Chuyến Hải Trình Ra Khơi

Lượt đọc: 198 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 24

❊ ❊ ❊

Họ đến khách sạn khá sớm vào buổi chiều, nên hầu như mọi người vẫn còn đang nằm nghỉ hoặc ngồi lặng lẽ trong phòng riêng, còn bà Thornbury, dù đã mời họ uống trà, thì chẳng thấy tăm hơi đâu. Do đó, họ đành ngồi xuống căn sảnh râm mát vốn gần như trống không, nơi chỉ văng vẳng tiếng gió thổi nhè nhẹ qua một không gian lớn vắng lặng. Phải, chiếc ghế bành này chính là chiếc ghế bành mà Rachel đã ngồi vào buổi chiều hôm đó khi Evelyn bước lên, và đây chính là cuốn tạp chí cô từng lật giêm, vả lại, chính là bức hình này đây – bức ảnh New York dưới ánh đèn đường. Mọi thứ kỳ lạ làm sao — chẳng có gì đổi thay cả.

Dần dần, dăm ba vị khách bắt đầu bước xuống cầu thang và đi qua sảnh, trong thứ ánh sáng mờ ảo ấy, dáng dấp của họ toát lên một vẻ duyên dáng và tao nhã nào đó, dẫu tất cả đều là những gương mặt xa lạ. Có lúc họ đi thẳng qua cánh cửa xoay để ra khu vườn, có lúc họ dừng lại đôi phút, cúi người bên những chiếc bàn để lật giở mấy tờ báo. Terence và Rachel ngồi ngắm nhìn họ qua đôi mắt khép hờ — nào là nhà Johnson, nhà Parker, nhà Bailey, nhà Simmons, nhà Lee, nhà Morley, nhà Campbell, nhà Gardiner. Kẻ mặc đồ nỉ trắng kẹp vợt dưới nách, người thấp, kẻ cao, có đứa chỉ là trẻ con, có người có lẽ là gia nhân, nhưng tất cả đều có vị thế riêng, có lý do để nối đuôi nhau bước qua căn sảnh, có tiền bạc, có địa vị, dù đó là gì đi nữa. Terence chẳng mấy chốc liền thôi ngắm nhìn, bởi anh đã mệt; và nhắm nghiền mắt lại, anh thiếp đi nửa tỉnh nửa mê trên chiếc ghế. Rachel vẫn dõi theo họ thêm một lúc lâu; cô bị cuốn hút bởi sự vững vàng và uyển chuyển trong từng chuyển động của họ, cùng cái cách tất yếu mà họ dường như nối bước nhau, lững thững đi qua rồi khuất dạng. Nhưng rồi tâm trí cô dần trôi dạt, và cô bắt đầu nghĩ về buổi vũ hội từng diễn ra ngay căn phòng này, chỉ là lúc ấy căn phòng hoàn toàn khác lạ. Đảo mắt nhìn quanh, cô khó mà tin nổi đây lại chính là căn phòng đó. Nó từng trông thật trống trải, rực rỡ và có phần câu nệ vào đêm tối mà họ từ ngoài bước vào; lại ngập tràn những gương mặt đỏ bừng vì phấn khích cứ chuyển động không ngừng, với những con người xiêm y lộng lẫy và sôi nổi đến mức chẳng giống người thật chút nào, cũng chẳng khiến người ta có cảm giác có thể chuyện trò cùng họ. Thế mà giờ đây, căn phòng lại mờ ảo, tĩnh lặng, nơi những con người trầm tư xinh đẹp bước qua, mà bạn có thể đến gần và nói bất cứ điều gì mình muốn. Cô cảm thấy vô cùng an toàn khi ngồi trên chiếc ghế bành của mình, và có thể nhìn lại không chỉ đêm vũ hội mà cả quá khứ dài rộng, bằng một nỗi niềm dịu dàng và hài hước, tựa hồ như cô đã quẩn quanh trong sương mù suốt một thời gian dài, để giờ đây có thể nhìn thấy rõ ràng từng ngã rẽ mình từng đi qua. Bởi những lối đi đưa cô đến với hiện tại dường như thật kỳ lạ, và điều kỳ quặc nhất là cô đã chẳng hề hay biết chúng đang dẫn mình về đâu. Đó mới là điều kỳ lạ, rằng con người ta chẳng hề biết mình đang đi đâu, hay thực sự muốn gì, cứ thế bước đi trong mù quáng, gặm nhấm biết bao nỗi đau đớn thầm kín, luôn hoang mang, ngỡ ngàng và chẳng biết một chi gì; thế nhưng chuyện này đưa đẩy chuyện kia, để rồi từng chút một, điều gì đó đã hình thành từ hư không, và cuối cùng người ta cũng đạt tới sự bình yên, tĩnh lặng và sự chắc chắn này, và chính tiến trình ấy người ta vẫn gọi là cuộc sống. Phải chăng, khi ấy, ai nấy cũng thực sự tường tận như cô lúc này rằng mình đang đi về đâu; và mọi thứ tự khắc đan dệt thành một khuôn mẫu không chỉ riêng cho cô, mà cho cả thảy mọi người, và trong khuôn mẫu ấy ẩn chứa sự viên mãn cùng ý nghĩa cuộc đời. Khi nhìn lại, cô có thể nhận ra một thứ ý nghĩa nào đó ẩn hiện trong cuộc đời của các dì cô, trong chuyến thăm ngắn ngủi của vợ chồng Dalloways mà cô sẽ chẳng bao giờ gặp lại nữa, và trong cả cuộc đời người cha quá cố.

