Chuyến Hải Trình Ra Khơi

Lượt đọc: 198 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 21

❊ ❊ ❊

Nhờ vào sự sắp xếp ngăn nắp của ông Flushing, họ đã cập đúng những đoạn sông cần đến vào đúng giờ giấc. Sáng hôm sau, khi bữa điểm tâm vừa dứt, những chiếc ghế lại được bày thành hình bán nguyệt ở mũi tàu, lúc này chiếc xuồng máy chỉ còn cách ngôi làng bản địa — điểm tận cùng của cuộc hành trình — vài dặm đường. Khi vừa ngồi xuống, ông Flushing liền khuyên họ hãy hướng mắt về phía bờ trái, nơi chẳng mấy chốc nữa tàu sẽ đi ngang qua một bãi đất trống. Tại đó có một căn lều, nơi nhà thám hiểm nổi tiếng Mackenzie đã qua đời vì cơn sốt cách đây chừng mười năm, ngay sát ngưỡng cửa của nền văn minh — ông lặp lại tên Mackenzie, con người từng dấn sâu vào nội địa xa hơn bất cứ ai cho đến tận bây giờ. Mọi người ngoảnh nhìn theo hướng ấy một cách vâng lời. Riêng đôi mắt của Rachel chẳng thấy gì cả. Những hình thù vàng và xanh thực sự vẫn lướt qua trước mắt cô, nhưng cô chỉ lờ mờ nhận thức cái nào to, cái nào nhỏ chứ chẳng hề biết đó là cây cối. Những lời chỉ dẫn bảo nhìn chỗ này chỗ nọ khiến cô phát bực, giống như cảm giác khó chịu của một người đang mải chìm đắm trong suy tư mà bị ngắt quãng, dẫu thực ra cô chẳng đang suy nghĩ điều gì. Cô cảm thấy bực bội trước tất cả những gì được nói ra, trước những chuyển động không mục đích của mọi người, bởi chúng có vẻ đang cản trở cô và ngăn không cho cô trò chuyện với Terence. Chẳng mấy chốc, Helen nhìn thấy cô đang ngẩn ngơ dán mắt vào một cuộn dây thừng và chẳng buồn lắng nghe. Trong khi ông Flushing và St. John vẫn đang say sưa trò chuyện rả rích về tương lai chính trị của vùng đất này cũng như mức độ nó đã được thám hiểm ra sao, thì những người còn lại, với đôi chân duỗi thẳng hoặc tay chống cằm, lặng lẽ ngắm nhìn.

Bà Ambrose cũng nhìn và lắng nghe khá ngoan ngoãn, nhưng trong thâm tâm, bà lại bị gặm nhấm bởi một thứ tâm trạng bất an chẳng dễ gì quy cho một nguyên nhân cụ thể nào. Đưa mắt nhìn vào bờ theo lời ông Flushing, bà thấy phong cảnh nơi đây vô cùng tươi đẹp nhưng đồng thời cũng ngột ngạt và đầy đe dọa. Bà không thích cảm giác mình là nạn nhân của những xúc cảm mơ hồ chưa từng tên gọi, và quả thực, khi chiếc xuồng cứ lủi thủi trôi đi dưới ánh nắng oi ả của buổi sáng, bà thấy lòng mình xao động một cách vô cớ. Bà chẳng thể xác định được liệu sự xa lạ của khu rừng nguyên sinh là thủ phạm, hay còn do điều gì đó mơ hồ hơn thế. Tâm trí bà rời khỏi khung cảnh hiện tại để bận tâm lo lắng cho Ridley, cho lũ trẻ, cho những chuyện xa xôi như tuổi già, nghèo đói và cái chết. Hirst cũng đang chán nản. Anh từng mong chờ chuyến thám hiểm này như một kỳ nghỉ, bởi lẽ một khi đã rời khỏi khách sạn, chắc chắn những điều kỳ diệu sẽ xảy ra; thế nhưng rốt cuộc chẳng có gì xảy ra cả, và giờ đây họ vẫn cứ cảm thấy khó chịu, gò bó và đầy tự ý thức như mọi khi. Đương nhiên, đó là cái giá phải trả cho việc kỳ vọng điều gì đó; người ta sẽ luôn phải thất vọng. Anh thầm trách Wilfrid Flushing vì quá chỉn chu và câu nệ lễ tiết; anh trách cả Hewet và Rachel. Sao họ cứ im lặng mãi thế? Anh nhìn hai con người đang ngồi lặng thimde và chìm đắm vào thế giới riêng ấy, và cảnh tượng đó làm anh chướng mắt. Anh đoán rằng họ đã đính ước hoặc sắp đính ước với nhau, nhưng thay vì mang lại chút lãng mạn hay thú vị nào đó, thì chuyện ấy lại nhạt nhẽo y như mọi thứ khác; anh cũng thấy bực mình khi nghĩ đến việc họ đang yêu nhau. Anh xích lại gần Helen và bắt đầu phàn nàn về một đêm mất ngủ của mình, khi phải nằm trên boong tàu, lúc thì nóng bức quá, lúc lại lạnh buốt, còn những vì sao thì sáng rực đến mức anh chẳng tài nào chợp mắt được. Anh đã trằn trọc suốt đêm để suy nghĩ, và ngay khi trời đủ sáng để nhìn rõ, anh đã viết được hai mươi dòng cho bài thơ về Thượng Đế của mình, và điều khủng khiếp là anh đã gần như chứng minh được rằng Thượng Đế hoàn toàn không tồn tại. Anh chẳng mảy may nhận ra mình đang làm phiền Helen, vẫn tiếp tục huyên th huyên thuyên rằng điều gì sẽ xảy ra nếu Thượng Đế thực sự tồn tại — «một ông cụ có râu và mặc áo choàng dài màu xanh, cực kỳ hay cáu kỉnh và khó tính đúng như bản chất phải thế? Cô có gợi ý nào về vần điệu không? God, rod, sod — dùng hết cả rồi; còn từ nào nữa không?»

