Chữ Đỏ

Lượt đọc: 275 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Iii. The Recognition

❊ ❊ ❊

Thoát khỏi cảm giác bức bối khi bị cả đám đông dán mắt soi mói, người mang chữ hiệu sắc đỏ cuối cùng cũng được giải tỏa khi nhìn thấy ở rìa đám đông một bóng người bất giác thu hút toàn bộ tâm trí cô. Một người da đỏ trong trang phục truyền thống đang đứng đó; nhưng người thổ dân không phải là những vị khách quá hiếm hoi tại các khu định cư của người Anh, nên Hester Prynne chẳng mảy may chú ý đến anh ta vào lúc ấy, lại càng không thể có chuyện anh ta chiếm trọn tâm trí và ý nghĩ của cô. Sánh bước bên người da đỏ, rõ ràng là một người đồng hành cùng anh ta, là một người da trắng ăn vận một bộ y phục pha tạp kỳ quặc giữa văn minh và hoang dã.

Hắn có tầm vóc nhỏ thỏm, gương mặt hằn những nếp nhăn mà thoạt nhìn khó có thể gọi là già. Đường nét trên khuôn mặt hắn toát lên một vẻ thông minh kỳ lạ, tựa như của một kẻ đã tôi luyện phần trí tuệ đến mức nó buộc phần thể xác phải nhào nặn theo và bộc lộ ra ngoài bằng những dấu hiệu không thể nhầm lẫn. Dù đã cố gắng che giấu hoặc làm giảm bớt sự khác thường ấy qua cách xếp đặt có vẻ hờ hững bộ y phục chắp vá của mình, Hester Prynne vẫn nhận ra rõ ràng rằng một bên vai của gã đàn ông này cao hơn bên kia. Ngay khoảnh khắc nhìn thấy khuôn mặt hốc hác và dáng người hơi dị hình ấy, cô bỗng xiết chặt đứa con thơ vào ngực mạnh đến mức tội nghiệp cất lên một tiếng khóc vì đau đớn. Thế nhưng người mẹ dường như chẳng hề hay biết.

Ngay khi vừa bước vào quảng trường, và từ trước cả khi cô nhìn thấy, người lạ mặt đã đăm đăm dán mắt vào Hester Prynne. Ban đầu, ánh mắt ấy có vẻ dửng dưng, hệt như kẻ quen nhìn sâu vào nội tâm và coi thường mọi sự ở đời, trừ phi chúng liên quan đến điều gì đó trong tâm trí hắn. Thế nhưng, rất nhanh sau đó, ánh nhìn ấy bỗng trở nên sắc bén và thấu thị. Một nỗi kinh hoàng vặn vẹo thoáng qua nét mặt hắn, tựa như một con rắn trượt nhanh qua rồi khựng lại một nhịp, phô bày toàn bộ những khúc uốn lượn trước thanh thiên bạch nhật. Guơng mặt hắn tối sầm lại bởi một cảm xúc mãnh liệt nào đó, dẫu vậy, hắn đã kìm nã nó nhanh đến mức chỉ trong chớp mắt, biểu cảm ấy suýt chút nữa đã bị xem là bình thản. Chỉ một lát sau, cơn co giật gần như biến mất, rồi chìm hẳn vào tận sâu thẳm tâm can hắn. Khi nhận ra ánh mắt Hester Prynne đang xoáy vào mình và thấy cô dường như đã nhận ra hắn, hắn chậm rãi, điềm tĩnh giơ ngón tay lên, ra hiệu giữa không gian rồi đặt lên môi.

Đoạn, chạm vào vai một người thị dân đứng gần đó, hắn cất lời với dáng vẻ trang trọng và lịch thiệp.

– Xin phiền ông, thưa ngài tốt bụng, – hắn nói, – người phụ nữ này là ai?—Và vì cớ gì mà mụ lại bị đem ra bêu rếu trước công chúng thế này?