Tiếng thở đều đặn và sâu lắng của Terence trong giấc ngủ càng củng cố thêm sự bình thản trong lòng cô. Cô không hề buồn ngủ dẫu chẳng nhìn rõ bất cứ vật gì, và dẫu những bóng người qua lại ngoài sảnh cứ mờ dần đi, cô vẫn tin rằng tất cả bọn họ đều biết chính xác mình đang hướng về đâu, và cảm giác chắc chắn ấy lấp đầy lòng cô bằng thứ bình yên ấm áp. Khoảnh khắc ấy, cô thấy mình thật độc lập và vô tư lự, tựa hồ như chẳng còn vướng bận chút duyên nợ nào với đời, và cô nghĩ rằng giờ đây mình có thể đón nhận bất cứ điều gì xảy đến mà không hề bối rối trước hình thù của nó. Có gì đáng sợ hay phải bối rối trong viễn cảnh tương lai đâu? Cớ chi thứ ánh sáng nội tâm này lại phải rời bỏ cô một lần nữa? Thế giới thực ra thật rộng lớn, hiếu khách, và suy cho cùng thì nó thật giản đơn. “Tình yêu,” St. John từng nói, “dường như giải thích được tất cả.” Phải, nhưng đó chẳng phải là tình yêu giữa nam và nữ, giữa Terence và Rachel. Dù họ ngồi sát bên nhau, họ đã thôi không còn là những cá thể đơn lẻ nhỏ bé; họ đã thôi không còn phải đấu tranh hay khao khát lẫn nhau. Dường như có một sự bình yên ngự trị giữa hai người. Đó có thể là tình yêu, nhưng chẳng phải là tình yêu giữa đàn ông và đàn bà.

Qua đôi mắt khép hờ, cô ngắm nhìn Terence đang ngả người ra sau ghế, và cô mỉm cười khi nhận ra cái miệng anh mới rộng làm sao, chiếc cằm lại quá đỗi nhỏ bé, còn chiếc mũi thì cong vút như đường tàu lượn siêu tốc với một chỏm u ở đầu mũi. Tự nhiên mà mang dáng vẻ ấy thì thảo nào anh vừa lười biếng, vừa đầy tham vọng, lại lắm nỗi thất thường và khuyết điểm. Cô nhớ lại những trận cãi vã của họ, đặc biệt là cuộc tranh cãi về Helen ngay chiều hôm ấy, và cô nghĩ đến việc họ sẽ còn phải cãi nhau bao nhiêu lần nữa trong ba, bốn, hay năm mươi năm tới khi cùng sống chung dưới một mái nhà, cùng nhau bắt những chuyến tàu, rồi lại phát bực vì bản tính quá đỗi khác biệt. Nhưng tất cả những điều ấy chỉ là bề ngoài, chẳng dính dáng gì đến phần đời ẩn sâu bên dưới đôi mắt, cái miệng và chiếc cằm kia, bởi phần đời ấy nằm độc lập với cô, và độc lập với tất cả mọi thứ khác. Tương tự thế, dẫu cô sắp kết hôn với anh và sẽ sống cùng anh suốt ba, bốn, hay năm mươi năm, sẽ có lúc cãi vã và ở bên anh thật gần gũi, cô vẫn độc lập với anh; cô độc lập với mọi thứ trên đời. Dù vậy, như lời St. John đã nói, chính tình yêu đã giúp cô thấu hiểu điều này, bởi cô chưa bao giờ cảm nhận được sự độc lập, sự bình yên và lòng chắc chắn nhường ấy cho đến khi đem lòng yêu anh, và có lẽ, đây cũng chính là tình yêu. Cô chẳng cần gì hơn thế nữa.

Đã chừng hai phút nay, cô Allan vẫn đứng ở một khoảng cách nhất định để ngắm nhìn đôi trẻ đang tựa người đầy bình yên trên những chiếc ghế bành. Cô lưỡng lự không biết có nên làm phiền họ hay không, rồi như chợt nhớ ra điều gì, cô bước băng qua sảnh. Tiếng bước chân của cô đánh thức Terence, anh ngồi bật dậy và dụi mắt. Anh nghe thấy cô Allan đang trò chuyện cùng Rachel.

“Chà,” cô đang nói, “thật là tuyệt. Thật sự rất tuyệt. Chuyện đính ước dường như đang trở thành mốt thời thượng thì phải. Hiếm khi nào có chuyện hai cặp đôi chưa từng quen biết nhau trước đó lại cùng gặp gỡ tại một khách sạn rồi quyết định kết hôn.” Đoạn cô ngừng lại, mỉm cười và có vẻ như chẳng còn gì để nói nữa, thế là Terence liền đứng lên và hỏi cô xem có đúng là cô đã hoàn thành cuốn sách của mình chưa. Ai đó đã bảo rằng cô thực sự đã viết xong rồi. Gặp đúng chỗ ngứa, khuôn mặt cô bừng sáng; cô quay sang anh với vẻ tươi tỉnh hơn thường ngày.