Dẫu anh vẫn nói năng như mọi khi, nhưng nếu để ý kỹ, Helen có thể nhận ra anh cũng đang vô cùng sốt ruột và bồn chồn. Tuy nhiên, cô chưa kịp đáp lời thì ông Flushing bỗng thốt lên: «Kìa!». Họ cùng nhìn về phía căn lều ven bờ, một chốn hoang tàn với phần mái thủng một lỗ lớn, đất đai xung quanh ngả màu vàng úa, chi chít những vết sẹo do lửa đốt và vương vãi những chiếc hộp đựng đồ hộp han gỉ đã mở nắp.

«Họ tìm thấy thi thể của ông ấy ở đó à?», bà Flushing thốt lên, rướn người về phía trước vì quá tò mò muốn tận mắt thấy nơi nhà thám hiểm đã trút hơi thở cuối cùng.

«Họ tìm thấy thi thể, những tấm da thú và một cuốn sổ tay», chồng bà đáp. Nhưng chiếc thuyền đã nhanh chóng lướt qua, bỏ lại nơi đó phía sau.

Trời oi bức đến mức họ hầu như chẳng muốn động đậy, ngoại trừ đôi khi đổi chân hoặc châm một điếu thuốc. Đôi mắt họ dán chặt vào bờ sông, ngập tràn những ánh phản chiếu màu xanh ngát, và đôi môi mím lại nhẹ nhàng như thể những cảnh tượng lướt qua đang gợi lên trong đầu họ vô vàn suy nghĩ, ngoại trừ đôi môi của Hirst vẫn mấp máy ngắt quãng khi anh nửa tỉnh nửa mê tìm kiếm những vần thơ cho từ Thượng Đế. Bất kể tâm trí những người khác đang nghĩ gì, chẳng ai cất lời trong một khoảng thời gian khá dài. Họ đã trở nên quen thuộc đến mức chai lì với bức tường cây cối ở hai bên bờ, để rồi phải giật mình ngẩng đầu lên khi khoảng sáng bỗng mở rộng ra và hàng cây chấm dứt.

«Trông cứ như một công viên ở nước Anh ấy nhỉ», ông Flushing nói.

Quả thực, khó lòng tìm được sự thay đổi nào lớn lao hơn thế. Trải dài trên cả hai bờ sông là một khoảng không gian quang đãng tựa thảm cỏ, được phủ đầy cỏ xanh và điểm xuyết những khóm cây, sự thanh bình cùng nếp ngăn nắp nơi đây phảng phất bàn tay chăm sóc của con người, với những hàng cây duy dáng ngự trị trên đỉnh những gò đất nhỏ. Trải dài đến tận tầm mắt, thảm cỏ ấy nhấp nhô theo những đường cong mềm mại của một công viên cổ kính xứ Anh. Sự đổi thay của cảnh trí dĩ nhiên gợi ý một sự đổi thay về tư thế, điều mang lại cảm giác dễ chịu cho hầu hết mọi người. Họ đứng dậy và tựa người vào thành lan can.

«Trông cứ như vùng Arundel hay Windsor vậy», ông Flushing nói tiếp, «nếu anh chặt bỏ khóm cây có hoa vàng kia đi; và chà, nhìn kìa!»

Hàng dài những tấm lưng nâu khựng lại trong giây lát rồi bật nhảy qua những con sóng tựa như đang lao vút đi khuất tầm nhìn. Trong một khoảnh khắc, không ai trong số họ tin rằng mình vừa thực sự nhìn thấy những con thú hoang dã xuất hiện giữa chốn quang đãng — một bầy hươu nai, và cảnh tượng ấy khơi dậy trong họ niềm phấn khích ngây thơ, xua tan đi vẻ ủ rột ban đầu.

«Cả đời tôi chưa từng thấy con vật nào to hơn con thỏ rừng!», Hirst thốt lên đầy phấn khích thực sự. «Đúng là đồ ngốc khi tôi không mang theo máy ảnh Kodak!»

Chẳng mấy chốc, chiếc xuồng máy dần dừng hẳn lại, và người thuyền trưởng giải thích với ông Flushing rằng sẽ rất thú vị nếu các hành khách bước lên bờ tản bộ lúc này; nếu họ muốn quay lại trong vòng một tiếng đồng hồ, ông sẽ chở họ tiếp đến ngôi làng; còn nếu họ chọn đi bộ — đường chỉ dài thêm một hoặc hai dặm nữa — ông sẽ đợi họ ở bến sông.

Mọi chuyện đã ngã ngũ, họ lại một lần nữa được đưa lên bờ: các thủy thủ lấy ra nho khô và thuốc lá, tì người lên lan can và dõi theo sáu vị khách người Anh — những người đang thong thả bước đi mà những chiếc áo khoác và váy vóc trông thật lạc lõng giữa màu xanh đại ngàn. Một câu đùa cợt chẳng lấy gì làm đoan trang cất lên khiến tất cả cười rộ lên sảng khoái, rồi họ quay người nằm dài tận hưởng sự thoải mái ngay trên boong tàu.

