Jill gật đầu, đẩy tập hồ sơ cá nhân đã bị quăn mép của cha tôi về phía tôi.
- Tớ nghĩ cậu cũng nên đọc cái này, Lindsay ạ.
Tôi cúi xuống, gắng hết sức mình để bằng một thái độ thản nhiên nhất mà tôi có thể tỏ ra lúc đó, đọc hết lời khai của Kenneth Charles. Rồi tôi đọc thêm một lần nữa. Trong suốt khoảng thời gian ấy, tôi thấy mình như bị chìm nghỉm trong một cảm giác thất vọng vô bờ. Và cả sự sợ hãi. Phản ứng đầu tiên của tôi là không muốn tin vào lời khai đó; nó làm tôi giận giữ. Nhưng cùng lúc, tôi lại biết đó chính là sự thực. Cha tôi đã một lần nữa nói dối tôi để che đậy cuộc đời bỉ ổi của mình. Ông ấy đã lừa bịp những người thân yêu nhất của ông ấy và làm cho họ phải thất vọng.
Mắt tôi dâng đầy lệ. Tôi thấy mình như bị phản bội.
Một giọt nước mắt đã chảy xuống nóng bỏng trên má tôi.
- Tớ rất tiếc, Lindsay ạ. Nhưng cậu phải tin tớ, tớ thực lòng không muốn báo cho cậu tin này.
Lần đầu tiên kể từ khi tôi trở thành một cảnh sát, tôi không biết phải làm gì. Tôi cảm nhận được một vực thẳm đang lớn dần cạnh tôi, và tôi không thể lấp đầy nó bằng bất cứ thứ gì từ nghĩa vụ, trách nhiệm tới quyền lợi.
Tôi nhún vai, uống cạn ngụm bia cuối cùng và nhìn Jill mỉm cười.
- Thế chuyện gì đã xảy ra với cha cậu thế? Ông ấy vẫn ở cùng mẹ cậu chứ?
- Chết tiệt, không, - Jill trả lời. - Đôi khi mẹ tớ tỏ ra hết sức cứng rắn, và lạnh lùng nữa. Tớ thương mẹ tớ lắm. Mẹ tớ đã đuổi cha tớ ra khỏi nhà khi tớ đang học trong trường luật. Từ đó cho tới nay, cha tớ đang sống trong một căn hộ là Las Colinas.
Tôi phá lên cười thật to, một tiếng cười đau đớn xen lẫn thất vọng và nước mắt. Khi tôi ngừng lại, tôi mới nhận ra tim mình đau nhói và mọi thắc mắc vẫn chưa tan biến. Cha tôi biết được những gì? Ông ấy im lặng để làm gì? Và cuối cùng, ông có mối quan hệ như thế nào với Chimera?
- Cám ơn cậu, - tôi nói và siết chặt tay Jill một lần nữa. - Tớ nợ cậu nhiều lắm, bạn thân mến...
- Bây giờ cậu định thế nào hả Lindsay?
Tôi cuộn chiếc áo khoác của mình vào cánh tay và đáp.
- Tớ định sẽ làm cái việc mà lẽ ra tớ đã phải làm từ lâu lăm rồi. Tổ sẽ đi tìm sư thật.
Cha tôi đang cắm cúi chơi bài khi tôi trở về nhà.
Tôi lắc đầu, ngoảnh mặt đi chỗ khác và bước lê vào bếp. Tôi mở tủ lạnh lấy ra một lon Black & Tan và đến trước mặt cha tôi, ngồi phịch xuống một cái ghế.
Cha tôi ngẩng đầu lên, hình như cảm nhận được sự dữ dội trong ánh nhìn của tôi.
- Chào con, Lindsay.
- Con đang nghĩ, cha ạ... tới cái ngày mà cha bỏ nhà ra đi...
Cha tôi tiếp tục xòe những quân bài.
- Con nhắc lại chuyện đó làm gì?
Tôi vẫn nhìn ông chăm chú.
- Đã có lần cha dẫn con ra bến tàu, cha còn nhớ chứ? Chúng ta đã nhìn những chuyến phà tới từ Sausalito. Cha đã nói một điều gì đó, tựa như “Rồi một ngày cha sẽ ra đi, Hoa Vàng ạ, và cha không thể trở về ngay được”. Cha đã nhắc đến chuyện giữa cha và mẹ, và con đã chờ đợi. Nhưng nhiều năm trôi qua, con thường tự hỏi mình, "Tại sao cha phải ra đi?"