“Vâng, tôi nghĩ mình có thể tự tin tuyên bố là đã hoàn thành,” cô nói. “Ý tôi là, nếu không tính phần Swinburne — từ Beowulf cho đến Browning — bản thân tôi khá thích hai chữ B ấy. Beowulf cho đến Browning,” cô lặp lại, “tôi nghĩ đó là kiểu tựa đề có thể thu hút ánh nhìn của ai đó tại một sạp báo nhà ga.”

Cô thực sự rất đỗi tự hào vì đã hoàn thành cuốn sách, bởi chẳng ai biết được cô đã phải dồn vào đó biết bao quyết tâm. Hơn nữa, cô tin rằng đó là một tác phẩm xuất sắc, và ngẫm lại nỗi lo lắng khôn nguôi về người anh trai trong suốt quãng thời gian cầm bút, cô không kìm được lòng mà muốn kể thêm chút ít với họ về nó.

“Phải thú nhận rằng,” cô nói tiếp, “nếu biết trước trong văn học Anh có bao nhiêu là tác kinh điển, và những bậc kiệt xuất ấy lại rườm rà đến nhường nào, thì tôi đã chẳng dại dột dấn thân vào công việc này. Bạn thấy đấy, người ta chỉ cho phép có đúng bảy mươi nghìn từ thôi.”

“Chỉ có bảy mươi nghìn từ thôi ư!” Terence thốt lên.

“Phải, và người ta phải nói đôi điều về tất cả mọi người,” cô Allan bổ sung. “Đó là điều tôi thấy khó khăn nhất, phải nói được những điều khác biệt về từng người.” Rồi cô chợt nghĩ mình đã nói quá nhiều về bản thân, bèn hỏi xem họ có ra sân tham gia giải quần vợt không. “Mấy đứa trẻ đang hào hứng lắm đấy. Nửa tiếng nữa là trận đấu lại bắt đầu.”

Ánh mắt cô đong đầy thiện cảm đặt lên cả hai người, và sau một khoảng lặng ngắn, khi nhìn Rachel như thể vừa chợt nhớ ra điều gì đó để phân biệt cô với những người khác, cô cất lời:

“Cô chính là vị khách kỳ lạ không thích gừng phải không nào.”

Nhưng sự ấm áp toát lên từ nụ cười trên gương mặt có phần hốc hác nhưng kiên cường ấy khiến họ cảm thấy rằng, dẫu cô có thể chẳng mấy nhớ nổi họ với tư cách là những cá thể riêng biệt, cô vẫn trao lên vai họ gánh nặng của thế hệ trẻ.

“Và về điểm đó thì tôi hoàn toàn đồng tình với cô ấy,” một giọng nói cất lên từ phía sau; bà Thornbury đã vô tình nghe được mấy câu chuyện vừa rồi về việc không thích gừng. “Trong trí nhớ của tôi, nó gắn liền với một bà dì đáng sợ nào đó (tội nghiệp bà, lúc cuối đời bà chịu đựng đau đớn đủ bề nên gọi bà là đáng sợ thì thật bất công) cứ hay bắt chúng tôi uống thứ ấy khi còn nhỏ, mà tụi tôi thì chẳng bao giờ đủ can đảm bảo với bà là mình không thích. Tụi tôi chỉ đành lén đem đổ ra lùm cây ngoài vườn — nhà bà ấy có một cơ ngơi lớn gần Bath.”

Họ bắt đầu thong thả bước đi qua sảnh, thì bị chặn lại bởi sự xuất hiện đột ngột của Evelyn, cô lao sầm vào họ cứ như thể đôi chân chạy ào xuống cầu thang của cô đã vượt ngoài tầm kiểm soát.

“Chà,” cô thốt lên với sự nhiệt tình quen thuộc, tóm lấy cánh tay Rachel, “tớ gọi đây là tuyệt vời! Tớ đã đoán trước chuyện này sẽ xảy ra ngay từ phút ban đầu! Tớ biết thừa hai cậu sinh ra là dành cho nhau mà. Giờ thì hai cậu phải kể hết cho tớ nghe mọi chuyện đi — khi nào cưới, sẽ dọn về đâu — hai cậu có hạnh phúc ngập tràn không nào?”

Nhưng sự chú ý của nhóm người bỗng bị thu hút bởi bà Elliot, người đang lướt qua họ với những bước đi đầy vẻ nôn nóng nhưng chệnh choạng, trên tay mang theo một chiếc đĩa và một cái túi chườm nước nóng trống không. Bà suýt bước qua họ luôn, nhưng bà Thornbury đã tiến đến và cản lại.

