Sáng sớm hôm sau, có tiếng lách cách như xiềng xích bị kéo lê thô bạo ngay trên đầu; trái tim đều đặn của con tàu Euphrosyne từ từ ngừng đập; và Helen, khi nhô đầu lên khỏi boong tàu, nhìn thấy một toà lâu đài bất động nằm trên một ngọn đồi bất động. Họ đã thả neo ngay cửa sông Tagus, và thay vì rẽ sóng tiến về phía trước mãi mãi, những con sóng cũ cứ quay lại vỗ vào mạn tàu.
Ngay sau bữa sáng, Willoughby biến mất qua mạn tàu, tay xách chiếc cặp da màu nâu, lớn tiếng dặn với lại rằng mọi người phải chú ý cư xử cho đúng mực, bởi vì anh sẽ phải ở lại Lisbon để giải quyết công việc cho đến tận năm giờ chiều hôm đó.
Vào khoảng giờ đó, anh quay lại, tay vẫn xách chiếc cặp, tự nhận là bản thân đang mệt mỏi, phiền muộn, đói khát, lạnh lẽo và đang rất cần một ly trà. Xoa xoa hay tay vào nhau, anh kể cho họ nghe những cuộc phiêu lưu trong ngày: nào là anh đã bắt gặp lão Jackson tội nghiệp đang chải râu trước tấm gương trong văn phòng, hoàn toàn không ngờ tới sự xuất hiện đột ngột của anh, liền bắt lão ta làm việc suốt cả một buổi sáng với khối lượng công việc hiếm khi nào lão phải gánh chịu; rồi sau đó đãi lão một bữa trưa gồm rượu sâm banh và chim sơn ca; ghé thăm bà Jackson, người nay còn béo hơn trước, tội nghiệp bà ấy, nhưng vẫn ân cần hỏi thăm Rachel—và trời ạ, lão Jackson nhỏ con ấy đã thú nhận một chuyện ngu ngốc đến mức khó hiểu—thôi thì, chắc cũng chẳng hại gì, nhưng rốt cuộc anh ra lệnh để làm gì nếu chúng bị phớt lờ ngay lập tức cơ chứ? Anh đã nói rõ ràng là chuyến này anh sẽ không nhận khách đi nhờ. Đến đây, anh bắt đầu lục lọi túi áo và cuối cùng tìm thấy một tấm danh thiếp, liền đập mạnh xuống bàn trước mặt Rachel. Trên đó, cô đọc được dòng chữ: “Ông bà Richard Dalloway, số 23 phố Browne, Mayfair.”
Vinrace nói tiếp: “Ông Richard Dalloway có vẻ là một kẻ nghĩ rằng vì hắn từng là nghị sĩ quốc hội, lại có vợ là con gái một vị quý tộc, nên bọn họ muốn gì được nấy chỉ bằng cách cất lời. Bọn chúng đã xoay sở qua mặt được lão Jackson tội nghiệp bằng cách nào đó. Nào là đòi phải có vé—rồi đưa ra một lá thư của Nam tước Glenaway, nhờ tôi giúp đỡ như một ân huệ cá nhân—bác bỏ mọi phản đối của Jackson (tôi không nghĩ là lão phản đối được mấy), và thế là chẳng còn cách nào khác ngoài việc đành chịu thua, tôi đoán vậy.”
Nhưng rõ ràng là vì lý do này hay lý do khác, Willoughby lại cảm thấy rất hài lòng khi được chịu thua, dù anh ta cố bày ra vẻ mặt làu bàu cằn nhằn.
Sự thật là ông bà Dalloway đang thấy mình bị mắc kẹt ở Lisbon. Họ đã đi du lịch ở lục địa vài tuần nay, chủ yếu nhằm mục đích mở rộng tầm hiểu biết cho ông Dalloway. Do tạm thời không thể phụng sự đất nước tại Nghị viện vì một biến cố ngẫu nhiên trong đời sống chính trị, ông Dalloway đang cố gắng làm những gì tốt nhất để phụng sự đất nước ngoài nghị viện. Vì mục đích đó, các nước theo văn hóa Latinh tỏ ra rất thích hợp, mặc dù phương Đông, tất nhiên, sẽ còn tuyệt vời hơn nữa.
“Cứ chờ mà nghe tin tôi ở St. Petersburg hay Tehran nhé,” ông từng nói vậy khi quay đầu vẫy tay chào tạm biệt từ bậc thềm câu lạc bộ Travellers'. Nhưng một căn bệnh đã bùng phát ở phương Đông, dịch tả xuất hiện ở Nga, và người ta nghe tin về ông, không hề lãng mạn chút nào, ở ngay Lisbon. Họ đã đi qua nước Pháp; ông dừng chân ở các trung tâm công nghiệp, nơi với những bức thư giới thiệu trong tay, ông được dẫn đi tham quan các nhà xưởng và ghi chép các số liệu vào một cuốn sổ tay. Tại Tây Ban Nha, ông và bà Dalloway đã cưỡi la, bởi họ muốn tìm hiểu đời sống của những người nông dân thực tế ra sao. Liệu họ đã sẵn sàng cho một cuộc nổi dậy hay chưa, chẳng hạn thế? Bà Dalloway sau đó nán lại Madrid một hai ngày chỉ để ngắm tranh. Cuối cùng, họ đến Lisbon và trải qua sáu ngày mà trong một cuốn nhật ký được phát hành riêng tư sau đó, họ mô tả là có “sức hấp dẫn độc nhất vô nhị”. Richard có các buổi yết kiến với các bộ trưởng, và tiên đoán một cuộc khủng hoảng sẽ nổ ra trong một tương lai không xa, “khi mà nền tảng của chính phủ đã mục nát đến tận gốc rễ. Thế nhưng sao có thể trách cứ, v.v.”; trong khi Clarissa đi thanh tra chuồng ngựa hoàng gia, chụp vài bức ảnh về những người giờ đây đã bị lưu đày và những ô cửa sổ giờ đây đã vỡ nát. Trong số những thứ khác, cô chụp ảnh ngôi mộ của Fielding, và thả tự do cho một chú chim nhỏ mà kẻ côn đồ nào đó đã bẫy được, “bởi vì người ta thấy ghê tởm khi nghĩ đến việc có bất kỳ sinh vật nào bị nhốt trong lồng nơi những người Anh yên nghỉ,” cuốn nhật ký ghi lại. Chuyến du lịch của họ hoàn toàn khác thường và chẳng tuân theo một kế hoạch tính toán nào cả. Các phóng viên thường trú nước ngoài của tờ Times quyết định lộ trình của họ nhiều hơn bất cứ thứ gì khác. Ông Dalloway muốn quan sát một