Cặp môi của cha tôi chuyển động tựa hồ như đang cố gắng bịa ra một câu trả lời hợp lý nào đó, nhưng rồi ông lại thôi.
- Cha thật tồi tệ. Nguyên nhân khiến cha bỏ nhà ra đi không phải vì mẹ. Cũng không phải chuyện cờ bạc hay rượu chè. Cha đã giúp Coombs giết đứa trẻ đó. Tất cả chỉ có thế. Chính vì vậy mà cha đã bỏ nhà ra đi. Cũng chính vì vậy mà cha lại trở về. Cha làm mọi chuyện không phải vì gia đình này. Cha chỉ nghĩ đến bản thân cha mà thôi.
Cha tôi chớp mắt, cố gắng thốt lên.
- Không...
Ông đặt những quân bài xuống mặt bàn, tay run bắn.
- Con có thể không tin cha, Lindsay ạ, nhưng cha luôn yêu mẹ của con.
Tôi lắc đầu, chỉ muốn đứng bật dậy và tát vào mặt ông một cái thật đau.
- Cha chẳng yêu ai hết. Không ai lại có thể làm đau lòng những người mà mình yêu quý.
- Có, cha yêu gia đình ta, - ông liếm môi. - Nhưng cha đã làm cho mọi người trong nhà phải buồn khổ.
Chúng tôi ngồi im, hóa đá trong yên lặng một lúc khá lâu. Sự hờn giận từ lâu tôi đã quên nay chợt ầm ầm kéo về.
- Làm sao con biết? - Cha tôi hỏi.
- Chuyện đó thì quan trọng gì? Điều quan trọng là cuối cùng con cũng đã tìm ra được sự thật.
Tôi thấy cha tôi có vẻ choáng váng như vừa phải chịu một cú đánh nốc ao.
- Sự thật là... được gặp lại con, cha thấy cuộc đời mình như vừa hồi sinh sau hai chục năm cằn cỗi.
- Thế mà cha lại lợi dụng con. Cha lợi dụng con để tìm ra chỗ Coombs đang ẩn náu. Cha và Coombs đã giết chết đứa trẻ.
- Cha không giết nó, - cha tôi phản đối, lắc đầu lia lịa.
- Cha chỉ không làm gì để ngăn Coombs lại thôi.
Cha tôi thở hắt một hơi dài nặng nề như thể ông đã phải kìm nén nó trong suốt hai mươi năm. Ông kể lại cho tôi nghe ông đã chạy theo Coombs và trông thấy hắn trên lối đi chung giữa hai khu nhà như thế nào. Lúc đó Coombs đang xiết tay quanh cổ Gerald Sikes.
- Coombs chỉ muốn dạy cho thằng bé phải biết tôn trọng những người mặc sắc phục cảnh sát, nhưng hắn đã hơi quá tay. “Thằng này có dao,” hắn đã la lên với cha như vậy. Cha giục hắn: “Chúng ta đi thôi!”. Khi cha ý thức được sự việc thì chuyện đã đi quá xa rồi. Cha đã nhảy xổ vào hắn, nhưng Coombs lại cười nhạo cha. “Đây là lãnh địa của tôi, Marty nhát gan ạ. Nếu như anh sợ thì hãy cuốn xéo đi chỗ khác. Cha không biết là thằng bé sắp chết... Mãi tới khi Fallone tới hiện trường thì Coombs mới thả thằng bé ra và nói. “Thằng nhóc khốn kiếp này định đâm dao vào người tôi”. Vốn là một cựu chiến binh, chỉ nhìn thoáng qua là Tom cũng có thể đánh giá được sự việc. Ông ấy bảo cha cứ đi đi. Coombs cười phá lên và cũng nói. "Xéo...”, cả hai người bọn họ sau đó đều không để lộ tên của cha.
Mắt tôi ướt đẫm. Tim tôi nhói đau như bị ai cứa dao.
