Chuyến Hải Trình Ra Khơi

Lượt đọc: 198 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 17

❊ ❊ ❊

Đang là mùa cao điểm, và mỗi con tàu từ Anh quốc cập bến đều lưu lại vài vị khách trên bờ biển Santa Marina, những người nhanh chóng lên xe để đến khách sạn. Việc nhà Ambrose có một ngôi nhà nhỏ, nơi người ta có thể chốc lát thoát khỏi bầu không khí hơi vô hồn của khách sạn, mang lại niềm vui chân thành không chỉ cho Hirst và Hewet, mà còn cho gia đình Elliot, gia đình Thornbury, gia đình Flushing, cô Allan, Evelyn M., cùng những người khác có nhân thân mờ nhạt đến mức nhà Ambrose mãi vẫn chẳng thể biết tên họ. Dần dần, một kiểu liên thông giữa hai ngôi nhà, lớn và nhỏ, được hình thành; nhờ đó, hầu như vào mọi thời điểm trong ngày, nhà này có thể đoán được nhà kia đang làm gì, và hai từ “biệt thự” cùng “khách sạn” gợi lên ý niệm về hai lối sống hoàn toàn khác biệt.

Những mối quen biết dần dà có dấu hiệu tiến triển thành tình bạn, bởi sợi dây liên kết duy nhất phòng khách nhà bà Parry ấy tất yếu đã phân rã thành nhiều mối quan hệ khác gắn liền với những vùng miền khác nhau ở nước Anh. Có lúc, những mối giao thiệp này mong manh một cách mỉa mai; có lúc lại nhức nhối sắc bén, bởi chúng thiếu đi cái phông nền nâng đỡ của một đời sống tổ chức có trật tự nơi quê nhà. Một đêm nọ, khi vầng trăng tròn vành vạnh treo giữa những tán cây, Evelyn M. đã kể cho Helen nghe câu chuyện đời mình và đòi kết tình bạn vĩnh cửu; nhưng trong một dịp khác, chỉ vì một tiếng thở dài, một khoảng lặng, hay một lời nói vội vã thốt ra, tội nghiệp bà Elliot đã rời biệt thự trong nỗi nghẹn ngào ngập nước mắt, thề không bao giờ gặp lại người phụ nữ lạnh lùng kiêu kỳ đã sỉ nhục mình nữa, và sự thật là họ chẳng bao giờ gặp lại nhau thật. Chắp vá lại một tình bạn nhạt nhoà như thế vốn chẳng đáng chút công sức nào.

Quả thật, vào thời điểm này, Hewet có thể tìm thấy chất liệu tuyệt vời tại biệt thự cho vài chương trong cuốn tiểu thuyết dự định đặt tên là “Sự Im Lặng, hay Những Điều Người Ta Không Nói.” Helen và Rachel đã trở nên vô cùng kiệm lời. Cho rằng mình đã đánh hơi được một bí mật và phỏng đoán Rachel có ý giấu mình, bà Ambrose cẩn trọng tôn trọng điều đó, nhưng chính vì thế, dẫu hoàn toàn vô tình, một bầu không khí dè dặt kỳ lạ đã nảy nở giữa họ. Thay vì chia sẻ quan điểm về mọi vấn đề và lao đầu theo đuổi bất kỳ ý tưởng nào đến cùng, họ chủ yếu bàn luận về những con người họ gặp, và bí mật giữa họ vẫn lờ mờ hiện hữu trong cả những lời họ nói về nhà Thornbury hay nhà Elliot. Luôn điềm tĩnh và không vướng bận cảm xúc trong các phán đoán, bà Ambrose lúc này lại có xu hướng bi quan rõ rệt. Bà không quá khắt khe với từng cá nhân cụ thể, mà thay vào đó là sự hoài nghi đối với lòng tốt của định mệnh, số phận, và những gì xảy ra về lâu về dài; bà hay cả quyết rằng cái kết cục ấy thường chống lại con người ta đúng theo tỉ lệ thuận với những gì họ đáng được hưởng. Ngay cả lý thuyết này bà cũng sẵn sàng vứt bỏ để ngả theo một quan điểm khác coi sự hỗn mang là kẻ chiến thắng, vạn vật xảy ra chẳng vì lý do gì sất, và ai nấy đều đang mò mẫm trong ảo tưởng cùng sự vô minh. Với một niềm thích thú nhất định, bà triển khai những quan điểm này trước cô cháu gái, lấy một bức thư từ quê nhà làm phép thử: bức thư đem lại tin tốt, nhưng hoàn toàn có thể mang đến tin xấu cũng nên. Làm sao bà biết được rằng ngay tại khoảnh khắc này, cả hai đứa con của bà không đang nằm chết gí, bị chám bẹp dưới những chiếc xe buýt cơ giới chứ? “Chuyện ấy đang xảy ra với ai đó cơ mà: sao nó lại không thể xảy ra với tôi chứ?” bà lập luận, trên khuôn mặt thoáng hiện vẻ khắc khổ của một nỗi đau dự cảm trước.

Dẫu những quan điểm này có chân thành đến đâu, chúng chắc chắn được khơi gợi lên bởi trạng thái tâm lý bất ổn của cô cháu gái. Tâm trạng con bé cứ dao động khôn lường, chuyển biến nhanh chóng từ niềm vui sang tuyệt đối tuyệt vọng, khiến người ta cảm thấy cần phải đối chiếu nó bằng một chính kiến vững vàng nào đó—mà lẽ tự nhiên, chính kiến ấy vừa vững chãi lại vừa đen tối. Có lẽ bà Ambrose ôm ấp ý định rằng khi lái câu chuyện hướng về những vùng đất u ám này, bà có thể khám phá ra điều đang ẩn giấu trong tâm can Rachel; thế nhưng thật khó để phán đoán, bởi có lúc con bé hùa theo cả những lời u ám nhất được thốt ra, có lúc lại chẳng thèm đếm xỉa, rồi bóp nghẹt những học thuyết của Helen bằng những tràng cười cợt, huyên thuyên, chế giễu ngông cuồng nhất, hay thậm chí nổi cơn thịnh nộ dữ dội trước điều mà nó gọi là “tiếng quạ kêu trong bùn.”

“Cuộc đời đã đủ khổ sở lắm rồi mà không cần đến mấy thứ đó,” con bé khẳng định.

“Cái gì khổ sở?” Helen gặng hỏi.

“Cuộc đời,” con bé đáp, và rồi cả hai chìm vào im lặng.

Helen có quyền tự đưa ra những kết luận của riêng mình về lý do tại sao cuộc đời lại khổ sở, hay về lý do tại sao một giờ đồng hồ sau đó, cuộc đời bỗng trở nên thật kỳ diệu và sống động đến mức ánh mắt của Rachel khi chiêm ngưỡng nó đủ sức làm phấn chấn bất kỳ ai đứng nhìn. Trung thành với nguyên tắc của mình, bà không hề cố gắng nhúng tay vào, dẫu rằng có đủ những khoảnh khắc suy sụp yếu lòng để một kẻ kém nguyên tắc hơn có thể chớp lấy thời cơ, thấu tỏ mọi sự, và biết đâu Rachel lại lấy làm tiếc vì bà đã không chọn làm thế. Tất cả những trạng thái tâm lý ấy hòa quyện lại tạo thành một hiệu ứng chung mà Helen so sánh với dòng nước trôi tuột đi, nhanh hơn, nhanh hơn nữa, khi nó lao mình về phía thác nước. Bản năng của bà là thét lên: Dừng lại! Nhưng dẫu việc thét lên có ích gì đi chăng nữa, bà vẫn sẽ kìm lại, nghĩ rằng tốt nhất là cứ để mọi thứ tự diễn tiến theo cách của chúng, dòng nước cứ cuồn cuộn chảy bởi trái đất vốn được định hình để bắt nó phải chảy.

Có vẻ như bản thân Rachel hoàn toàn không mảy may nghi ngờ rằng mình đang bị theo dõi, hay trong phong thái của con bé có điều gì đó dễ thu hút sự chú ý. Chuyện gì đã xảy ra với nó, chính nó cũng chẳng rõ. Tâm trí nó lúc này hệt như dòng nước xiết mà Helen dùng để so sánh. Nó muốn gặp Terence; nó cứ hoài mong ngóng được nhìn thấy anh khi anh không có mặt ở đó; việc lỡ hẹn với anh là một nỗi dằn vặt; những đớn đau giăng kín cả ngày dài của nó chỉ vì anh, thế nhưng nó chưa từng tự hỏi cái sức mạnh đang càn quét qua cuộc đời mình ấy xuất phát từ đâu. Nó chẳng màng nghĩ đến kết cục, giống hệt như một cái cây bị gió ép oằn xuống mãi chẳng bao giờ bận tâm đến hệ quả của việc bị gió ép oằn xuống vậy.