số loại súng ống, và cho rằng bờ biển châu Phi tình hình còn bất ổn hơn nhiều so với những gì người ở nhà vẫn tưởng. Vì những lý do này, họ muốn tìm một con tàu chậm chạp, tò mò tìm hiểu mọi thứ, thoải mái một chút vì họ vốn say sóng, nhưng lại không quá xa xỉ, một con tàu sẽ ghé lại cảng này cảng nọ một hai ngày để tiếp thêm than trong lúc vợ chồng Dalloway tự mình đi khám phá đó đây. Trong khi đó, họ lại thấy mình bị mắc kẹt ở Lisbon, tạm thời chưa thể tìm ra chính xác con tàu mà họ muốn. Họ nghe nói về con tàu Euphrosyne, nhưng cũng nghe rằng nó vốn là tàu chở hàng và chỉ nhận hành khách theo thỏa thuận đặc biệt, công việc chính của nó là chở hàng khô đến lưu vực sông Amazon và mang cao su trở về. Tuy nhiên, cụm từ “theo thỏa thuận đặc biệt” lại là một sự khích lệ lớn lao đối với họ, bởi họ xuất thân từ một tầng lớp mà hầu như mọi thứ đều được sắp xếp theo ý riêng, hoặc có thể làm thế nếu cần thiết. Trong trường hợp này, tất cả những gì Richard làm chỉ là viết một bức thư gửi Nam tước Glenaway, người đứng đầu hãng tàu mang tước hiệu của ông; đến gặp lão Jackson tội nghiệp; trình bày với lão rằng bà Dalloway là người thế này thế nọ, còn bản thân ông từng giữ chức này chức kia, và thứ họ muốn là thế này thế nọ. Thế là mọi chuyện xong xuôi. Họ chia tay trong những lời ca tụng và sự hài lòng từ cả hai phía, và rồi ở đây, một tuần sau đó, con tàu tiến đến mạn tàu lớn trong ánh chiều chập choạng với vợ chồng Dalloway ở trên boong; chỉ trong ba phút, họ đã đứng bên nhau trên boong tàu Euphrosyne. Sự xuất hiện của họ, tất nhiên, đã tạo ra đôi chút xôn xao, và qua nhiều cặp mắt chứng kiến, người ta nhận ra bà Dalloway là một phụ nữ cao và mảnh khảnh, thân hình quấn trong áo lông thú, đầu đội voan che mặt, trong khi ông Dalloway có vẻ là một người đàn ông vóc dáng trung bình, lực lưỡng, ăn mặc giống như một tay thể thao đang đi săn trên vùng hoang mạc mùa thu. Rất nhiều chiếc túi da dày dặn màu nâu trầm nhanh chóng vây quanh họ, chưa kể ông Dalloway còn xách theo một chiếc hộp đựng công văn, còn vợ ông mang một chiếc va li đựng đồ trang điểm gợi liên tưởng đến những chuỗi vòng kim cương và những chiếc lọ nắp bạc.
“Trông giống hệt tranh của Whistler làm sao!” cô thốt lên, vừa vẫy tay về phía bờ biển vừa bắt tay Rachel, và Rachel chỉ có kịp nhìn thoáng qua những ngọn đồi xám xịt ở một bên trước khi Willoughby giới thiệu bà Chailey, người đã đưa vị phu nhân về cabin của mình.
Dù có vẻ chỉ diễn ra trong chốc lát, nhưng sự gián đoạn đó thực sự gây xáo trộn; mọi người ít nhiều đều cảm thấy khó chịu vì nó, từ ông Grice, người quản lý, cho đến chính Ridley. Vài phút sau, Rachel đi ngang qua phòng hút thuốc và thấy Helen đang dịch chuyển những chiếc ghế bành. Bà hoàn toàn bị cuốn hút vào việc sắp xếp của mình, và khi nhìn thấy Rachel, bà thì thầm với vẻ tâm sự:
“Nếu người ta có thể dành cho đàn ông một căn phòng riêng để họ ngồi vào đó, thì chẳng có gì tuyệt bằng. Ghế bành là những thứ quan trọng nhất—” Bà bắt đầu đẩy chúng đi vòng vòng. “Nào, trông nó còn giống quán bar ở nhà ga nữa không?”
Bà giật phăng tấm vải nhung phủ trên bàn. Diện mạo của căn phòng đã được cải thiện một cách kỳ diệu.
Một lần nữa, sự xuất hiện của những vị khách lạ khiến Rachel nhận ra, khi giờ ăn tối đến gần, rằng cô phải thay trang phục; và tiếng chuông lớn vang lên tìm thấy cô đang ngồi bên mép giường, ở vị trí mà chiếc gương nhỏ phía trên bồn rửa mặt phản chiếu phần đầu và vai cô. Trong gương, cô mang một vẻ u sầu căng thẳng, bởi vì cô đã đi đến một kết luận đầy chán nản kể từ khi vợ chồng Dalloway xuất hiện, rằng khuôn mặt của mình không phải là khuôn mặt cô mong muốn, và có lẽ chẳng bao giờ được như vậy.
Tuy nhiên, sự đúng giờ đã được khắcim sâu vào đầu cô, và dù có khuôn mặt thế nào đi nữa, cô vẫn phải vào ăn tối.
Khoảng thời gian ngắn ngủi ấy đã được Willoughby tận dụng để phác họa cho vợ chồng Dalloway biết về những người họ sắp gặp, đồng thời đếm trên đầu ngón tay giới thiệu từng người một.
“Kia là anh rể tôi, Ambrose, một học giả (chắc các anh chị đã từng nghe tên ông ấy), vợ của ông ấy, và bạn cũ của tôi Pepper, một anh chàng rất ít nói nhưng tôi nghe nói là biết tuốt. Chỉ có vậy thôi. Chúng tôi đi một nhóm rất nhỏ. Tôi sẽ thả họ xuống dọc bờ biển.”
Bà Dalloway, với đầu hơi nghiêng sang một bên, cố gắng hết sức để nhớ lại cái tên Ambrose—đó có phải là họ không?—nhưng bất thành. Cô cảm thấy hơi bất an trước những gì vừa nghe. Cô biết rằng các học giả có thể kết hôn với bất kỳ ai—những cô gái họ gặp ở các trang trại trong những chuyến đi học nhóm; hoặc những phụ nữ ngoại ô nhỏ bé từng thốt lên với vẻ khó chịu: “Tất nhiên tôi biết người anh muốn là chồng tôi chứ không phải tôi.”