Vừa đặt chân lên bờ, Terence và Rachel liền bước chậm lại, tách ra hơi vượt lên trước những người khác.

«Tạ ơn Chúa!», Terence thốt lên, thở dài một hơi thật sâu. «Cuối cùng chúng ta cũng được ở bên nhau».

«Và nếu đi trước thế này, chúng ta có thể trò chuyện», Rachel nói.

Thế nhưng, dẫu vị trí đi trước những người khác vài thước tạo điều kiện cho họ muốn nói gì cũng được, cả hai vẫn chìm trong im lặng.

«Em yêu anh chứ?», cuối cùng Terence cũng cất lời, phá vỡ sự im lặng bằng một nỗi niềm đau đáu. Nói hay không nói đều đòi hỏi một nỗ lực ngang nhau, bởi khi im lặng, họ cảm nhận rõ mồn một sự hiện diện của đối phương, thế nhưng ngôn từ thốt ra hoặc là quá tầm thường, hoặc lại quá lớn lao.

Cô lầm bầm những từ không rõ nghĩa, rồi khép lại bằng câu, «Còn anh?».

«Có chứ, có chứ», anh đáp; nhưng có quá nhiều điều muốn nói, và giờ đây khi chỉ có hai người, họ cảm thấy cần phải xích lại gần nhau hơn nữa, cần phải vượt qua bức tường vô hình đã vô tình mọc lên kể từ lần trò chuyện trước. Thật khó khăn, thậm chí đáng sợ và đầy ngượng ngùng kỳ lạ. Có khoảnh khắc anh vô cùng minh mẫn, nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo lại thành ra bấn loạn.

«Bây giờ anh sẽ bắt đầu từ điểm khởi đầu», anh kiên quyết nói. «Anh sẽ kể cho em nghe những điều lẽ ra anh phải nói với em từ trước. Thứ nhất, anh chưa từng yêu người phụ nữ nào khác, nhưng anh từng qua lại với những người phụ nữ khác. Tiếp theo, anh có rất nhiều thói hư tật xấu. Anh rất lười biếng, hay thay đổi tâm trạng...» Anh vẫn kiên quyết nói tiếp, mặc cho cô thốt lên tiếng kêu ngạc nhiên. «Em phải biết rõ mặt tối của anh. Anh là kẻ ham muốn nhục dục. Anh bị gặm nhấm bởi cảm giác bất lực và vô dụng — sự bất tài. Chắc lẽ ra anh không nên cầu hôn em mới phải. Anh hơi trưởng giả học làm sang; anh đầy tham vọng...»

«Ồ, những thói hư tật xấu của chúng ta!», cô kêu lên. «Chúng có nghĩa lý gì chứ?». Rồi cô gặng hỏi: «Em có đang yêu không — đây có phải là đang yêu không — chúng ta sắp kết hôn với nhau sao?».

Bị đánh gục bởi sự quyến rũ từ giọng nói và sự hiện diện của cô, anh thốt lên: «Ồ, em được tự do mà, Rachel. Đối với em, thời gian sẽ chẳng thay đổi điều gì, hay hôn nhân, hay là...»

Những tiếng nói của tốp người phía sau cứ văng vẳng lúc xa lúc gần, và tiếng cười của bà Flushing nổi bật hẳn lên một cách rõ mồn một.

«Hôn nhân ư?», Rachel lặp lại.

Những tiếng hò reo lại vang lên phía sau, nhắc nhở họ rằng họ đang đi hơi lệch về phía bên trái. Chỉnh lại hướng đi, anh tiếp tục: «Đúng vậy, hôn nhân». Cảm giác rằng họ không thể thực sự hòa làm một cho đến khi cô biết hết mọi điều về anh lại thúc đẩy anh cố gắng giải thích thêm.

«Tất cả những gì tồi tệ trong con người anh, những thứ anh từng phải nhượng bộ — lựa chọn thứ hai...»

Cô lẩm bẩm, nghĩ về cuộc đời chính mình, nhưng không tài nào diễn tả nổi nó trông ra sao trong mắt cô lúc này.

«Và sự cô đơn nữa!», anh tiếp tục. Hình ảnh cùng cô rảo bước qua những con đường tấp nập ở London hiện lên trước mắt anh. «Chúng ta sẽ cùng nhau đi dạo», anh nói. Sự giản đơn của ý tưởng ấy khiến họ cảm thấy nhẹ nhõm, và lần đầu tiên họ bật cười. Nếu dám, họ đã nắm lấy tay nhau từ lâu, nhưng cảm giác có những đôi mắt đang dán chặt vào họ từ phía sau vẫn chưa hề phai nhạt.

«Sách vở, con người, cảnh vật — bà Nutt, Greeley, Hutchinson», Hewet lẩm bẩm.

Qua từng lời nói, lớp sương mù bao bọc lấy họ — thứ khiến họ trở nên xa vời và phi thực tế đối với nhau kể từ chiều hôm qua — lại tan đi thêm một chút, và sự gắn kết giữa họ trở nên tự nhiên hơn bao giờ hết. Vượt qua khung cảnh miền nam oi ả, họ nhìn thấy thế giới quen thuộc của mình hiện lên rõ ràng và sống động hơn bất cứ khoảnh khắc nào trước đó. Giống như lần ở khách sạn khi cô ngồi bên cửa sổ, thế giới một lần nữa tự sắp đặt lại ngay trước tầm mắt cô, vô cùng sinh động và đúng với tỷ lệ vốn có của nó. Cô tò mò liếc nhìn Terence từ góc độ này sang góc độ khác, ngắm nhìn chiếc áo khoác xám và chiếc cà vạt tím của anh; ngắm nhìn người đàn ông mà cô sẽ dành phần đời còn lại để chung sống.