Trong hai, ba tuần trôi qua kể từ buổi dạo chơi hôm ấy, nửa tá mẩu giấy nhắn của anh đã chất đống trong ngăn kéo của nó. Nó sẽ đọc chúng, rồi phung phí cả buổi sáng chìm đắm trong cơn mê muội của hạnh phúc; vùng đất ngập tràn ánh nắng ngoài khung cửa sổ kia hoàn toàn vô khả năng tự phân tích màu sắc và sức nóng của chính mình, cũng giống như cách nó bất lực trong việc mổ xẻ niềm vui của bản thân vậy. Trong những tâm trạng ấy, nó thấy việc đọc sách hay chơi piano là điều bất khả thi, thậm chí việc di chuyển cũng vượt quá mong muốn của nó. Thời gian trôi đi mà nó chẳng mảy may hay biết. Khi màn đêm buông xuống, ánh đèn từ khách sạn lại thu hút nó bên khung cửa sổ. Một tia sáng cứ nhấp nháy bật tắt chính là ánh đèn ở phòng Terence: anh đang ngồi ở đó, có lẽ đang đọc sách, hoặc chốc chốc lại đi qua đi lại rút từng cuốn sách này đến cuốn sách khác ra; rồi anh lại ngồi phịch xuống ghế, và nó cố tưởng tượng xem anh đang nghĩ ngợi điều gì. Những ngọn đèn sáng trưng đánh dấu các căn phòng nơi Terence đang ngồi giữa những người vây quanh. Bất cứ ai lưu trú tại khách sạn đều mang theo một vẻ lãng mạn và thú vị kỳ lạ. Họ không phải là những kẻ bình thường. Nó sẽ gán cho bà Elliot sự khôn ngoan, cho Susan Warrington vẻ đẹp kiều diễm, cho Evelyn M. một sức sống mãnh liệt, chỉ đơn giản vì Terence đã từng nói chuyện với họ.

Những cơn trầm uất cũng diễn ra một cách vô thức và thấm đượm như thế. Tâm trí nó khi ấy hệt như phong cảnh ngoài kia chìm dưới những tầng mây đen tối và bị trừng phạt bởi gió mưa tầm tã. Lại có lúc nó ngồi bất động trên ghế, phơi mình chịu trận trước nỗi đau, và những lời lẽ kỳ quặc hay u ám của Helen tựa như những mũi lao thúc giục nó cất tiếng kêu than trước sự khắc nghiệt của cuộc đời. Tuyệt vời nhất là những khoảnh khắc mà chẳng vì lý do gì, áp lực cảm xúc ấy lại dịu đi, và cuộc đời tiếp diễn như thường lệ, chỉ có điều niềm vui và sắc màu trong các sự kiện bỗng trở nên rực rỡ chưa từng thấy; chúng mang một ý nghĩa tương tự như thứ ý nghĩa mà nó từng nhìn thấy ở cái cây: màn đêm là những thanh sắt đen ngòm ngăn cách nó với ban ngày; nó ước gì có thể gom tất cả các ngày lại thành một dòng chảy cảm giác dài bất tận. Dẫu những tâm trạng ấy trực tiếp hay gián tiếp bắt nguồn từ sự hiện diện của Terence hoặc từ ý nghĩ về anh, nó chưa từng thốt lên với chính mình rằng nó đang yêu anh, hay cân nhắc xem điều gì sẽ xảy ra nếu nó cứ tiếp tục nuôi dưỡng những cảm xúc ấy; thế nên hình ảnh dòng sông trôi tuột về phía thác nước của Helen quả thực rất sát với thực tế, và sự hoang mang mà Helen đôi khi cảm thấy là hoàn toàn có cơ sở.

Trong trạng thái cảm giác chưa được mổ xẻ kỳ lạ ấy, nó hoàn toàn bất lực trong việc vạch ra một kế hoạch có thể tác động đến tâm trạng của mình. Nó phó mặc bản thân cho sự xui rủi của những tình cờ, lỡ hẹn với anh hôm nay, gặp gỡ vào hôm sau, và luôn đón nhận những bức thư của anh với một cái giật mình ngạc nhiên. Bất kỳ người phụ nữ nào từng trải qua tiến trình tán tỉnh hẳn đã đúc rút được vài quan điểm từ tất cả những điều này, ít nhất là đủ để có một lý thuyết làm điểmựa; thế nhưng chưa từng có ai yêu Rachel, và chính nó cũng chưa từng yêu bất kỳ ai. Hơn thế nữa, không một cuốn sách nào nó từng đọc, từ Wuthering Heights đến Man and Superman, hay các vở kịch của Ibsen, lại hé lộ qua việc phân tích tình yêu rằng những gì các nữ anh hùng của họ cảm nhận lại chính là những gì nó đang trải qua lúc này. Nó cảm thấy những cảm giác của mình dường như không có tên gọi.

Nó chạm mặt Terence thường xuyên. Những khi không gặp, anh hay gửi thư kèm theo một cuốn sách hoặc bàn về một cuốn sách, bởi xét cho cùng, anh vẫn không thể phớt lờ cách tiếp cận sự thân mật ấy. Nhưng đôi khi, anh lại biệt tăm hoặc không viết thư suốt mấy ngày ròng. Đến khi gặp lại, cuộc hội ngộ của họ có thể mang đến niềm vui phơi phới, nhưng cũng có thể là nỗi tuyệt vọng bủa vây. Trùm lên mọi cuộc chia tay của họ là cảm giác bị ngắt quãng, để lại trong lòng cả hai sự chầu chực chưa thỏa mãn, dẫu chẳng ai hay biết rằng đối phương cũng chia sẻ chung nỗi niềm ấy.

Nếu Rachel mù mờ về cảm xúc của chính mình, thì nó lại càng mù mờ hơn về cảm xúc của anh. Thoạt đầu, anh di chuyển như một vị thần; khi nó dần hiểu về anh hơn, anh vẫn là tâm điểm của ánh sáng, nhưng đi kèm với vẻ đẹp ấy là một sức mạnh kỳ diệu khiến nó trở nên táo bạo và tự tin vào bản thân. Nó ý thức được những cảm xúc và năng lực mà trước nay nó chưa từng ngờ tới ở chính mình, cùng một chiều sâu của thế giới mà cho đến lúc đó nó vẫn hoàn toàn xa lạ. Khi nghĩ về mối quan hệ giữa họ, nó thiên về trực giác hơn là suy luận, hình dung quan điểm của mình về những gì Terence cảm nhận bằng bức tranh vẽ cảnh anh bước qua căn phòng để đến đứng bên cạnh nó. Khoảng cách bước qua căn phòng ấy mang lại một cảm giác thể xác thực thụ, nhưng ý nghĩa của nó là gì thì nó chẳng tài nào biết được.

Cứ thế, thời gian trôi đi, khoác lên bề mặt của nó một vẻ điềm tĩnh và rạng rỡ. Những bức thư từ nước Anh gửi đến, những bức thư từ Willoughby gửi đến, và các ngày trong tuần tích tụ những sự kiện nhỏ nhặt nhào nặn nên một năm. Về mặt bề nổi, ba bài thơ ca ngợi của Pindar được chỉnh sửa, Helen hoàn thành khoảng năm inch thêu thùa, và St. John hoàn thành hai màn đầu của một vở kịch. Do anh và Rachel lúc này đã trở thành những người bạn rất thân, anh liền đọc lớn cho nó nghe, và nó thực sự ấn tượng trước sự uyển chuyển trong nhịp điệu cùng sự phong phú của các tính từ do anh sử dụng, cộng thêm việc anh là bạn của Terence, khiến anh bắt đầu tự hỏi liệu con đường văn chương có phải dành cho mình thay vì ngành luật. Đó là một khoảng thời gian tư duy sâu sắc và những sự bừng ngộ bất ngờ đối với không chỉ một cặp đôi, mà còn cho cả những kẻ đang lẻ bóng.

Một ngày Chủ nhật tới, thứ mà chẳng một ai ở biệt thự ngoại trừ Rachel và cô hầu gái người Tây Ban Nha có ý định công nhận. Rachel vẫn đến nhà thờ, bởi theo Helen, nó chưa từng bận tâm bận trí mảy may suy nghĩ về chuyện đó. Kể từ khi họ tổ chức buổi lễ tại khách sạn, nó lại đến đó với hy vọng tìm kiếm chút niềm vui trên quãng đường bước qua khu vườn và sảnh khách sạn, dẫu rằng việc nó có thể gặp Terence, hay ít nhất có cơ hội trò chuyện với anh, là điều vô cùng mong manh.

