Nhà xác nằm ở tầng trệt của tòa án, bên ngoài lối đi phía sau và chỉ có thể tới đó bằng cách đi dọc con đường trải nhựa nối thẳng với hành lang. Từ chỗ tôi chạy lao xuống, nhảy hai, ba bậc thang một lúc cũng phải mất ba phút.
Claire đợi tôi ở ngoài cửa văn phòng của chị. Khuôn mặt tươi sáng của chị đang hằn sâu một mối băn khoăn nghề nghiệp, nhưng trông thấy tôi chị nhoẻn cười và ôm tôi thật chặt.
- Em thế nào, người lạ? - Chị hỏi như thể vụ án đang ở cách xa chúng tôi hàng nghìn dặm vậy.
Claire luôn có cách xoa dịu sự căng thẳng ngay cả trong những tình huống nguy kịch nhất. Tôi thường phải thán phục chị mỗi khi chị làm cho bộ óc đang quá căng thẳng của tôi giãn ra chỉ bằng một nụ cười.
- Em khỏe mà, Claire. Chỉ có điều đang bị sa lầy trong công việc.
- Giờ em đã là cục cưng của Mercer rồi, chị sẽ chẳng được gặp em nhiều nữa nhỉ.
- Chị này cứ đùa!
Chị trợn mắt nhìn tôi, nhoẻn một nụ cười đầy ngụ ý. Này, chị biết tỏng tham vọng của em rồi đấy, cũng có thể là nhiều hơn thế. Nhưng cô gái, hãy nhớ giành thời gian cho những người yêu quý cô. Chị lẳng lặng dẫn tôi bước vào dãy hành lang trải vải sơn và sực nức mùi thuốc khử trùng tới phòng giải phẫu tử thi được gọi là Hầm Mộ.
Chị liếc nhìn về phía sau và bảo.
- Em nói như thể em biết chắc Tasha Catching đã bị giết bởi một viên đạn lạc.
- Đúng là em đã nghĩ như vậy thật. Tên bắn súng đã xả ba băng đạn vào nhà thờ và con bé là người duy nhất bị trúng đạn. Em thậm chí đã đến xem xét rất kỹ vị trí, nơi mà những viên đạn được bắn ra. Làm gì có chuyện hắn có được một đường ngắm trực tiếp không vướng víu gì. Nhưng chị nói hai...
- Ừ, - Claire gật đầu. Chúng tôi bước qua một cánh cửa độn dày đóng kín vào trong bầu không khí khô lạnh của Hầm Mộ. Sự lạnh lẽo giá băng và mùi hóa chất nồng nặc ở đây luôn làm tôi nổi da gà.
Lần này cũng vậy. Tôi trông thấy ngay một ngăn hầm lạnh đang có người nằm, phủ vải trắng. Cơ thể cô bé chỉ chiếm một nửa độ dài của ngăn.
- Từ từ đã em, - Claire ngăn tôi lại. Một tử thi trần truồng, cứng đơ và tái xám chẳng bao giờ là một cảnh tượng dễ nhìn cả.
Chị kéo tấm vải trắng ra. Tôi trông thấy khuôn mặt của cô bé. Chúa ơi, nó còn nhỏ quá...
Tôi nhìn vào làn da đen mịn màng, quá ngây thơ, quá trong trắng, và cực kỳ lạc lõng giữa khung cảnh lạnh lẽo nơi đây. Một phần trong tôi chỉ muốn chìa tay ra vuốt nhẹ lên cặp má bầu bĩnh của cô bé. Nó có khuôn mặt thật đáng yêu.
Một vết thương to, còn mới và đã được lau sạch máu xé toang phần thịt trên vùng ngực bên phải của đứa trẻ.
- Hai viên đạn, - Claire giải thích, - gần như thẳng hàng và sát cạnh nhau. Chị có thể hiểu được tại sao mọi người lại bỏ qua chi tiết này. Hai phát đạn gần như trùng một lỗ.
Tôi gắng gượng nuốt nước bọt hai lần. Một cơn buồn nôn quặn lên từ dưới ruột.
- Phát đầu tiên xuyên qua xương bả vai, - Claire tiếp tục, khẽ lật nghiêng cơ thể nhỏ xíu sang một bên. - Phát thứ hai vào đốt sống thứ tư và văng vào xương sống.
Claire nhoài người sang bên và cầm một chiếc đĩa bằng thủy tinh có nắp dùng để cấy vi khuẩn từ chiếc bàn gần đó. Rồi với cái nhíp nhỏ xíu, chị gắp một vật bằng chỉ mỏng dính có kích thước cỡ đồng hai lăm xu lên.
- Hai phát đạn, Linds ạ... Phát thứ nhất trúng ngay tâm thất phải, rất bài bản. Nhiều khả năng con bé chết ngay từ phát đạn này.
Hai phát đạn ư...? Tôi cố gắng phỏng đoán vị trí nơi Tasha từ trong nhà thờ bước ra ngoài và so sánh nó với đường đạn mà kẻ giết người bắn ra từ trong khu rừng thưa. Một phát nghe còn hợp lý, nhưng hai...
- Tốp của Charlie Clapper có tìm thấy vết đạn nào trên bức tường nhà thờ, chỗ cô bé bị bắn ngã không? - Claire hỏi.
- Em không biết. - Đó chỉ là một thủ tục bình thường trong mọi vụ án giết người nhằm so sánh mọi viên đạn với vết tích của chúng trên người nạn nhân cho chắc chắn.
- Em sẽ kiểm tra.
- Nhà thờ được xây bằng gì? Gỗ hay đá?
- Bằng gỗ, - tôi đáp, bắt đầu nhận ra Claire đang hướng tới đâu. Gỗ không thể nào làm chệch đường đi của một viên đạn từ khẩu M16 được.
Claire đẩy cặp kính lên trán. Chị có khuôn rất tươi và dễ thương, nhưng khi biết chắn một điều gì đó, như bây giờ chẳng hạn, khuôn mặt ấy sẽ đầy sức thuyết phục.
- Lindsay ạ, hai phát đạn đều từ đằng trước và rất chính xác. Một phát trông giống như từ một đường đạn khác vậy.
- Em đã rà soát kỹ lưỡng từng mét vuông đất ở vị trí của tên bắn súng rồi mà, chị Claire. Theo cách bắn mà chị mô tả, chắc hẳn hắn ta phải là một thiện xạ cừ khôi.
- Em đã nói đạn bị bắn lung tung vào một bên hông của nhà thờ...
- Một cách chắc chắn, từ phải sang trái. Và không một ai khác bị trúng đạn. Gần một trăm phát súng, con bé là nạn nhân duy nhất.
- Chính vì thế mà em cho đây là một tai nạn thảm khốc, phải không? - Claire tháo cặp găng tay y tế bằng nhựa dẻo ra, ném chúng vào thùng rác. Hừm, hai phát đạn này không hề là tai nạn chút nào. Chúng không được bắn vu vơ mà nhằm trúng cái đích mà chúng cần phải tới. Giết chết cô bé con ngay lập tức. Em nên lường tới cả khả năng này.
Tôi ngẫm nghĩ.
- Hắn chỉ có một thời gian rất ngắn để ngắm bắn, Claire ạ.
- Thế thì là do đêm hôm qua Chúa Trời đã không mỉm cười với cô bé tội nghiệp kia rồi, - Claire thở dài đầy thương cảm. - Nếu không phải vậy thì tốt hơn hết em nên bắt đầu truy tìm tên xạ thủ chết tiệt kia ngay đi.
12
Khả năng Tasha Catchings có thể không phải là nạn nhân tình cờ cứ ám ảnh tôi suốt dọc đường trở về văn phòng. Điều này khiến tôi vô cùng sửng sốt. Trên gác, tôi đâm sầm vào các điều tra viên đang bồn chồn đợi tôi. Lorraine Stafford thông báo cho tôi biết đã có xác nhận về việc một chiếc ô tô hiệu Dodge Caravan đời 94 vừa bị đánh cắp ba ngày trước ở bán đảo Mountain View. Tôi đề nghị cô ta tìm hiểu xem có đặc điểm nào trùng khớp với chiếc ô tô mà Bernard đã mô tả.
Sau đó, tôi quay sang phía Jacobi và giục anh ta thu xếp để đi ra ngoài với tôi.
- Đi đâu vậy? - Anh ta rên rỉ.
- Sang bên kia vịnh. Tới Oakland.
- Mercer vẫn đang tìm chị đấy, - Karen lại la to khi chúng tôi xuống tới sảnh. - Chị muốn tôi trả lời thế nào?
- Hãy bảo ông ấy là tôi đang bận điều tra một vụ giết người.
Hai mươi phút sau, chúng tôi đã vượt qua cầu Vịnh, len lỏi giữa những dãy phố buồn tẻ, cũ kỹ bên ngoài Oakland và dừng lại trước Trụ sở cảnh sát Oakland trên đại lộ Số 7. Đó là một tòa nhà khung nhôm kính thấp lè tè được xây theo phong cách điển hình của những năm đầu thập niên 60. Trên tầng hai là văn phòng của đội Homicide, cũng hẹp như văn phòng của chúng tôi nhưng tối tăm và ảm đạm hơn nhiều. Mấy năm qua, chúng tôi đã nhiều lần tới đây đê liên hệ công tác.
Trung úy Ron Vandervellen đứng dậy đón chúng tôi khi chúng tôi bước vào.
- Xin chào mừng các bạn đã đến với một cuộc sống tĩnh lặng.
- Chào anh, Ron, - tôi đáp.
- Điều gì đã khiến các bạn phải tới đây thế? Trông các bạn như đang đi khảo sát thực tế vậy.
Từ nhiều năm nay, giữa Đội Homicide San Francisco và Đội Homicide Oakland vẫn tồn tại một sự ganh đua thân thiện. Bọn họ luôn nghĩ rằng tất cả những gì chúng tôi phải đương đầu ở bên kia vịnh chỉ là những vụ thông thường.
- Tôi vừa thấy các bạn trên bản tin tối qua, - Vandervellen nói tiếp, - Trông ăn ảnh lắm. Ý tôi muốn nói chị ấy cơ... - Anh ta nhe răng cười với Jacobi. - Vụ gì có thể khiến tiếng tăm của chị lan tận sang đây thế?
- Chúng tôi sang đây tìm hiểu vụ của bà Chipman, - tôi trả lời. Estelle Chipman là người đàn bà da đen bị treo cổ dưới tầng hầm mà Cindy đã kể cho tôi nghe.
Anh ta nhún vai.
- Tôi có cả trăm vụ giết người chưa được giải quyết, nếu các bạn bên đó không có đủ việc để làm thì cứ sang đây.
Tôi đã quá quen với lối ăn nói châm chọc của Vandervellen, nhưng lần này nó khiến tôi hết sức khó chịu.
- E là chúng tôi không có thời giờ đâu, Ron ạ. Tôi chỉ muốn nhìn qua hiện trường vụ án thôi, nếu như không có gì cản trở.