– Chắc hẳn anh là người tha hương mới đến vùng này rồi, bạn ạ, – người thị dân đáp, vừa tò mò nhìn kẻ đặt câu hỏi cùng người đồng hành hoang dã của hắn, – bằng không thì anh thế nào cũng phải nghe danh phu nhân Hester Prynne cùng những việc làm bại hoại của mụ ta rồi chứ. Tôi đảm bảo với anh, mụ đã gây ra một tai tiếng lớn trong giáo đoàn của ngài mục sư Dimmesdale đáng kính đấy.

– Ông nói phải, – kẻ kia đáp lời. – Tôi là người tha hương, và đã phải bôn ba phiêu dạt, hoàn toàn trái với ý nguyện. Tôi từng gặp những tai ương khốn cùng cả trên biển lẫn trên cờ, lại bị giam cầm lâu ngày giữa đám ngoại giáo ở miền nam; và giờ được người da đỏ này đưa đến đây để chuộc lại tự do. Vậy ngài có thấy phiền không khi kể cho tôi nghe về chuyện của Hester Prynne,—tôi nhớ tên mụ chứ nhỉ?—về những tội lỗi của người phụ nữ này, và điều gì đã đưa mụ lên cái đài cao kia?

– Phải rồi, bạn ạ; và tôi tin rằng sau những giông bão và quãng thời gian tha hương chốn hoang vu, lòng anh hẳn sẽ vô cùng hoan hỉ, – người thị dân nói, – khi thấy mình cuối cùng cũng đặt chân đến một vùng đất nơi tội ác bị lùng sục và trừng phạt ngay trước mắt nhà cầm quyền lẫn dân chúng; hệt như ở chốn Tân England tôn kính của chúng ta đây. Thưa ngài, hẳn ngài phải biết, người phụ nữ đằng kia vốn là vợ của một học giả nọ, sinh ra ở Anh, nhưng đã sống lâu năm tại Amsterdam; rồi cách đây ít lâu, ông ta có ý định vượt biển sang đây để chung số phận với chúng tôi ở Massachusetts. Để lo chu toàn việc đó, ông ta gửi vợ đi trước, còn mình ở lại giải quyết dấy chuyện cần kíp. Chà, thưa ngài quý mến, chỉ độ chừng hai năm, hoặc ít hơn, từ khi người đàn bà ấy đến định cư ở Boston này, chẳng hề có chút tin tức nào về vị học giả nọ, tức ngài Prynne; và ngài thấy đấy, người vợ trẻ tuổi của ông ta, khi bị bỏ mặc cho sự lầm đường lạc lối của chính mình—

– À!—Aha!—Tôi hiểu ý ông rồi, – người lạ mặt nói với một nụ cười cay đắng. – Một học giả uyên bác như người mà ông vừa nhắc tới hẳn cũng phải học được điều này qua sách vở chứ. Và xin phép ông, ai có thể là cha của đứa trẻ đằng kia,—tôi đoán nó mới được chừng ba bốn tháng tuổi,—đang được phu nhân Prynne ẵm trên tay vậy?

– Thật tình mà nói, bạn tôi ơi, chuyện đó vẫn là một ẩn số; và vị Mạnh Tử nào có thể giải đáp nó thì vẫn chưa xuất hiện, – người thị dân đáp. – Bà Prynne nhất quyết ngậm tăm, và các quan tòa đã vắt óc suy tính nhưng đều vô ích. Biết đâu kẻ có tội đang đứng đứng ngoài xem cảnh tượng đau lòng này mà không ai hay biết, đồng thời quên mất rằng Chúa đang soi thấu hắn.

– Vị học giả nọ, – người lạ mặt nhận xét với một nụ cười khác, – lẽ ra nên tự mình đến đây để tìm hiểu ngọn ngành bí ẩn ấy.