Nhưng đúng lúc đó Helen bước vào, và bà Dalloway thở phào nhẹ nhõm khi thấy dù bề ngoài có chút kỳ quặc, bà ấy không hề lôi thôi, dáng đi đứng đàng hoàng, và giọng nói mang sự kiềm chế mà cô cho là dấu hiệu của một người phụ nữ quyền quý. Riêng ông Pepper thì chẳng thèm thay bộ đồ vừa gọn gàng vừa xấu xí của mình.
“Nhưng suy cho cùng,” Clarissa tự nhủ khi đi theo Vinrace vào phòng ăn, “thực ra ai cũng thú vị cả.”
Khi ngồi vào bàn, cô thực sự cần đến sự trấn an ấy, chủ yếu là vì Ridley, người đến muộn, trông có vẻ phờ phạc hết sức và cặm cụi húp súp với một vẻ ảm đạm tột cùng.
Một tín hiệu vô hình vụt qua giữa hai vợ chồng, ngầm hiểu rằng họ đã nắm bắt tình hình và sẽ trung thành sát cánh bên nhau. Gần như không một nhịp dừng, bà Dalloway quay sang Willoughby và bắt đầu:
“Điều tôi thấy phiền toái nhất ở biển là chẳng có lấy một bông hoa nào ở dưới đó. Hãy tưởng tượng những cánh đồng hoa thúng quỳ và hoa violet giữa đại dương xem! Thật là diệu kỳ làm sao!”
“Nhưng lại hơi nguy hiểm cho việc điều hướng tàu bè đấy,” giọng Richard trầm ấm vang lên, nghe như tiếng kèn bassoon đệm cho tiếng đàn vĩ cầm của vợ anh. “Mà này, rong rêu đôi khi cũng đủ gây phiền toái rồi phải không, Vinrace? Tôi nhớ có lần đi chuyến tàu Mauretania và hỏi thuyền trưởng—Richards—anh có biết ông ấy không?—‘Nào, xin hãy nói cho tôi biết mối nguy hiểm nào mà ông thực sự sợ nhất đối với con tàu của mình, Thuyền trưởng Richards?’, lúc đó tôi cứ nghĩ ông ấy sẽ đáp là băng trôi, hoặc tàu bỏ hoang, sương mù, hay đại loại thế. Không đời nào. Tôi vẫn mãi ghi nhớ câu trả lời của ông ấy. ‘Sedgius aquatici,’ ông ấy nói thế, mà tôi cho là một loại bèo nước nào đó.”
Ông Pepper ngẩng phắt đầu lên, toan đặt câu hỏi thì Willoughby tiếp lời:
“Bọn họ có một khoảng thời gian tồi tệ làm sao—những người thuyền trưởng ấy! Ba ngàn linh hồn trên tàu cơ mà!”
“Thật vậy,” Clarissa nói. Cô quay sang Helen với vẻ mặt đầyâm trầm sâu sắc. “Tôi đoan chắc là mọi người đã lầm khi bảo rằng chính công việc mới là thứ vắt kiệt sức lực con người; mà là trách nhiệm. Có lẽ đó là lý do vì sao người ta trả lương cho đầu bếp cao hơn người hầu phòng, tôi đoán thế.”
“Dựa theo lý luận đó, người ta phải trả lương cho bảo mẫu gấp đôi; nhưng thực tế thì không,” Helen nói.
“Không; nhưng hãy nghĩ xem thật hạnh phúc biết bao khi được chăm sóc những đứa trẻ, thay vì những chiếc nồi xoong!” bà Dalloway nói, nhìn với vẻ đầy hứng thú hơn về phía Helen, một người có khả năng làm mẹ.
“Tôi thà làm đầu bếp còn hơn làm bảo mẫu,” Helen nói. “Không gì có thể dụ dỗ tôi nhận trông nom trẻ con.”
“Các bà mẹ lúc nào cũng phóng đại mọi chuyện,” Ridley nói. “Một đứa trẻ được giáo dục tốt chẳng mang lại chút trách nhiệm nào cả. Tôi đã đi khắp châu Âu cùng bọn trẻ nhà mình. Anh chỉ cần quấn chúng thật ấm rồi nhét lên giá hành lý là xong.”
Helen bật cười trước câu nói đó. Bà Dalloway thốt lên, hướng ánh nhìn về phía Ridley:
“Đúng là tính cách của một người cha! Chồng tôi cũng y hệt vậy. Thế mà người ta cứ hay nói về sự bình quyền nam nữ!”
“Có ai nói thế sao?” ông Pepper cất giọng.
“Ồ, có chứ, nhiều người là đằng khác!” Clarissa kêu lên. “Kỳ họp quốc hội vừa rồi, chồng tôi chiều nào cũng phải bước qua một phu nhân đang giận dữ mà tôi tưởng bà ấy chẳng nói gì khác ngoài chuyện đó.”
“Bà ta ngồi ngay bên ngoài tòa nhà; trông vô cùng kỳ cục,” Dalloway nói.
“Cuối cùng tôi đành lấy hết can đảm và nói với bà ấy rằng: ‘Này thưa bà, bà chỉ đang vướng chân vướng cẳng ở chỗ đó thôi. Bà vừa cản trở tôi, mà bản thân bà cũng chẳng được ích lợi gì.’”
“Và rồi bà ta túm lấy vách áo anh ấy, suýt nữa thì cào rách cả mắt—” bà Dalloway xen vào.
“Nào—chuyện đó đã bị phóng đại lên rồi,” Richard nói.
“Không, thú thực là tôi thấy thương hại họ. Cảm giác khó chịu khi phải ngồi trên những bậc thềm đó chắc là kinh khủng lắm.”
“Đáng đời lắm,” Willoughby cụt ngủn đáp.
“Ồ, tôi hoàn toàn đứng về phía anh,” Dalloway nói. “Không ai có thể lên án sự ngu ngốc và vô nghĩa tột cùng của hành vi đó mạnh mẽ hơn tôi; còn về toàn bộ phong trào vận động kia á, chà! Cầu trời cho tôi xuống mồ trước khi phụ nữ ở nước Anh có quyền bỏ phiếu! Tôi chỉ nói thế thôi.”
Sự nghiêm trang trong lời tuyên bố của chồng khiến Clarissa trở nên trầm ngâm.
“Thật không thể tưởng nổi,” cô nói. “Đừng có bảo với tôi là anh cũng ủng hộ phong trào phụ nữ đòi quyền bầu cử đấy nhé?” cô quay sang hỏi Ridley.