- Chắc chắn là không rồi, nhưng tôi nghĩ nó chẳng liên quan gì tới vụ bắn súng vào nhà thờ của các bạn đâu.
- Sao vậy? - Tôi ngạc nhiên hỏi lại.
Trung úy cảnh sát của Oakland đứmg dậy, đi vào một góc phòng và trở ra với một tập hồ sơ trên tay.
- Tôi nghĩ sẽ rất khó liệt một vụ giết người da màu mà thủ phạm cũng chính là một người da màu vào hạng giết người với động cơ phân biệt chủng tộc.
- Anh đang nói gì vậy? Tôi hỏi. - Kẻ giêt Estelle Chipman là người da màu à?
Anh ta đeo kính vào và đọc lướt qua những trang hồ sơ cho tới khi tìm thấy một tờ với tiêu đề “Báo cáo của nhân viên điểu tra các vụ chết bất thường ở hạt Alamenda”.
- Chị hãy đọc cái này đi rồi chuẩn bị nước mắt mà khóc, - anh ta lẩm bẩm - Nếu như chị gọi điện trước cho tôi thì tôi đã có thể giúp chị tiết kiệm chi phí cầu đường rồi... Mẫu da tìm thấy dưới móng tay nạn nhân đã được xác định là lớp biểu bì của một người không phải da trắng. Mẫu vật đang được đưa đi phân tích chi tiết.
- Chị vẫn muốn ngó qua hiện trường vụ án nữa chứ? - Vandervellen hỏi lại, dường như rất thích thú với giây phút này.
- Có phiền anh không? Dù sao chúng tôi cũng đã mất công sang đây rồi mà.
- Chắc chắn rồi, các bạn luôn được chào đón như những thượng khách mà. Đây là vụ do Krimpman đảm nhiệm, nhưng hiện giờ anh ta đi vắng rồi. Tôi sẽ đưa các bạn tới đó. Tôi không hay ra ngoài tới khu chung cư Gustave White nhưng biết đâu, được đi với hai siêu cảnh sát như các bạn, tôi lại thu thập thêm được điều gì đó cũng nên.
13
Khu chung cư Gustave White là sáu ngôi nhà cao tầng xây bằng gạch đỏ giống hệt nhau trên đường Redmond ở Tây Oakland. Khi chúng tôi dừng xe lại, Vandervellen nói. - Đừng tỏ ra quá xúc động... Bà già tội nghiệp chẳng ốm đau gì, tài chính có vẻ ổn định, thậm chí còn đi nhà thờ hai lần một tuần nữa. Nhưng đôi khi con người ta cũng hay rơi vào cảnh tuyệt vọng. Chờ tới khi việc khám nghiệm tử thi hoàn tất, mọi chuyện sẽ trở nên hợp lệ thôi mà.
Tôi nhớ lại hồ sơ vụ án: Không một nhân chứng, không có ai nghe thấy tiếng kêu nào, không ai trông thấy người nào đó bỏ chạy. Chỉ có một bà già sống lủi thủi một mình, được tìm thấy bị treo cổ dưới một đoạn ống hơi nước dưới tầng hầm, cổ ngoẹo sang bên phải, lưỡi thè ra ngoài.
Tới nơi, chúng tôi đi thẳng về phía Nhà c.
- Thang máy đang bị hỏng, - Vandervellen nói.
Chúng tôi đi thang bộ xuống dưới. Trong tầng hầm tróc lở, tường dày đặc những hình vẽ lung tung, chúng tôi thấy một tấm biến kẻ bảng tay đề “Phòng giặt - Phòng nước sôi”
- Người ta đã tìm thấy bà ấy ở đây.
Trong phòng vẫn còn vương vãi rất nhiều dải băng màu vàng mà cảnh sát dùng để quây hiện trường vụ án. Một mùi hôi nồng nặc xộc thẳng vào mũi chúng tôi. Mấy bức tường trong này cũng đầy những hình vẽ bậy bạ. Mọi thứ liên quan đến vụ án: xác nạn nhân, đoạn dây điện tròng trên cổ đều đã được đưa về nhà xác hoặc mang đi làm tang vật.
- Tôi không hiểu chị định tìm gì ở đây, - Vandervellen nhún vai nói.
- Tôi cũng chưa biết, - tôi cố giấu sự khó chịu.- Vụ việc xảy ra vào đêm thứ Bảy tuần trước à?
Nhân viên điều tra đoán chừng mười giờ. Chúng tôi nghĩ có thể bà già xuống đây để giặt quần áo, và một người nào đó đã làm bà ta giật mình. Người quản lý khu chung cư đã tìm thấy xác bà ta vào sáng hôm sau.
- Thế còn camera thì sao? - Jacobi hỏi. - Tôi thấy chúng được gắn la liệt khắp các hành, lang và cả ngoài sảnh.
- Giống thang máy, hỏng hết cả rồi. - Vandervellen lại nhún vai.
Rõ ràng là cả Vandervellen lẫn Jacobi đều muốn đi ra càng nhanh càng tốt, nhưng có một cái gì đó cứ níu chân tôi lại. Để làm gì nhỉ? Tôi không biết. Nhưng các giác quan của tôi cứ nghe thấy tiếng kêu vo vo. Tìm tôi đi, tôi ở đây.
- Chuyện chủng tộc bị loại rồi nhé, - Vandervellen nói, - nếu như chị vẫn còn muốn tìm một dấu hiệu để gắn kết hai vụ lại với nhau. Tôi chắc chị cũng thừa biết việc một tên giết người thay đổi cách thức gây án giữa cuộc chơi của hắn là điều không bình thường.
- Cảm ơn anh, - tôi ngắt lời rồi đưa mắt nhìn quanh phòng. Chẳng có gì ngoài cảm giác. - Cứ coi như đây là vụ của chúng ta đi. Biêt đâu lại có một cái gì đó bất thần nổi lên trên mặt nước thì sao.
Khi Vandervellen chuẩn bị tắt đèn, cũng là lúc mắt tôi chạm tới nó.
- Chờ đã, - tôi ngăn lại.
Rồi như thế có một sức hút kỳ lạ, tôi bị kéo vào tít trong một góc phòng, tới bức tường cạnh nơi Chipman bị treo cổ. Tôi quỳ xuống, lướt những ngón tay trên bề mặt bức tường bê-tông. Nếu lúc trước tôi chưa được trông thấy nó thì chắc chắn tôi cũng sẽ bỏ qua.
Một hình vẽ thô sơ, giống như của trẻ con, bằng phân màu cam nhạt. Đó là một con sư tử. Giống hình vẽ mà Bernard Smith miêu tả nhưng dữ tợn hơn nhiều. Thân con sư tử xuôi xuống một cái đuôi cuộn tròn, nhưng là đuôi của một vật khác... một loài bò sát? Một con rắn?
Nhưng đó chưa phải là tất cả.
Con sư tử có hai đầu: một là đầu sư tử, đầu kia trông như của một con dê.
Tôi cảm thấy tức ngực, một cơn rùng mình khiếp sợ lan khắp người tôi. Tôi chợt hiểu ra.
Jacobi tiến lại gần sau lưng tôi.
- Tìm thấy gì thế, trung úy?
Tôi hít một hơi thật sâu.
... Pokémon.
14
Giờ thì tôi đã biết...
Hai vụ này chắc chắn có liên quan với nhau. Việc Bernard Smith trông thấy chiếc xe chở hàng bỏ chạy là xác thực. Lorraine Stafford cũng đã có manh mối về một chiếc xe bị đánh cắp. Có lẽ chúng tôi đang phải đối đầu với một kẻ sát nhân giết hai sinh mạng.
Tôi chẳng ngạc nhiên chút nào khi trở về văn phòng và bắt gặp cảnh sát trưởng Mercer đang nổi trận lôi đình. Tôi đóng cửa phòng làm việc lại, quay số máy nội bộ của ông và ngồi chờ đợi một cơn thịnh nộ.
- Cô cũng biết ở đây mọi thứ đang sôi lên sùng sục, - tiếng ông vang lên, tôi nghe có sự day dứt trong đó. - Vậy mà cô nghĩ cô có thể lang thang suốt ngày ngoài đường, phớt lờ mọi cuộc gọi của tôi như vậy sao? Bây giờ cô đã là trung úy Boxer rồi. Nhiệm vụ của cô là quản lý tốt đội công tác và báo cáo kịp thời tiến độ điều tra cho tôi biết.
- Tôi xin lỗi, thưa sếp, chỉ có điều...
- Một đứa bé đã bị giết. Người dân quanh vùng đang rất hoang mang lo sợ. Hiện giờ có một thằng điên đang chạy lông nhông ngoài kia tìm cách biến nơi này thành địa ngục. Tới ngày mai thì tất cả các nhà lãnh đạo người Mỹ gốc Phi đều sẽ đòi hỏi được biết chúng ta đang làm gì cho mà xem.
- Tôi e còn nghiêm trọng hơn thế cơ, sếp ạ.
Mercer sững lại.
- Nghiêm trọng hơn cái gì?
Tôi liền kể cho ông nghe thứ mà tôi đã tìm thấy dưới tầng hầm ở Oakland. Một biểu tượng giống hình con sư tử đã xuất hiện ở cả hai vụ giết người. Tôi nghe thấy tiếng ông hít một hơi thật sâu.
- Ý cô muốn nói hai vụ giết người này liên quan đến nhau?
- Ý tôi là trước khi chúng ta có bất cứ một kết luận vội vã nào thì khả năng này vẫn còn tồn tại.
Một luồng không khí nặng nề thoát ra từ hai lá phổi của cảnh sát trưởng.
- Cô hãy mang ngay tấm ảnh chụp thứ mà cô tìm thấy trên bức tường đó tới phòng phân tích, cả bản phác thảo của đứa trẻ ở Bay View nữa. Tôi muốn biết những hình, vẽ đó có nghĩa gì.
- Tôi đã làm thế rồi ạ, - tôi trả lời.
- Thế còn chiếc xe bỏ chạy? Đã có tin tức phản hồi chưa?
- Chưa ạ.
Một khả năng phức tạp dường như đang được hình thành trong đầu Mercer.
- Nếu như có một âm mưu nào đó đang diễn ra ở đây thật thì chúng ta sẽ không ngồi yên để thành phố này bị giữ làm con tin cho một chiến dịch khủng bố đâu.
- Chúng tôi sẽ điều tra theo hướng chiếc xe chở hàng. Còn về chuyện biểu tượng, sếp hãy cho tôi thêm thời gian. - Tôi không muốn nói ra điều mà tôi sợ hãi nhất. Nếu Vandervellen nói đúng, rằng kẻ giết Estelle Chipman là người da đen, và Claire cũng đúng nốt, rằng Tasha Catchings bị nhắm bắn có mục đích, thì vụ này sẽ chẳng phải là chiến dịch khủng bố sắc tộc.
Ngay cả trên điện thoại, tôi cũng có thể hình dung ra những nếp gấp bên dưới quai hàm của sếp hằn sâu xuống. Tôi đang đề nghị ông một việc mạo hiểm, cực kỳ mạo hiểm. Cuối cùng tôi nghe tiếng ông thở hắt ra.