Sau một cái liếc nhìn như thế, cô lầm bầm: «Phải, em đang yêu. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa; em đã yêu anh rồi».

Thế nhưng, họ vẫn cảm thấy cách trở một cách khó tả; vừa mới xích lại gần nhau đến mức tưởng như chẳng còn ranh giới nào tồn tại, thì ngay khoảnh khắc tiếp theo họ lại trở nên tách biệt và xa xôi. Cảm nhận rõ điều đó một cách đau đớn, cô thốt lên: «Đó sẽ là một cuộc chiến đấy».

Nhưng khi ngắm nhìn anh, cô nhận ra từ hình dáng đôi mắt, những nếp nhăn quanh khóe miệng và những nét đặc trưng khác rằng cô rất quý mến anh, và cô nói thêm:

«Ở những chỗ em muốn chiến đấu, anh lại bày tỏ lòng trắc ẩn. Anh tốt đẹp hơn em; anh tốt đẹp hơn em rất nhiều».

Anh đáp lại cái nhìn của cô và mỉm cười, cũng nhận ra rất rõ những chi tiết nhỏ nhặt rất riêng ở cô — những điều khiến cô trở nên đáng yêu vô bờ bến trong mắt anh. Cô sẽ là của anh mãi mãi. Khi bức tường ngăn cách ấy đã bị phá vỡ, vô vàn niềm hạnh phúc đang trải dài trước mắt cả hai.

«Anh không hề tốt đẹp hơn đâu», anh đáp. «Anh chỉ già dặn hơn, lười biếng hơn; anh là đàn ông, chứ không phải phụ nữ».

«Một người đàn ông», cô lặp lại, và một cảm giác chiếm hữu kỳ lạ dâng ngập tâm hồn, thôi thúc cô có thể chạm vào anh; cô vươn tay ra và khẽ chạm vào má anh. Những ngón tay anh lần theo dấu vết bàn tay cô vừa đi qua, và cái chạm của chính bàn tay anh lên khuôn mặt lại kéo ngược anh về với cảm giác phi thực tế choáng ngợp. Thể xác này của anh là phi thực tế; cả thế giới này đều phi thực tế.

«Chuyện gì đã xảy ra thế?», anh bắt đầu. «Tại sao anh lại cầu hôn em? Mọi chuyện diễn ra thế nào vậy?».

«Anh đã cầu hôn em sao?», cô ngạc nhiên. Họ lại trôi dạt ra xa nhau, và chẳng ai trong số họ có thể nhớ nổi những gì vừa được thốt lên.

«Chúng ta đã ngồi trên bãi cỏ», anh hồi tưởng.

«Chúng ta đã ngồi trên bãi cỏ», cô xác nhận. Ký ức về việc ngồi trên bãi cỏ dường như lại kéo họ xích lại gần nhau, và họ tiếp tục bước đi trong im lặng, tâm trí lúc thì hoạt động nhọc nhằn, lúc lại ngừng trệ, chỉ có đôi mắt là còn cảm nhận vạn vật xung quanh. Lúc này, anh lại cố gắng kể cho cô nghe về những khiếm khuyết của mình và lý do vì sao anh yêu cô; còn cô sẽ miêu tả những gì mình từng cảm nhận vào thời điểm này hay thời điểm khác, và họ cùng nhau cắt nghĩa cảm xúc ấy. Âm thanh giọng nói của họ vang lên đẹp đẽ đến mức dần dần họ chẳng còn bận tâm đến câu chữ mình đang thốt ra nữa. Những khoảng im lặng kéo dài đan xen giữa các câu nói — đó không còn là sự im lặng của đấu tranh và bối rối, mà là những khoảng lặng thanh tao, nơi những suy nghĩ tầm thường trôi qua thật nhẹ nhàng. Họ bắt đầu trò chuyện một cách tự nhiên về những điều bình dị, về những đóa hoa và tán cây, về cách chúng vươn mình đỏ rực như hoa vườn ở quê nhà, hay uốn cong như cánh tay của một ông lão khom lưng.

Thật nhẹ nhàng và tĩnh lặng, tựa như tiếng dòng máu đang râm ran chảy trong huyết quản hay tiếng nước suối len lỏi qua những viên đá, Rachel bỗng cảm nhận được một xúc cảm mới mẻ đang nảy nở trong lòng. Cô ngẩn ngơ tự hỏi đó là gì, rồi tự nhủ với một chút ngạc nhiên khi nhận ra thứ danh tiếng lẫy lừng ấy đang hiện hữu ngay trong con người mình:

«Chắc đây là hạnh phúc rồi». Và cô cất lời nói với Terence: «Đây chính là hạnh phúc».

Ngay sau câu nói của cô, anh đáp lời: «Đây chính là hạnh phúc», và từ đó họ ngầm hiểu rằng cảm xúc ấy đã đồng thời trỗi dậy trong cả hai người cùng một khoảnh khắc. Thế là họ bắt đầu miêu tả cảm giác này ra sao, cảm giác kia thế nào, nó giống nhau ở điểm nào mà lại khác biệt ra sao; bởi bản chất họ vốn dĩ rất khác nhau.