“Tôi chẳng mảy quan tâm đến quái quỷ gì sất, dù thế này hay thế khác,” Ambrose đáp. “Nếu có sinh vật nào lại ảo tưởng rằng lá phiếu mang lại lợi ích gì cho hắn hoặc ả ta, cứ việc cho hắn ta lá phiếu ấy. Chẳng mấy chốc hắn sẽ sáng mắt ra thôi.”
“Xem ra anh không phải là một chính trị gia rồi,” cô mỉm cười.
“Chúa ơi, không đời nào,” Ridley nói.
“Tôi e rằng chồng cô sẽ không đồng tình với tôi đâu,” Dalloway nói nhỏ với bà Ambrose. Cô chợt nhớ ra rằng ông từng là nghị sĩ quốc hội.
“Anh có bao giờ thấy nó khá nhàm chán không?” cô hỏi, vì không biết phải nói gì chính xác.
Richard xòe rộng hai bàn tay ra trước mặt, như thể đang đọc những dòng chữ khắc trên lòng bàn tay vậy.
“Nếu cô hỏi tôi rằng có bao giờ tôi thấy nó hơi nhàm chán không,” ông đáp, “tôi buộc phải trả lời là có; mặt khác, nếu cô hỏi tôi rằng xét cho cùng, giữa cái tốt và cái xấu, nghề nghiệp nào đáng tận hưởng và đáng ganh tị nhất, chưa kể đến khía cạnh nghiêm túc hơn của nó, trong số tất cả các nghề dành cho đàn ông, tôi buộc phải nói rằng đó là ‘nghề chính trị gia’.”
“Nghề luật sư hoặc chính trị, tôi đồng ý,” Willoughby nói. “Anh sẽ thu lại được nhiều lợi ích hơn so với số tiền bỏ ra.”
“Mọi khả năng của con người đều được phát huy triệt để,” Richard nói. “Có lẽ tôi đang chạm vào một vấn đề nhạy cảm; nhưng điều tôi cảm nhận về các nhà thơ và nghệ sĩ nói chung là thế này: trong lĩnh vực riêng của các vị, các vị không thể bị đánh bại—điều đó tôi công nhận; nhưng ngoài lĩnh vực đó ra—phụt—người ta lại phải châm chước bỏ qua. Này nhé, tôi sẽ không thích thú gì nếu nghĩ rằng có ai đó phải châm chước bỏ qua cho mình.”
“Em không hoàn toàn đồng ý đâu, Richard,” bà Dalloway nói. “Hãy nghĩ về Shelley xem. Em cảm thấy hầu như có tất cả những gì người ta cần ở trong ‘Adonais’.”
“Cứ đọc ‘Adonais’ thoải mái đi,” Richard nhượng bộ. “Nhưng bất cứ khi nào nghe nhắc đến Shelley, tôi lại tự nhủ lời của Matthew Arnold: ‘Đúng là một lũ! Thật là một lũ!’”
Câu nói này đã khơi gợi sự chú ý của Ridley. “Matthew Arnold? Quả là một kẻ đạo đức giả đáng ghét!” ông cáu kỉnh đáp.
“Một kẻ đạo đức giả—tôi công nhận,” Richard nói; “nhưng hắn là một con người từng trải. Đó chính là điều tôi muốn nhấn mạnh. Chúng tôi, những chính trị gia, chắc chắn trong mắt các vị” (ông lờ mờ nhận ra Helen là đại diện cho giới nghệ thuật) “chỉ là một đám người thô tục và tầm thường; nhưng chúng tôi nhìn nhận sự việc từ cả hai phía; chúng tôi có thể vụng về, nhưng chúng tôi luôn cố gắng hết sức để nắm bắt vấn đề. Còn các nghệ sĩ các vị thấy mọi chuyện rối ren, liền nhún vai, quay lưng đi với những ảo ảnh của mình—tôi công nhận là chúng có thể rất đẹp—và mặc kệ mọi thứ rối tung lên. Điều đó đối với tôi giống như sự trốn tránh trách nhiệm. Hơn nữa, đâu phải ai sinh ra cũng có sẵn năng khiếu nghệ thuật.”
“Thật là khủng khiếp,” bà Dalloway nói, người trong lúc chồng nói chuyện vẫn đang mải suy nghĩ. “Khi ở bên các nghệ sĩ, tôi cảm nhận sâu sắc làm sao niềm hạnh phúc khi được giam mình trong một thế giới nhỏ bé của riêng ta, với tranh ảnh, âm nhạc và mọi thứ đẹp đẽ, để rồi khi bước ra đường, đứa trẻ đầu tiên tôi gặp với khuôn mặt lem luếch, đói khát và tội nghiệp lại khiến tôi phải quay đầu lại và thốt lên: ‘Không, mình không thể giam mình lại—mình không muốn sống trong một thế giới của riêng mình. Mình muốn dẹp hết mọi tranh vẽ, chữ nghĩa và âm nhạc cho đến khi cái cảnh tượng thế này không còn tồn tại nữa.’ Chị có cảm thấy,” cô kết luận khi hướng về phía Helen, “rằng cuộc đời là một cuộc chiến đấu vĩnh cửu không?” Helen trầm ngâm trong giây lát. “Không,” cô nói. “Tôi không nghĩ vậy.”
Có một khoảng lặng trôi qua, vô cùng khó chịu. Bà Dalloway liền rùng mình một cái rồi hỏi xem cô có thể cho người mang chiếc áo choàng lông thú ra cho mình được không. Khi chỉnh lại lớp lông màu nâu mềm mại quanh cổ, một chủ đề mới chợt lóe lên trong đầu cô.
“Thú thật,” cô nói, “tôi sẽ không bao giờ quên vở Antigone. Tôi đã xem nó ở Cambridge cách đây nhiều năm, và nó ám ảnh tôi mãi cho đến tận bây giờ. Anh có nghĩ đó là tác phẩm hiện đại nhất mà anh từng xem không?” cô hỏi Ridley. “Tôi cảm thấy mình đã từng quen biết tới tận hai mươi nhân vật Clytemnestra. Cụ bà Ditchling là một ví dụ. Tôi chẳng biết một chữ Hy Lạp nào, nhưng tôi có thể ngồi nghe nó hoài không chán—”
Đến đây, ông Pepper cất giọng ngâm nga:
πολλὰ τὰ δεινά,
κοὐδὲν ἀν-
θρώπου
δεινότερον
πέλει.