- Đừng làm tôi thất vọng nhé, trung úy. Hãy giải quyết vụ án của cô đi!
Khi tôi bỏ điện thoại xuống, tôi cảm nhận được một sức ép đang ngày một đè nặng xuống đầu tôi. cả thế giới này đang trông đợi tôi phá tan một tổ chức khủng bố, trong khi chính bản thân tôi cũng đang nghi ngờ.
Trên bàn làm việc, tôi trông thấy tin nhắn của Jill. “Hẹn nhau đi uống nước nhé? Sáu giờ. Cả nhóm chúng ta.”
Cả một ngày trời đắm chìm trong vụ án... Nếu như bây giờ, có một điều gì làm dịu được nỗi sợ hãi của tôi thì đó chính là Jill, Claire và Cindy, cùng với một bình đầy margarita tại quán Susie.
Tôi nhắn lại cho Jill là tôi sẽ có mặt.
Tôi liếc nhìn về phía chiếc mũ chơi bóng chày màu xanh nhạt treo trên mắc áo ở góc phòng làm việc, với dòng chữ - Đây là Thiên Đường - thêu trên vành mũ. Đó là chiếc mũ của Chris Raleigh. Anh đã tặng cho tôi trong kỳ nghỉ cuối tuần lãng mạn ở Thung lũng Thiên Đường, khi bên ngoài thế giới dường như biến mất và chúng tôi bắt đầu mối quan hệ thật đẹp và lãng mạn.
- Đừng làm em rối trí nhé, - tôi thì thầm, mắt cay xè vì những giọt lệ đã bắt đầu dâng trào. Chúa ơi, tôi ước sao anh ấy đang ở đây cùng tôi. - Anh thật quá đáng... - Tôi lắc đầu với cái mũ. - Em nhớ anh nhiều lắm!
15
Chỉ mất chưa đầy một phút ngồi vào chỗ quen thuộc của cả nhóm trong quán Susie là chúng tôi đã bắt đầu có lại được cảm giác thích thú khi trước. Mọi chuyện trở về giống hệt những ngày chúng tôi còn ở bên nhau.
Một vụ án rắc rối đang bị bế tắc. Một bình đầy thứ đồ uống margarita có trị số ốc-tan cao. Ba người bạn thân thiết nhất của tôi, tất cả đều giữ những vị trí quan trọng trong cơ quan thi hành pháp luật. Tôi cho rằng nhóm nữ điều tra các tội ác giết người của chúng tôi lại bắt đầu họp mặt.
- Giống ngày xưa quá nhỉ? - Claire mỉm cười, né thân hình cao lớn của mình vào trong lấy chỗ cho tôi ngồi xuống.
- Còn hơn thế ấy chứ, - tôi thở dài rồi tự rót cho mình một cốc đồ uống sủi bọt. - Chúa ơi, tớ thèm quá!
- Một ngày vất vả à? - Jill hỏi.
- Không, - tôi lắc đầu. - Việc thường ngày thôi mà. Gọi hộ tớ một miếng bánh ngọt với.
- Việc thường ngày cũng đủ bở hơi tai. - Claire nhún vai, nhấp một ngụm margarita. - Thôi uống đi! Gặp lại nhau như thế này là vui lắm rồi!
Rõ ràng là đang có một sự chờ đợi căng thẳng trong nhóm. Tôi vừa uống vừa nhìn lướt chung quanh. Ba cặp mắt đang tập trung cả về phía tôi.
- Này này, - tôi suýt nữa bị sặc. - Tớ sẽ không bị rơi vào bẫy của các cậu đâu đấy nhé. Mọi việc mới chỉ bắt đầu thôi mà.
- Tớ đã bảo rồi, - Jill thốt lên kèm theo một nụ cười khẳng định. Mọi thứ đã thay đổi. Lindsay bây giờ khôn khéo lắm.
- Không phải vậy đâu Jill. Tớ bây giờ như bị mắc họng ấy. Mercer bắt mọi người phải giữ kín, không được tiết lộ quá trình điều tra ra ngoài. Với lại, tớ tưởng hôm nay chúng mình tụ tập ở đây để nghe tin tức của cậu.
Cặp mắt tinh quái màu xanh nước biển của Jill nhấp nháy.
- Người đại diện cho văn phòng ủy viên công tố muốn nhường quyền phát biểu cho người bạn đồng nghiệp đáng mến của mình.
- Nhưng tớ mới chỉ tiếp nhận vụ án có hai ngày thôi mà.
- Thế trong thành phố này người ta còn biết nói những chuyện gì khác nữa? - Claire nói. - Em có muốn nghe chị kể về một ngày của chị không? Sau khi gặp em lúc mười giờ ở nhà xác, chị đã đến trường đại học San Francisco để giảng bài về bệnh lý học của...
- Chúng ta có thể nói chuyện thời sự quốc tế, - Cindy tiếp lời, - hoặc kể về cuốn sách mà mình đang đọc cũng được mà. Tớ đang đọc cuốn Cái chết của Vishnu.
- Không phải là tớ không muốn nói, - tôi phản đối. - Chỉ là do có lệnh phải giữ bí mật.
- Giữ bí mật, giống như tớ đã giữ bí mật với cậu về vụ ở Oakland à? - Cindy mỉa mai.
- Chúng ta sẽ nói chuyện đó sau, - tôi đáp.
- Thế này nhé, - Jill nói. - Cậu kể chuyện của cậu cho chúng tớ nghe. Như ngày trước. Sau đó tớ sẽ kể chuyện của tớ. Mọi người làm trọng tài xem chuyện của ai hay hơn. Người thua cuộc sẽ phải thanh toán tiền đồ uống.
Tôi biết vấn đề chỉ còn là thời gian trước khi tôi chịu nhượng bộ. Làm sao tôi có thể giữ bí mật với mấy cô bạn thân ranh mãnh này được chứ? Tôi đang bị bế tắc, mà tìm khắp cả tòa cũng không moi đâu ra được ba bộ óc thông minh như thế này. Tôi buông một tiếng thở dài hy vọng.
- Mọi người ghé đầu lại đây.
- Tất nhiên rồi, - cả Jill và Claire cùng reo lên. - Bắt đầu!
Tôi quay sang phía Cindy.
- Cậu không được đưa tin lên báo đâu đấy nhé. Một mẩu cũng không được. Cho tới khi nào tớ bảo xong.
- Tại sao cậu cứ phải hăm dọa tớ thế nhỉ? - Cô ấy lắc đầu quả quyết. - Tớ theo cậu.
Jill rót đầy chiếc cốc của tôi.
- Tớ biết thế nào chúng tớ cũng đánh ngã được cậu mà.
Tôi nhấp một ngụm.
- Không phải đâu, tớ đã quyết định kể hết cho moi người nghe ngay từ khi cậu hỏi tớ “Một ngày vất vả à?” rồi cơ.
Thế là, từng đoạn một, tôi dẫn dắt cả nhóm đi suốt quá trình điều tra của tôi trong hai ngày trời. Miếng đề-can mà Bernard Smith đã trông thấy trên chiếc xe hàng bỏ chạy. Hình vẽ tôi tìm thấy ở Oakland. Khả năng Estelle Chipman có thể đã bị giết chứ không phải tự tử. Suy nghĩ của Claire cho rằng Tasha Catchings không hề bị trúng đạn một cách ngẫu nhiên.
- Tớ hiểu, - Cindy kêu lên với một vẻ mặt hân hoan.
- Em phải tìm cho ra hình con sư tử đó có ý nghĩa gì, - Claire nhấn mạnh.
- Em đang làm vậy. Chắc sẽ phải mất nhiều thời gian. - Tôi gật đầu.
Jill, người đại diện văn phòng ủy viên công tố đặt vấn đề.
- Hai nạn nhân kia có mối quan hệ gì đó với nhau không?
- Cho đến bây giờ thì không.
- Thế còn động cơ giết người thì sao? - Cô ấy gặng hỏi.
- Tất cả mọi người đều cho là giết người do thù ghét.
Cô ấy thận trọng gật đầu.
- Thế còn cậu?
- Mình bắt đầu nghĩ khác. Mình đang tính tới khả năng một ai đó dàn cảnh giết người do thù ghét để tung hỏa mù.
Một sự im lặng kéo dài bao trùm quanh bàn.
- Một kẻ phân biệt chủng tộc giết người hàng loạt. Mãi sau Claire mới nói.
16
Tôi đã kể xong chuyện của tôi, một câu chuyện buồn. Mọi người đều rầu rĩ.
Tôi gật đầu nhìn Jill.
- Giờ tới lượt cậu...
Cindy vội vã cướp lời.
- Lần này Bennett sẽ không đòi ở lại nữa chứ?
Trong tám năm làm việc tại văn phòng ủy viên công tố, Jill đã vượt lên và trở thành người trợ thủ đắc lực của Bennett. Nếu như ông già này quyết định nghỉ hưu thì cô ấy sẽ là người đương nhiên được lựa chọn để bổ nhiệm vào chức ủy viên công tố San Francisco.
Jill cười to và lắc đầu.
- Ông ấy sẽ còn ngồi tại cái bàn gỗ sồi của ông ta cho đến lúc chết. Sự thực là như vậy.
- Em bảo có chuyện để kể cho cả nhóm nghe mà, - Claire thúc giục.
- Thì đúng thế, - Jill thừa nhận. - Em...
Jill ngập ngừng đưa mắt nhìn từng người một như thể muốn kéo dài tình trạng hồi hộp. Cặp mắt xanh cô-ban thường ngày sắc sảo là thế mà bây giờ trở nên hiền dịu vô cùng. Rồi với một nụ cười ngượng ngùng thoáng lướt qua trên mặt, Jill thở dài và nói tiếp.
- Em đang có thai.
Chúng tôi ngồi im, chờ cho Jill thú thật là đã đùa giỡn cả nhóm. Nhưng cô ấy không làm thế. Cô ấy chỉ nhìn chúng tôi bằng cặp mắt long lanh cho đến khi phải tới hơn ba chục giây trôi qua.
- Cậu... cậu nói đùa, - tôi lắp bắp. Jill vốn là người phụ nữ tự chủ nhất mà tôi từng gặp. Suốt ngày người ta thấy cô ấy cặm cụi bên bàn làm việc tối muộn mới về nhà. Chồng của cô, anh Steve, điều hành một quỹ kinh doanh cho Ngân hàng Mỹ. Cả hai vợ chồng đều mê thể thao và đã từng đạt được những thành tích đáng nể: Đi xe đạp leo núi ở Moab, lướt ván trên sông Columbia ở Oregon. Còn một đứa bé thì...
- Chuyện đó bình thường mà, - Jill kêu lên vì thấy chúng tôi cứ ngơ ngác mãi.
- Chị biết, - Claire tán thành, đập tay xuống mặt bàn.
- Chị hiểu chứ. Chị đã trông thấy trong mắt em, trên khuôn mặt của em, và chị nghĩ có một điều gì đó đang sưởi ấm cho một cái bếp lò lạnh lẽo. Chị là chuyên gia trong lĩnh vực này mà. Được bao lâu rồi?