Những tiếng gọi với theo phía sau chẳng thể nào vượt qua được lớp sóng nước mà họ đang chìm đắm trong đó. Việc tên của Hewet được lặp lại trong những âm tiết ngắn ngủn, đứt quãng đối với họ cũng chỉ giống như tiếng một cành cây khô gãy vụn hay tiếng chim hót véo von. Tiếng cỏ cây và gió thổi xào xạc vang vọng khắp chốn khiến họ chẳng mảy nhận ra tiếng cỏ vuốt ve ngày càng lớn dần và không hề dứt đi ngay cả khi cơn gió đã lặng. Một bàn tay bất ngờ giáng xuống vai Rachel nặng trịch tựa thanh sắt; nó chẳng khác nào một tia sét đánh xuống từ bầu trời. Cô ngã quỵ xuống dưới sức nặng ấy, và những ngọn cỏ quất vào mắt, lấp đầy miệng và tai cô. Xuyên qua những thân cỏ đang ru rờ ngả nghiêng, cô nhìn thấy một bóng hình to lớn và vô định hình nổi bật giữa bầu trời. Helen đã túm được cô.

Bị xô qua đẩy lại, lúc thì chỉ thấy một màu xanh ngút ngàn của rừng rậm, lúc lại thấy bầu trời cao xanh ngắt; cô câm lặng và suýt ngất đi. Cuối cùng, cô nằm im bất động, toàn bộ thảm cỏ xung quanh và trước mặt cô đều rung rập theo nhịp thở dốc. Phía trên cô là hai cái đầu khổng lồ lững lờ hiện diện, đó là đầu của một người đàn ông và một người phụ nữ, là Terence và Helen.

Cả hai đều đỏ bừng mặt, đều đang cười lớn, và đôi môi vẫn đang mấp máy; họ xích lại gần nhau và trao nhau nụ hôn ngay trong không trung phía trên cô. Những mảnh lời thoại đứt quãng rơi lả tả xuống chỗ cô nằm dưới đất. Cô lờ mờ nghe thấy họ nhắc đến tình yêu rồi đến hôn nhân. Khi tự gượng người ngồi dậy, cô cũng cảm nhận được cơ thể mềm mại của Helen, vòng tay vững chãi và ấm áp, cùng niềm hạnh phúc đang trào dâng và vỡ oà thành một con sóng khổng lồ. Khi con sóng ấy rút đi, thảm cỏ lại ngả thấp xuống, bầu trời trở về ngang tầm mắt, mặt đất trải dài phẳng lì ở hai bên và những tán cây đứng thẳng tắp, cô là người đầu tiên nhận ra một hàng người nhỏ bé đang kiên nhẫn đứng đợi từ đằng xa. Trong khoảnh khắc, cô chẳng thể nhớ nổi họ là ai.

«Họ là ai thế?», cô hỏi, rồi mới chợt nhớ ra.

Nhanh chóng xếp thành hàng phía sau ông Flushing, họ cẩn thận giữ khoảng cách ít nhất ba thước từ mũi giày của ông cho đến mép váy của cô.

Ông dẫn họ băng qua một khoảng đất cỏ xanh mướt bên bờ sông, rồi đi xuyên qua một lùm cây, và ra hiệu cho họ chú ý những dấu hiệu của chốn cư ngụ loài người: bãi cỏ bị đốt đen, những gốc cây cháy xém, và kìa, ẩn hiện qua những tán cây là những cái tổ bằng gỗ kỳ lạ được xếp túm lại thành một mái vòm ở nơi các hàng cây tản ra — đó chính là ngôi làng, đích đến của cuộc hành trình.