τοῦτο καὶ
πολιοῦ πέραν
πόντου
χειμερίῳ
νότῳ
χωρεῖ,
περιβρυχίοισι
περῶν ὑπ᾽
οἴδμασι.
Bà Dalloway nhìn ông với đôi môi mím chặt.
“Tôi sẵn sàng đánh đổi mười năm cuộc đời để biết tiếng Hy Lạp,” cô nói khi ông đọc xong.
“Tôi có thể dạy cô bảng chữ cái chỉ trong nửa tiếng,” Ridley nói, “và cô sẽ đọc được Homer trong một tháng. Tôi coi đó là một vinh hạnh khi được chỉ dạy cho cô.”
Helen, đang bận tâm với ông Dalloway và thói quen trích dẫn tiếng Hy Lạp vốn đã lỗi thời tại Hạ viện, liền ghi chép vào cuốn sổ tay thông thường vẫn mở sẵn bên cạnh chúng ta trong lúc trò chuyện rằng tất cả đàn ông, thậm chí cả những người như Ridley, thực chất vẫn thích phụ nữ phải có gu thời trang hơn.
Clarissa kêu lên rằng cô không thể nghĩ ra điều gì thú vị hơn thế. Trong chớp mắt, cô đã hình dung ra cảnh mình đang ở trong phòng khách trên phố Browne với cuốn sách tiếng Plato mở trên đầu gối—cuốn Plato nguyên bản bằng tiếng Hy Lạp. Cô không thể không tin rằng một học giả thực thụ, nếu đặc biệt quan tâm, hoàn toàn có thể nhồi nhét tiếng Hy Lạp vào đầu cô mà chẳng tốn chút công sức nào.
Ridley hẹn cô ngày mai sẽ bắt đầu.
“Giá như con tàu của các anh chịu đối xử tử tế với chúng tôi!” cô kêu lên, kéo Willoughby vào câu chuyện. Vì thể diện với khách khứa, lại là những vị khách vô cùng nổi tiếng, Willoughby sẵn sàng gật đầu bảo đảm cho cả sự ngoan ngoãn của những con sóng.
“Tôi cực kỳ hay say sóng; và chồng tôi cũng chẳng khá hơn là mấy,” Clarissa thở dài.
“Tôi chưa bao giờ bị say sóng cả,” Richard giải thích. “Ít ra thì tôi mới chỉ thực sự bị say sóng có đúng một lần,” ông đính chính lại. “Đó là lúc vượt qua eo biển Manche. Nhưng tôi thừa nhận là một vùng biển động mạnh, hoặc tệ hơn nữa là sóng lừng, sẽ khiến tôi cảm thấy vô cùng khó chịu. Điều quan trọng nhất là không bao giờ được bỏ bữa. Cô nhìn thức ăn và thưa rằng: ‘Tôi chịu không ăn nổi’; cô cắn một miếng, và Chúa mới biết làm sao cô nuốt trôi nó; nhưng cứ kiên trì, và rồi cô thường trị dứt điểm cơn say sóng ấy vĩnh viễn. Vợ tôi là một kẻ nhát gan.”
Họ đang đẩy ghế lùi lại. Các vị phu nhân chần chừ ở ngưỡng cửa.
“Tôi đi trước dẫn đường nhé,” Helen nói bước lên trước.
Rachel đi theo sau. Cô đã không tham gia vào cuộc trò chuyện; chẳng ai thèm nói câu nào với cô; nhưng cô đã lắng nghe từng lời được thốt lên. Cô đưa mắt nhìn từ bà Dalloway sang ông Dalloway, rồi từ ông Dalloway nhìn trở lại. Quả thực, Clarissa là một nhân vật đầy sức hút. Cô mặc một chiếc váy trắng và đeo một chuỗi vòng cổ lấp lánh dài. Cùng với trang phục ấy và khuôn mặt kiều diễm, tinh tế phớt hồng tuyệt mỹ bên dưới mái tóc đang điểm bạc, cô trông kinh ngạc giống hệt một kiệt tác hội họa thế kỷ mười tám—của trường phái Reynolds hay Romney. Cô khiến Helen và những người khác bỗng trở nên thô kệch và lôi thôi lếch thếch khi đứng cạnh cô. Ngồi thẳng người với dáng vẻ nhẹ nhàng, cô như đang xoay sở với cả thế giới theo ý mình muốn; quả địa cầu to lớn và vững chãi ấy cứ quay vòng theo chiều này hay chiều khác ngay dưới những đầu ngón tay cô. Và cả chồng cô nữa! Ông Dalloway với giọng nói trầm ấm, giàu cảm xúc và khoan thai ấy còn gây ấn tượng mạnh mẽ hơn nhiều. Ông có vẻ bước ra từ cái tâm hồn rền rĩ đầy hơi dầu của cỗ máy nơi những thanh truyền bóng loáng đang trượt đi, và những pít-tông đang thình thịch đập; ông nắm bắt mọi sự vật vừa chắc chắn lại vừa phóng khoáng; ông khiến những người khác trông giống như những bà cô già đang kỳ kèo mua món hàng vụn giá rẻ. Rachel bước theo sau nhóm các bà, tựa như đang trong cơn mộng du; một mùi hương hoa violet thoang thoảng tỏa ra từ người bà Dalloway, hòa quyện với tiếng váy áo sột soạt dịu êm và tiếng lanh canh của những sợi dây chuyền. Vừa bước theo, Rachel vừa suy nghĩ với sự tự ti tột cùng, ngẫm lại toàn bộ quãng đời của mình và cuộc đời của tất cả bạn bè: “Bà ấy bảo chúng ta sống trong một thế giới của riêng mình. Đúng thế thật. Chúng ta thật ngớ ngẩn làm sao.”
“Chúng ta ngồi ở trong này,” Helen nói khi đẩy cửa phòng khách lớn bước vào.
“Chị biết chơi đàn chứ?” bà Dalloway hỏi bà Ambrose khi cầm lấy bản phổ vở Tristan đang đặt trên bàn.
“Cháu gái tôi biết,” Helen nói, đặt tay lên vai Rachel.
“Ôi, tôi ghen tị với cô biết bao!” Clarissa lần đầu tiên bắt chuyện trực tiếp với Rachel. “Cô có nhớ đoạn này không? Tuyệt diệu làm sao chứ nhỉ?” Cô đánh vài nốt nhạc bằng những ngón tay đeo nhẫn trên trang giấy.
“Và rồi Tristan cất lên thế này, còn Isolde—ôi!—quá là ly kỳ! Cô đã đến Bayreuth bao giờ chưa?”
“Chưa, tôi chưa đi bao giờ,” Rachel đáp.