“Cảm ơn chị, Hughling đã khá hơn rồi,” bà đáp lại câu hỏi thăm của bà Thornbury, “nhưng anh ấy không phải là một bệnh nhân dễ chiều. Anh ấy cứ muốn biết nhiệt độ cơ thể mình là bao nhiêu, mà nếu tôi nói thì anh ấyâm thầm lo lắng, còn nếu không nói thì lạiâm mưu nghi kỵ. Các chị biết đàn ông lúc ốm đau là thế nào đấy! Và ngặt nỗi ở đây chẳng có nổi mấy thiết bị y tế cho ra hồn, dẫu anh ấy tỏ ra rất hợp tác và tha thiết muốn mau khỏe” (đến đây bà hạ thấp giọng đầy vẻ huyền bí), “người ta cứ có cảm giác bác sĩ Rodriguez không thể đáng tin bằng một vị bác sĩ thực thụ được. Nếu anh Hewet có thể ghé qua thăm anh ấy,” bà nói thêm, “tôi biết điều đó sẽ vực dậy tinh thần anh ấy phần nào — cứ nằm bẹp trên giường suốt cả ngày — lại thêm đám ruồi nữa — nhưng tôi phải đi tìm Angelo ngay đây — đồ ăn ở đây — ừ thì, có người ốm trong nhà, người ta cứ muốn mọi thứ phải thật hoàn hảo cơ.” Và bà vội vã lướt qua họ để đi tìm người trưởng bồi bàn. Sự lo lắng vì phải chăm sóc chồng đã hằn lên trán bà một nếp nhăn đầy vẻ ai oán; bà tái mét, trông phờ phạc, có vẻ thảm hại hơn mức bình thường, và ánh mắt lại càng láo liên vô định hơn bao giờ hết.

“Tội nghiệp cô ấy!” Bà Thornbury thốt lên. Bà kể cho họ nghe rằng đã mấy ngày nay Hughling Elliot lâm bệnh, mà vị bác sĩ duy nhất có mặt ở đây lại chính là em trai của chủ khách sạn, hoặc chủ khách sạn nói thế, còn tư cách mang danh bác sĩ của ông ta thì vẫn còn là một dấu hỏi lớn.

“Tôi thừa biết ốm đau trong khách sạn là một cực hình,” bà Thornbury nhận xét, một lần nữa dẫn đầu nhóm người cùng Rachel bước ra khu vườn. “Tôi từng trải qua sáu tuần trăng mật mắc bệnh thương hàn ở Venice,” bà kể tiếp. “Nhưng dẫu vậy, tôi vẫn xem đó là những tuần lễ hạnh phúc nhất trong đời. Ồ, vâng,” bà nói, siết nhẹ cánh tay Rachel, “bây giờ các cậu tự cho là mình hạnh phúc, nhưng chẳng thấm vào đâu so với thứ hạnh phúc ngập tràn đến sau này đâu. Và tôi dám chắc rằng mình có đủ lý do để ghen tị với các bạn trẻ các cậu đấy! Các cậu đang có một quãng đời tươi đẹp hơn chúng tôi rất nhiều. Khi nhìn lại, tôi cứ ngỡ ngàng không dám tin mọi thứ đã đổi thay nhường nào. Thời chúng tôi đính ước, tôi chẳng hề được phép đi dạo một mình với William — lúc nào cũng phải có ai đó kè kè trong phòng — tôi thực sự tin rằng mình đã phải trình cho bố mẹ xem mọi bức thư anh ấy gửi! — dẫu họ cũng rất quý mến anh ấy đấy chứ. Quả thật, có thể nói họ coi anh ấy như con đẻ vậy. Tôi thấy buồn cười,” bà tiếp tục, “khi nghĩ về việc họ từng nghiêm khắc với chúng tôi bao nhiêu, để rồi giờ đây lại chiều chuộng mấy đứa cháu nội ngoại của mình bấy nhiêu!”

Chiếc bàn lại được bày biện dưới bóng cây, và khi đã an vị trước bộ tách trà, bà Thornbury vẫy gọi và gật đầu liên hồi cho đến khi tập hợp được khá đông đủ mọi người, gồm Susan, Arthur và ông Pepper, những người nãy giờ vẫn đang thẩn thơ dạo bước để chờ giải đấu bắt đầu. Một tán cây xào xạc, một dòng sông tràn đầy ánh trăng, những lời của Terence bỗng vọng về trong tâm trí Rachel khi cô ngồi nhấp ngụm trà và lắng nghe những lời lẽ cứ tuôn trào thật nhẹ nhàng, ấm áp và mượt mà tựa tiếng bạc. Cuộc đời đằng đẵng cùng bầy con cháu ấy đã mài giũa bà trở nên vô cùng mềm mỏng; chúng dường như đã xóa nhòa đi mọi dấu ấn cá tính riêng biệt, và chỉ để lại những gì đằm thắm và dung dị nhất của tình mẫu tử.

“Và những điều mà thế hệ trẻ các cậu sắp sửa được chứng kiến nữa chứ!” Bà Thornbury tiếp tục. Bà gom tất cả bọn họ vào trong viễn cảnh tương lai của mình, bao bọc tất cả trong tấm lòng của một người mẹ, mặc cho nhóm người ấy có cả William Pepper và cô Allan, hai con người mà ai nấy đều cho rằng đã nếm trải đủ phần đời của mình qua bức tranh toàn cảnh ấy rồi. “Khi chứng kiến thế giới đã đổi thay nhường nào trong suốt cuộc đời tôi,” bà nói tiếp, “tôi chẳng dám đặt ra bất kỳ giới hạn nào cho những gì có thể xảy ra trong năm mươi năm tới cả. Ồ không, ông Pepper ạ, tôi hoàn toàn không đồng tình với ông đâu nhé,” bà bật cười, cắt ngang lời nhận xét ảm đạm của ông về việc mọi thứ đang ngày một trượt dốc không phanh. “Tôi biết mình lẽ ra phải cảm thấy như thế, nhưng ngặt nỗi tôi lại chẳng thấy vậy, e là thế. Con người thời nay sẽ sống tốt hơn chúng ta rất nhiều. Chẳng phải mọi thứ đều đang minh chứng cho điều đó sao. Xung quanh tôi, tôi thấy biết bao phụ nữ, những người phụ nữ trẻ, những người đang gánh trên vai trăm bề lo toan gia đình, vẫn bước ra ngoài và làm những điều mà trước kia chúng ta từng nghĩ là bất khả thi.”