Bước đi thật rón rén, họ quan sát những người phụ nữ đang ngồi xổm trên mặt đất theo hình tam giác, đôi tay thoăn thoắt đan lát cỏ tranh hoặc nhào nặn thứ gì đó trong những chiếc chậu. Nhưng khi họ đứng quan sát một lát mà chưa bị phát hiện thì đã bị nhìn thấy, và ông Flushing, bước ra giữa khoảng đất trống, bắt đầu trò chuyện với một người đàn ông gầy gò uy nghi, người có phần xương cốt và hốc họng nổi bật khiến vóc dáng của gã đàn ông người Anh trở nên thô kệch và kém tự nhiên. Những người phụ nữ chẳng thèm để ý đến đám người lạ mặt, ngoại trừ việc đôi tay họ khựng lại trong giây lát và đôi mắt dài hẹp liếc xéo sang, dán chặt vào những vị khách bằng cái nhìn vô cảm, bất động của những sinh vật thuộc về một thế giới bị cách ly quá xa vời, vượt ngưỡng giao tiếp của ngôn từ. Đôi tay họ lại cử động tiếp, nhưng ánh nhìn soi mói vẫn không dứt. Nó dõi theo từng bước chân họ đi, khi họ ngó nghiêng vào những căn lều để nhận ra những cây súng dựa vào góc phòng, những chiếc chậu dưới sàn và những bó sậy chất đống; trong bóng râm chập choạng, đôi mắt trang nghiêm của những đứa trẻ cùng mấy bà lão đang trừng trừng nhìn họ. Khi họ thong thả dạo bước, ánh nhìn đó vẫn bám theo, lướt qua đôi chân, cơ thể và đầu óc họ, đầy tò mò nhưng không hẳn thiếu thiện chí, tựa như chuyển động bò trườn của một con ruồi mùa đông. Khi vén chiếc khăn choàng để lộ bầu vú cho đứa con bú, ánh mắt người phụ nữ ấy vẫn không rời khỏi khuôn mặt họ, dẫu ba người cảm thấy bứt rứt dưới cái nhìn đó và cuối cùng đành quay đi chỗ khác thay vì cứ đứng đó chịu đựng thêm. Khi những viên kẹo ngọt được chìa ra, họ thò những bàn tay đỏ bừng to tướng ra nhận, cảm thấy bước đi của mình thật vụng về, thô kệch như những tên lính mặc đồ gót sắt giữa chốn con người hồn nhiên, mềm mại này. Nhưng chẳng mấy chốc, nhịp sống trong làng chẳng mảy may bận tâm đến họ nữa; họ đã hòa tan vào đó. Đôi tay những người phụ nữ lại bận rộn với đống cỏ tranh; đôi mắt họ sụp xuống. Nếu họ di chuyển, đó là để lấy thứ gì đó từ trong lều, để bắt một đứa trẻ chạy lăng xăng, hoặc để băng qua bãi đất với chiếc vò thăng bằng trên đầu; nếu họ cất lời, đó là để thốt lên những âm thanh khàn đợt, khó hiểu. Tiếng la hét nổi lên khi một đứa trẻ bị đánh đòn rồi lại chìm xuống; tiếng hát cất lên, vút lên cao một chút rồi hạ xuống một chút, để rồi lại dừng lại ở đúng một nốt trầm buồn rầu rĩ ấy. Tìm kiếm nhau, Terence và Rachel xích lại gần nhau dưới một gốc cây. Ban đầu, cảnh tượng những người phụ nữ đã ngừng nhìn ngó họ mang lại cảm giác bình yên, thậm chí tươi đẹp, nhưng giờ đây lại khiến họ thấy vô cùng lạnh lẽo và u sầu.

«Này», cuối cùng Terence thở dài, «nó khiến chúng ta trở nên thật tầm thường phải không em?».

Rachel đồng tình. Mọi chuyện cứ sẽ tiếp diễn như thế mãi mãi, cô nói, những người phụ nữ ấy ngồi dưới những tán cây, rồi cây cối và dòng sông nữa. Họ quay người bước đi, len lỏi qua những thân cây, tựa người vào vai nhau mà không sợ bị ai phát hiện. Đi chưa được bao xa, họ lại bắt đầu trấn an nhau rằng họ đang yêu, đang hạnh phúc và thỏa nguyện; nhưng sao việc yêu đương lại đau đớn đến thế, sao trong hạnh phúc lại ẩn chứa nhiều nỗi đau nhường này?

Cảnh tượng ngôi làng quả thực đã tác động đến tất cả bọn họ một cách kỳ lạ dẫu theo những cách rất khác nhau. St. John đã tách khỏi nhóm và chậm rãi bước xuống bờ sông, chìm đắm trong những suy tư đầy cay đắng và bất hạnh, bởi anh cảm thấy bản thân thật cô độc; còn Helen, đứng một mình giữa khoảng không gian ngập nắng bên cạnh những người phụ nữ bản địa, lại bị bao vây bởi những điềm báo chẳng lành. Tiếng kêu của những con thú vô tri vang vọng bên tai cô lúc cao lúc thấp trong không trung, khi chúng chuyền từ thân cây này sang tán cây khác. Những hình thù nhỏ bé sao mà bé nhỏ đến thế khi lang thang giữa muôn vàn thân cây! Cô trở nên nhạy cảm đến tột cùng trước những chân tay nhỏ bé, những đường gân mảnh mai, làn da mỏng manh của con người — những thứ có thể dễ dàng vỡ vụn và tước đoạt đi sự sống bất cứ lúc nào nếu đem ra so sánh với những thân cây khổng lồ và dòng nước sâu thẳm kia. Một cành cây gãy, một bước chân trượt ngã, là mặt đất đã nghiền nát hoặc dòng nước đã nhấn chìm họ. Suy nghĩ vẩn vơ thế, cô lo lắng dán chặt mắt vào đôi tình nhân, tự nhủ làm vậy có thể che chở họ khỏi số phận nghiệt ngã. Quay người lại, cô bắt gặp vợ chồng nhà Flushing đang đứng cạnh mình.

Họ đang bàn tán về những món đồ vừa mua được, tranh cãi xem chúng có thực sự cổ không và liệu có chỗ nào mang dấu vết ảnh hưởng của người châu Âu hay không. Helen được kéo vào cuộc tranh luận. Cô bị bắt phải ngắm chiếc trâm cài áo, rồi đến đôi hoa tai. Nhưng suốt khoảng thời gian ấy, cô thầm trách họ đã thực hiện chuyến thám hiểm này, đã mạo hiểm tiến quá xa và tự đặt mình vào vòng nguy hiểm. Rồi cô tự xốc lại tinh thần và cố gắng trò chuyện, nhưng chỉ vài phút sau, cô lại vô thức nhìn thấy ảo ảnh về một chiếc thuyền bị lật úp giữa dòng sông ở nước Anh vào giữa ban trưa. Cô biết việc tưởng tượng những chuyện thế này là bệnh hoạn; dẫu vậy, cô vẫn rảo mắt tìm kiếm bóng dáng những người khác ẩn hiện giữa những tán cây, và hễ nhìn thấy họ là cô lại giữ nguyên ánh nhìn để có thể bảo vệ họ khỏi tai họa.