- Tám tuần chị ạ. Em sẽ sinh vào khoảng cuối tháng năm. - Mắt Jill sáng lên như mắt một cô gái trẻ.
- Nhóm chúng mình được em báo tin đầu tiên đấy, gia đình em chưa ai biết đâu.
- Bennett sẽ phát rồ lên cho mà xem, - Cindy cười khúc khích.
- Bản thân ông ấy cũng có tới ba người con. Cho dù tớ có phải nghỉ việc về trồng nho ở Petaluma, tớ cũng phải sinh con.
Tôi thấy mình mỉm cười. Một phần trong tôi mừng cho Jill, mừng đến độ muốn khóc. Một phần tôi lại ghen tỵ. Nhưng tôi vẫn chưa thể tin hẳn.
- Đứa trẻ này nên biết nó được sinh ra làm gì. - Tôi nhe răng cười. - Rồi nó sẽ được ru ngủ bằng những đoạn băng ghi âm các phiên tòa ở California cho mà xem.
- Không đâu, - Jill phá lên cười thách thức.. - Tớ sẽ không làm vậy, tớ thề đấy. Tớ sẽ trở thành một người mẹ tốt.
Tôi đứng hẳn lên và nhoài người qua bàn về phía Jill.
- Tuyệt lắm, Jill ạ. - Trong khoảnh khắc, chúng tôi nhìn nhau chăm chú, mắt sáng long lanh. Tôi thực sự mừng cho cô ấy. Tôi vẫn nhớ khi tôi đang hoảng sợ vì phát hiện mình mắc một căn bệnh về máu, Jill đã vén ngay tay áo của cô ấy lên và chỉ cho chúng tôi xem vết sẹo khủng khiếp trên đó; rồi cô ấy kể lại chuyện đã tự cắt tay mình khi còn trong trường đại học vì phải chịu một áp lực quá lớn hòng vươn lên dẫn đầu về mọi mặt đến nỗi cô ấy đã phải quyết định dùng cách đó để gạt bỏ áp lực ra khỏi cuộc sống của mình.
Chúng tôi ôm choàng lấy nhau, tôi siết chặt người cô ấy.
- Vậy đây chính là điều khiến em suy nghĩ suốt mấy hôm vừa rồi đấy à? - Claire hỏi.
- Chúng em đã tranh luận khá nhiều trong hai tháng,
- Jill đáp, ngồi trở lại xuống ghế. - Em không chắc đây có phải là một quyết định sáng suốt hay không. - Cô nhìn thẳng vào mắt Claire. - Lần đầu tiên em gặp mọi người trong nhóm mình, khi Lindsay đề nghị em gia nhập nhóm em đã nghe chị nói về những đứa con của chị... Đó chính là lúc một tia lửa ấm áp lóe sáng trong lòng em. Em đã nghĩ..
- Chị ấy đang điều hành mọi công việc trong bộ phận khám nghiệm tử thi, là một phụ nữ có năng lực nhất mà mình từng biết, đã đạt tới đỉnh cao của sự nghiệp, vậy mà chị ấy chỉ nói chuyện về những đứa con.
- Mới bắt đầu đi làm thì ai cũng chỉ chú trọng vào công việc, - Claire giải thích. - Là một người phụ nữ, chúng ta càng cần phải chứng tỏ cho mọi người năng lực của mình. Nhưng đến khi có con, mọi chuyện trở nên khác hẳn, đó là điều hết sức tự nhiên. Chúng ta bắt đầu nhận ra rằng giờ đây chúng ta làm mọi việc không phải cho bản thân mình nữa. Chúng ta chợt nhận ra... có con là chúng ta đã có tất cả.
- Đúng thế đấy..., - Jill reo lên, mắt sáng long lanh. - Em cũng cảm nhận được điều đó. - Rồi cô nói tiếp, giọng trầm hẳn xuống. - Em chưa bao giờ kể với mọi người, nhưng năm năm trước em cũng đã từng có thai. - Cô nhấp một ngụm nước và lắc đầu, hất mái tóc đen mượt ra sau lưng. - Công việc lúc đó rất vất vả... mọi người nhớ chứ, khi đó đang xử vụ La Frade. Anh Steve lại vừa bắt tay vào việc điều hành quỹ kinh doanh của anh ấy.
- Em nghĩ đó chưa phải thời điểm thích hợp chứ gì, em gái? - Claire hỏi.
- Không phải vậy đâu, chị ạ, - Jill đáp nhanh. - Em cũng muốn sinh con lắm, nhưng em thường xuyên phải làm việc tại văn phòng tới mười giờ đêm. Steve lại hay đi công tác... - Cô dừng lại, một đám mây u buồn dâng đầy trong đôi mắt to. - Em đã bị ra huyết. Bác sĩ bảo em phải nghỉ việc. Em đã cố nhưng mọi người ai nấy chỉ mải mê theo đuổi vụ xét xử. Cho đến một hôm, em đã bị sảy thai... cái thai bốn tháng tuổi.
- Ôi Chúa ơi, - Claire thở dốc. - Tội nghiệp Jill.
Jill bật khóc thổn thức, mấy người quanh bàn ngồi lặng thinh không dám nói năng gì.
- Quan trọng là bây giờ cậu cảm thấy thế nào? - Mãi sau tôi mới dám lên tiếng hỏi.
- Tuyệt vời..., - Jill đáp. - Về thể chất, chưa bao giờ tớ khỏe như lúc này... - Rồi cô ấy khẽ chóp mắt một lúc và quay lại nhìn chúng tôi. - Thực ra, tớ hơi bị mệt.
Tôi nắm lấy tay Jill.
- Bác sĩ bảo sao?
- Ông ấy dặn tớ phải khám thai thường xuyên và hạn chế tới mức tối thiểu những ca gây xúc động mạnh.
- Cậu có làm đúng theo lời dặn không đấy? - Tôi gặng hỏi.
- Lần này thì chắc là có, - Jill khịt mũi.
- Úi chao, - Cindy bật cười khúc khích. - Đột nhiên Jill lại sắp có đuôi.
Trong mắt Jill, tôi thấy đang diễn ra một sự thay đổi kỳ diệu mà trước đây tôi chưa bao giờ bắt gặp. Jill luôn thành công. Cô ấy có một khuôn mặt đẹp và đầy nghi lực. Bây giờ cô ấy đang hạnh phúc.
Những giọt lệ sung sướng tràn ra trên khóe mắt Jill. Tôi đã từng chứng kiến người phụ nữ này đứng oai phong trước tòa, đương đầu với những tên tội phạm gai góc nhất thành phố. Tôi đã từng được nhìn vết sẹo - bằng chứng của sự thiếu tự tin trên cánh tay cô. Nhưng mãi cho đến hôm nay, tôi mới thấy Jill khóc.
- Đồ quỷ... - Tôi mỉm cười, chìa tay ra đỡ tờ hóa đơn thanh toán. - Tớ nghĩ tớ đã thua cuộc.
17
Sau khi ôm chặt lấy Jill thêm vài lần nữa, tôi trở về căn hộ thân thuộc của tôi ở Potrero Hill.
Nó nằm trên tầng hai của một ngôi nhà màu xanh xây từ thời nữ hoàng Victoria thế kỷ 19 đã được nâng cấp. Sáng sủa và ấm cúng, nó còn có thêm một góc hóng mát với những khung cửa sổ rộng trông thẳng ra vịnh. Martha, con chó nhỏ giống cô-li yêu quý, đón tôi từ ngoài cửa.
- Chào mày, - tôi nói. Con chó ve vẩy cái đuôi và bấu nhẹ những cái chân đầy móng vuốt của nó vào cẳng chân tôi.
- Thế nào, ngày hôm nay của mày ra sao? - Tôi ôm nó lên, vuốt ve khuôn mặt nhỏ xinh của nó.
Tôi đi vào phòng ngủ, cởi bộ đồng phục ra, cặp gọn mái tóc và mặc vào người chiếc áo lạnh tay ngắn, rộng thùng thình cùng chiếc quần pijama bằng vải flannel mà tôi thường mặc mỗi khi trời trở lạnh. Sau đó tôi cho Martha ăn rồi rót cho mình một cốc Orange Zinger đầy và đem ra ngồi nhấm nháp ở góc hóng mát.
Martha nhẹ nhàng trườn lên nằm cuộn tròn trong lòng tôi. Xa xa, những ánh đèn của chiếc máy bay đang hạ cánh xuống sân bay San Francisco cứ nhấp nháy, trông thật lung linh huyền ảo. Tôi bật cười khúc khích khi nghĩ tới chuyện của Jill, mường tượng Jill trong hình ảnh một bà mẹ... Vóc dáng mảnh mai của cô ấy với cái bụng to phình. Tôi trìu mến nhìn xuống Martha.
- Mày biết không, Jill sắp được làm mẹ rồi đấy.
Tôi chưa bao giờ trông thấy Jill rạng ngời hạnh phúc đến thế. Chỉ mới cách đây có vài tháng thôi, tôi cũng đã từng ao ước có một đứa trẻ của riêng mình. Nhưng việc nuôi nấng con cái dường như không phải là thiên chức trong gia đình chúng tôi.
Mẹ tôi đã chết mười một năm về trước, khi tôi hai mươi bốn tuổi và vừa mới vào Học viện cảnh sát. Bà được chẩn đoán là mắc bệnh ung thư vú và suốt hai năm cuối học trong trường tôi đã phải chăm sóc cho bà, chạy đôn chạy đáo từ lớp tới cửa hàng nơi bà làm việc để đón bà rồi về nhà chuẩn bị bữa ăn và trông nom cô em gái tên Cat của tôi.
Cha tôi, một cảnh sát San Francisco, đã bỏ rơi chúng tôi khi tôi mới mười ba tuổi. Cho đến hôm nay, tôi vẫn không hiểu làm sao tôi có thể lớn nổi sau khi nghe được mọi chuyện - rằng ông ấy đã mất hết tiền bạc cho một tên cá ngựa chuyên nghiệp, rằng ông ấy đã có một cuộc sống tình ái hết sức bê bối, để rồi một ngày ông ấy đã đánh mất lương tâm và bị đuổi khỏi ngành.
Thông tin cuối cùng tôi biết về cha tôi là từ Cat. Nó bảo ông ấy đang ở bãi biển Redondo, làm vệ sĩ tư. Mấy người quen cũ thỉnh thoảng vẫn hỏi tôi về ông. Mỗi lần như vậy, họ lại nói chuyện cũ, nhưng có lẽ việc vẫn còn một vài người nhớ tới cha tôi dù sao cũng tốt lắm rồi. Họ còn nhắc đến cả chuyện cha tôi đã từng dùng một chiếc còng tay trói gô ba tên tội phạm và chuyện ông dám dừng ô-tô với một kẻ đang bị tình nghi ngồi trong để chạy vào chỗ cá ngựa. Nhưng mọi điều mà tôi có thể nghĩ về người đã sinh ra tôi bây giờ là ông ấy đã bỏ mặc tôi phải một mình chăm sóc mẹ tôi khi bà đang chết dần chết mòn và ra đi không bao giờ trở lại.