- Sao cha lại làm vậy? Ít nhất thì Coombs cũng đã đứng lại. Còn cha... cha đã bỏ chạy.
- Cha biết cha là kẻ hèn nhát, - cha tôi nói. - Nhưng đêm hôm vừa rồi cha đã ở đó cùng con.
Tôi nhắm nghiền mắt lại, mãi sau mới mở ra.
- Cha không ở đó cùng con. Cha đã đi theo hắn. Chính đó là nguyên nhân khiến cha quay trở về. Không phải để bảo vệ con... mà là để bảo vệ chính cha. Cha quay về để giết Frank Coombs.
Mặt cha tôi trở nên tái mét. Ông đưa tay lên vuốt mái tóc dày bạc trắng của mình.
- Lúc đầu thì đúng là vậy, - ông nói một cách khó nhọc. - Nhưng bây giờ... mọi chuyện đã thay đổi, Lindsay ạ.
Tôi lắc đầu, những giọt nước mắt chảy ràn rụa xuống hai bên má. Tôi đưa tay lên giận giữ gạt phắt chúng đi.
- Cha biết con đang cho rằng mọi điều từ miệng cha nói ra đều là dối trá. Nhưng không phải vậy đâu con. Đêm hôm đó, cứu được con thoát chết là cha cảm thấy tự hào lắm. Con là con gái của cha, cha luôn yêu quý con.
Mắt tôi vẫn đầy nước, và những lời nói cứ tự động bật ra mặc dù tôi ước sao tôi có thể kìm nén chúng lại.
- Con muốn cha lập tức thu xếp đồ đạc và trở về nơi mà cha đã sống trong hai chục năm qua. Con là một cảnh sát, cha ạ, không còn là Hoa Vàng nhỏ bé của cha nữa. Đã có bốn người vô tội bị giết, và cha phần nào cũng có liên quan. Con không thèm quan tâm cha đã biết những gì và đang che giấu điều gì.
Vẻ mặt của cha tôi trở nên nhu nhược. Tôi có thể nhận ra qua sự tan biến của những tia sáng lấp lánh trong mắt ông rằng những lời tôi vừa thốt ra đã khiến ông vô cùng đau lòng.
- Con muốn cha ra khỏi nhà con, - tôi nói tiếp. - Ngay lập tức.
Tôi ngồi đó, hai tay ôm lấy người Martha trong khi cha tôi đi vào trong phòng ngủ dành cho khách. Một lúc sau ông bước ra với những đồ đạc cá nhân mà ông vừa gói ghém xong. Đột nhiên, trông ông thật nhỏ bé và đơn độc.
Tai Martha dựng đứng. Dường như nó cảm nhận được có chuyện không hay đang diễn ra. Nó im lặng tiến lại gần cha tôi, và ông vỗ nhẹ lên đầu nó an ủi.
- Lindsay ạ, cha biết con ghét cha vì nhiều lẽ, nhưng cha xin con đừng làm vậy trong lúc này. Con phải hết sức cẩn thận với Coombs. Hắn vẫn đang theo dõi con đấy. Cha xin con, hãy để cha giúp...
Tim tôi tan vỡ. Tôi biết chắc một điều rằng kể từ giây phút mà cha tôi bước chân qua khỏi ngưỡng cửa, tôi sẽ không bao giờ còn được gặp lại ông nữa.
- Con không cần cha giúp, - tôi nói. Rồi tôi thì thầm cho một mình tôi nghe. - Vĩnh biệt cha!
Frank Coombs đứng tựa người một cách khó nhọc vào trạm điện thoại tự động ở góc đại lộ Số 9 cắt đường Bryant. Mắt hắn dán chặt vào tòa nhà của Sở Tư pháp. Hắn đã đợi ở đây khá lâu rồi.
Vết thương trên vai chốc chốc lại làm dội lên những cơn đau buốt suốt dọc cơ thể hắn như thể có ai đó đang dùng dao mổ ngoáy sâu vào đó vậy. Suốt hai ngày vừa qua, hắn đã phải chui lủi quanh San Bruno như một con chuột, không tiền bạc trong khi ảnh của hắn được đăng đầy trên trang nhất các tờ báo. Hắn thậm chí còn không thể quay về phòng trọ để lấy đồ được.