Nhưng khi mặt trời lặn xuống, chiếc tàu hơi nước quay đầu bắt đầu hành trình ngược dòng trở về với nền văn minh, những nỗi sợ hãi trong cô lại dịu xuống. Trong ánh hoàng hôn chập choạng, những chiếc ghế trên boong và những con người đang ngồi trên đó chỉ còn là những khối hình góc cạnh, được điểm xuyết bởi một đốm sáng đỏ rực từ điếu xì gà hay thuốc lá nhô lên hạ xuống mỗi khi đưa lên môi hay hạ xuống. Những lời nói lướt qua màn đêm, nhưng vì chẳng biết chúng rơi vào đâu nên có vẻ thiếu đi sức sống và thực chất. Những tiếng thở dài đều đặn phát ra từ khối trắng phau đại diện cho thân hình bà Flushing, dẫu có cố nén lại đôi chút. Một ngày dài trôi qua với cái nóng oi ả, và giờ đây khi vạn vật đã nhòa đi trong bóng tối, làn gió đêm mát rượi như đang đặt những ngón tay mềm mại lên mí mắt, khép chúng lại. Một nhận xét triết lý dường như nhắm vào St. John Hirst đã bay đi lệch hướng, treo lơ lửng lâu đến mức bị nuốt chửng bởi một cái ngáp dài và được xem như đã "chết yểu", và điều đó chính là tín hiệu cho những tiếng sột soạt đổi chân cùng những lời thì thầm bàn về giấc ngủ. Khối trắng cuối cùng cũng động đậy, vươn dài ra rồi biến mất; sau vài bước dạo qua dạo lại, St. John và ông Flushing cũng lui vào trong, để lại ba chiếc ghế vẫn bị chiếm dụng bởi ba thân hình lặng câm. Ánh sáng phát ra từ chiếc đèn trên đỉnh cột buồm cùng bầu trời nhạt nhòa ánh sao chỉ phác họa nên hình dáng chứ chẳng để lộ nét mặt của họ; nhưng ngay giữa bóng tối ấy, việc những người khác rời đi lại khiến họ cảm nhận rõ sự hiện diện sát rạt của đối phương, bởi tất cả đều đang chung một suy nghĩ. Im lặng một hồi lâu, Helen mới cất lời kèm theo một tiếng thở dài: «Thế là cả hai đều rất hạnh phúc phải không?».

Tựa như được gột rửa bởi làn gió, giọng nói của cô nghe thanh thoát và dịu dàng hơn ngày thường. Những tiếng đáp lời vang lên từ khoảng cách gần:

«Vâng».

Xuyên qua màn đêm, cô đang nhìn chăm chú vào cả hai và cố gắng phân biệt hình dáng họ. Cô còn biết nói gì đây? Rachel đã vượt ra ngoài tầm vòm tay bảo bọc của cô. Một tiếng gọi có thể lọt vào tai cô bé, nhưng sẽ chẳng bao giờ còn có thể với xa như cách đây hai mươi bốn giờ nữa. Dù vậy, cô vẫn cảm thấy mình có trách nhiệm phải nói đôi điều trước khi đi ngủ. Cô muốn cất lời, nhưng lại thấy lòng mình già nua và chán nản một cách kỳ lạ.

«Các cậu có nhận thức được mình đang làm gì không?», cô gặng hỏi. «Nó còn trẻ, cả hai đứa đều còn trẻ; và hôn nhân...»

Đến đây cô ngừng lại. Thế nhưng, họ khẩn khoản nài nỉ cô nói tiếp, giọng điệu thiết tha đến mức cứ như thể họ đang khao khát một lời khuyên chân thành, khiến cô không kìm được mà nói thêm:

«Hôn nhân á! ồ, nó chẳng dễ dàng gì đâu».

«Đó chính là điều chúng cháu muốn biết», họ đáp, và cô đoán rằng lúc này họ đang nhìn nhau.

«Điều đó tùy thuộc vào cả hai em», cô tuyên bố. Khuôn mặt cô hướng về phía Terence, và dẫu anh hầu như chẳng nhìn rõ mặt cô, anh vẫn tin rằng đằng sau câu nói ấy là một khao khát thực sự muốn hiểu thêm về anh. Anh nhổm người dậy khỏi tư thế nửa nằm nửa ngồi và bắt đầu kể cho cô nghe những gì cô muốn biết. Anh cố nói một cách nhẹ nhàng nhất có thể để xua đi nỗi u uất của cô.

«Cháu hai mươi bảy tuổi, và thu nhập tầm bảy trăm bảng một năm», anh bắt đầu. «Tính tình nhìn chung là tốt, sức khỏe tuyệt vời, dù Hirst có phát hiện ra cháu có dấu hiệu bị bệnh gút. À vâng, cháu nghĩ mình là một kẻ rất thông minh». Anh dừng lại như chờ đợi sự đồng tình.

Helen gật đầu đồng ý.

«Dù ngặt một nỗi là hơi lười biếng. Cháu dự định sẽ cho phép Rachel được ngốc nghếch nếu cô ấy muốn, và... Cô có thấy cháu nhìn chung là một kẻ thỏa đáng ở những phương diện khác không?», anh ngượng ngùng hỏi.

«Có chứ, cô thích những gì mình biết về cháu», Helen đáp. «Nhưng khổ nỗi — người ta hiểu biết về nhau quá ít».

