nào bung ra, trên đôi tất lụa đen không có chỗ nào rách, chiếc mũ không rơi xuống đất bẩn một lần nữa sau khi được đánh sạch bằng bàn chải. Nói ngắn gọn, đúng mười một giờ rưỡi chàng sinh viên Anselmus, tề chỉnh trong chiếc áo khoác ngoài xám màu cá măng, áo gilê bằng lụa đen bóng láng, trong túi có cuộn giấy gồm các bức thư họa và ký họa, đã đứng trong nhà hàng Convadi ở phố Lâu Đài và uống một hai ly rượu ngọt thuộc loại tốt nhất cho dạ dày, vì ở đây, chàng thầm nghĩ, khi đập đập tay vào cái túi rỗng không, chẳng bao lâu nữa sẽ rủng rỉnh các quan tiền. Mặc dù từ nơi đó tới cái phố vắng vẻ, nơi có ngôi nhà cổ xưa của ông đổng lý Lindhorst, đường khá xa, nhưng chưa đến mười hai giờ trưa chàng đã có mặt ở trước cửa nhà ông.

Chàng đứng đợi và nhìn mãi cái thiết bị gõ cửa bằng đồng, to đẹp và có hình mặt người. Nhưng đúng lúc đồng hồ trên tháp chuông nhà thờ Kreuz điểm tiếng chuông cuối cùng vang dội rung chuyển cả không gian và chàng định đưa tay ra đập cửa thì cái mặt bằng kim loại kia nhăn lại, mắt bắn ra những cái nhìn toé lửa xanh lè thật ghê rợn, rồi nó nhếch mép lên cười gằn. A! Đúng là cái mặt mụ bán táo ở Cổng Đen! Những chiếc răng sắc nhọn trong cái miệng hom hem của mụ đập vào nhau lập cập, và trong âm thanh lập cập lập bập ấy nghe có tiếng rít lên:

- Mi là thằng điên - thằng điên - thằng điên - hãy đợi đấy! Đợi đấy! Sao mi đã bỏ chạy? Thằng điên!

Anselmus khiếp đảm, lảo đảo lùi người lại, định với tay vào cột cửa, nhưng lại tóm phải sợi dây chuông kéo nó xuống, thế là mọi âm thanh chói tai vang lên inh ỏi, mỗi lúc càng to hơn, ghê rợn hơn. Và tiếng vọng giễu cợt ngân vang khắp ngôi nhà: “Vào thủy tinh - chết nhăn răng - vào thủy tinh”. Một nỗi kinh hoàng chạy lan khắp người chàng, chân tay chàng run bần bật như bị sốt động kinh. Sợi dây kéo chuông từ từ hạ xuống biến thành một con rắn trắng khổng lồ và trong suốt, nó quấn lấy chàng, ép người chàng, và mỗi lúc vòng xoắn càng xiết chặt, càng bóp nghẹt chàng hơn đến nỗi mọi tứ chi của chàng đã rã rời bải hoải kêu răng rắc và vỡ vụn, máu chàng phun ra từ các động mạch, thấm qua cơ thể trong suốt của con rắn làm cho nó thành đỏ rực. “Hãy giết ta, hãy giết ta đi!”, chàng toan kêu lên vì khiếp đảm, nhưng tiếng kêu của chàng chỉ là tiếng khò khè khô khốc. Con rắn ngẩng đầu lên, thè lưỡi dài và nhọn rừng rực lửa mổ vào lồng ngực Anselmus, và một nỗi đau khủng khiếp như dao cắt xé nát mọi mạch đập của cuộc sống, và mọi ý nghĩ tan biến trong đầu chàng. Khi Anselmus tự hồi tỉnh, chàng thấy mình nằm trên một chiếc giường rất sơ sài, nhưng hiệu phó Paulmann đang đứng ngay trước mặt, lên tiếng nói:

- Trời đất ơi, anh làm trò điên dại gì thế? Anh Anselmus!

❀ ❀ ❀

[1] Từ đây xin gọi tắt là ông đổng lý Lindhorst.

[2] Kopti: ngôn ngữ của người Kopte phát triển từ tiếng Ả Rập.

Nguyên tác: Der goldne Topf, Người dịch: Quang Chiến
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 4 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.