Lúc này đã gần hai giờ chiều. Ánh mặt trời gay gắt xuyên thẳng qua cặp kính râm của hắn, rọi vào mắt hắn những tia nắng chói chang và nhức nhối. Một đám đông đang tụ tập trên những bậc thềm của tòa nhà. Những luật sư đang túm năm tụm ba để bàn chuyện.
Coombs hít một hơi thật sâu để lấy lại bình tĩnh. Quỷ tha ma bắt tất cả bọn chúng đi, mình sợ gì chứ? Hắn tiếp tục nhìn xoáy về phía tòa nhà. Rồi bọn chúng sẽ được một phen hoảng sợ cho mà xem.
Khẩu súng tự động hắn giấu trong bao da nơi thắt lưng cứ thúc vào người hắn. Hắn thầm cám ơn ông già Tom Keating trung thành. Ổ súng đã được nạp đầy đạn. Hắn vươn dài cánh tay bắn súng ra. Ổn cả, hắn có thể làm được.
Coombs quay lại phía chiếc điện thoại, bỏ một đồng hai lăm xu vào hộp và bắt đầu bấm số. Sẽ không có cơ hội thứ hai nữa đâu. Không thể chờ thêm được nữa. Cuối cùng, sau hai mươi hai năm trong tù, hắn đã xoay xở để có cơ hội của chính mình.
Chuông điện thoại đổ tới hồi thứ hai, một giọng nói vang lên.
- Đội Homicide nghe đây.
- Tôi muốn nói chuyện với trung úy Boxer.
Chúng tôi đã tìm ra được một trong số những người bạn chí thân trong tù của Coombs, kẻ đã bỏ trốn xuống thành phố Redwood, và bây giờ đang ngồi chờ điện thoại gọi lại.
Suốt cả buổi sáng, tôi dẹp vụ giết người sang một bên - trong khi đầu óc cứ mải mê nghĩ về cuộc nói chuyện đau lòng giữa tôi và cha tôi. Liệu tôi có công bằng không khi luôn miệng kết tội ông vì những sai lầm mà ông đã phạm phải trong quá khứ? Quan trọng hơn nữa, cha tôi có liên quan như thế nào với Chimera?
Tôi vẫn ngồi nguyên tại bàn, sắp nhai xong miếng bánh mì kẹp thịt thì trông thấy Karen ló đầu vào.
- Có người muốn, gặp trung úy ở đường dây số một.
- Thành phố Redwood à? - Tôi vừa hỏi vừa với tay về phía điện thoại.
Nhưng Karen lắc đầu.
- Người này nói chị biết ông ta. Ông ta bảo ông ta là bạn cũ của cha chị.
Người tôi chợt trở nên cứng đơ.
- Nối sang đường dây số 4, nhanh lên! - Tôi nói nhanh. Đường dây số bốn là đường dây chung cho cả phòng. - Bắt đầu tìm kiếm, Karen... Ngay bây giờ.
Tôi nhảy chồm ra khỏi ghế ngồi, nôn nóng ra hiệu cho Jacobi đang ngồi bên ngoài. Tôi giơ bốn ngón tay lên và chỉ về phía điện thoại.
Trong nháy mắt, cả phòng nhốn nháo hẳn lên thành tình trạng báo động. Ai nấy đều biết chính Chimera là người đang muốn nói chuyện với tôi.
Thường thì, chúng tôi cần chín mươi giây để có thể dò được tín hiệu ổn định. Sáu mươi giây nữa để khoanh vùng thành phố nếu như hắn gọi điện ngay trong thành phố này. Lorraine, Morrelli và Chin cùng chạy bổ vào, khuôn mặt của họ nghiêm lại trong một tâm trạng đề phòng căng thẳng.
Tôi cầm ống nói lên. Ở phòng ngoài, Jacobi cũng cầm máy.
- Tôi là Boxer đây, - tôi hắng giọng.
- Xin lỗi vì đã để lỡ mất cuộc trò chuyện vui vẻ trong đêm hôm trước nhé, Coombs cười to. - Tao đã rất muốn xử mày, theo cách riêng của tao.
- Ông gọi điện đến đây làm gì? - Tôi hỏi. - Ông muốn gì, Coombs?