Vì phần lớn khách lưu trú tại khách sạn là người Anh, nên sự khác biệt giữa Chủ nhật và thứ Tư cũng rõ rệt chẳng kém gì ở nước Anh, và ngày Chủ nhật xuất hiện ở đây y hệt như ở quê nhà, tựa như một bóng ma đen thui câm lặng hay một linh hồn sám hối của ngày thường bận rộn. Người Anh không thể làm phai mờ ánh nắng mặt trời, nhưng bằng một phép màu nào đó, họ có thể làm chậm lại những giờ trôi, làm lu mờ các biến cố, kéo dài những bữa ăn, và thậm chí biến cả đám nhân viên hay phục vụ bàn thành những kẻ mang vẻ mặt chán chường đầy đúng mực. Những bộ quần áo đẹp nhất mà ai nấy đều xúng xính mặc vào càng góp phần củng cố hiệu ứng chung ấy; có cảm giác như không một quý cô nào có thể ngồi xuống mà không làm nhàu nát một lớp váy lót tinh tươm được ủi cứng đơ, và chẳng một quý ông nào dám thở mạnh mà không làm phát ra tiếng kêu sột soạt bất chợt từ chiếc cổ áo sơ mi cứng ngắc. Khi kim đồng hồ nhích gần đến mười một giờ vào ngày Chủ nhật đặc biệt này, các vị khách bắt đầu tụ tập lại sảnh, tay ôm những cuốn sách nhỏ gáy đỏ. Đồng hồ chỉ còn cách giờ chẵn vài phút thì một bóng người mập mạp bận đồ đen sải bước qua sảnh với vẻ mặt đăm chiêu, ra điều hắn thà không đáp lại những lời chào hỏi còn hơn, dẫu vẫn nhận thức được chúng, rồi biến mất vào hành lang dẫn từ sảnh chính.

“Ông Bax,” bà Thornbury thì thầm.

Nhóm người nhỏ bé liền bắt đầu di chuyển theo đúng hướng của bóng đen mập mạp nọ. Dưới cái nhìn kỳ quặc của những kẻ chẳng mảy may có ý định nhập bọn, họ chầm chậm và có ý thức tiến về phía cầu thang, ngoại trừ duy nhất một người. Bà Flushing chính là ngoại lệ đó. Bà chạy hớt hãi xuống cầu thang, sải bước qua sảnh, nhập vào đám đông với chiếc thở hồng hộc, rồi gặng hỏi bà Thornbury trong một tiếng thì thầm đầy kích động: “Đâu, ở đâu cơ?”

“Tất cả chúng ta đều đang đi đây,” bà Thornbury dịu dàng đáp, và chẳng mấy chốc họ đã dắt díu nhau bước xuống cầu thang từng đôi một. Rachel nằm trong số những người bước xuống đầu tiên. Nó không hề nhìn thấy Terence và Hirst bước vào từ phía cuối hàng, trên tay không cầm cuốn sách đen nào, mà mang theo một cuốn sách mỏng bìa vải xanh nhạt kẹp dưới nách do St. John kẹp sẵn.

Nhà nguyện vốn là một nhà nguyện cũ của các tu sĩ. Đó là một không gian thâm trầm và mát mẻ, nơi họ từng làm lễ Thánh trong hàng trăm năm, từng chịu hình phạt trong ánh trăng lạnh lẽo, và sùng bái những bức tranh nâu cũ kỹ cùng những bức tượng các vị thánh chạm khắc đang giơ cao đôi tay ban phước trong những hốc tường. Quá trình chuyển giao từ nghi lễ Công giáo sang Tin lành đã được bắc cầu bằng một khoảng thời gian bỏ hoang, khi không có bất kỳ buổi lễ nào được tổ chức, và nơi đây được dùng làm kho chứa các chum đựng dầu, rượu mùi, và ghế xếp bãi biển; khi khách sạn phả sinh khí, một tổ chức tôn giáo nào đó đã tiếp quản nơi này, và giờ đây nó được trang bị thêm một loạt các dãy ghế dài bọc da màu vàng bóng lộn, những chiếc đệm gác chân màu đỏ sẫm; nó có một bục giảng nhỏ, một con đại bàng bằng đồng cõng Kinh thánh trên lưng, trong khi lòng thành kính của những phụ nữ khác nhau đã cung cấp những tấm thảm vuông xấu xí cùng những dải thêu dài được thêu dày đặc chữ lồng bằng vàng.

Khi các giáo dân bước vào, họ được chào đón bởi những hợp âm dịu ngọt cất lên từ chiếc đàn harmonium, nơi cô Willett, khuất tầm nhìn sau tấm rèm vải nỉ, đang gõ những hợp âm dứt khoát bằng những ngón tay đầy vẻ bất định. Âm thanh lan tỏa khắp nhà nguyện hệt như những vòng tròn nước lan rộng ra từ một viên đá rơi xuống. Hai mươi hoặc hai mươi lăm con người cấu thành giáo đoàn thoạt tiên cúi đầu rồi sau đó ngồi thẳng dậy và nhìn ngó xung quanh. Nơi đây vô cùng tĩnh lặng, và ánh sáng ở phía dưới này có vẻ nhạt nhoà hơn thứ ánh sáng rọi xuống từ trên cao. Những cái gật đầu và nụ cười quen thuộc được lược bỏ, nhưng họ vẫn nhận ra nhau. Kinh Lạy Cha được cất lên vang vọng quanh họ. Khi cuộc chiến âm thanh trẻ con ấy dâng trào, giáo đoàn—nhiều người trong số họ chỉ mới gặp nhau trên cầu thang—bỗng cảm thấy bản thân được gắn kết một cách đầy xót xa và tràn ngập thiện cảm với đối phương. Tựa như lời cầu nguyện là một ngọn đuốc châm vào đống củi, một làn khói dường như tự động bốc lên ngập tràn không gian với bóng hình của vô số buổi lễ trong vô số buổi sáng Chủ nhật ở quê nhà. Susan Warrington đặc biệt cảm nhận được thứ cảm giác tình chị em ngọt ngào nhất, khi cô che mặt bằng hai bàn tay và nhìn thấy những chiếc lưng còng thấp thoáng qua những kẽ hở giữa các ngón tay. Cảm xúc của cô dâng trào bình lặng và đều đặn, vừa mãn nguyện về bản thân lại vừa hài lòng với cuộc đời tại cùng một thời điểm. Mọi thứ thật yên ả và tốt đẹp biết bao. Thế nhưng, sau khi tạo ra bầu không khí yên bình ấy, ông Bax đột ngột lật trang sách và đọc một bài thánh vịnh. Dẫu ông đọc nó với giọng điệu không chút đổi thay, tâm trạng ấy vẫn bị phá vỡ.

“Xin Chúa hãy thương xót con,” ông đọc, “vì con người vẫn luôn rình rập để nuốt chửng con: hắn chiến đấu và quấy rầy con mỗi ngày... Ngày ngày chúng xuyên tạc lời nói của con; tất cả những gì chúng mưu tính là hãm hại con. Chúng kết bè kết phái và bám dính lấy nhau... Xin Chúa hãy bẻ gãy răng chúng trong miệng, hãy đập nát quai hàm của những con sư tử, lạy Chúa: xin hãy để chúng trôi đi như dòng nước chảy xiết; và khi chúng giương cung bắn, xin hãy nhổ bật gốc rễ chúng lên.”

Chẳng có gì trong trải nghiệm của Susan khớp nổi với những điều này, và vì cô chẳng mحب gì ngôn ngữ văn chương, cô đã sớm ngưng bận tâm đến những lời lẽ ấy, dẫu cô vẫn dõi theo chúng với một thứ sự tôn trọng máy móc giống hệt như cách cô lắng nghe những bài diễn văn của Lear được đọc lớn. Tâm trí cô vẫn thanh thản và thực sự bận rộn với việc ca ngợi bản chất của chính mình cùng việc ca ngợi Chúa, tức là ca ngợi trật tự trang nghiêm và mĩ mãn của thế giới.