– Lão rất nên làm thế, nếu lão vẫn còn sống, – người thị dân đáp lại. – Giờ thì thưa ngài tốt bụng, nhà cầm quyền Massachusetts của chúng tôi, nghĩ rằng người phụ nữ này hãy còn trẻ trung, xinh đẹp, và hẳn đã phải chịu đựng những cám dỗ dữ dội mới sa ngã,—hơn nữa, điều rất có khả năng là chồng mụ đã bỏ mạng nơi đáy biển,—nên họ đã không nhẫn tâm áp dụng mức án khắc nghiệt nhất theo luật pháp công chính của chúng ta dành cho mụ. Hình phạt cho tội danh đó là cái chết. Nhưng nhờ lòng thương xót và sự trân trọng sâu sắc, họ đã tuyên án phu nhân Prynne chỉ phải đứng suốt ba tiếng đồng hồ trên sàn bêu tên, rồi sau đó, trong suốt quãng đời còn lại của mình, phải đeo một dấu hiệu ô nhục trước ngực.

– Quả là một phán quyết sáng suốt! – người lạ mặt nhận xét, cúi đầu trang nghiêm. – Nhờ thế mụ sẽ là một bài giảng sống động chống lại tội lỗi, cho đến khi ký tự nhục nhã ấy được khắc lên bia mộ mụ. Dẫu vậy, tôi vẫn thấy bứt rứt khôn nguôi khi kẻ đồng lõa trong tội ác của mụ lại không thể đứng chung trên đài bêu với nàng. Nhưng rồi hắn sẽ bị lôi cổ ra ánh sáng!—Hắn sẽ bị lôi ra!—Hắn nhất định sẽ bị lôi ra!

Hắn lịch sự cúi đầu chào người thị dân cởi mở, rồi thì thầm vài điều với người hầu da đỏ của mình, và cả hai cùng rẽ lối đi xuyên qua đám đông.

Trong lúc ấy, Hester Prynne vẫn đứng trên bục cao, ánh mắt đăm đăm hướng về phía người lạ; một ánh nhìn đinh ninh đến mức, vào những phút giây tâm trí hoàn toàn chìm đắm, mọi sự vật khác trên thế gian dường như đều tan biến, chỉ còn lại hắn và cô. Một cuộc gặp gỡ như thế, có lẽ còn đáng sợ hơn cả việc phải đối mặt với hắn ngay lúc này, khi ánh nắng gay gắt giữa trưa đang thiêu đốt khuôn mặt và phơi bày sự hổ thẹn của cô; với ký tự khốn cùng trên ngực áo; với đứa con do tội lỗi sinh ra trong vòng tay; với cả một xứ sở kéo nhau ra như thể trảy hội, đang chằm chằm dòm ngó những nét mặt vốn chỉ nên được nhìn thấy trong ánh lửa bập bùng yên ả của mái ấm gia đình, trong bóng râm hạnh phúc của nhà cửa, hay ẩn sau chiếc khăn voan đoan trang chốn nhà thờ. Đáng sợ là thế, nhưng cô vẫn cảm thấy được che chở giữa chừng ngàn nhân chứng ấy. Đứng thế này, với bao nhiêu con người đứng chen giữa cô và hắn, hãy còn dễ chịu hơn là phải giáp mặt, trơ trọi chỉ có hai người. Cô nương náu, ví như thế, chốn phơi bày giữa chốn đông người, và kinh hãi khoảnh khắc sự che chở ấy bị rút lại. Chìm đắm trong những dòng suy nghĩ ấy, cô hầu như chẳng nghe thấy tiếng gọi phía sau, cho đến khi cái tên của cô được cất lên lần nữa bằng một giọng lớn và trang nghiêm, đủ để cả biển người nghe rõ.

– Hãy lắng nghe ta, Hester Prynne! – giọng nói cất lên.