Ông Pepper thầm nghĩ bà thật ủy mị và hoang đường chẳng khác gì những bà già lẩm cẩm khác, nhưng cái cách bà đối xử với ông như thể ông chỉ là một lão già cáu kỉnh vừa khiến ông lúng túng lại vừa mê hoặc lòng người, để rồi ông chẳng thể đáp lại bà ngoài một điệu bộ nhăn nhở kỳ lạ trông giống nụ cười hơn là cái cau mày.

“Và họ vẫn giữ trọn vẹn bản sắc phụ nữ,” bà Thornbury nói thêm. “Họ dành trọn tâm huyết cho con cái của mình.”

Nói đoạn, bà mỉm cười nhẹ hướng về phía Susan và Rachel. Họ không hào hứng lắm khi bị gom chung vào một giỏ, nhưng cả hai vẫn mỉm cười có phần ngượng ngùng, và Arthur cùng Terence cũng liếc nhìn nhau. Bà khiến họ có cảm giác tất cả đang cùng chung một chiến tuyến, và họ ngắm nhìn những người phụ nữ mà mình sắp sửa kết hôn để rồi thầm so sánh. Thật khó tài nào hiểu nổi vì sao có kẻ lại muốn lấy Rachel, và thật không thể tin được có người lại sẵn sàng dành cả phần đời còn lại cho Susan; nhưng dẫu gu thẩm mỹ của kẻ kia có kỳ quặc đến đâu, họ vẫn chẳng hề ấm ức hay giận hờn gì nhau vì chuyện đó; ngược lại, họ thậm chí còn thấy mến nhau hơn vì sự lệch lạc đầy kỳ cục trong lựa chọn của đối phương.

“Thực sự tôi phải gửi lời chúc mừng đến hai cậu đấy,” Susan lên tiếng, rướn người qua bàn để với lấy hũ mứt.

Dường như chẳng có chút căn cứ nào cho những lời đồn thổi của St. John về Arthur và Susan cả. Trông họ thật khỏe khoắn, rám nắng, ngồi sát bên nhau với chiếc vợt đặt ngang đầu gối, miệng ít nói nhưng trên môi lúc nào cũng trực sẵn một nụ cười mỉm. Qua lớp vải trắng mỏng manh họ đang mặc, người ta có thể mường tượng rõ những đường nét cơ thể và đôi chân, những đường cong tuyệt mỹ của cơ bắp, nét gầy gò của anh và sự đẫy đà của cô, và thật tự nhiên khi người ta nghĩ đến những đứa con bụ bẫm, săn chắc sẽ là kết tinh tình yêu của họ. Gương mặt họ có lẽ không đủ đường nét thanh tú để được gọi là đẹp, nhưng họ sở hữu đôi mắt trong trẻo cùng một sức sống mãnh liệt cùng sức bền bỉ tuyệt vời, tựa hồ như dòng máu trong huyết quản anh sẽ chẳng bao giờ ngừng tuôn chảy, hay cứ mãi lắng đọng dịu êm trên đôi má cô. Giờ phút này, đôi mắt họ sáng hơn thường ngày và mang cái vẻ háo hức cùng sự tự tin đặc trưng thường thấy trong ánh mắt của những vận động viên, bởi họ vừa trải qua một trận quần vợt mà cả hai đều chơi xuất sắc ở hàng đỉnh cao.

Evelyn nãy giờ vẫn lặng im, nhưng ánh mắt cô cứ đảo từ Susan sang Rachel. Chà — cả hai đã đưa ra quyết định quá đỗi dễ dàng, họ chỉ mất vỏn vẹn vài tuần ngắn ngủi để làm được điều mà đôi lúc cô tưởng chừng mình sẽ chẳng bao giờ làm nổi. Dẫu họ vô cùng khác biệt, cô vẫn nhận ra ở mỗi người nét viên mãn và thỏa nguyện hệt như nhau, cùng một dáng vẻ điềm tĩnh và nhịp sống chậm rãi tương đồng. Chính sự từ tốn, sự tự tin và lòng mãn nguyện ấy lại là thứ khiến cô căm ghét, cô thầm nghĩ. Họ di chuyển chậm rãi như vậy bởi họ không còn độc hành mà đã thành đôi, Susan đã gắn chặt đời mình với Arthur, và Rachel với Terence, và vì người đànא ông ấy, họ đã khước từ tất cả những người đàn ông khác, khước từ cả những chuyển động và muôn mặt chân thực của cuộc sống. Tình yêu thì tốt thật đấy, và những tổ ấm nhỏ xinh ngập tràn hơi ấm gia đình ấy, với căn bếp ở tầng dưới và phòng trẻ ở tầng trên, mới biệt lập và khép kín làm sao, tựa những hòn đảo nhỏ giữa dòng đời cuồn cuộn; nhưng những điều thực tế chắc chắn phải là những biến động ngoài kia, những cuộc cách mạng, những chiến tranh, nhữngL lý tưởng diễn ra ở thế giới rộng lớn bên ngoài, cứ thế trôi đi một cách độc lập với những người phụ nữ ấy, lặng lẽ và tuyệt mỹ hướng về phía những người đàn ông. Cô sắc sảo quan sát họ. Dĩ nhiên họ đang hạnh phúc và thỏa mãn, nhưng chắc chắn phải có những thứ lớn lao hơn thế. Người ta hẳn phải tiến gần hơn với cuộc sống, phải vắt kiệt từ cuộc đời nhiều điều hơn thế, phải tận hưởng nhiều hơn và cảm nhận sâu sắc hơn những gì họ từng trải. Riêng Rachel trông còn quá trẻ — cô ấy thì biết gì về cuộc đời cơ chứ? Cảm thấy bứt rứt không yên, cô đứng phắt dậy, bước sang ngồi cạnh Rachel và nhắc cô về lời hứa gia nhập câu lạc bộ của mình.