Thế nhưng, chỉ cần liếc qua khuôn mặt của họ, người ta có thể nhận thấy hầu hết những kẻ còn lại, đặc biệt là đám đàn ông, đều cảm thấy sự bất tiện từ sự xâm nhập bất thình lình của vị lão già man rợ này. Trông họ có vẻ trần tục và mang tính phản biện hơn khi lắng nghe những lời cuồng ngôn của gã đàn ông da đen luống tuổi quấn khố đang nguyền rủa bằng những cử chỉ mãnh liệt cạnh đống lửa trại giữa hoang mạc. Sau đó là âm thanh chung của những trang sách bị lật sột soạt hệt như khi họ đang ngồi trong lớp học, rồi họ đọc một đoạn ngắn trong Cựu Ước về việc đào giếng, giống y chang cách mấy cậu học sinh dịch một đoạn dễ trong cuốn Anabasis khi đã gấp sách ngữ pháp tiếng Pháp lại. Rồi họ quay trở lại với Tân Ước cùng hình tượng Chúa Christ đau thương và tươi đẹp. Trong lúc Chúa Christ cất lời, họ lại nỗ lực một lần nữa để áp đặt cách giải thích của Ngài về cuộc đời lên chính cuộc đời mà họ đang sống, nhưng vì mỗi người một vẻ—kẻ thực dụng, người tham vọng, kẻ ngu ngốc, người hoang dã ưa thử nghiệm, kẻ đang chìm đắm trong yêu đương, và những kẻ khác đã quá xa rời mọi cảm giác ngoại trừ cảm giác an nhàn—họ đã làm những điều vô cùng khác biệt với lời của Chúa Christ.

Nhìn vào nét mặt của họ, dường như phần lớn chẳng mảy may nỗ lực chút nào; và cứ như thể đang nằm ngửa ra, họ chấp nhận những ý tưởng mà câu chữ truyền tải như những biểu hiện của sự lương thiện, chắc hẳn cũng giống hệt cách một trong những nữ thợ thêu chăm chỉ kia chấp nhận tấm thảm sặc sỡ xấu xí của cô ta như là cái đẹp vậy.

Dẫu lý do là gì đi nữa, thì lần đầu tiên trong đời, thay vì lập tức trượt vào một đám mây cảm xúc dễ chịu kỳ lạ nào đó vốn quá quen thuộc đến mức chẳng cần bận tâm suy xét, Rachel lại lắng nghe những gì đang được giảng bằng con mắt phản biện. Khi họ cứ loạng choạng chuyển đổi từ lời cầu nguyện sang thánh vịnh, từ thánh vịnh sang lịch sử, từ lịch sử sang thơ ca, và ông Bax đang đọc đoạn kinh thánh chủ đề của mình, con bé đã rơi vào trạng thái khó chịu tột cùng. Đó là thứ cảm giác khó chịu hệt như khi bị buộc phải ngồi nghe một bản nhạc tệ hại được trình tấu kém cỏi. Bị trêu ngươi, bị chọc giận bởi sự vô cảm vụng về của người chỉ huy dàn nhạc—kẻ đặt nhịp nhấn sai chỗ—và bị làm phiền bởi cả một bầy khán giả đông đảo đang ngoan ngoãn ngợi ca hùa theo mà chẳng hề hay biết hay bận tâm, nó giờ đây cũng bị trêu ngươi và chọc giận y như thế, chỉ có điều ở đây, với đôi mắt nhắm hờ và đôi môi mím chặt, bầu không khí trang nghiêm gượng gạo càng làm cơn giận của nó sục sôi thêm. Xung quanh nó là những kẻ đang ra điều giả vờ cảm nhận thứ mà chúng chẳng hề cảm nhận, trong khi lơ lửng đâu đó trên đầu nó là ý niệm mà chẳng mảy như chúng có thể nắm bắt, thứ ý niệm mà chúng cứ ra điều nắm bắt được ấy cứ mãi tuột khỏi tầm tay, một ý niệm tươi đẹp, một ý niệm tựa như con bướm. Hết cái này đến cái khác, to lớn, cứng nhắc và lạnh lẽo, những nhà thờ trên khắp thế giới hiện lên trong tâm trí nó—nơi diễn ra hoài cái nỗ lực lóng ngóng và sự hiểu lầm ấy—những tòa cao ốc vĩ đại, chật ních những người đàn ông và đàn bà không nhìn rõ đường đi, để rồi cuối cùng buông xuôi từ bỏ nỗ lực nhìn nhận và ngoan ngoãn thụt lùi vào sự ngợi ca cùng sự hùa theo, nhắm hờ đôi mắt và mím chặt đôi môi. Ý nghĩ ấy gây ra một thứ cảm giác khó chịu về thể chất tương tự như lớp sương mù cứ chắn ngang giữa mắt người và trang sách in. Nó cố hết sức để phủi sạch lớp sương mù ấy và hình dung ra một thứ gì đó để sùng bái khi buổi lễ tiếp diễn, nhưng rồi lại thất bại, luôn bị dẫn dụ chệch hướng bởi giọng đọc của ông Bax—kẻ đang thốt ra những điều bóp méo ý niệm ấy—cùng tiếng lảm nhảm của những giọng người vô hồn cứ rơi lả tả xung quanh nó như những chiếc lá mục. Nỗ lực ấy thật mệt mỏi và nản lòng. Nó ngừng lắng nghe và dán mắt vào khuôn mặt của một người phụ nữ ngồi gần đó, một nữ y dưỡng đường, kẻ mà biểu cảm chăm chú sùng đạo dường như chứng minh rằng cô ta ít nhất đang nhận được sự thỏa mãn. Thế nhưng khi nhìn kỹ lại, nó đi đến kết luận rằng mụ nữ y dưỡng đường ấy chỉ đang hùa theo một cách nô lệ, và vẻ mãn nguyện đó chẳng hề được sinh ra bởi bất kỳ ý niệm cao đẹp nào về Chúa ngự trị trong tâm hồn cô ta. Quả thật, làm sao một kẻ có thể hình dung ra điều gì đó nằm ngoài tầm trải nghiệm của bản thân, một người phụ nữ với gương mặt tầm thường như thế, một khuôn mặt tròn vo đỏ lựng bị khắc lên những đường nét bởi những bận bịu lặt vặt và những hằn học lặt vặt, với cặp mắt xanh đờ đẫn nhìn đời thiếu đi sự mãnh liệt hay cá tính, với những đường nét nhạt nhòa, tê dại và nhẫn tâm chứ? Cô ta đang tôn sủng một thứ nông cạn và tự mãn, bám lấy nó—như cái miệng bướng bỉnh kia đã minh chứng—với sự kiên trì dai dẳng của một con ốc sên biển; không gì có thể dứt cô ta ra khỏi niềm tin ngoan đạo về đức hạnh của chính bản thân và đức hạnh của tôn giáo cô ta. Cô ta chính là một con ốc sên, với phần nhạy cảm dán chặt vào một vách đá, vĩnh viễn chết lặng trước dòng chảy cuồn cuộn của những điều tươi mới và tốt đẹp lướt qua bên cạnh. Gương mặt của kẻ sùng đạo đơn độc này hằn sâu vào tâm trí Rachel với một ấn tượng kinh hoàng tột độ, và nó bỗng nhiên được khai sáng để hiểu được Helen và St. John có ý gì khi họ tuyên bố căm ghét Cơ đốc giáo. Với sự bạo liệt hiện đang đánh dấu những cảm xúc của mình, nó gạt phăng tất cả những gì trước nay nó từng mặc nhiên tin tưởng.

Trong khi đó, ông Bax đã đi được nửa chặng đường của bài đọc thứ hai. Nó nhìn ông. Ông là một kẻ từng trải với đôi môi mềm mại và phong thái dễ chịu, quả thật ông là một người rất đỗi tử tế và giản dị, dẫu chẳng lấy gì làm thông minh cho lắm, nhưng nó hoàn chẳng ở trong tâm trạng để ghi nhận bất kỳ ai có được những phẩm chất ấy, và liền săm soi ông như thể ông là hiện thân tóm lược của mọi thói hư tật xấu trong tôn giáo của ông.