Như đã nói từ trước, ngay phía trên bục cao nơi Hester Prynne đang đứng là một dạng ban công, hay hành lang lộ thiên, gắn liền với ngôi nhà nguyện. Đó là nơi thường diễn ra các buổi tuyên bố trước sự tề tựu của giới chức sắc, cùng toàn bộ nghi thức trang trọng vốn đi kèm với các nghi lễ công cộng thời bấy giờ. Tại đây, để chứng kiến cảnh tượng mà chúng ta đang miêu tả, chính Thống đốc Bellingham đang ngồi cùng bốn viên thị vệ đứng xung quanh ghế của ngài, tay cầm giáo mác làm đội danh dự. Ngài đội một chiếc mũ đính lông chim sẫm màu, viền áo choàng thêu hoa văn, mặc chiếc áo dài nhung đen bên trong; đó là một quý ông đã lớn tuổi, với những trải nghiệm khắc nghiệt hằn sâu qua những nếp nhăn. Ngài không phải là người kém cỏi khi đứng đầu và đại diện cho một cộng đồng vốn hình thành, phát triển và vươn lên ngày nay, không phải nhờ sự bốc bồng của tuổi trẻ, mà nhờ nghị lực kiên cường, từng trải của tuổi trưởng thành và sự khôn ngoan trầm mặc của tuổi già; đạt được vô vàn thành tựu chính vì họ dám mơ ước và hy vọng rất ít. Những nhân vật kiệt xuất khác vây quanh vị thủ lĩnh đều mang phong thái đường bệ, thuộc về một thời kỳ mà quyền uy được tôn kính như những thiết chế thiêng liêng từ Thượng đế. Họ chắc chắn là những người tốt, chính trực và hiền triết. Nhưng trong cả nhân loại này, sẽ chẳng dễ gì chọn ra được ngần ấy con người thông thái và đức hạnh lại kém khả năng thấu suốt trái tim lầm lỗi của một người phụ nữ, kém khả năng gỡ rối mớ bòng bong giữa thiện và ác, hơn là những bậc hiền giả với vẻ mặt nghiêm nghị mà Hester Prynne đang quay mặt về phía họ lúc này. Quả nhiên, cô dường như ý thức được rằng bất kỳ sự đồng cảm nào cô có thể trông đợi đều nằm ở trái tim rộng lượng và ấm áp hơn của đám đông; bởi khi ngước mắt lên ban công, người phụ nữ bất hạnh bỗng tái mặt và run rẩy.

Giọng nói vừa thu hút sự chú ý của cô là của ngài mục sư lừng danh John Wilson, vị giáo sĩ cao niên nhất ở Boston, một học giả lớn giống như phần lớn các đồng nghiệp cùng thời, và hơn hết là một người có tâm hồn đỗi nhân hậu, phóng khoáng. Tuy nhiên, phẩm chất sau cùng này lại ít được mài giũa cẩn thận hơn năng lực trí tuệ của ông, và thực ra, nó khiến ông ngượng ngùng hơn là tự hào. Ông đang đứng đó, với viền tóc điểm bạc lấp ló dưới chiếc mũ sọ; trong khi đôi mắt xám, vốn quen với thứ ánh sáng dịu mát trong phòng nghiên cứu, đang nheo lại dưới ánh nắng chói chang không gợn bóng mây, hệt như đôi mắt của đứa con nhỏ bên người Hester. Trông ông chẳng khác gì những bức chân dung in đậm màu thường thấy ở đầu những cuốn sách thánh cổ; và ông cũng chẳng có lý do gì hơn những bức chân dung ấy khi bước ra, như ông đang làm lúc này, để nhúng tay vào vấn đề tội lỗi, đam mê và đau khổ của con người.