Đã gần mười năm trời tôi không gặp lại cha. Trong buổi lễ nhận bằng tốt nghiệp tại Học viện cảnh sát, tôi có thoáng trông thấy ông trong đám người đến dự, nhưng tôi đã không nói chuyện với ông. Thậm chí tôi cũng chả buồn nhớ tới ông nữa.
Chúa ơi, đã lâu lắm rồi tôi không nhớ tới vết thương lòng này của mình. Mẹ đã mất được mười một năm rồi. Bản thân tôi đã lấy chồng rồi ly dị. Tôi đã gia nhập Đội Homicide và bây giờ đã là trung úy. Ở một nơi xa xôi nào đó, tôi đã gặp được người đàn ông trong mộng...
Tôi đã đúng khi bảo với Mercer rằng ngọn lửa cũ đã được nhen nhóm.
Nhưng cho tới khi lên giường đi ngủ thì tôi quyết định sẽ gạt Chris Raleigh ra khỏi bộ nhớ của tôi.
18
Những cặp mắt ấy luôn khiến hắn say mê. Trần truồng trên giường, trong căn phòng tối tăm ảm đạm như tù ngục, hắn ngồi nhìn trừng trừng vào những bức ảnh đen trắng cũ kỹ mà hắn đã từng thích thú chiêm ngưỡng không dưới một nghìn lần.
Đó là những cặp mắt... đờ đẫn, tuyệt vọng và cam chịu.
Họ đã biết sắp đặt một tư thế rất đẹp để chụp ảnh, ngay cả khi họ biết rằng cuộc sống của họ sắp đi đến hồi kết. Ngay cả khi những sợi dây thòng lọng đã siết chặt quanh cổ họ.
Trong cuốn album sờn cũ, hắn đã có cả thảy bốn mươi bảy bức, cả ảnh chụp và bưu ảnh được sắp xếp theo thứ tự thời gian mà hắn đã dày công sưu tập chúng trong nhiều năm trời. Đầu tiên là một bức ảnh cũ đề ngày 9 tháng 6 năm 1901, cha hắn đã cho hắn. Dez Jones, bị hành hình theo kiểu lin-sơ ở Great River, Indiana. Bên mép ảnh, có ai đó đã viết những dòng chữ, nhưng đã mờ nhạt vì năm tháng. - Đây là buổi khiêu vũ mà con đã tham dự tối hôm qua. Chúng con thực sự đã chơi rất vui vẻ. Con trai của cha. Sam. - Cận cảnh là một đám đông ăn mặc lịch sự mũ mãng chỉnh tề. Sau lưng họ là một xác người bị treo cổ rũ xuống như một tàu lá héo.
Hắn giở nhanh qua trang khác. Frank Taylor, Mason, Georgia, 1911. Hắn đã phải mất 500 đô-la để có được nó, nhưng quả thực cũng đáng đồng tiền bát gạo. Từ phía sau cỗ xe độc mã đỗ dưới một gốc sồi cổ thụ, một người đàn ông bị kết án đang trợn mắt nhìn trừng trừng, chỉ vài giây trước khi gã chết. Trên mặt gã không hề có sự phản kháng cũng như vẻ hoảng sợ. Một đám nhỏ những người đàn ông và đàn bà ăn vận chỉnh tề đang nhăn nhở cười trước camera như thể họ đang được chứng kiến cảnh Lindbergh đến Paris vậy. Nhìn thoáng qua trông cứ tưởng như một bức ảnh gia đình.
Những cặp mắt của họ ngụ ý rằng treo cổ là một việc hết sức tự nhiên và hợp lý. Còn mắt của Taylor, đơn giản chỉ nói gã ta chẳng còn biết làm gì.
Hắn ta nhỏm dậy khỏi giường và lết thân hình cơ bắp của hắn tới trước gương. Hắn luôn là người khỏe mạnh. Hắn đã tập tạ được hơn mười năm rồi. Hắn hơi do dự khi ánh mắt của hắn chạm tới vết thương rớm máu và sưng vù trên ngực. Hắn đưa tay xoa nhẹ lên vết trầy sát. Con mụ già ghê gớm đã bập cả mười móng tay sắc nhọn của mụ vào ngực kẻ đang chuẩn bị cho mụ một cuộn dây thừng vắt lên mấy đoạn ống phía trên trần nhà. Vết thương chỉ hơi rớm máu nhưng khiến hắn hết sức khó chịu. Hắn không muốn bất cứ cái gì làm hỏng bề mặt nhẵn nhụi trên làn da của mình.
Hắn đứng tạo dáng trước gương, chiêm ngưỡng hình con sư tử lai dê xăm trổ trên ngực hắn.
Chẳng bao lâu nữa, những kẻ ngu ngốc kia sẽ nhận ra rằng đó không phải là những vụ giết người do hận thù cá nhân. Bọn chúng sẽ đọc được ám hiệu của hắn. Tội lỗi phải bị trừng trị. Danh tiếng cần được phục hồi. Hắn hoàn toàn không hề có chút ác cảm nào với những người ấy. Đó không phải hận thù cá nhân. Hắn trèo lên giường và thủ dâm với bức ảnh của Missy Preston, người có cái cổ thanh mảnh đã bị một đoạn dây thừng làm gãy ở Childers County, Tennessee, tháng 8 năm 1931. Thậm chí không cả một tiếng rên rỉ, hắn xuất tinh và sự phun trào dữ dội đó đã khiến hai đầu gối của hắn run bắn. Mụ già kia thật đáng chết. Đứa bé con trong dàn đồng ca nhà thờ cũng vậy. Hắn nằm vật ra giường.
Hắn lại xoa tay lên hình xăm trên ngực. Chẳng bao lâu nữa đâu, tao sẽ để cho mày được tự do, nhóc con ạ.
Hắn lại mở cuốn album ảnh và giở tới trang cuối cùng còn để trống, ngay sau Morris Tulo và Sweet Brown ở Longbow, Kansas, năm 1956.
Hắn để dành chỗ đó cho bức ảnh thích hợp. Và bây giờ, hắn đã có.
Hắn lấy một lọ hồ và chấm nhẹ lên mặt sau của tấm ảnh, sau đó dán chặt nó vào trang còn trống.
Đây là nơi mà bức ảnh sẽ được cất giữ.
Hắn nhớ lại cách bà già nhìn hắn trừng trừng, vẻ cam chịu và buồn bã hằn sâu trên gương mặt nhăn nheo ấy. Và hai con mắt...
Hắn nghắm nghía dòng chú thích mới: Estelle Chipman, với cặp mắt mở to, nhìn thẳng vào camera ngay trước khi hắn đá văng chiếc ghế khỏi chân bà lão.
Họ luôn được sắp đặt trong những tư thế rất đẹp.
19
Việc đầu tiên tôi đã làm trong buổi sáng hôm sau là gọi điện cho Stu Kirkwood, người phụ trách tổ đặc nhiệm chuyên điều tra các tội ác do hận thù thuộc sở cảnh sát. Tôi hỏi anh ta với tư cách cá nhân, xem gần đây có manh mối gì về những tổ chức thuộc loại này đang hoạt động ở Bay Area hay không. Người của tôi trước đó cũng đã nói chuyện với Stu, nhưng tôi cần mọi việc tiến triển nhanh hơn nữa.
- Cho đến giờ, tổ phân tích hiện trường của Clapper đang tiếp tục chà xát khu đất xung quanh nhà thờ, nhưng họ vẫn không tìm được gì cả, và thứ duy nhất được báo cáo về cho chúng tôi là những câu nói tốt lành dành cho mục sư Aaron Winslow.
Kirkwood thông báo cho tôi biết qua điện thoại rằng có một vài nhóm ủng hộ thuyết cho rằng người da trắng đang hoạt động một cách có tổ chức ở Bắc California, là một bộ phận của nhóm Klan hay nhóm Đầu Trọc Tân Đức Quốc Xã điên rồ nào đó. Anh ta cũng nói thêm rằng tốt hơn hết tôi nên liên hệ với văn phòng FBI của địa phương, vì đó mới đúng là nơi có nhiệm vụ để mắt tới hoạt động của những nhóm người này. Còn anh ta chuyên về những vụ hằn thù cá nhân nhiều hơn.
Nhắc đến FBI vào lúc này, tôi cảm thấy không hào hứng cho lắm. Tôi đề nghị Stu cho tôi mượn những gì mà anh ta đang có và một tiếng đồng hồ sau, anh ta lóc cóc chạy lên chỗ tôi, mang theo một túi nhựa nhét đầy những tập tài liệu xanh đỏ.
- Thông tin cơ bản nhé. - Anh ta nháy mắt với tôi và liệng chiếc túi lên mặt bàn.
Nhìn thấy xấp tài liệu dày cộp, mọi hy vọng của tôi liền xẹp xuống.
- Anh có ý kiến gì về những thứ này không, Stu?
Stu nhún vai nhìn tôi đầy vẻ thông cảm.
- San Francisco không hoàn toàn là nơi lý tưởng cho những nhóm này đặt sào huyệt. Hầu hết những gì mà tôi cho chị mượn đây đều có vẻ khá ôn hòa. Phần lớn thời gian họ dùng để uống bia và tập bắn bằng những khẩu súng vớ vẩn của họ.
Tôi gọi người mang đến cho tôi một đĩa sa-lát, định bụng sẽ dành mấy giờ đồng hồ tiếp theo bên bàn làm việc cùng với những kẻ gàn dở suốt ngày chỉ biết chửi bới người Do Thái và người da màu. Tôi lôi mấy tập tài liệu ra khỏi túi và mở hú họa một trong số đó.
Tập tài liệu nói về một nhóm lực lượng dân sự được tập luyện để sẵn sàng trở thành binh sĩ, đang hoạt động ở Greenview gần biên giới Oregon. Người California yêu nước. Những thông tin chung được cung cấp bởi FBI: Dạng hoạt động: Dân sự tập luyện làm binh sĩ, từ mười sáu đến hai mươi thành viên. Đánh giá về vũ khí: những loại súng ống nhỏ lẻ, bán tự động, mua bán tự do trên thị trường. Dòng cuối cùng ghi: Mức độ đe dọa: Thấp.
Tôi đọc lướt qua những tập tài liệu còn lại. Một số in thông tin cụ thể hơn về logo và những loại súng tạp nham, liệt kê ra vô số chi tiết từ sự thay đổi dân số ở đại bộ phận người châu Âu da trắng tới sự che giấu bằng các phương tiện truyền thông trong những chương trình của chính phủ nhằm đẩy mạnh việc thử nghiệm thụ tinh của các tộc người thiểu số trong ống nghiệm.
Tôi không thể hình dung ra nổi kẻ giết người của tôi lại cùng hội với những gã ba hoa chích chòe này. Tôi chẳng thấy ở hắn có điểm gì giống họ cả. Tên tội phạm của chúng tôi trơ tráo và thực tế hơn nhiều chứ không lơ ngơ những những thằng cha mới ở rừng ra kia. Hắn biết cách sửa soạn thật công phu cho những vụ án của hắn và giấu chúng dưới mác giết người do hận thù sắc tộc. Ngoài ra, hắn còn để lại ám hiệu tại hiện trường vụ án.