“Cái khổ là,” cô nói tiếp, “tớ có lẽ chưa thể bắt tay vào công việc một cách nghiêm túc cho đến tận tháng Mười. Tớ vừa nhận được thư từ một người bạn có anh trai đang làm kinh doanh ở Moscow. Họ ngỏ ý mời tớ đến sống cùng, và vì họ đang nằm ngay giữa tâm điểm của mọi vụ mưu phản và phong trào vô chính phủ, tớ rất có ý định ghé lại đó trên đường về nhà. Nghe thôi đã thấy quá đỗi kích thích rồi.” Cô muốn làm cho Rachel thấy nó hấp dẫn đến nhường nào. “Bạn tớ quen một cô bé mười lăm tuổi bị đày vĩnh viễn sang Siberia chỉ vì người ta bắt gặp cô bé đang gửi một bức thư cho một kẻ vô chính phủ. Mà bức thư đó thậm chí còn chẳng phải do cô bé viết. Tớ sẵn sàng đánh đổi mọi thứ trên đời để góp sức cho một cuộc cách mạng chống lại chính phủ Nga, và điều đó chắc chắn sẽ xảy ra.”

Cô liếc nhìn từ Rachel sang Terence. Cả hai đều có chút chạnh lòng khi nhớ lại những lời đàm tiếu tồi tệ về cô mà họ vừa nghe được cách đó không lâu, và Terence bèn hỏi về kế hoạch của cô, thế là cô liền say sưa giải thích rằng mình sắp lập ra một câu lạc bộ — một câu lạc bộ hành động, thực sự xắn tay vào làm việc. Cô càng nói càng trở nên phấn khích, bởi cô quả quyết rằng chỉ cần hai mươi người — không, mười người thôi cũng đủ nếu họ đủ nhiệt huyết — cùng đứng lên hành động thay vì chỉ ngồi đó bàn giấy, họ có thể quét sạch hầu như mọi thói hư tật xấu tồn tại trên đời. Cái thế giới này cần là những bộ óc. Chỉ cần những con người có trí tuệ — dĩ nhiên họ sẽ cần một căn phòng, một căn phòng thật đẹp, tốt nhất là ở Bloomsbury, nơi họ có thể tề tựu mỗi tuần một lần...

Trong lúc cô huyên man trò chuyện, Terence có thể nhận ra những dấu vết của tuổi thanh xuân đang tàn phai trên khuôn mặt cô, những nếp nhăn do cuộc trò chuyện và sự kích động hằn lên quanh khóe miệng và đôi mắt, nhưng anh không hề thương hại cô; nhìn sâu vào đôi mắt sáng rực, có phần sắc sảo và kiên cường ấy, anh hiểu rằng cô chẳng hề thương hại chính mình, hay có chút khao khát nào muốn đánh đổi cuộc sống hiện tại để lấy một đời sống thanh tao, ngăn nắp như của anh và St. John, dẫu năm tháng qua đi, cuộc chiến ấy sẽ ngày càng trở nên khốc liệt. Nhưng biết đâu đấy, rồi cô cũng sẽ ổn định gia đình; biết đâu suy cho cùng, cô sẽ lấy Perrott. Trong lúc tâm trí bận rộn suy tính về tương lai của cô, làn khói thuốc lá mỏng nhẹ lảng vảng che khuất đi khuôn mặt anh trước ánh mắt cô.