“Thế thì điều đó hãy còn ở phía trước. Tôi sẽ không bao giờ quên buổi biểu diễn Parsifal đầu tiên của mình—một ngày tháng Tám oi bức, và những bà già người Đức béo ú kéo đến trong những chiếc váy cao cổ ngột ngạt, rồi nhà hát chìm trong bóng tối, âm nhạc vang lên, và người ta không tài nào kìm được những giọt nước mắt nghẹn ngào. Tôi nhớ có một người đàn ông tốt bụng đã đi lấy nước cho tôi; và tôi chỉ biết khóc vùi lên vai anh ấy! Nó nghẹn lại ở ngay đây này” (cô chạm tay vào cổ họng). “Không gì trên đời này sánh được! Thế đàn piano của các người đâu?”
“Nó ở phòng khác cơ,” Rachel giải thích.
“Nhưng cô sẽ đàn cho chúng tôi nghe chứ?” Clarissa khẩn khoản. “Tôi chẳng thể tưởng tượng được điều gì tuyệt vời hơn việc ngồi dưới ánh trăng và lắng nghe âm nhạc—chỉ là nghe có vẻ giống mấy cô nữ sinh quá! Cô biết đấy,” cô vừa nói vừa quay sang Helen, “tôi không nghĩ âm nhạc hoàn toàn tốt cho con người ta đâu—tôi e là vậy.”
“Bởi vì nó gây căng thẳng quá lớn sao?” Helen hỏi.
“Chẳng hiểu sao nó lại quá nhiều cảm xúc,” Clarissa đáp. “Người ta nhận ra điều đó ngay lập tức khi một cậu thiếu niên hay cô thiếu nữ theo đuổi nghệ thuật âm nhạc chuyên nghiệp. Ngài William Broadley cũng đã nói với tôi y như vậy. Chị có ghét cái kiểu làm hàng làm thịt mà người ta bày đặt ra mỗi khi thưởng thức nhạc Wagner không—kiểu như thế này—” Cô ngước mắt lên trần nhà, đắp hai tay trước ngực và ra vẻ đăm chiêu sâu sắc. “Thực ra điều đó chẳng có nghĩa là họ thưởng thức ông ấy; trên thực tế, tôi luôn nghĩ ngược lại. Những người thực sự quan tâm đến một loại hình nghệ thuật lúc nào cũng là những kẻ ít ra vẻ nhất. Cô có biết Henry Philips, người họa sĩ không?” cô hỏi.
“Tôi có thấy ông ấy rồi,” Helen đáp.
“Nhìn bề ngoài, người ta có thể tưởng ông ấy là một tay môi giới chứng khoán thành đạt chứ không phải là một trong những họa sĩ vĩ đại nhất thời đại. Đó mới là điều tôi thích.”
“Có rất nhiều tay môi giới chứng khoán thành đạt đấy, nếu cô thích ngắm nhìn họ,” Helen nói.
Rachel vô cùng ao ước bà cô của mình đừng tỏ ra trái khoáy như thế.
“Khi nhìn thấy một nhạc sĩ để tóc dài, chẳng phải theo bản năng cô sẽ biết ngay hắn là kẻ tồi tệ hay sao?” Clarissa hỏi, quay sang phía Rachel. “Watts và Joachim—trông họ chẳng khác gì cô với tôi cả.”
“Và trông họ sẽ còn dễ thương biết bao nhiêu nếu để tóc uốn lọn!” Helen nói. “Vấn đề là, các cô có định hướng tới cái đẹp hay không?”
“Sự sạch sẽ!” Clarissa nói. “Tôi thực sự muốn một người đàn ông trông phải sạch sẽ!”
“Ý cô sạch sẽ ở đây thực chất là trang phục được cắt may hoàn hảo,” Helen nói.
“Có những thứ mà nhìn vào đó người ta nhận ra một quý ông,” Clarissa nói, “nhưng người ta lại chẳng thể nói đó là thứ gì.”
“Lấy chồng tôi ra mà xem, anh ấy trông có giống một quý ông không?”
Câu hỏi đó đối với Clarissa mang sự kém tinh tế đến lạ lùng. “Một trong những điều không thể thốt ra,” cô hẳn sẽ đáp như vậy. Cô chẳng tìm được câu trả lời nào ngoài một tiếng cười.
“Thôi, dù sao đi nữa,” cô nói, quay sang Rachel, “tôi sẽ nhất quyết đòi cô đàn cho tôi nghe vào ngày mai.”
Cách cư xử của cô có một sức hút khiến Rachel phải mến mộ.
Bà Dalloway nén một cái ngáp nhỏ, chỉ là một cử động phồng cánh mũi thoáng qua.
“Cô biết không,” cô nói, “tôi buồn ngủ kinh khủng. Chắc tại không khí biển đây mà. Có lẽ tôi phải trốn trước thôi.”
Giọng nói của một người đàn ông, mà cô đoán là của ông Pepper, đang lớn tiếng tranh luận và tiến dần về phía phòng khách lớn, đã gióng lên hồi chuông báo động cho cô.
“Chúc ngủ ngon—chúc ngủ ngon nhé!” cô nói. “Ồ, tôi tự tìm được đường mà—xin hãy cầu mong biển lặng nhé! Chúc ngủ ngon!”