Ngay ở góc khuất phía sau nhà nguyện, bà Flushing, Hirst và Hewet ngồi thành một hàng với một tâm thế hoàn toàn khác biệt. Hewet đang dán mắt lên trần nhà với đôi chân duỗi thẳng về phía trước, bởi vì chưa từng cố gắng ép buổi lễ phải khớp với bất kỳ cảm xúc hay ý niệm nào của mình, anh có thể tận hưởng vẻ đẹp của ngôn ngữ mà không gặp phải bất kỳ sự cản trở nào. Tâm trí anh thoạt đầu bận rộn với những thứ tình cờ ngẫu nhiên, chẳng hạn như mái tóc của những người phụ nữ phía trước, ánh sáng hắt lên những khuôn mặt, rồi sau đó bị cuốn vào những con chữ mà anh cho là tráng lệ, và rồi mơ hồ hơn là tính cách của những giáo dân khác. Thế nhưng khi bất chợt nhìn thấy Rachel, toàn bộ những suy nghĩ ấy liền bay biến khỏi đầu, và trong tâm trí anh chỉ còn lại hình bóng của con bé. Những bài thánh vịnh, những lời cầu nguyện, kinh cầu và bài giảng đều bị thu gọn lại thành một âm thanh tụng niệm cứ ngưng lại rồi lại cất lên, cao hơn một chút hoặc trầm đi một chút. Anh cứ thế luân phiên nhìn Rachel rồi lại nhìn trần nhà, nhưng biểu cảm lúc này của anh không xuất hiện bởi những gì anh nhìn thấy mà bởi thứ gì đó sâu thẳm trong tâm trí. Anh cũng đau đớn bị dằn vặt bởi những suy nghĩ của mình chẳng kém gì con bé đang bị dằn vặt bởi suy nghĩ của nó.

Từ đầu buổi lễ, bà Flushing đã phát hiện ra rằng mình cầm nhầm một cuốn Kinh thánh thay vì cuốn sách cầu nguyện, và vì đang ngồi cạnh Hirst, cô bèn lén liếc qua vai anh. Anh đang điềm tĩnh đọc cuốn sách mỏng màu xanh nhạt. Không thể hiểu nổi, cô rướn người nhìn sát hơn, ngay lập tức Hirst lịch sự đặt cuốn sách trước mặt cô, chỉ vào dòng đầu tiên của một bài thơ tiếng Hy Lạp rồi chỉ sang bản dịch ở trang đối diện.

“Cái gì thế?” cô tò mò thì thầm.

“Sappho,” anh đáp. “Bài thơ mà Swinburne đã dịch—thứ tuyệt vời nhất từng được viết ra.”

Bà Flushing không thể cưỡng lại một cơ hội như thế. Cô nuốt chửng Bài thơ ca ngợi Aphrodite trong lúc đọc kinh cầu, chật vật kìm nén không hỏi xem Sappho sống vào thời nào, và cô còn viết những gì đáng đọc khác, đồng thời xoay sở đọc cho kịp lúc ở câu kết: “sự tha thứ tội lỗi, sự Phục sinh của thể xác, và sự sống muôn đời. Amen.”

Trong khi đó, Hirst lôi ra một phong thư và bắt đầu hí hoáy viết nguệch ngoạc lên mặt sau. Khi ông Bax bước lên bục giảng, anh gấp cuốn Sappho lại với chiếc phong thư kẹp giữa các trang sách, chỉnh lại cặp kính, và dán chặt ánh mắt chăm chú vào vị mục sư. Đứng trên bục giảng, trông ông rất to lớn và béo tốt; ánh sáng xuyên qua lớp kính cửa sổ màu xanh lá nhạt không nhuộm màu khiến khuôn mặt ông trở nên nhẵn nhụi và trắng trẻo hệt như một quả trứng khổng lồ.

Ông đảo mắt nhìn khắp những gương mặt đang ngẩng lên nhìn mình với vẻ ôn hòa, dẫu rằng có những người mang khuôn mặt của những ông lão bà già đủ tuổi để làm ông bà của ông, rồi cất giọng đọc đoạn kinh thánh chủ đề với vẻ uy nghiêm nặng trịch. Luận điểm của bài giảng là những du khách đến với vùng đất tươi đẹp này, dẫu họ đang đi nghỉ mát, vẫn mang một trách nhiệm đối với người bản xứ. Thú thực, nó chẳng khác mấy soกับ một bài xã luận bàn về các chủ đề thời sự chung trên các tờ báo tuần. Nó lan man với một thứ sự dài dòng thân thiện từ đề mục này sang đề mục khác, gợi ý rằng mọi con người đều có bản chất giống nhau dưới lớp da thịt, minh họa điều này bằng sự tương đồng giữa các trò chơi mà những cậu bé Tây Ban Nha chơi và trò chơi của các cậu bé trên đường phố London, nhận xét rằng những thứ rất nhỏ nhặt thực sự ảnh hưởng đến con người, đặc biệt là người bản xứ; trên thực tế, một người bạn rất thân của ông Bax đã kể với ông rằng sự thành công trong nền thống trị của chúng ta ở Ấn Độ—quốc gia rộng lớn ấy—phần lớn phụ thuộc vào bộ quy tắc ứng xử lịch sự nghiêm ngặt mà người Anh áp dụng đối với người bản xứ, từ đó dẫn đến nhận định rằng những thứ nhỏ nhặt không nhất thiết là nhỏ nhặt, và bằng cách nào đó, đối với đức tính thông cảm—một đức tính chưa bao giờ cần thiết hơn thế như ngày nay, khi chúng ta đang sống trong một thời kỳ thử nghiệm và biến động—hãy chứng kiến máy bay và điện tín không dây kìa, và còn có những vấn đề khác hầu như chưa từng xuất hiện đối với thế hệ cha ông chúng ta, nhưng không một người đàn ông nào tự nhận mình là đàn ông lại có thể để lơ lửng không giải quyết. Tại đây, ông Bax trở nên đậm chất giáo sĩ hơn nữa, nếu điều đó là khả thi, ông có vẻ nói với một sự gian xảo ngây thơ nào đó, khi chỉ ra rằng tất cả những điều này đặt ra một trách nhiệm đặc biệt đối với những Cơ đốc nhân thành kính. Điều mà con người ta có xu hướng thốt lên bây giờ là, “Ồ, cái gã đó—hắn là một mục sư.” Điều chúng ta muốn họ nói là, “Hắn là một gã tốt”—nói cách khác, “Hắn là anh em của tôi.” Ông khuyên nhủ họ hãy giữ mối liên hệ với những con người theo phong cách hiện đại; họ phải thông cảm với những lợi ích đa dạng của họ để luôn ghi nhớ trước mắt rằng bất kỳ phát hiện nào được tạo ra, vẫn có một phát hiện không thể bị thay thế, thứ vốn thực sự là một nhu cầu thiết yếu đối với cả những kẻ thành công nhất và rực rỡ nhất trong số họ hệt như nó từng đối với thế hệ cha ông họ. Kẻ hèn mọn nhất cũng có thể giúp sức; những thứ kém quan trọng nhất đều có tầm ảnh hưởng (đến đây phong thái của ông trở nên đậm chất linh mục rõ rệt và những lời lẽ của ông dường như hướng đến phụ nữ, bởi quả thật giáo đoàn của ông Bax chủ yếu bao gồm phụ nữ, và ông đã quen với việc phân công nhiệm vụ cho họ trong các chiến dịch giáo sĩ ngây thơ của mình). Bỏ qua những chỉ dẫn cụ thể hơn, ông chuyển sang phần khác, và chủ đề của ông được mở rộng thành một lời kết luận hùng hồn mà ông hít một hơi thật dài rồi đứng thẳng người hết cỡ,—“Giống như một giọt nước, bị tách rời, đơn độc, tách biệt khỏi những kẻ khác, rơi từ trên mây xuống và hòa mình vào đại dương bao la, thay đổi, như các nhà khoa học bảo chúng ta, không chỉ ngay tại đốm nhỏ trong đại dương nơi nó rơi xuống, mà còn thay đổi cả muôn vàn giọt nước cùng nhau cấu thành vũ trụ nước vĩ đại, và bằng cách này làm thay đổi cấu trúc của địa cầu cùng sinh mạng của hàng triệu sinh vật biển, và cuối cùng là sinh mạng của những người đàn ông và đàn bà tìm kiếm kế sinh nhai trên bờ biển—giống như tất cả những điều này nằm trong tầm tay của một giọt nước duy nhất, thứ mà bất kỳ trận mưa rào nào cũng trút xuống hàng triệu giọt để tự đánh mất mình trong lòng đất, tự đánh mất mình theo cách chúng ta nói, nhưng chúng ta thừa biết rằng hoa trái trên đất không thể đơm hoa kết trái nếu thiếu chúng—thì một điều kỳ diệu có thể so sánh với điều này cũng nằm trong tầm với của mỗi chúng ta, những kẻ thả một lời nói nhỏ hay một hành động nhỏ xuống vũ trụ vĩ đại để rồi làm thay đổi nó; vâng, đó là một suy nghĩ thiêng liêng, làm thay đổi nó, vì điều thiện hay điều ác, không chỉ trong một khoảnh khắc, hay ở một vùng lân cận, mà trên toàn bộ nhân loại, và cho đến muôn đời vĩnh cửu.” Xoay phắt người lại hệt như để tránh né những tràng pháo tay, ông tiếp tục bằng chính hơi thở đó, nhưng với một tông giọng khác,—“Và giờ đây xin dâng lên Chúa Cha...”