Terence hút thuốc, Arthur hút thuốc và Evelyn cũng hút thuốc, khiến bầu không khí ngập tràn làn sương mờ ảo và hương thơm dìu dịu của những điếu thuốc lá thượng hạng. Trong những khoảng lặng khi chẳng ai cất lời, họ văng vẳng nghe từ đằng xa tiếng sóng biển rì rào vỗ bờ, khi những ngọn sóng lặng lẽ tràn lên phủ một lớp màng nước mỏng manh rồi rút lui để chuẩn bị cho một đợt vỗ khác. Ánh sáng xanh mát rượi xuyên qua những kẽ lá, rải những mảng nắng hình trăng lưỡi liềm và hình thoi mềm mại lên những chiếc đĩa và khăn trải bàn. Bà Thornbury, sau khi lặng lẽ quan sát họ một lúc, bắt đầu ân cần hỏi han Rachel — Khi nào thì tất cả bọn họ quay về? Ồ, họ đang mong ngóng sự xuất hiện của bố cô. Chắc hẳn cô đang rất nóng lòng muốn gặp bố — có biết bao điều để kể với ông, và (bà liếc nhìn Terence đầy vẻ thông cảm) ông ấy chắc chắn sẽ vô cùng hạnh phúc. Nhiều năm trước, bà tiếp tục, có lẽ là mười hay hai mươi năm về trước, bà nhớ mình từng gặp ông Vinrace trong một bữa tiệc, và vì quá ấn tượng với gương mặt khác hẳn những khuôn mặt thông thường vẫn thấy trong các buổi tiệc, bà đã hỏi xem đó là ai và được biết đó chính là ông Vinrace, từ đó bà luôn khắc ghi cái tên ấy — một cái tên thật hiếm hoi — và đi cùng ông là một người phụ nữ, một phu nhân có khuôn mặt vô cùng dịu dàng, nhưng ngặt nỗi đó lại là một trong những bữa tiệc đông đúc chen chúc đến ngạt thở ở London, nơi người ta chẳng thể chuyện trò — chỉ kịp nhìn nhau — và dẫu bà đã bắt tay ông Vinrace, bà nghĩ họ chẳng kịp thốt lên lời nào. Bà khẽ thở dài khi hoài niệm về quá khứ.

Đoạn bà quay sang ông Pepper, người dường như đã trở nên vô cùng quấn quýt với bà đến mức lúc nào cũng chọn chỗ ngồi gần bà và chăm chú lắng nghe, dù bản thân ông hiếm khi đưa ra bình luận nào.

“Là một bách khoa toàn thư sống như ông, anh Pepper,” bà cất lời, “hãy giải thích xem những vị phu nhân Pháp tuyệt vời ấy đã vận hành các salon của họ như thế nào đi? Liệu chúng ta có từng làm điều tương tự ở nước Anh không, hay ông nghĩ có lý do nào đó khiến người Anh chúng ta không thể làm được điều đó?”

Ông Pepper tỏ ra vô cùng hào hứng khi được giảng giải tường tận lý do tại sao nước Anh chưa bao giờ có nổi một salon văn học đúng nghĩa. Có ba lý do, và tất cả đều vô cùng xác đáng, ông nói. Còn về phần bản thân ông, mỗi khi phải tham dự một buổi tiệc — điều mà đôi khi ông buộc phải làm để tránh mất lòng người khác — chẳng hạn như đám cưới của cô cháu gái cách đây không lâu — ông sẽ hiên ngang bước vào giữa phòng, hô to hết cỡ câu “Ha! Ha!”, tự nhạy cảm cho rằng mình đã hoàn thành tròn trách nhiệm rồi lại lững thững bước ra về. Bà Thornbury lên tiếng phản đối. Bà quả quyết sẽ tổ chức ngay một bữa tiệc ngay khi đặt chân về nhà, và tất cả bọn họ đều sẽ được mời, và bà sẽ cử người canh chừng ông Pepper, nếu nghe ngóng được tin ông dám thốt lên câu “Ha! Ha!”, bà sẽ — bà sẽ trừng trị ông một vố thật nhớ đời cho mà xem. Arthur Venning liền góp ý rằng điều bà nên làm là dàn dựng một màn bất ngờ nào đó — chẳng hạn như bức chân dung của một bà cụ phúc hậu đội mũ ren, bên dưới giấu một chậu nước lạnh, chỉ cần một tín hiệu là nước sẽ dội thẳng lên đầu ông Pepper; hoặc chuẩn bị một chiếc ghế sẽ hất tung ông lên cao hai mươi thước ngay khi vừa ngồi xuống.