- Tao có một chuyện cực kỳ quan trọng muốn nói với mày. Có thể tao sẽ giúp mày nhận thức lại được ý nghĩa của hai mươi năm vừa qua.
- Hai mươi năm vừa qua chẳng làm sao cả. Chỉ có ông là bị bỏ tù vì tội giết người thôi.
Hắn bật cười cộc lốc.
- Không phải hai mươi năm của tao... mà là của mày.
Tim tôi như muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Tôi đang nói chuyện với gã đàn ông đã chĩa súng vào đầu tôi. Tôi phải tuyên chiến với hắn. Phải làm hắn tức giận... Bất cứ điều gì miễn là có thể giữ hắn trên đường dây càng lâu càng tốt.
Tôi liếc nhìn xuống đồng đồ đeo tay; ba mươi lăm giây đã trôi qua.
- Ông đang ở đâu vậy, Coombs?
- Này, con trung úy ranh con, tao bắt đầu đánh mất dần lòng kính phục đối với mày rồi đấy. Mày vốn được coi là con bé thông minh lắm cơ mà. Lão già Marty tự hào về mày lắm đấy. Vậy mày hãy nói cho tao nghe tại sao mày chưa tìm ra được nguyên nhân khiến bốn đứa mọi kia bị chết đi.
Tôi có thể hình dung ra cảnh hắn đang nhếch mép cười nhạo tôi một cách khinh bỉ. Chúa ơi, tôi căm ghét hắn quá!
- Nguyên nhân gì vậy Coombs? Tôi vẫn chưa tìm ra được điều gì?
- Tao nghe nói cha mày đã bỏ mẹ con mày đi trong khi tao đang ở tù, - hắn tiếp tục.
Tôi biết hắn đang định nói với tôi chuyện gì. Nhưng tôi vẫn cố dềnh dàng để giữ hắn lâu hơn. Ở phòng ngoài, Jacobi vẫn đang chăm chú lắng nghe, mắt nhìn tôi chằm chằm.
Coombs cười khẩy.
- Chúng mày rõ ràng đã tường thằng khốn đó lằng nhằng với một con bé bán bar nào đó hoặc dây dưa nợ nần với lũ cờ bạc bịp ngoài vỉa hè. Hắn làm ra vẻ thương hại. - Chúa ơi, quãng thời gian cha mày bỏ đi còn mẹ mày thì bị ốm mà chết chắc là khó khăn với mày lắm nhỉ.
- Tôi đang mong tới lúc tôi tóm cổ được ông đấy, ông Coombs. Ông đừng huyênh hoang quá vậy.
- Thật tệ vì mày sẽ chẳng có cơ hội đế làm được điều đó đâu, con ranh. Này, tao nói cho mày nghe điều quan trọng nhé. Cố mà nghe cho kỹ. Thằng cha đểu cáng của mày đúng là đã bỏ nhà ra đi vì nợ nần. Hắn nợ tao... Tất cả bọn chúng nợ tao... Tao đã gánh tội hộ hắn. Hộ cả cái Sở Cảnh sát chết tiệt ấy. Tất cả chúng nó đều phải nợ tao hết. Nhưng mày thử tưởng tượng mà xem, Lindsay, chúng nó đã bỏ mặc tao đơn độc.
Từng tế bào trên người tôi căng ra. Ngực tôi tức nghẹn vì giận giữ. Tôi liếc nhìn Jacobi. Anh ta gật đầu như muốn bảo: Chỉ mấy phút nữa thôi... Hãy cố giữ hắn.
- Ông muốn giết tôi phải không Coombs? Tôi đã trông thấy bức ảnh trong phòng trọ của ông rồi. Tôi sẽ tới gặp ông, ở bất cứ đâu...
- Thế còn mày, mày muốn tóm được kẻ giết người lắm phải không? Nhưng tao rất tiếc vì phải bỏ qua lời đề nghị của mày. Tao đang có một cuộc hẹn khác còn quan trọng hơn nhiều.
- Coombs, - tôi cao giọng, liếc nhìn đồng hồ. - ông muốn giết tôi, tại sao ông không xuất hiện? Ông có gan đánh lén một người phụ nữ không hả? Tôi cho là ông không thể làm thế đâu.