Ông ban phép lành, và rồi, trong khi những hợp âm trang nghiêm lại cất lên từ chiếc đàn harmonium phía sau tấm rèm, những con người khác nhau bắt đầu cào cấu, mò mẫm và vụng về, đầy ý thức tiến về phía cửa. Nửa chừng cầu thang, tại một điểm nơi ánh sáng và âm thanh của thế giới phía trên va chạm với sự mờ ảo cùng giai điệu thánh ca đang lụi tàn của thế giới phía dưới, Rachel cảm thấy một bàn tay đặt lên vai mình.

“Cô Vinrace,” bà Flushing khẩn nát thì thầm, “ở lại ăn trưa đi. Ngày gì mà ảm đạm thế không biết. Chúng thậm chí còn chẳng thèm dọn thịt bò cho bữa trưa nữa cơ. Xin hãy ở lại đi.”

Đến đây họ bước ra sảnh, nơi một lần nữa nhóm người nhỏ bé lại được chào đón bằng những ánh mắt tò mò đầy tôn trọng từ những kẻ không đi nhà thờ, dẫu cho trang phục của họ làm rõ rành rành rằng họ ủng hộ ngày Chủ nhật đến sát nút ranh giới đi nhà thờ. Rachel cảm thấy không thể chịu đựng thêm bất kỳ bầu không khí đặc quánh nào thế này nữa và định nói rằng mình phải quay về thì Terence bước ngang qua họ, bị cuốn vào cuộc trò chuyện với Evelyn M. Do đó, Rachel tự nhủ chỉ cần nói rằng trông những con người kia thật đáng kính trọng là đủ, một nhận xét mang tính phủ định mà bà Flushing đã diễn giải thành việc con bé sẽ ở lại.

“Người Anh ở nước ngoài kìa!” cô thốt lên với một tia cay độc rực rỡ. “Họ tệ hại làm sao! Nhưng chúng ta sẽ không ở lại đây đâu,” cô tiếp tục, giật giật cánh tay Rachel. “Lên phòng tôi đi.”

Cô kéo con bé lướt qua Hewet, Evelyn, nhà Thornbury và nhà Elliot. Hewet bước lên trước.

“Bữa trưa—” anh ngập ngừng bắt đầu.

“Cô Vinrace đã hứa ăn trưa với tôi rồi,” bà Flushing nói, rồi cắm cổ bước phăng phăng lên cầu thang, hệt như tầng lớp trung lưu nước Anh đang bám đuổi theo sau. Cô không dừng lại cho đến khi đã sập mạnh cánh cửa phòng ngủ phía sau lưng họ.

“Nào, cô nghĩ gì về chuyện đó thế?” cô gặng hỏi, thở hổn hển đôi chút.

Toàn bộ sự ghê tởm và kinh hãi mà Rachel đã tích tụ bùng nổ vượt ngoài tầm kiểm soát.

“Tôi nghĩ đó là một màn trình diễn đáng tởm nhất mà tôi từng thấy trong đời!” nó thốt lên đầy phẫn nộ. “Sao họ có thể—sao họ dám làm thế—cô có ý gì khi lôi tôi vào chuyện này—ông Bax, những mụ y tá, những gã già, gái điếm, thật kinh tởm—”

Nó tuôn ra những điểm nó còn nhớ nhanh nhất có thể, nhưng nó quá phẫn nộ để có thể dừng lại mổ xẻ cảm xúc của mình. Bà Flushing chăm chú nhìn nó với sự hào hứng tột độ khi con bé đứng thốt lên những lời tuôn trào cùng những cử động dứt khoát của đầu và tay giữa căn phòng.

“Nữa đi, nữa đi, nói nữa đi chứ,” cô cười lớn, vỗ tay bôm bốp. “Nghe cô nói thú vị thật đấy!”

“Nhưng sao cô lại cứ thích đến đó cơ chứ?” Rachel gặng hỏi.

“Tôi đến đó vào mọi ngày Chủ nhật trong đời kể từ khi tôi còn nhỏ,” bà Flushing cười khúc khích, cứ như thể đó là một lý do tự thân vậy.

Rachel đột ngột quay phắt người về phía cửa sổ. Nó chẳng rõ điều gì đã khiến mình nổi giận đến thế; cảnh tượng Terence xuất hiện ở sảnh đã làm rối tung những suy nghĩ của nó, để lại trong lòng một sự phẫn nộ thuần túy. Nó nhìn thẳng về phía biệt thự của họ, nằm lưng chừng sườn núi. Khung cảnh quen thuộc nhất khi được nhìn qua khung kính đều mang một vẻ khác lạ đầy kiêu kỳ, và nó dần bình tâm lại khi đắm chìm ngắm nhìn nó. Rồi nó chợt nhớ ra rằng mình đang đứng trước mặt một người mà nó không lấy gì làm thân thiết, liền quay lại nhìn bà Flushing. Bà Flushing vẫn đang ngồi trên mép giường, ngẩng đầu lên, đôi môi hé mở để lộ hai hàng răng trắng đều tăm tắp.

“Nói tôi nghe xem,” cô cất lời, “cô thích anh Hewet hay anh Hirst hơn?”

“Anh Hewet,” Rachel đáp, nhưng giọng nó nghe không tự nhiên cho lắm.

“Ai là người đọc tiếng Hy Lạp trong nhà thờ thế?” bà Flushing gặng hỏi.

Đó có thể là bất kỳ ai trong số họ, và trong lúc bà Flushing tiếp tục miêu tả cả hai người, và nói rằng cả hai đều khiến cô sợ hãi, nhưng có một người làm cô sợ hơn người kia, Rachel đảo mắt tìm một chiếc ghế. Căn phòng, tất nhiên, là một trong những gian phòng lớn nhất và xa hoa nhất trong khách sạn. Có rất nhiều ghế bành và ghế dài bọc vải thô màu nâu, nhưng mỗi chiếc đều bị chiếm chỗ bởi một tấm bìa cứng màu vàng vuông vức to lớn, và tất cả các tấm bìa cứng ấy đều lấm chấm hoặc vằn vện bởi những vệt sơn dầu sáng màu.

“Nhưng cô đừng có nhìn vào mấy thứ đó nhé,” bà Flushing nói khi thấy ánh mắt Rachel lang thang. Cô chồm dậy, lật úp nhiều nhất có thể các bức tranh xuống sàn nhà. Tuy nhiên, Rachel vẫn kịp vớ lấy một bức, và với sự kiêu hãnh của một họa sĩ, bà Flushing lo lắng gặng hỏi: “Nào, sao hả?”

“Đó là một ngọn đồi,” Rachel đáp. Không còn nghi ngờ gì nữa, bà Flushing đã tái hiện lại cú tung người mạnh mẽ và đột ngột của trái đất vút lên không trung; người ta suýt có thể nhìn thấy những cụm đất văng tứ tung khi nó xoay tròn.

Rachel chuyển từ bức này sang bức khác. Tất cả chúng đều mang dấu ấn của sự giật cục và quyết đoán từ người tạo ra chúng; tất cả đều là những cú ra đòn hoàn toàn bản năng của cây cọ vẽ lên một ý niệm mơ hồ nào đó do ngọn đồi hay cái cây gợi lên; và tất cả chúng theo một cách nào đó đều mang đậm dấu ấn cá tính của bà Flushing.

“Tôi nhìn thấy vạn vật đang chuyển động,” bà Flushing giải thích. “Cứ như thế này này—” cô vung tay một khoảng dài trong không trung. Sau đó, cô nhặt một trong những tấm bìa cứng mà Rachel vừa đặt xuống, ngồi phịch lên một chiếc ghế đẩu, và bắt đầu hí hoáy vẽ bằng một mẩu than chì. Trong lúc cô bận rộn với những nét cọ dường như đóng vai trò ngôn từ đối với cô, thì Rachel, vốn đang vô cùng bồn chồn, ngước mắt quan sát xung quanh.

“Mở tủ quần áo ra đi,” bà Flushing nói sau một khoảng lặng, phát âm không rõ lời vì đang ngậm một cây cọ vẽ trong miệng, “và ngắm mấy món đồ trong đó xem.”