Cái ngáp của cô hẳn phải là hình mẫu chuẩn mực của một cái ngáp. Thay vì để khóe miệng xị xuống, thả rơi toàn bộ quần áo thành một đống cứ như thể chúng chỉ được giữ bởi một sợi dây, rồi duỗi thẳng các chi ra tận mép giường, cô chỉ đơn giản thay chiếc váy bằng một chiếc áo choàng ngủ có vô số đường viền nhún bèo, quấn đôi chân trong một tấm chăn nhỏ, rồi ngồi xuống với chiếc bảng viết đặt trên đùi. Chỉ chốc lát mà căn phòng cabin chật chội này đã biến thành phòng trang điểm của một quý phu nhân đài các. Nào là những chiếc lọ đựng chất lỏng; nào là khay, hộp, lược, ghim cài. Rõ ràng là chẳng có một tấc nào trên cơ thể cô thiếu đi những dụng cụ tương xứng. Mùi hương từng làm Rachel mê mẩn nay lan tỏa khắp bầu không khí. Cứ thế yên vị, bà Dalloway bắt đầu đặt bút viết. Cây bút trong tay cô trở thành một thứ để vuốt ve trang giấy, và trông cô cứ như đang vuốt ve, cù lét một chú mèo con khi viết:
Hãy tưởng tượng chúng ta, người tình yêu dấu ơi, đang trôi nổi trên con tàu kỳ quặc nhất mà em có thể tưởng tượng nổi. Không hẳn vì con tàu, mà là vì con người ở đây. Người ta đúng là gặp đủ mọi thể loại kỳ quặc khi đi du lịch. Phải công nhận là em thấy nó vô cùng buồn cười. Nào là ngài quản lý hãng tàu—tên là Vinrace—một người Anh vạm vỡ, tốt tính, chẳng nói năng mấy—em biết cái kiểu người đó rồi đấy. Còn những người khác—họ cứ như thể vừa bước ra từ những số báo cũ của tờ Punch vậy. Họ giống như những người đang chơi khúc côn cầu từ những năm sáu mươi. Không biết họ đã bị giam hãm trong con tàu này bao lâu rồi—chắc phải hàng năm trời ấy chứ—nhưng người ta cứ có cảm giác như thể mình vừa bước lên một thế giới biệt lập nhỏ bé, và họ chưa từng đặt chân lên bờ, hay làm những việc bình thường trong đời. Đó là điều em vẫn thường nói về những người làm văn chương—họ là những kẻ khó gần nhất trong số tất cả mọi người. Tệ nhất là, những con người này—gồm một người đàn ông, vợ ông ta và một cô cháu gái—lẽ ra, người ta có thể cảm thấy, cũng bình thường như bao người khác, nếu họ không bị nuốt chửng bởi Oxford hay Cambridge hay cái xó xỉnh nào đó tương tự, rồi bị biến thành những kẻ gàn dở. Người đàn ông thực sự rất dễ mến (nếu ông ta chịu cắt móng tay), còn người phụ nữ có khuôn mặt khá đẹp, chỉ có điều cô ta lại ăn mặc như một chiếc bao tải đựng khoai tây, và để kiểu tóc giống như một nhân viên cửa hàng Liberty. Họ bàn về nghệ thuật, và coi chúng ta thật ngốc nghếch khi ăn vận trang trọng vào buổi tối. Tuy nhiên, em chẳng thể làm khác được; em thà chết chứ không chịu bước vào phòng ăn mà không thay đồ—anh có thế không? Mọi chuyện quan trọng hơn thế rất nhiều so với món súp. (Thật kỳ lạ khi những thứ như thế lại quan trọng hơn nhiều so với những gì người ta vẫn tưởng. Em thà bị cắt đứt đầu còn hơn mặc đồ bằng vải nỉ áp sát vào da.) Sau đó là một cô bé nhút nhát đáng yêu—tội nghiệp con bé—giá mà người ta có thể lôi nó ra trước khi quá muộn. Nó có đôi mắt và mái tóc khá đẹp, chỉ có điều, tất nhiên, rồi nó cũng sẽ trở nên kỳ quặc nốt thôi. Chúng ta nên lập ra một hội chuyên mở mang đầu óc cho giới trẻ—hữu ích hơn mấy tên truyền giáo nhiều đấy, Hester! Ồ, em quên mất là còn có một gã lùn đáng sợ tên là Pepper. Gã y như cái tên của hắn vậy. Hắn vô tích sự một cách khó tả, và lại có tính khí dở hơi, tội nghiệp anh chàng. Cứ như thể ngồi ăn tối với một con chó sục cáo bị tật lỗi ấy, chỉ có điều người ta không thể chải lông và rắc phấn thơm cho hắn như với con chó cưng của mình được. Thật đáng tiếc, đôi khi người ta không thể đối xử với con người giống như với loài chó! Niềm an ủi lớn nhất là chúng ta đang tránh xa báo chí, nhờ vậy Richard sẽ có một kỳ nghỉ thực sự lần này. Tây Ban Nha chẳng phải là một kỳ nghỉ gì sạt. . . .
“Đồ nhát gan!” Richard nói, chiếm gần hết không gian căn phòng bằng vóc dáng lực lưỡng của mình.
“Em đã làm tròn bổn phận trong bữa tối rồi nhé!” Clarissa kêu lên.
“Dù sao thì em cũng tự chuốc lấy việc học bảng chữ cái Hy Lạp vào người rồi đấy.”
“Ồ, anh yêu! Ambrose rốt cuộc là ai thế?”
“Anh góp nhặt được rằng ông ta từng là một giảng viên ở Cambridge; giờ sống ở London, và chuyên biên tập các tác phẩm kinh điển.”
“Anh đã bao giờ thấy một đám người gàn dở đến thế chưa? Người phụ nữ đó hỏi em có nghĩ chồng cô ta trông giống một quý ông không đấy!”
“Quả thực là rất khó để duy trì câu chuyện trong bữa tối,” Richard nói. “Tại sao phụ nữ thuộc tầng lớp đó lại kỳ quặc hơn đàn ông nhiều thế nhỉ?”
“Trông họ thực ra cũng đâu đến nỗi tệ—chỉ là—họ quá kỳ cục thôi!”
Cả hai cùng bật cười, nghĩ về những điều giống nhau, thế nên chẳng cần phải so sánh những ấn tượng của mình.
“Anh thấy mình sẽ có rất nhiều chuyện để trò chuyện với Vinrace đấy,” Richard nói. “Ông ấy biết rõ Sutton và đám người đó. Ông ấy có thể cho anh biết khá nhiều điều về tình hình đóng tàu ở miền Bắc.”
“Ồ, em mừng quá. Đàn ông lúc nào cũng tuyệt vời hơn phụ nữ nhiều.”
“Người ta lúc nào cũng có chuyện để nói với một người đàn ông, đó là điều chắc chắn,” Richard nói. “Nhưng anh chắc chắn là em cũng sẽ huyên thuyên không ngừng về mấy đứa trẻ thôi, Clarice.”
“Bà ta có con không? Sao trông không giống phụ nữ đã có gia đình chút nào thế nhỉ.”
“Hai đứa. Một trai một gái.”
Một nỗi ghen tị nhói lên trong trái tim bà Dalloway.
“Chúng ta phải sinh một đứa con trai thôi, Dick,” cô nói.
“Chúa tôi, hiện nay có biết bao nhiêu cơ hội cho những người trẻ tuổi chứ!” Dalloway nói, bởi cuộc trò chuyện đã khiến ông phải suy ngẫm. “Anh không nghĩ có thời kỳ nào có cơ hội mở ra tốt như vậy kể từ thời của Pitt.”
“Và nó thuộc về anh đấy!” Clarissa nói.