«Chúng cháu sẽ sống ở London, và...»

Đồng thanh một cách bất ngờ, cả hai hỏi dồn liệu cô có nghĩ rằng họ là những kẻ hạnh phúc nhất mà cô từng biết hay không.

«Suỵt», cô ngăn họ lại, «hãy nhớ đến bà Flushing kìa. Bà ấy đang ở ngay sau chúng ta đấy».

Thế là họ chìm vào im lặng, và cả Terence lẫn Rachel đều bản năng cảm nhận được rằng niềm hạnh phúc của họ đã mang lại cho cô nỗi buồn, và dẫu rất khao khát được tiếp tục nói về bản thân, họ cũng đành thôi.

«Chúng ta nói hơi nhiều về bản thân rồi», Terence nói. «Hãy kể cho chúng cháu nghe...»

«Đúng vậy, kể cho chúng cháu nghe đi...», Rachel hùa theo. Cả hai đang ở trong tâm trạng tin sái cổ rằng bất cứ ai cũng có khả năng thốt ra những triết lý sâu sắc.

«Cô biết kể gì đây?», Helen ngẫm nghĩ, giọng điệu tựa như đang lẩm bẩm với chính mình hơn là một nhà tiên tri đang truyền đạt sấm truyền. Cô tự ép mình cất lời.

«Dù sao đi nữa, dẫu cô hay la mắng Rachel, bản thân cô cũng chẳng khôn ngoan hơn là bao. Cô già rồi, tất nhiên, cô đang đi được nửa chặng đường, trong khi các cháu chỉ mới bắt đầu. Mọi thứ thật khó hiểu — đôi khi, cô nghĩ là còn đáng thất vọng nữa; những điều vĩ đại có lẽ không lớn lao như người ta vẫn mong đợi — nhưng nó thú vị — Ồ đúng vậy, các cháu chắc chắn sẽ thấy nó thú vị — Và cứ thế mọi chuyện tiếp diễn», đến đây họ nhận thức được hàng cây đen thẫm mà Helen dường như đang đăm đăm nhìn vào, «và luôn có những niềm vui xuất hiện ở những nơi ta chẳng mờ ngờ tới (các cháu phải viết thư cho bố đấy), và cô tin chắc các cháu sẽ rất hạnh phúc. Nhưng cô phải đi ngủ đây, và nếu khôn ngoan thì các cháu nên nối gót sau mười phút nữa, và thế nhé», cô đứng dậy dựng người trước mặt họ, gần như vô dạng và vô cùng to lớn, «Chúc ngủ ngon». Cô vén rèm bước đi.

Sau khi ngồi im lặng trong phần lớn khoảng thời gian mười phút mà cô cho phép, họ đứng dậy và tựa người vào lan can. Dưới chân họ, dòng nước đen thẳm trôi đi thật nhanh và lặng lẽ. Đốm sáng từ một điếu thuốc lá vụt tắt phía sau họ. «Một giọng nói thật đẹp», Terence lẩm bẩm.

Rachel đồng tình. Helen sở hữu một giọng nói vô cùng đẹp đẽ.

Sau một khoảng lặng, cô ngước nhìn lên bầu trời và hỏi: «Chúng ta đang ở trên boong một con tàu trên dòng sông ở Nam Mỹ phải không? Em có phải là Rachel, và anh có phải là Terence không?».

Thế giới đen kịch bao bọc lấy họ xung quanh. Khi họ lướt đi một cách êm ả, thế giới ấy tựa như mang một độ dày và sức chịu đựng vô tận. Họ có thể phân biệt những ngọn cây nhọn hoắt và những tán cây tròn vo cụt ngủn. Ngẩng cao đầu vượt qua những ngọn cây, họ dán mắt vào các vì sao và vầng sáng nhạt của bầu trời phía trên. Những đốm sáng lạnh lẽo nhỏ xíu ở khoảng cách vô tận thu hút và giữ chặt ánh mắt họ, đến mức có cảm giác như họ đã ở đó rất lâu và phải rơi một quãng đường rất dài khi một lần nữa nhận thức được đôi bàn tay mình đang bám chặt vào thành lan can và những cơ thể tách biệt đang đứng sát cạnh nhau.

«Em vừa quên bén mất sự tồn tại của anh rồi phải không», Terence trách yêu, vừa kéo tay cô và bắt đầu sải bước trên boong tàu, «còn anh thì chưa bao giờ quên em cả».

«Ồ không», cô thì thầm, cô không hề quên, chỉ là những vì sao — màn đêm — bóng tối...

«Em giống như một chú chim đang ngái ngủ trong tổ vậy, Rachel à. Em đang ngủ mơ đấy. Em đang nói mớ trong giấc ngủ rồi kìa».

Nửa tỉnh nửa mê và lẩm bẩm những từ ngữ đứt quãng, họ đứng nép trong góc được tạo bởi mũi thuyền. Con thuyền vẫn lủi thủi xuôi dòng. Lúc này một tiếng chuông vang lên từ đài chỉ huy, và họ nghe thấy tiếng nước vỗ ì oạp gợn sóng sang hai bên, có lúc tiếng một con chim bị đánh thức trong giấc ngủ kêu lên khe khít, bay sang ngọn cây bên cạnh rồi lại chìm vào im lặng. Màn đêm trút xuống dồi dào, tước đi ở họ gần như mọi cảm giác về sự sống, ngoại trừ việc họ đang đứng đó bên nhau giữa lòng đêm tối.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 3 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.