Thật giống như hầu hết mọi kịch bản, hắn muốn chúng tôi biết hắn là ai.
Và muốn chúng tôi biết sẽ còn nhiều vụ xảy ra nữa.
Tôi đọc thêm vài tập hồ sơ. Chẳng gì lóe lên trong óc tôi cả. Tôi chán nản nhìn chúng chằm chằm, cảm thấy việc mình vừa làm thật vô nghĩa.
Thình lình, Lorraine lao thẳng vào giữa phòng làm việc của tôi.
- Chúng ta đã có manh mối rồi, trung úy ạ. Đã tìm thấy chiếc xe chở hàng màu trắng.
20
Tôi đeo bao súng vào người và tóm cả Cappy lẫn Jacobi trên đường chạy xuống trước khi Lorraine kịp thông báo hết.
- Tôi muốn đội phản ứng nhanh ra đó cùng tôi, - tôi la lên.
Mười phút sau chúng tôi đã ầm ầm lao tới trước rào chắn tạm thời của cảnh sát ở San Jacinto, một khu dân cư khá tĩnh mịch.
Một chiếc xe tuần tiễu đang làm nhiệm vụ đã trông thấy chiếc Dodge Caravan đậu bên ngoài một ngôi nhà khá sang trọng ở Forest Hills. Điều khiến người cảnh sát này khẳng định đó chính là chiếc xe mà chúng tôi đang tìm kiếm là miếng đề-can có hình một con sư tử hai đầu ở thanh chống va đập phía sau xe.
Vasquez, anh chàng cảnh sát tuần tra trẻ tuổi, người đã gọi điện tới tòa báo tin về chiếc xe hàng, chỉ tay về phía cuối con đường rợp bóng cây dẫn tới ngôi nhà, nơi chiếc xe đang đỗ. Chuyện này nghe thật điên rồ. Khu vực này là nơi ở của những người quyền thế và giàu có, không giống với nơi ẩn náu của những tên phạm tội giết người chút nào.
Nhưng đúng là chiếc xe đang đỗ ở kia. Chiếc xe chở hàng màu trắng. Và Mufasa của Bernard Smith.
Mấy phút sau, một chiếc xe thuộc đội phản ứng nhanh được ngụy trang trông như xe chuyên sửa cáp truyền hình lao tới dọc con phố. Dẫn đầu đội là trung úy Skip Arbichaut. Nhưng tôi bắt đầu phân vân không biết trong tình huống này tôi nên làm gì, vây hãm đế theo dõi hay cứ thế xông thẳng vào nhà.
- Cappy, Jacobi và tôi sẽ vào trước, - tôi quyết định.
Dù sao đây vẫn là vụ của Đội Homicide chúng tôi và tôi không muốn để cho bất cứ ai phải mạo hiểm. Tôi bảo Arbichaut dàn quân, hai người vòng ra sau, ba người vào vị trí phía trước ngôi nhà và một đi theo chúng tôi đề phòng trường hợp chúng tôi cần hỗ trợ.
Chúng tôi mặc áo chống đạn vào người và khoác ra ngoài chiếc áo khoác bằng ni-lông-màu đen giả vờ làm cảnh sát thường. Tôi cài chốt an toàn khẩu 9 ly của tôi. Chẳng có nhiều thời gian để bị rơi vào trạng thái căng thẳng.
Chiếc xe của đội phản ứng nhanh bắt đầu đi chậm lại trên phố, ba tay súng cừ khôi mặc áo đen đu người ở hai bên xe.
Cappy, Jacobi và tôi theo sau chiếc xe cho tới khi nó dừng lại ngay bên cạnh hòm thư đánh số 610. Vasquez đã đúng. Chiếc xe chở hàng hoàn toàn phù hợp với những đặc điểm nhận dạng.
Tim tôi bắt đầu đập thình thịch. Trước đây tôi đã từng tham gia nhiều vụ vây ráp nhưng chưa bao giờ cảm thấy bị nguy hiểm như lần này. Chúng tôi thận trọng chạy ngoằn nghèo trên con đường nhỏ dẫn vào nhà.
Bên trong, những ngọn đèn đang thắp sáng, tôi nghe thấy có cả tiếng ồn ào từ ti-ti vọng ra.
Tôi gật đầu ra hiệu, Cappy dùng súng gõ nhẹ vào cửa.
- Cảnh sát San Francisco đây. - Jacobi và tôi thu người lại, giương súng sẵn sàng nhả đạn.
Không có tiếng trả lời.
Sau một vài phút khá căng thẳng, tôi lại ra hiệu cho anh ta gõ mạnh hơn.
Đột nhiên, cánh cửa kêu răng rắc và mở tung ra.
- Đứng im, - Cappy thét to và chĩa thẳng khẩu súng của anh ta vào điểm ngắm bắn. - cảnh sát San Francisco đây.
Một phụ nữ mặc bộ quần áo tập thể thao màu xanh phấn xuất hiện, trợn tròn hai mắt và đứng như hóa đá trên ngưỡng cửa.
- Ôi Chúa ơi, - bà ta kêu lên thất thanh khi trông thấy những khẩu súng của chúng tôi.
Cappy kéo mạnh người phụ nữ ra khỏi ngưỡng cửa trong khi đội của Arbichaut nối đuôi nhau lao thẳng vào nhà như thể đang săn lùng Elian Gonzalez vậy. Anh ta quát tháo.
- Còn ai trong nhà nữa không?
- Chỉ có con gái của tôi thôi, - người phụ nữ sợ hãi kêu ré lên. - Nó mới hai tuổi.
- Kia là chiếc xe chở hàng của bà à? - Jacobi hỏi giật giọng.
Cặp mắt của người phụ nữ đảo nhanh ra phố.
- Chuyện này là thế nào?
- Kia có phải là xe của bà không? - Jacobi hỏi lại xẵng giọng hơn.
- Không, - bà ta trả lời, người run bắn. - Không...
- Vậy bà có biết nó là của ai không?
Người phụ nữ lại nhìn ra phố, hoảng sợ lắc đầu lia lịa.
- Tôi chưa bao giờ trông thấy chiếc xe kia cả.
Như vậy là hỏng bét rồi; tôi có thể nhận ra điều đó. Khu dân cư sang trọng, một chiếc xe tập đi bằng nhựa của trẻ con lăn lóc trên bãi cỏ, một bà mẹ mới sinh đang trong giai đoạn phải tập luyện để lấy lại phom người. Tôi bật ra một tiếng thở dài thất vọng từ lồng ngực. Rõ ràng là chiếc xe bị đánh cắp kia đã được thằng khốn cô tình bỏ lại đó.
Bất chợt, một chiếc Audi màu xanh lao nhanh tới đỗ xịch trước cửa, theo sau là hai chiếc xe của cảnh sát. Chắc chắn chiếc Audi kia đã phá tung rào chắn tạm thời của chúng tôi. Một người đàn ông ăn mặc rất lịch sự, đeo kính đồi mồi từ trong xe nhảy ra và chạy thẳng vào nhà.
- Kathy, chuyện quái gì xảy ra thế?
- Steve... - Người phụ nữ thốt lên, ôm ghì lấy ông ta kèm theo một tiếng thở phào nhẹ nhõm. - Đây là chồng tôi. Tôi đã gọi đỉện cho anh ấy khi tôi nhìn thấy có rất nhiều cảnh sát bao vây quanh nhà.
Người đàn ông đưa mắt nhìn quanh tám chiếc xe cảnh sát, mấy nhân viên điều tra của sở cảnh sát San Francisco được hậu thuẫn bởi một đội phản ứng nhanh đang lố- nhố đứng đó, tay lăm lăm súng.
- Các người đang làm gì trong nhà tôi thế này? Chuyện này thật vớ vẩn! Thật điên rồ!
- Chúng tôi có bằng chứng để tin rằng chiếc xe kia đã được sử dụng trong một vụ án giết người, - tôi giải thích. - Chúng tôi có quyền đến đây để kiểm tra.
- Một vụ giết người...?
Hai người thuộc đội của Arbichaut từ trong ló mặt ra. Bên kia con phố, người dân bắt đầu đổ xô ra để xem.
- Chúng tôi đã tìm kiếm chiếc xe kia trong suốt hai ngày. Tôi rất tiếc đã làm ông bà khó chịu, nhưng không còn cách nào khác.
Người chồng nổi giận đùng đùng. Mặt và cổ ông ta đỏ ửng lên như một quả cà chua chín.
- Vậy ra các người cho rằng chúng tôi đã làm gì đó với chiếc xe chết tiệt kia hả? Giết người ư?
Tôi nghĩ mình làm phiền cuộc sống của những người này như vậy là quá đủ, rồi, nhưng tôi vẫn nói thêm.
- Vụ nổ súng vào nhà thờ La Salle Heights.
- Này, cảnh sát các người mất trí hết cả rồi sao? Các người nghi chúng tôi nổ súng vào một nhà thờ? - Quai hàm của ông ta trễ xuống, mắt trợn tròn nhìn tôi kinh ngạc. - Lũ ngốc các người còn gì để nói nữa không đấy?
Tôi nhìn xuống bộ quần áo kẻ sọc nhỏ màu xám, chiếc áo sơ-mi xanh cổ mở của người đàn ông, và cảm thấy bẽ mặt vì hành động dại dột của mình vừa rồi.
- Tôi là luật sư trưởng của Chi hội Bắc California - Liên đoàn chống vu khống đấy nhé.
Chúng tôi đã bị tên giết người biến thành những kẻ ngốc. Không ai trong khu nhà biết bất cứ điều gì liên quan chiếc xe chở hàng bị đánh cắp kia cả. Rõ ràng là nó đã bị bỏ lại đó có mục đích, để buộc chúng tôi phải lộ diện. Ngay cả khi nhóm của Clapper vẫn kiên trì tìm kiếm, nhưng tôi biết sẽ chẳng mang lại cóc khô gì. Tôi đã xem rất kỹ tấm đề-can dán ở phía sau xe và tôi khẳng định đó chính là thứ mà tôi đã nhìn thấy ở Oakland. Một đầu là của một con sư tử, đầu kia trông như con dê, cái đuôi là của loài bò sát. Nhưng không hiểu ý nghĩa của nó là gì nhỉ?
- Chúng ta chỉ biết được mỗi một điều khi đến đây, - Jacobi nở một nụ cười ngớ ngẩn, - là cảnh sát San Francisco lại một lần nữa được đem ra làm trò cười cho mọi người.
- Tôi rất mừng vì thấy anh vẫn có thể cười được, - tôi đáp.
Trở về tòa, tôi bảo Lorraine.
- Tôi muốn biết chiếc xe chở hàng đó từ đâu mà ra. Tôi muốn biết nó thuộc quyền sở hữu của ai, ai đang sử dụng nó, mọi chi tiết liên quan đến chủ chiếc xe trong vòng một tháng trước khi nó bị đánh cắp.