“Trở thành một nhà lãnh đạo của quần chúng,” Richard độc thoại. “Đó là một sự nghiệp cao cả. Lạy Chúa—đó mới là sự nghiệp chứ!”
Lồng ngực ông từ từ phồng lên bên dưới lớp áo ghi lê.
“Anh biết không, Dick, em cứ nghĩ mãi về nước Anh,” vợ ông trầm ngâm nói, tựa đầu vào ngực ông. “Ở trên con tàu này tự nhiên khiến mọi thứ trở nên sống động hơn rất nhiều—ý nghĩa thực sự của việc trở người Anh là gì. Người ta nghĩ về tất cả những gì chúng ta đã làm, về những hạm đội hải quân, về những con người ở Ấn Độ và châu Phi, và cách chúng ta tiến bước qua từng thế kỷ, cử những chàng trai trẻ từ các vùng quê nhỏ bé đi—và về những người đàn ông như anh, Dick, khiến người ta có cảm giác như thể không thể chịu đựng nổi nếu không được làm người Anh! Hãy nghĩ đến ngọn đèn đang cháy sáng trên tòa Nghị viện xem, Dick! Khi đứng trên boong tàu vừa rồi, em tưởng như mình nhìn thấy nó. Đó chính là những gì người ta định nghĩa về London.”
“Đó chính là sự tiếp nối,” Richard nói với vẻ ra điều triết lý. Một tầm nhìn về lịch sử nước Anh, Vua nối tiếp Vua, Thủ tướng nối tiếp Thủ tướng, và Luật pháp nối tiếp Luật pháp hiện lên trong tâm trí ông khi vợ ông nói. Ông lướt qua chuỗi chính sách bảo thủ trong đầu, thứ tiến đều đặn từ Lord Salisbury đến Alfred, và dần dần bao bọc lấy, tựa như một chiếc dây thòng lọng mở ra rồi tóm lấy mọi vật, những mảng lớn khổng lồ của quả địa cầu có thể sinh sống được.
“Phải mất một thời gian dài, nhưng chúng ta đã gần như hoàn thành nó rồi,” ông nói; “còn lại là củng cố vững chắc mà thôi.”
“Vậy mà những con người này lại không nhận ra điều đó!” Clarissa thốt lên.
“Cần phải có đủ mọi hạng người thì thế giới mới thành hình được,” chồng cô nói. “Sẽ chẳng bao giờ có chính phủ nếu không có phe đối lập.”
“Dick, anh giỏi hơn em,” Clarissa nói. “Anh nhìn toàn diện, trong khi em chỉ nhìn thấy mỗi chỗ này.” Cô ấn nhẹ vào một điểm trên mu bàn tay ông.
“Đó là công việc của anh, như anh đã cố giải thích trong bữa tối rồi đấy.”
“Điều em thích ở anh, Dick,” cô tiếp lời, “là anh lúc nào cũng như thế, còn em lại là một kẻ sáng nắng chiều mưa.”
“Dù sao thì em cũng là một sinh linh xinh đẹp,” ông nói, nhìn cô bằng ánh mắt sâu thẳm hơn.
“Anh nghĩ thế thật chứ? Vậy thì hôn em đi.”
Ông hôn cô đắm đuối, khiến bức thư viết dở trượt rơi xuống đất. Nhặt nó lên, ông đọc mà không cần xin phép.
“Bút của em đâu?” ông nói; rồi viết thêm bằng nét chữ nam tính gọn gàng của mình:
R.D. lên tiếng: Clarice đã quên kể với bạn rằng cô ấy trông vô cùng xinh đẹp trong bữa tối, và đã lập được một chiến công khiến cô ấy buộc phải tự chuốc lấy việc học bảng chữ cái Hy Lạp. Tôi xin nhân cơ hội này để bổ sung rằng cả hai chúng tôi đang rất tận hưởng khoảng thời gian ở những vùng đất xa xôi hẻo lánh này, và chỉ ước có sự hiện diện của những người bạn (cụ thể là bạn và John) để chuyến đi hoàn sự trọn vẹn và mang tính giáo dục như nó hứa hẹn. . . .
Có những tiếng động vang lên ở cuối hành lang. Bà Ambrose đang nói nhỏ; William Pepper đang bàn tán với chất giọng quả quyết và có phần chua chát của mình: “Đó chính là kiểu phụ nữ mà tôi thấy hoàn toàn không cùng tần số thông cảm. Cô ta—”
Nhưng cả Richard lẫn Clarissa chẳng kịp hưởng lợi gì từ phán quyết đó, bởi ngay khi có vẻ như họ sắp nghe trộm được, Richard đã vò sột soạt một tờ giấy.
“Em thường tự hỏi,” Clarissa trầm ngâm trên giường, lật giở cuốn sách nhỏ màu trắng của Pascal mang theo bên mình khắp mọi nơi, “liệu việc sống với một người đàn ông có đạo đức vượt trội hơn mình, như Richard đối với em, có thực sự tốt cho một người phụ nữ hay không. Nó khiến người ta trở nên quá phụ thuộc. Em đoán là em dành cho anh ấy thứ tình cảm mà mẹ em và những người phụ nữ thế hệ của bà từng dành cho Chúa. Nó chỉ cho thấy rằng con người ta không thể sống thiếu một điều gì đó.” Sau đó cô chìm vào giấc ngủ, như thường lệ là cực kỳ sâu và sảng khoái, nhưng bị quấy rầy bởi những giấc mơ kỳ quái về những chữ cái Hy Lạp to lớn đang điễu hành quanh phòng, để rồi cô tỉnh dậy và tự cười một mình khi nhớ ra mình đang ở đâu và những chữ cái Hy Lạp ấy thực chất là những con người bằng xương bằng thịt, đang nằm ngủ cách đó không bao xa. Rồi nghĩ đến vùng biển đen ngoài kia đang trào dâng sóng dữ dưới ánh trăng, cô rùng mình, và nghĩ về chồng mình cùng những người khác như những người bạn đồng hành trên chuyến hải trình. Quả thực, những giấc mơ không chỉ giới hạn ở riêng cô mà lan truyền từ bộ não này sang bộ não khác. Đêm đó tất cả bọn họ đều mơ về nhau, điều đó cũng dễ hiểu, nếu xét đến việc các vách ngăn mỏng manh giữa họ như thế nào, và cách họ kỳ lạ làm sao khi được nhắc bổng khỏi mặt đất để ngồi cạnh nhau giữa đại dương mênh mông, nhìn rõ từng chi tiết trên khuôn mặt của nhau và nghe thấy bất cứ điều gì họ vô tình thốt lên.