– Hỡi Hester Prynne, – vị giáo sĩ nói, – ta đã tha thiết khuyên nhủ người anh em trẻ tuổi của ta đây, người mà dưới mái chánh điện của cậu, anh chị em có đặc ân được ngồi nghe lời Chúa ban,—tới đây ngài Wilson đặt tay lên vai một thanh niên sắc mặt nhợt nhạt đứng bên cạnh,—ta đã cầu khẩn, ta nói vậy đấy, để thuyết phục người thanh niên kính Chúa này rằng cậu nên trực tiếp đối thoại với chị, ngay trước tôn nhan Thiên Chúa, trước mặt các vị quan tòa khôn ngoan và chính trực này, và trước sự chứng kiến của toàn thể nhân dân, về sự đê tiện và đen tối trong tội lỗi của chị. Vì thấu hiểu bản tính tự nhiên của chị hơn ta, cậu ấy sẽ có cái nhìn chuẩn xác hơn về những lời lẽ cần dùng, dù là dịu dàng hay đanh thép, ngõ hầu có thể khuất phục sự cứng đầu và ngoan cố của chị; để chị không còn phải che giấu danh tính của kẻ đã xúi giục chị vướng vào tội lỗi tày đình này. Nhưng cậu ấy lại phản đối ta (với sự mềm lòng quá đỗi của tuổi trẻ, dẫu cho trí tuệ đã vượt xa tuổi tác), rằng việc ép buộc một người phụ nữ phải phơi bày bí mật trái tim mình giữa ban ngày ban mặt và trước một đám đông lớn nhường ấy là đi ngược lại chính bản tính của phái đẹp. Thật tình mà nói, như ta đã cố gắng thuyết phục cậu ấy, sự hổ thẹn nằm ở hành vi phạm tội, chứ không phải ở việc phơi bày nó ra ánh sáng. Chị nghĩ sao về điều đó một lần nữa, hỡi người anh em Dimmesdale? Phải chăng là anh, hay chính là ta, người sẽ phải định đoạt tâm hồn của người phụ nữ khốn khổ này đây?

Một tiếng xì xào vang lên giữa những vị chức sắc đường bệ và đáng kính trên ban công; và Thống đốc Bellingham đã cất lời để diễn giải ý tứ đó, bằng một giọng đầy uy quyền nhưng vẫn giữ sự tôn trọng đối với vị mục sư trẻ tuổi mà ông đang hướng đến.

– Thưa ngài Dimmesdale kính mến, – ngài nói, – trách nhiệm đối với tâm hồn người phụ nữ này phần lớn thuộc về ngài. Do đó, ngài rất cần phải khuyên nhủ mụ ăn năn, xưng tội, như một bằng chứng và hệ quả tất yếu của lòng hối cải.

Sự thẳng thắn trong lời kêu gọi này đã thu hút ánh nhìn của toàn bộ đám đông đổ dồn về phía mục sư Dimmesdale; một vị mục sư trẻ tuổi, người vừa bước ra từ một trong những trường đại học lớn ở nước Anh, mang theo toàn bộ học thức của thời đại đến với vùng rừng hoang vu của chúng ta. Tài hùng biện và lòng nhiệt thành tôn giáo của ông đã sớm hứa hẹn một vị thế cao chót vót trong nghề nghiệp. Ông có một diện mạo vô cùng nổi bật, với vầng trán cao, trắng ngần và hơi nhô ra, đôi mắt nâu toát lên vẻ u buồn, cùng một đôi môi—trừ khi bị mím chặt lại—thường hay run rẩy, vừa biểu lộ sự nhạy cảm thần kinh vừa ẩn chứa một nội lực tự kìm chế vô biên. Bất chấp những天赋 thiên bẩm cao quý cùng học vấn uyên thâm, vị mục sư trẻ tuổi này vẫn tỏa ra một bầu không khí—một vẻ lo âu, giật mình, nửa hoảng sợ—tựa như một sinh thể cảm thấy mình hoàn toàn lạc lối và bơ vơ giữa chốn nhân sinh, và chỉ có thể bình yên khi trốn trong một góc khuất nào đó của riêng mình. Thế nên, chừng nào các bổn phận còn cho phép, ông vẫn thường bước đi trên những lối mòn u tịch, nhờ đó giữ cho tâm hồn mình sự đơn sơ và ngây thơ; để rồi khi có dịp, ông lại xuất hiện với một sự tươi mới, ngát hương cùng nét tinh khôi đẫm sương mai trong tư tưởng, điều mà nhiều người vẫn nói rằng nó tác động vào họ hệt như lời phán truyền từ thiên sứ.