Tôi thấy đầu mình như muốn vỡ tung ra. Chúng tôi đang có một tên giết người nguy hiểm bên ngoài nhưng lại không có bất kỳ manh mối nào về hắn cả. Liệu đây có phải là chuyện giết người do hận thù sắc tộc hay chỉ là một cuộc
vui bệnh hoạn của một thằng điên? Chúng hoạt động đơn lẻ hay có tổ chức? Chúng tôi chỉ biết rằng thủ phạm khá thông minh. Hắn biết sắp đặt những mưu mô thành một kế hoạch, và nếu như sự mỉa mai là bản chất của hắn thì việc hắn vứt trả lại chiếc xe bị đánh cắp kia quả là một hành động cao thượng.
Karen bước vào, báo cho tôi biết Ron Vandervellen đang chờ ở đầu dây bên kia. Gã cảnh sát Oakland kia chắc hẳn đang khoái trá lắm đấy.
- Thấy bảo các bạn vừa đóng giả làm người sửa ti-vi đột nhập vào nhà của luật sư trưởng Chi hội Liên đoàn chống vu khống Bắc California để tìm cách đánh bại một mới đe dọa nguy hiểm cho xã hội.
- Tôi cũng đang nghĩ chính vì chuyện này mà những cuộc điều tra của chúng tôi bị hạ thấp giá trị xuống ngang với những cuộc điều tra của các anh đấy - Tôi vặc lại.
- Bình tĩnh nào, Lindsay, tôi không gọi điện để cãi vã với chị, - anh ta đổi giọng. - Sự thực thì tôi có một tin này...
- Tôi cũng đâu có định cãi vã. Anh có tin gì cho chúng tôi thế, Ron?
- Chắc chị đã biết Estelle Chipman là một quả phụ?
- Anh nói cho tôi mà.
- Hừm chúng tôi đã điều tra thân thế của bà ta. Bà ta có một người con trai đang sống ở Chicago. Anh này đã được triệu đến để nhận dạng xác chết. Sau đó anh ta cung cấp thêm một số thông tin cho chúng tôi, trong đó có một điều quá trùng lặp đến nỗi chúng tôi không thể bỏ qua.
- Gì vậy?
- Chồng của bà ta đã chết cách đây năm năm vì bệnh đau tim. Chị có muốn đoán thử xem nghề nghiệp lúc sinh thời của ông ta là gì không?
Tôi có cảm giác Vandervellen đang muốn thổi phồng sự việc.
- Chồng của Estelle Chipman cũng là cảnh sát San Francisco.
22
Cindy Thomas đỗ chiếc Mazda cửa mình phía bên kia con đường trước nhà thờ La Salle Heights và buông một tiếng thở dài. Mặt tiền bằng ván màu trắng của nhà thờ với những vết nứt lỗ chỗ do đạn văng vào trông xấu hết chỗ nói. Một lỗ hổng toang hoác nơi mấy hôm trước đã từng là khung cửa sổ bằng kính màu đẹp đẽ, bây giờ được che lại bởi một tấm vải bạt đen sì.
Cô nhớ lại lần đầu tiên cô trông thấy khung cửa kính là trong ngày nó được khánh thành. Ngài thị trưởng, các nhân vật chức sắc của giáo hội địa phương và mục sư Aaron Winslow - tất cả đều đã có những bài diễn văn rất hay, ca ngợi sự đóng góp của dân chúng trong vùng cho một công trình tuyệt mỹ bằng kính. Nó đúng là một biểu tượng. Cô cũng nhớ đã trực tiếp phỏng vấn mục sư Winslow và bị gây ấn tượng bởi cảm xúc mạnh mẽ cũng như thái độ khúm núm một cách khác thường của ông.
Cindy cúi người chui qua dải băng màu vàng của cảnh sát và tiến lại gần bức tường đầy vết đạn. Ở tòa soạn, nhiệm vụ của cô là viết những câu chuyện về cái chết của con người, nhưng đây là lần đầu tiên cô thấy thực sự xúc động.
Đột nhiên, một giọng nói vang lên từ sau lưng khiến Cindy giật mình.
- Cô nhìn thế, chứ có nhìn nữa thì cũng chẳng thấy nó đẹp hơn đâu.
Cindy quay ngoắt đầu lại, bắt gặp một khuôn mặt đàn ông hiền lành và đẹp trai. Cặp mắt của ông rất dịu dàng. Cô biết ông là ai nên gật đầu chào.
- Tôi đã có mặt ở đây vào hôm khánh thành khung cửa kính. Nó đã chứa đựng rất nhiều hy vọng.
- Bây giờ vẫn vậy mà, - Winslow trả lời. - Chúng tôi sẽ không bao giờ để mất niềm hy vọng của mình đâu. Cô đừng nghĩ ngợi nhiều quá.
Cindy mỉm cười, nhìn sâu vào cặp mắt nâu trong veo.
- Tôi là Aaron Winslow, - mục sư nói, chuyển chồng vở học sinh ông đang cầm sang một bên và chìa tay ra.
- Còn tôi là Cindy Thomas, - cô đáp. Cái bắt tay của mục sư thật ấm áp và nhẹ nhàng.
- Cô đừng nói với tôi là người ta đã đưa nhà thờ La Salle Heights vào lịch trình tham quan Chuyến Đi Bốn Mươi Chín Dặm nhé. - Winslow bắt đầu bước vòng ra phía sau nhà thờ, Cindy lẽo đẽo đi theo.
- Tôi không phải là khách du lịch, - cô nói. - Tôi chỉ muốn nhìn nó một chút thôi mà. Cha nghe này. - Cô nuốt nước bọt. - Lúc đầu, quả là tôi cũng định giả vờ đến đây để bày tỏ sự quan tâm... Nhưng thực ra tôi làm việc cho tờ Biên niên sử, chuyên mục các tội ác.
- A, một nhà báo. - Winslow thốt lên. - Có ý nghĩa hơn rồi đấy. Trong những năm qua, nhiều chuyện đã thực sự diễn ra tại đây - giảng đạo, dạy cho mọi người biết đọc biết viết, thậm chí chúng tôi có cả một dàn hợp xướng thánh ca nổi tiếng khắp toàn quốc - vậy mà chẳng thấy ai viết lách gì cả. Bây giờ, chỉ cần hành động của một thằng điên cũng đủ khiến cả thành phố này xôn xao. Cô muốn tìm hiểu chuyện gì, cô Thomas? Tờ Biên Niên sử muốn gì?
Những lời của mục sư có phần hơi xúc phạm, nhưng Cindy lại thấy thích. Ông ấy đã nói đúng.
- Thực ra, trước đây tôi cũng đã từng viết về nhà thờ của cha, khi khung cửa sổ bằng kính kia được khánh thành. Đó là một ngày hết sức đặc biệt.
Mục sư dừng bước. Ông quay sang nhìn thẳng vào mắt cô rồi mỉm cười.
- Đúng vậy. Cô Thomas ạ, thực ra tôi cũng đã biết cô là ai khi tôi vừa đi đến đây. Tôi nhớ chứ, cô đã phỏng vấn tôi trong ngày hôm đó.
Có tiếng người gọi tên Winslow từ trong nhà thờ, và một phụ nữ xuất hiện. Bà ta nhắc mục sư rằng ông có một cuộc hẹn gặp vào lúc bảy giờ.
- Vậy cô đã xem được hết những gì cô muốn chưa, cô Thomas? Liệu chúng tôi có thể hy vọng được đón cô trở lại đây trong một vài năm nữa hay không nhỉ?
- Tôi vẫn chưa xem được gì. Với lại, tôi cũng muốn tìm hiểu thêm để biết mọi người ở đây cảm thấy thế nào và định giải quyết vấn đề ra sao.
Cindy nhận thấy Winslow gắng nở một nụ cười gượng.
- Vậy hãy để tôi gợi ý cho cô nhé. Tôi không phải là không biết cách giải quyết. Tôi đã có khá nhiều thời gian sống bên ngoài nhà thờ.
Cindy nhớ rằng Aaron Winslow không phải là người có niềm tin được tạo dựng nên thông qua một cuộc sống tách biệt với thế giới, ông đã từng lớn lên trên những hè phố, từng là giáo sĩ trong quân đội. Chỉ mới vài ngày trước đây thôi, ông đã liều mình xông vào một đám cháy khá lớn để cứu những người trong đó.
- Còn về cảm nghĩ của mọi người trong khu vực thì cô hãy tự mình đi tìm hiểu xem sao. Ngày mai, buổi lễ cầu nguyện cho linh hồn Tasha Catchings sẽ được tổ chức.
23
Thông tin mà Vandervellen tiết lộ cứ lảng vảng trong đầu tôi suốt thời gian còn lại của ngày hôm đó.
Cả hai nạn nhân đều liên quan đến lực lượng cảnh sát San Francisco.
Điều này chẳng nói lên điều gì cả. Họ có thể chỉ là hai nạn nhân ngẫu nhiên và hoàn toàn không liên quan tới nhau. Hai người ở hai thành phố, chênh nhau tới sáu mươi tuổi.
Hay nó có ý nghĩa gì mà tôi chưa biết.
Tôi cầm điện thoại lên và gọi cho Claire.
- Em cần sự giúp đỡ, - tôi nói.
- Lớn tới cỡ nào? - Tôi có thể cảm nhận được chị đang nhoẻn miệng cười rất tươi.
- Em muốn chị xem qua việc khám nghiệm một tử thi bị treo cổ ở Oakland hộ em.
- Được thôi. Em cứ gửi tới đây, chị xem cho.
- Nhưng mà nó to lắm, Claire ạ. Cái xác vẫn còn nằm ở phòng giám định pháp y của cảnh sát Oakland.
Tôi chờ đợi trong hy vọng khi nghe tiếng chị thở dài.
- Em trẻ con quá, Lindsay. Em muốn chị nhúng mũi vào một quá trình điều tra đang tiến triển của người khác sao?
- Nghe này chị Claire, em biết điều đó là không hay, nhưng ở đó họ đã đưa ra những giả định hết sức quan trọng có thể làm thay đổi cả chiều hướng của vụ án.
- Thế em đã nghĩ đến giả định gì sẽ xuất hiện khi em bắt chị phải giẫm lên ngón chân cái của một vị bác sĩ pháp y đáng kính nào đó hay chưa?
- Chị Claire, hai vụ này có liên quan tới nhau. Estelle Chipman đã cưới một người cảnh sát. Chú của Tasha Catching cũng là một cảnh sát. Toàn bộ cuộc điều tra của em đang xoay quanh vấn đề liệu có phải chúng ta đang đối đầu với cùng một tên giết người hay không, cảnh sát Oakland tin rằng có một người da đen liên quan đến vụ án của họ, Claire ạ.
- Một người da đen à? - Tiếng Claire thở dốc. - Một người da đen làm vậy để làm gì chứ?
- Em không biết. Nhưng em bắt đầu thấy có quá nhiều chứng cớ để nối hai vụ này với nhau. Em phải tìm cho ra.