Khi Rachel còn đang chần chừ, bà Flushing bước tới, miệng vẫn ngậm cọ vẽ, giật tung hai cánh tủ quần áo, và tiện tay ném một đống khăn choàng, vải vóc, áo choàng, đồ thêu lên giường. Rachel bắt đầu đưa tay nghịch chúng. Bà Flushing lại tiến đến, thả một đống cườm, trâm cài áo, hoa tai, vòng tay, tua rua và lược giắt tóc vào giữa đống vải vóc lùng bùng. Rồi cô quay lại ghế đẩu và tiếp tục cặm cụi vẽ trong im lặng. Những mảnh vải đủ màu sắc tối sáng; chúng tạo ra một bầy đàn kỳ lạ gồm các đường nét và màu sắc trải dài trên chiếc khăn phủ giường, lẫn lộn giữa những khối đá ngả đỏ, lông công cùng những chiếc lược đồi mồi sáng màu trong suốt.

“Phụ nữ từng đeo chúng từ hàng trăm năm trước, và họ vẫn đeo chúng đến tận bây giờ,” bà Flushing nhận xét. “Chồng tôi thường cưỡi ngựa đi khắp nơi để lùng sược chúng; họ chẳng biết chúng đáng giá bao nhiêu nên chúng ta mua được giá hời lắm. Và rồi chúng ta sẽ bán lại chúng cho mấy mụ quý bà sành điệu ở London,” cô cười khúc khích, cứ như thể ý nghĩ về những người phụ nữ ấy cùng vẻ ngoài lố bịch của họ khiến cô thấy thú vị vậy. Sau khi vẽ thêm vài phút, cô đột ngột buông cọ và dán chặt mắt vào Rachel.

“Tôi nói cho cô nghe điều tôi muốn làm nhé,” cô nói. “Tôi muốn lên thượng nguồn và tận mắt chứng kiến mọi thứ. Thật ngớ ngẩn khi cứ ì ra đây với một lũ mấy bà cô già cứ như thể chúng ta đang đi nghỉ mát ở bờ biển nước Anh vậy. Tôi muốn ngược dòng sông và tận mắt ngắm nhìn người bản xứ trong các trại của họ. Chỉ mất mười ngày cắm trại ngoài trời thôi. Chồng tôi từng làm thế rồi. Người ta sẽ nằm ngủ dưới những tán cây vào ban đêm và được kéo dọc dòng sông bằng thuyền vào ban ngày, và nếu thấy thứ gì hay ho chúng tôi sẽ hét lên và bảo họ dừng lại.” Cô đứng dậy và liên tục đâm chiếc ghim cài vàng dài ngoẵng vào nệm giường, dõi theo phản ứng của Rachel trước gợi ý của mình.

“Chúng ta phải lập một đoàn mới được,” cô tiếp tục. “Mười người là có thể thuê được một chiếc xuồng máy rồi. Nào, cô sẽ đi chứ, bà Ambrose cũng sẽ đi, và anh Hirst cùng vị gentleman kia nữa chứ? Séc bút chì đâu rồi nhỉ?”

Cô càng lúc càng trở nên quyết tâm và phấn khích khi hoàn thiện kế hoạch của mình. Cô ngồi thõng chân trên mép giường và viết ra một danh sách các họ, những cái tên mà cô liên tục đánh vần sai bét nhè. Rachel vô cùng hào hứng, bởi quả thực ý tưởng đó mang lại cho nó niềm vui khôn tả. Nó vẫn luôn ấp khao khát được nhìn ngắm dòng sông, và cái tên Terence phủ lên viễn cảnh ấy một thứ ánh hào quang khiến nó trở nên quá tuyệt vời để có thể là sự thật. Nó làm hết sức có thể để giúp đỡ bà Flushing bằng cách gợi ý tên, giúp cô đánh vần chúng, và đếm các ngày trong tuần trên những ngón tay. Vì bà Flushing muốn biết mọi thứ nó có thể kể về thân thế và sở thích của từng người mà nó gợi ý, lại còn chêm vào những câu chuyện hoang đường của riêng cô về tính cách và thói quen của các nghệ sĩ, hay những người cùng tên từng đến Chillingley vào những ngày xưa cũ, dẫu chắc chắn họ chẳng phải là một, dù họ cũng là những gã rất thông minh quan tâm đến ngành Ai Cập học, nên công việc này ngốn mất kha khá thời gian. Cuối cùng, bà Flushing phải nhờ cậy đến cuốn nhật ký của mình, vì phương pháp tính ngày trên đầu ngón tay tỏ ra không khả thi cho lắm. Cô mở rồi lại đóng sầm mọi ngăn kéo trong chiếc bàn làm việc, trước khi gào lên đầy tức tối: “Yarmouth! Yarmouth! Chết tiệt mụ này! Cứ lúc cần thì lại biến đi đâu mất tiêu!”

Vào khoảnh khắc đó, cái cồng báo giờ ăn trưa bắt đầu tự vận hành vào cơn cuồng nộ giữa trưa của nó. Bà Flushing bấm chuông giật cục đầy bạo lực. Cánh cửa bật mở bởi một nữ gia nhân xinh người, thẳng người gần bằng chính chủ nhân của cô ta.

“À này, Yarmouth,” bà Flushing nói, “hỏi xem mười ngày nữa tính từ hôm nay là ngày nào trong cuốn nhật ký của tôi nhé, rồi tiện thể ra hỏi người gác cổng xem cần bao nhiêu gã đàn ông để chèo thuyền cho tám người ngược dòng sông trong một tuần, tốn kém bao nhiêu, rồi viết ra một mẩu giấy để lên bàn trang điểm cho tôi. Nào—” cô dùng ngón trỏ tuyệt mỹ chỉ thẳng về phía cửa khiến Rachel đành phải là người đi trước.

“Ồ, tiện thể Yarmouth này,” bà Flushing gọi với lại qua vai. “Cất đống đồ đó đi và treo chúng về đúng chỗ của chúng nhé, làm ơn ngoan cái nào, không thì ông Flushing lại cằn nhằn đấy.”

Trước tất cả những điều đó, Yarmouth chỉ điềm nhiên đáp: “Vâng, thưa phu nhân.”

Khi họ bước vào phòng ăn dài, rõ ràng là ngày Chủ nhật vẫn chưa kết thúc, dẫu tâm trạng đã có phần dịu bớt. Bàn ăn của nhà Flushing được đặt sang một bên cạnh cửa sổ, nhờ đó bà Flushing có thể săm soi từng nhân ảnh bước vào, và sự tò mò của cô dường như mãnh liệt vô cùng.

“Bà cụ Paley kìa,” cô thì thầm khi chiếc xe lăn chầm chậm qua cửa, Arthur lúi húi đẩy đằng sau. Nhà “Thornbury” theo sau đó. “Người phụ nữ dễ mến kìa,” cô huých tay ra hiệu cho Rachel nhìn cô Allan. “Cô ta tên gì ấy nhỉ?” Người phụ nữ được tô son điểm phấn lúc nào cũng đến muộn, tung tăng bước vào phòng với một nụ cười được chuẩn bị sẵn hệt như bước lên sân khấu, hẳn đã phải chùn bước trước ánh nhìn săm soi của bà Flushing—ánh mắt bày tỏ sự thù hằn sắc lạnh đối với toàn bộ bộ tộc những mụ đàn bà son phấn. Tiếp theo là hai chàng trai trẻ mà bà Flushing gộp chung lại gọi là nhà Hirst. Họ ngồi xuống ở bàn đối diện, bên kia lối đi.

Ông Flushing đối xử với vợ mình bằng sự pha trộn giữa sự ngưỡng mộ và lòng nuông chiều, dùng sự ngọt ngào và trôi chảy trong lời nói để khỏa lấp đi vẻ cộc cằn của vợ. Trong lúc vợ mình cứ thoắt ẩn thoắt hiện và thốt lên những lời đầy cảm thán, ông lại phác họa cho Rachel nghe về lịch sử nghệ thuật Nam Mỹ. Ông sẽ đáp lời một câu cảm thán nào đó của vợ rồi lại mượt mà quay trở về với chủ đề của mình. Ông rất biết cách để một bữa trưa trôi qua một cách dễ chịu, mà không hề nhàm chán hay quá gần gũi. Ông đã đúc kết được quan điểm—như ông kể cho Rachel nghe—rằng những kho báu tuyệt vời đang ẩn giấu trong tận sâu thẳm lục địa; những thứ Rachel từng thấy chỉ là những vụn vặt nhặt nhược trong hành trình của một chuyến đi ngắn ngủi. Ông cho rằng có thể có những bức tượng vị thần khổng lồ được đẽo gọt từ đá trên sườn núi; và những hình khối khổng lồ đứng sừng sững một mình giữa những đồng cỏ xanh ngút ngàn, nơi chưa từng có ai đặt chân đến ngoài người bản xứ. Trước buổi bình minh của nghệ thuật châu Âu, ông tin rằng những thợ săn và tu sĩ nguyên thủy đã xây dựng những ngôi đền bằng các phiến đá nguyên khối khổng lồ, đã tạc từ những vách đá tối tăm cùng những rừng cây tuyết tùng vĩ đại những hình tượng uy nghi của các vị thần và mãnh thú, cùng các biểu tượng của những thế lực vĩ đại—nước, không khí và rừng thẳm—nơi họ sinh sống. Có thể có những thị trấn tiền sử, giống như những thị trấn ở Hy Lạp và châu Á, sừng sững ở những khoảng không giữa các tán cây, chứa đầy những tác phẩm của chủng tộc nguyên thủy này. Chẳng ai từng đặt chân đến đó; hầu như chẳng ai biết gì về chúng. Cứ thế trò chuyện và trưng bày những lý thuyết kỳ thú nhất của mình, sự chú ý của Rachel hoàn toàn bị cuốn vào ông.