Đó chính là người thanh niên mà mục sư Wilson và ngài Thống đốc đã công khai đưa ra trước công chúng, buộc ông phải cất lên lời nói trước mặt muôn người, xoáy sâu vào bí ẩn trong tâm hồn một người phụ nữ, vốn dĩ thiêng liêng dường nào ngay cả trong vũng lầy ô uế. Bản chất đầy thử thách của hoàn cảnh khiến máu rút khỏi má ông và làm đôi môi bợt bạt run lên.

– Hãy nói chuyện với người phụ nữ ấy đi, người anh em của ta, – ngài Wilson nói. – Điều đó hệ trọng đến linh hồn chị ta, và do đó, như ngài Thống đốc đáng kính đã nói, nó cũng hệ trọng không kém đối với chính linh hồn ngài, người đang gánh vác trách nhiệm ấy. Hãy khuyên nhủ chị ta xưng tội đi!

Mục sư Dimmesdale cúi đầu, có vẻ như đang thầm cầu nguyện, rồi bước lên phía trước.

– Hỡi Hester Prynne, – ông cất lời, rướn người qua ban công và đăm đăm nhìn thẳng vào đôi mắt cô, – chị đã nghe thấy những gì vị cao niên này nói, và thấy rõ trách nhiệm nặng nề mà tôi đang gánh vác. Nếu chị cảm thấy điều đó mang lại sự bình yên cho tâm hồn mình, và hình phạt trần thế này qua đó sẽ càng thêm hiệu quả cho con đường cứu rỗi, tôi ra lệnh cho chị hãy thốt lên danh tính của kẻ đồng lõa và cùng chịu tội với chị! Đừng vì chút lòng thương xót và sự mềm lòng lầm lạc mà giữ im lặng cho hắn; bởi vì, tin tôi đi Hester, dẫu cho hắn có bước xuống từ chốn cao sang, đứng đó bên cạnh chị, trên chiếc bục ô nhục này, thì vẫn còn hơn là che giấu một trái tim tội lỗi suốt cả cuộc đời. Sự im lặng của chị nào có thể giúp gì cho hắn, ngoại trừ việc xúi giục hắn—vải, hay có thể nói là ép buộc hắn—chồng chất thói đạo đức giả lên trên tội lỗi? Thiên Chúa đã ban cho chị một sự bêu nhục tường tận trước thiên hạ, để qua đó chị có thể lập nên một chiến thắng hiển hách trước cái ác trong tâm hồn và nỗi sầu muộn bên ngoài. Hãy cẩn trọng kẻo chị lại từ chối trao cho hắn—kẻ có lẽ chẳng có lấy can đảm để tự mình đón nhận nó—chén cay đắng nhưng đầy dưỡng chất hiện đang được dâng lên đôi môi chị!

Giọng của vị mục sư trẻ ngọt ngào một cách run rẩy, đầy đặn, trầm ấm và nghẹn ngào. Chính thứ cảm xúc bộc lộ quá đỗi rõ ràng ấy, chứ không phải ý nghĩa trực diện của câu chữ, đã làm rung động tất cả các trái tim và quy tụ những người lắng nghe thành một mối đồng cảm duy nhất. Ngay cả đứa bé tội nghiệp nép vào ngực Hester cũng bị chi phối bởi ảnh hưởng ấy; vì nó quay cái đầu vốn nãy hãy còn ngơ ngác hướng về phía mục sư Dimmesdale, giơ đôi tay nhỏ bé lên với tiếng rên rỉ nửa vui mừng nửa thảm thiết. Lời kêu gọi của vị mục sư tỏ ra vô cùng mạnh mẽ, khiến đám đông không thể tin rằng Hester Prynne lại chịu giấu nhẹm cái tên tội lỗi ấy; hoặc bằng không, chính kẻ mang tội, dù đang đứng ở vị thế cao sang hay thấp hèn nào đi nữa, cũng sẽ bị lôi kéo bởi một thứ bản năng thôi thúc nội tại và không thể tránh khỏi, rồi bị buộc phải bước lên đài phạt.

Hester lắc đầu.