Susan bật cười. Cô đã dùng xong trà; lòng ngập tràn thỏa nguyện, một phần vì vừa có một trận quần vợt xuất sắc, phần vì ai nấy ở đây đều vô cùng đáng yêu; cô bắt đầu thấy việc trò chuyện trở nên dễ dàng hơn rất nhiều, thậm chí có thể tự tin giữ vững chính kiến ngay cả trước những con người thông minh sắc sảo, bởi không hiểu sao những kẻ thông minh ấy chẳng còn khiến cô sợ hãi nữa. Ngay cả anh Hirst, người từng khiến cô ghét cay ghét đắng trong lần đầu gặp mặt, thực ra cũng chẳng hề khó chịu chút nào; và tội nghiệp anh ta, lúc nào trông cũng xanh xao ốm yếu; biết đâu anh ta đang yêu; biết đâu người anh ta đem lòng yêu chính là Rachel — cô thực sự chẳng lấy làm lạ nếu điều đó xảy ra; hoặc có lẽ là Evelyn — dĩ nhiên cô nàng đó rất có sức hút với đàn ông. Rướn người về phía trước, cô tiếp tục câu chuyện. Cô bảo rằng cô nghĩ sở dĩ những bữa tiệc thường tẻ nhạt chủ yếu là vì mấy quý ông chịu diện đồ chỉnh tề: ngay cả ở London, cô khẳng định, cô vô cùng ấn tượng trước việc mọi người chẳng mảy may thấy việc diện trang phục dạ hội là cần thiết, và dĩ nhiên nếu ở London mà họ còn chẳng thèm mặc chỉnh tề thì ở vùng quê lại càng không. Quả thực là một dịp hiếm hoi vào mùa Giáng sinh khi có những buổi vũ hội săn bắn, và các quý ông mặc những chiếc áo khoác đỏ thật đẹp, nhưng ngặt nỗi Arthur lại chẳng thích khiêu vũ, thế nên cô đoán chắc họ sẽ chẳng thèm bén mảng đến cả buổi khiêu vũ ở thị trấn nông thôn nhỏ bé của mình. Cô cho rằng những ai đã đâm đầu vào một môn thể thao nào đó thì hiếm khi mặn mà với môn khác, dù bố cô là một ngoại lệ. Nhưng ngặt nỗi ông lại là ngoại lệ trong mọi chuyện — một tay làm vườn siêu hạng, thông thuộc mọi loài chim muông thú vật, và dĩ nhiên ông được tất cả các bà cụ trong làng sùng bái hết mực, thế mà thứ ông thực sự say mê nhất lại là sách vở. Bạn luôn biết chắc chắn phải tìm ông ở đâu nếu có việc cần; ông sẽ ngồi lì trong phòng làm việc với một cuốn sách trên tay. Rất có thể đó lại là một cuốn sách cổ lỗ sĩ nào đó, một thứ mốc meo rách nát mà chẳng ai thèm ngó ngàng tới. Cô vẫn hay trêu ông rằng nếu không phải gánh nặng gia đình sáu miệng ăn, ông đã có thể trở thành một mọt sách hạng nặng, mà sáu đứa con thì, cô nói thêm với nụ cười đầy tự tin về sự đồng cảm của mọi người, chẳng chừa cho người ta nhiều thời gian để làm mọt sách là bao.

Vẫn huyên thuyên về người cha mà cô vô cùng tự hào, cô đứng dậy khi Arthur liếc nhìn đồng hồ và nhận ra đã đến lúc họ phải quay lại sân quần vợt. Những người còn lại vẫn ngồi nguyên tại chỗ.

“Họ thật hạnh phúc biết bao!” Bà Thornbury thốt lên, hiền từ dõi theo bóng dáng hai người khuất dần. Rachel gồng mình đồng tình; họ trông thật chắc chắn về bản thân; họ dường như biết rõ chính xác điều mình muốn.

“Cậu có nghĩ họ hạnh phúc không?” Evelyn thì thầm bên tai Terence với giọng điệu nhỏ nhẹ, và cô thầm mong anh sẽ đáp rằng anh không nghĩ họ hạnh phúc; ngặt thay, anh lại bảo rằng họ cũng phải đứng lên thôi — phải về nhà thôi, vì họ lúc nào cũng hay trễ giờ ăn, và bà Ambrose, một người cực kỳ nghiêm khắc và kỹ tính, vốn chẳng thích điều đó. Evelyn liền túm lấy tà váy Rachel và phản đối. Cớ sao phải về sớm thế? Trời vẫn còn sớm chán, và cô còn bao nhiêu là chuyện muốn tâm sự với họ cơ mà. “Không,” Terence đáp, “chúng tôi phải về thôi, vì chúng tôi đi chậm lắm. Chúng tôi hay dừng lại ngắm nghía mọi thứ, rồi còn trò chuyện nữa.”

“Hai cậu trò chuyện gì cơ chứ?” Evelyn gặng hỏi, nghe vậy anh liền bật cười và bảo rằng họ trò chuyện về mọi thứ trên đời.

Bà Thornbury sóng bước cùng họ ra đến cổng, thong thả lướt đi vô cùng duyên dáng trên thảm cỏ và lối sỏi, miệng không ngớt bàn luận về hoa cỏ chim muông. Bà kể rằng từ khi con gái lập gia đình, bà đã bắt đầu tập tành nghiên cứu thực vật học, và thật kỳ diệu là có biết bao nhiêu loài hoa mà bà chưa từng thấy bao giờ, dẫu bà đã sống ở vùng quê suốt cả cuộc đời và năm nay đã bước sang tuổi bảy mươi hai. Có được một công việc bận rộn hoàn toàn độc lập với những người xung quanh quả là một điều tuyệt vời khi người ta về già, bà nói thế. Nhưng điều kỳ cục là người ta chẳng bao giờ cảm thấy mình già đi cả. Bà lúc nào cũng đinh ninh mình mới twenty-five tuổi, không lệch đi một ngày nào, nhưng dĩ nhiên, người ta chẳng thể bắt thiên hạ phải hùa theo suy nghĩ đó được.

“Thật tuyệt vời làm sao khi được ở tuổi hai mươi lăm, chứ không chỉ là tưởng tượng rằng mình đang ở tuổi hai mươi lăm,” bà nói, ánh mắt rạng ngời, êm dịu đảo từ người này sang người khác. “Thật sự rất tuyệt vời, vô cùng tuyệt vời.” Bà đứng trò chuyện với họ bên cổng một hồi lâu; có vẻ như bà chẳng nỡ để họ ra đi.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.