Nó không hề thấy Hewet cứ chốc chốc lại nhìn mình qua lối đi, giữa những bóng người bồi bàn tất bật qua lại với những đĩa thức ăn trên tay. Anh đang lơ đễnh, và Hirst cũng thấy anh vừa khó tính vừa khó chịu vô cùng. Họ đã chạm trán qua tất cả các chủ đề quen thuộc—từ chính trị đến văn chương, chuyện phiếm và Cơ đốc giáo. Họ đã cãi nhau về buổi lễ—thứ mà theo Hewet chẳng khác gì Sappho; thế nên chủ nghĩa ngoại giáo của Hirst chẳng qua chỉ là sự phô trương thuần túy. Tại sao lại phải đến nhà thờ, anh gặng hỏi, chỉ để đọc Sappho cơ chứ? Hirst nhận xét rằng anh đã lắng nghe từng từ trong bài giảng, như anh có thể chứng minh nếu Hewet muốn nghe lại toàn bộ; và anh đến nhà thờ để ngộ ra bản chất của Đấng Sáng Tạo, điều mà anh đã cảm nhận rất rõ ràng vào sáng hôm đó, nhờ ơn ông Bax, người đã truyền cảm hứng cho anh viết nên ba trong số những câu thơ tuyệt vời nhất trong văn học tiếng Anh, một lời khẩn cầu gửi tới Thần Linh.

“Tôi viết chúng ở mặt sau phong thư của bức thư cuối cùng từ dì tôi,” anh nói, rồi lôi nó ra từ giữa các trang sách Sappho.

“Nào, nghe thử xem nào,” Hewet nói, có phần dịu đi trước viễn cảnh của một cuộc tranh luận văn học.

“Này Hewet thân mến, cậu có muốn cả hai chúng ta bị một đám đông giận dữ gồm nhà Thornbury và nhà Elliot cổ ra khỏi khách sạn không?” Hirst hỏi vặn lại. “Chỉ một lời thì thầm nhỏ nhất cũng đủ để khép tội tôi vĩnh viễn rồi. Chúa ơi!” anh thốt lên, “cố viết lách làm quái gì khi thế giới này đầy rẫy những kẻ ngu ngốc chết tiệt ấy? Nghiêm túc đấy Hewet, tôi khuyên cậu nên từ bỏ văn chương đi. Nó có tích sự gì chứ? Khán giả của cậu kìa.”

Anh hất cằm về phía những bàn ăn, nơi một tập hợp vô cùng nham nhở những người châu Âu đang bận rộn ăn uống, thậm chí trong vài trường hợp là đang gặm nhấm những con gà ngoại dai ngoách. Hewet nhìn theo, và càng trở nên quạu quọ hơn. Hirst cũng nhìn sang. Ánh mắt anh rơi vào Rachel, và anh gật đầu chào nó.

“Tôi có linh cảm Rachel đang đem lòng yêu tôi đấy,” anh nhận xét khi ánh mắt dời trở lại đĩa ăn của mình. “Đó là điều tệ hại nhất của việc làm bạn với mấy cô gái trẻ—họ cứ hay có xu hướng đem lòng yêu mình.”

Trước câu nói đó, Hewet hoàn toàn không đáp lại một lời nào, và ngồi lặng thím một cách kỳ lạ. Hirst có vẻ chẳng bận tâm gì đến việc không nhận được câu trả lời, bởi anh lại quay về với ông Bax, trích dẫn phần lời kết về giọt nước; và khi Hewet hầu như chẳng mảy may phản hồi lại những nhận xét ấy, anh chỉ mím môi, chọn một quả sung, rồi chìm đắm hoàn toàn một cách mãn nguyện vào những suy nghĩ của riêng mình—thứ mà lúc nào trong đầu anh cũng sẵn có một kho tàng khổng lồ. Khi bữa trưa kết thúc, họ tản mạn, mỗi người cầm một tách cà phê đi về các góc khác nhau của sảnh.

Từ chiếc ghế bên dưới tán cây cọ, Hewet nhìn thấy Rachel bước ra khỏi phòng ăn cùng gia đình Flushing; anh thấy họ đảo mắt tìm ghế và chọn ba chiếc ở một góc khuất để có thể tiếp tục trò chuyện riêng tư. Ông Flushing lúc này đang say sưa tuôn ra những lời giảng giải. Ông rút ra một tờ giấy và vừa nói vừa phác họa lên đó. Anh thấy Rachel chồm người sang nhìn, đưa ngón tay trỏ hết chỗ này đến chỗ khác. Hewet buông lời so sánh không mấy thiện cảm rằng ông Flushing—kém ăn mặc cực kỳ bảnh bao cho khí hậu nóng nực và phong thái có phần tỉ mỉ—trông hệt như một gã chủ tiệm buôn đầy sức thuyết phục. Trong khi đó, khi đang ngồi ngắm họ, anh lại bị vây lấy bởi nhà Thornbury và cô Allan, những người sau khi lượn lờ quanh đó một hai phút liền sà vào những chiếc ghế xung quanh anh, tay cầm tách cà phê. Họ muốn biết liệu anh có thể kể cho họ nghe điều gì về ông Bax hay không. Ông Thornbury như thường lệ ngồi im thin thít, thẫn thờ nhìn thẳng về phía trước, chốc chốc lại nâng cặp kính lên hệt như định đeo vào, nhưng rồi vào giây phút cuối cùng lại đổi ý, để mặc chúng rơi thõng xuống. Sau một hồi thảo luận, các quý cô đi đến kết luận chắc nịch rằng ông Bax không phải là con trai của ông William Bax. Một khoảng lặng trôi qua. Rồi bà Thornbury nhận xét rằng bà vẫn có thói quen gọi là Nữ hoàng thay vì Nhà vua trong bài Quốc ca. Lại một khoảng lặng nữa trôi qua. Rồi cô Allan trầm ngâm lên tiếng rằng đi nhà thờ ở nước ngoài lúc nào cũng khiến cô có cảm giác như vừa tham dự đám tang của một thủy thủ.

Tiếp sau đó là một khoảng lặng kéo dài đến mức tưởng chừng như vĩnh viễn, thì ơn Chúa thay, một con chim có kích thước bằng con ác là, nhưng mang một màu xanh ánh kim, xuất hiện trên đoạn sân thượng có thể nhìn thấy từ chỗ họ ngồi. Bà Thornbury bèn lên tiếng hỏi liệu chúng ta sẽ cảm thấy thế nào nếu toàn bộ lũ quạ khoang của chúng ta đều có màu xanh—“Anh nghĩ sao, William?” cô hỏi, chạm nhẹ vào đầu gối chồng.

“Nếu toàn bộ lũ quạ khoang của chúng ta đều có màu xanh,” ông nói,—ông nâng cặp kính lên; ông thực sự đặt chúng lên sóng mũi—“chúng sẽ chẳng sống được lâu ở Wiltshire đâu,” ông kết luận; rồi lại để tụt cặp kính xuống bên sườn. Ba người lớn tuổi lúc này lại trầm ngâm đăm đăm nhìn con chim, thứ vô cùng tử tế khi chịu đậu ngay giữa tầm nhìn trong một khoảng thời gian khá dài, nhờ đó họ chẳng cần phải cất lời thêm lần nào nữa. Hewet bắt đầu tự hỏi liệu mình có nên bước sang góc của nhà Flushing hay không, thì Hirst xuất hiện từ phía sau, luồn lách vào chiếc ghế bên cạnh Rachel, và bắt đầu trò chuyện với nó bằng một vẻ thân mật mười mươi. Hewet không thể chịu đựng thêm được nữa. Anh đứng phắt dậy, vơ lấy chiếc mũ và lao vụt ra ngoài cửa.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.