– Hỡi người phụ nữ, đừng vượt quá giới hạn lòng thương xót của Thiên Chúa! – Mục sư Wilson cất giọng gay gắt hơn trước. – Đứa bé kia đã được ban cho một giọng nói để phụ họa và xác nhận lời khuyên nhủ mà chị vừa nghe. Hãy khai ra cái tên ấy! Điều đó, cùng với sự ăn năn của chị, có thể đủ sức gỡ bỏ chữ hiệu sắc đỏ trước ngực chị đấy.

– Không bao giờ! – Hester Prynne đáp lời, ánh mắt không nhìn ngài Wilson, mà xoáy sâu vào đôi mắt u buồn và sâu thẳm của vị mục sư trẻ. – Nó đã in hằn quá sâu rồi. Các người không thể gỡ nó ra được đâu. Và ước gì tôi có thể chịu đựng nỗi thống khổ thay cho hắn, cũng như cho chính mình!

– Nói đi, hỡi người phụ nữ! – Một giọng nói khác cất lên, lạnh lùng và đanh thép, phát ra từ đám đông vây quanh bục cao. – Hãy nói đi; và ban cho đứa con của chị một người cha!

– Tôi sẽ không nói đâu! – Hester đáp, mặt cắt không còn một giọt máu, nhưng đáp lời lại giọng nói mà cô nhận ra quá đỗi rõ ràng. – Và con tôi buộc phải tìm một người Cha trên trời; nó sẽ chẳng bao giờ nhận ra một người cha trần thế nào hết!

– Mụ sẽ không chịu nói đâu! – Mục sư Dimmesdale thì thầm, khi ông đang rướn người qua ban công, tay đặt lên ngực trái, chờ đợi kết quả từ lời kêu gọi của mình. Giờ đây ông lùi lại, thở dài một hơi dài. – Sức mạnh và sự cao thượng kỳ diệu của trái tim người phụ nữ! Mụ ta nhất định không chịu mở miệng!

Nhận ra sự bất trị trong tâm can của kẻ tội đồ khốn khổ, vị giáo sĩ lớn tuổi, người đã chuẩn bị kỹ càng cho dịp này, liền hướng về đám đông để giảng một bài về tội lỗi trên mọi phương diện, nhưng liên tục gắn liền với ký tự nhục nhã kia. Vị mục sư nhấn mạnh vào biểu tượng ấy một cách mãnh liệt suốt hơn một tiếng đồng hồ khi những lời văn của ông vang lên trên đầu đám đông, khiến nó càng thêm phần đáng sợ trong trí tưởng tượng của họ, và dường như hút lấy sắc đỏ rực từ những ngọn lửa dưới địa ngục sâu thẳm. Trong khi ấy, Hester Prynne vẫn giữ nguyên vị trí trên đài ô nhục, với đôi mắt đờ đẫn và vẻ mặt mệt mỏi, dửng dưng. Sáng hôm ấy, cô đã phải chịu đựng tất cả những gì mà thể xác con người có thể gánh chịu; và vì tính khí cô không thuộc tuýp người có thể trốn tránh nỗi đau quá lớn bằng cách ngất đi, nên tâm hồn cô chỉ còn biết nương náu dưới một lớp vỏ vô cảm cứng như đá, trong khi các giác quan của sự sống vẫn duy trì nguyên vẹn. Trong trạng thái ấy, giọng nói của người giảng đạo cứ gầm thét tàn nhẫn nhưng vô ích vào tai cô. Đứa trẻ, trong khoảng thời gian cuối của buổi phán xử, đã cất tiếng khóc thét xé rách không gian; cô cố gắng dỗ dành nó theo quán tính, nhưng dường như chẳng mảy may đồng cảm với nỗi khổ của con. Vẫn với vẻ mặt lạnh lùng ấy, cô được dẫn giải trở lại nhà tù, và khuất tầm mắt người đời sau cánh cổng bọc sắt kiên cố. Người ta xì xào với nhau rằng chữ hiệu sắc đỏ đã hắt lên một thứ ánh sáng ma quái dọc theo lối đi tối tăm bên trong tòa nhà.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.