Claire lưỡng lự.
- Nói cụ thể hơn thì em muốn chị tìm cái gì?
Tôi kể lại cho chị nghe về mẫu da mà cảnh sát Oakland đã tìm thấy dưới móng tay của nạn nhân và phần kết luận của bác sĩ pháp y ở đó.
- Teitleman là một bác sĩ pháp y giỏi, - Claire nói. - Chị có thể tin tưởng ở những gì mà ông ấy tìm ra như tin chính bản thân chị vậy.
- Em biết, Claire, nhưng ông ấy không phải là chị. Em xin chị đấy. Điều này rất quan trọng.
- Chị muốn em hiểu rằng nếu Art Teitleman đề nghị nhúng mũi vào một trong những cuộc điều tra sơ bộ của chị thì chị sẽ dẫn ông ta xuống bãi đỗ xe và lịch sự mời ông ta quay trở về chỗ của mình ở bên kia vịnh ngay lập tức. Vì thế chị cũng sẽ không cư xử như vậy với bất kỳ ai đâu, Lindsay.
- Em hiểu chứ, Claire, - tôi năn nỉ bằng thứ giọng thảm hại nhất mà tôi có thể nói. - Tại sao chị không nghĩ em đề nghị chị như vậy là vì tình bạn giữa chúng ta trong suốt những năm qua?
24
Chiều muộn hôm đó, tôi vẫn ngồi lại bên bàn làm việc khi những người trong đội của tôi lần lượt ra về. Tôi không thể rời cơ quan cùng với họ được.
Đầu tôi cứ căng ra hòng ghép nối các sự việc lại với nhau. Mọi thứ tôi có bây giờ đều dựa trên các giả thiết. Tên giết người kia là da đen hay da trắng? Claire có đúng không khi nói rằng Tasha Catching bị giết có chủ định? Nhưng có một điều chắc chắn rằng biểu tượng con sư tử đã được để lại một cách cố tình ở hiện trường của cả hai vụ án. Hãy ghép nối hai nạn nhân với nhau đi, bản năng của tôi cứ giục giã tôi. Chắc chắn đang tồn tại một mối quan hệ nào đó. Nhưng nó là gì?
Tôi liếc xuống đồng hồ đeo tay và nhấc máy lên gọi điện thoại cho Simone Clark ở phòng quản lý nhân sự, vừa hay cô ấy đang chuẩn bị ra về.
- Simone này, ngày mai chị cho tôi mượn hồ sơ của một người được không?
- Chắc chắn là được rồi, chị cần hồ sơ của ai vậy?
- Một cảnh sát nghỉ hưu cách đây khoảng từ tám đến mười năm. Tên ông ta là Edward Chipman.
- Cũng khá lâu rồi. Nếu vậy chắc hồ sơ đã được gửi đi lưu. Sở Cảnh sát chúng tôi thường hay gửi hồ sơ cũ cho một công ty lưu trữ cất hộ.
- Đầu giờ chiều mai, được chứ?
- Được, Simone ạ. Chị cố gắng giúp cho.
Các dây thần kinh của tôi vẫn căng ra như những sợi dây đàn. Tôi lại lôi mấy tập hồ sơ khác của Stu ra khỏi túi và ném phịch xuống mặt bàn làm việc.
Tôi mở hú họa một tập trong số đó. Những người Mỹ hành động theo hiến pháp... Những luống cày và những ống tiêu, chắc lại một nhóm dân sự nhà quê nào đó. Tất thảy giống như một lũ cánh tả lúc nào cũng chỉ chực nhảy dựng lên khi có cơ hội. Liệu tôi có đang bỏ phí thời gian của mình không nhỉ? Chẳng có gì lộ ra từ đống tài liệu này. Chẳng có gì để tôi nuôi chút hy vọng rằng mình đã đi đúng hướng.
Về nhà thôi, Lindsay. Một giọng nói giục giã. Ngày mai rồi sẽ có những manh mối mới. Có chiếc xe, có hồ sơ của Chipman. Đêm nay cứ nghỉ ngơi đi đã. Hãy dẫn Martha đi dạo.
Về nhà đi...
Tôi sắp xếp lại chồng hồ sơ, chuẩn bị nhượng bộ thì đột nhiên mắt tôi bắt gặp nó. Nhóm Templars. Một chi hội của nhóm thiên thần dưới địa ngục ở ngoài Vallejo. Nhóm này có nguồn gốc là các hiệp sĩ Thiên chúa giáo ở Crusades. Ngay lập tức, tôi để ý tới đánh giá của FBI về mức độ đe dọa. Họ sắp xếp nhóm này vào loại Cao.
Tôi lôi tập hồ sơ ra và đọc lướt nhanh. Có một bản báo cáo của FBI phác qua một loạt trọng tội chưa bị xử lý mà nhóm Templars bị nghi ngờ có dính líu: các vụ cướp ngân hàng, các vụ đâm thuê chém mướn mà đối tượng là những người Mỹ la-tinh và người da đen.
Tôi đọc tiếp, những hồ sơ án, những bản báo cáo của các nhà tù, những bức ảnh chụp được trong quá trình theo dõi các thành viên của nhóm. Đột nhiên, một hơi thở bật ra từ hai lá phổi của tôi.
Mắt tôi dán chặt vào một bức ảnh chụp vội: một nhóm những kẻ đi xe đạp, thân hình to cao, cơ bắp nổi cuồn cuộn với vô số hình xăm trổ trên người đang đứng túm tụm bên ngoài một quán bar ở Vallejo mà bọn chúng thường dùng làm nơi tụ tập. Một trong số đó cúi gập người trên chiếc xe đạp của hắn, quay, lưng lại ống kính. Đầu hắn trọc lốc cổ quàng khăn rằn ri. Hắn mặc một chiếc áo khoác không tay bằng vải bông chéo để lộ hai cánh tay chắc nịch.
Có một hình thêu trên lưng chiếc áo khiến người tôi lạnh cứng. Tôi dán mắt vào một con sư tử hai đầu với cái đuôi của một con rắn.
25
Ở phía Nam chợ, trong khu vực kho hàng xiêu vẹo của thành phố, một gã đàn ông mặc chiếc áo gió màu xanh đang cắm cúi bước dọc hè đường tối tăm. Tên giết người.
Vào giờ này trong đêm, chẳng có ai dại dột lai vãng tới một nơi hoang phế đổ nát như vậy. Chỉ có một vài kẻ xấu xa vô công rỗi nghề đang lom khom bên những thùng rác hôi thối. Dãy nhà kho vắng lặng với những tấm biển hiệu bằng điện cũ kỹ: Đổi tiền... đồ kim khí... Người bảo lãnh đáng tin cậy nhất thành phố...
Cặp mắt của hắn đảo nhanh qua phố về phía Đại lộ Số 17, tới khung nhà ọp ẹp của một khách sạn bị bỏ hoang đã lâu: 303. Hắn đã cẩn thận quan sát khu vực này trong suốt ba tuần vừa rồi. Một nửa khu nhà không có người, nửa còn lại là nơi trú ngụ hàng đêm cho những kẻ không nhà không cửa.
Nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống mặt đất bẩn thỉu đầy rác, hắn khoác chiếc túi thể thao hiệu Adidas lên vai và bước vòng qua khu nhà sang phía Đại lộ Số 6 và Townsend tới trước dãy nhà kho bịt kín bằng ván ép với một dòng chữ viết nguệch ngoạc bên ngoài: Aguello’s... comidas espanol.
Tin chắc chỉ có một mình, tên giết người đẩy cánh cửa bằng sắt tróc lở và lẻn nhanh vào trong. Trống ngực của hắn đập đều đều. Quả thực, hắn đã bắt đầu nghiện cảm giác hồi hộp ấy.
Một mùi hôi thối xộc thẳng vào mũi hắn ngay từ dãy hành lang kín mít la liệt những mảnh báo cũ và những chiếc hộp méo mó lem luốc dầu. Hắn bước lên cầu thang, vừa đi vừa thầm mong không phá vỡ giấc ngủ say nồng của một kẻ vô gia cư nào đó.
Hắn leo một mạch lên tầng năm và đi nhanh tới cuối hành lang. Hắn lao người qua một tấm lưới sắt và bước ra lối thoát hiểm. Từ đây, chỉ cần mấy bước nữa thôi là lên đến mái nhà.
Trên tầng cao, những dãy nhà bẩn thỉu hoang vắng đã bị lấp đi và nhường chỗ cho đường chân trời rộng ngút tầm mắt bên kia thành phố. Nơi hắn đứng nép trong bóng tối của Cầu Vịnh, cây cầu vươn cao như một con tàu khổng lồ. Hắn đặt chiếc túi thể thao lên lỗ thông hơi của một máy điều hòa nhiệt độ, kéo phéc-mơ-tuya và cẩn thận lôi ra những bộ phận rời của một khẩu súng tiểu liên kiểu PSG-1.
- Ở nhà thờ, mình cần bắn dồn dập tới mức tối đa. Còn ở đây mình chỉ phải bắn một phát.
Trong lúc dòng xe cộ đang ầm ầm lao nhanh qua đầu hắn trên dải đường cao tốc của cầu Vịnh, thì hắn mải miết lắp cái nòng dài của khẩu tiểu liên vào báng súng và chôt chặt nó lại. Quá trình lắp ráp một khẩu súng đối với hắn dễ ợt, chỉ như sử dụng dao dĩa bên bàn ăn. Có nhắm mắt lại thì hắn vẫn thực hiện được thao tác này một cách ngon lành.
Hắn cố định chiếc kính ngắm bằng tia hồng ngoại và nheo mắt nhìn qua đó, những hình dáng màu hổ phách dần hiện rõ trong tiêu điểm.
Hắn thông minh hơn bọn kia nhiều. Trong lúc cảnh sát đang mải mê tìm kiếm một chiếc xe chở hàng màu trắng và ý nghĩa của những biểu tượng ngu ngốc thì hắn đã ở đây, sẵn sàng bắn vỡ thêm một cái đầu nữa. Đêm nay, cuối cùng rồi bọn chúng sẽ hiểu.
Tim hắn đập chậm lại trong lúc hắn hướng khẩu súng sang bên kia phố vào phía sau của khách sạn đánh số 303. Trên tầng bốn, một khung cảnh thắp sáng lờ mờ hiện ra qua khung cửa sổ.
Chính nó đấy. Thời khắc của sự thật.
Hắn nín thở và thè lưỡi liếm quanh cặp môi khô khốc. Hắn đang nhắm vào một bức tranh mà hắn đã phải cất giữ trong đầu quá lâu rồi. Hắn thích khung cảnh đó.
Rồi, khi hình ảnh kia đã rõ nét, hắn siết cò.
Cạch...
Lần này hắn không cần để lại dấu hiệu. Chỉ cần nhìn phát đạn, nhìn mục tiêu là bọn chúng sẽ hiểu ra ngay.
Ngày mai, mọi người dân ở San Francisco này sẽ biết tên hắn.
Tên hắn là Chimera.