- Xin lỗi nhé, trung úy. Cám ơn vì cuộc trò chuyện cởi mở này. Nhưng khi mọi việc xảy ra thì mày còn bé lắm, mày chẳng biết cái đếch gì đâu. Với lại, tao chẳng bao giờ thèm đếm xỉa gì tới đám đàn bà con gái trong sở cảnh sát cả. Mày cứ việc giữ nguyên ý kiến của mày.
Và tôi nghe thấy một tiếng cạch khô khốc.
Tôi chạy bổ ra phòng ngoài. Cappy đã dò xong xuất xứ của cuộc gọi. Tôi hy vọng Coombs không dùng điện thoại di động vì điện thoại di động là thứ khó truy tìm nhất. Tao đang có một cuộc hẹn khác... Tôi không hiểu Coombs muốn đe dọa cái gì. Chuyện gì sẽ xảy ra tiếp theo? Chuyện gì nhỉ?
- Hắn vẫn đang ở trong thành phố - Cappy kêu lên với tôi, tay vươn ra quơ vội một cái bút. - Hắn gọi tới từ một trạm điện thoại tự động. Người ta đang cố gắng thu hẹp phạm vi.
Anh ta bắt đầu viết, sau đó ngẩng lên. Nét mặt anh ta có vẻ hết sức kinh ngạc.
- Hắn ta đang ở trạm điện thoại tự động... ngã tư đại lộ Số 9 và đường Bryant.
Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau, và rồi tất cả mọi người trong phòng đều cuống quít.
Coombs đã gọi điện thoại tới sở Cảnh sát từ một nơi cách đây chỉ một tòa nhà.
100
Tôi vội vàng đeo khẩu Glock vào người và hét gọi đội phản ứng nhanh. Rồi tôi lao như tên bắn ra khỏi phòng làm việc. Cappy và Jacobi theo sát gót tôi.
Cách đây chỉ một tòa nhà... Coombs định làm gì vậy nhỉ?
Tôi không chờ thang máy mà dốc hết sức lực chạy xuống gác bằng thang bộ. Trong gian đại sảnh, tôi xô đẩy các nhân viên làm việc trong tòa nhà và cả những người dân thường đang đứng xúm xít quanh đó và chạy vụt qua cánh cửa bằng kính dẫn ra phố Bryant.
Ở đây, như thường lệ, có một đám đông đang tụ tập trên bậc tam cấp để chờ rủ nhau đi ăn trưa, các luật sư, những người bảo lãnh và cả thám tử nữa. Tôi đưa mắt tìm kiếm suốt dọc đại lộ Số 9, cố gắng nghển cổ thật cao để tìm cho ra một ai đó có ngoại hình giống như Coombs.
Nhưng tôi chẳng thấy gì cả.
Cappy và Jacobi đã đuổi kịp sau lưng tôi.
- Để tôi ra xem sao nhé, - Cappy nói.
Đúng lúc đó, tôi chợt nghĩ ra. Một cuộc hẹn khác... Chẳng lẽ Coombs đang ở đây? Hắn đang ở đâu đó ngay trong tòa nhà này.
- Cảnh sát đây, - tôi thét lên, cố gắng ra hiệu cho đám đông đang vô tư trò chuyện. - Mọi người hãy đề phòng!
Đám đông đang nhốn nháo là thế, nghe thấy tiếng kêu của tôi chợt trở nên im bặt. Tôi nhìn lướt qua những khuôn mặt ngơ ngác, cố tìm cho ra Coombs. Khẩu Glock của tôi đã ở tư thế sẵn sàng nhả đạn. Một số người nhìn tôi sững sờ, những người khác vội cúi người xuống thấp hoặc bắt đầu bỏ chạy.
Đây là tất cả những gì tôi có thể nhớ về sự việc xảy ra sau đó:
Một cảnh sát mặc đồng phục chậm rãi bước lên mấy bậc cầu thang và đi thẳng về phía tôi. Nhưng tôi hầu như không để ý; tôi đang mải tìm Coombs.
Viên cảnh sát bình thản bước ra khỏi đám đông, khuôn mặt bị che khuất đằng sau cặp kính râm to tướng và bên dưới chiếc mũ lưỡi trai vành hẹp. Tay của người đó giơ thẳng ra.
Tôi nhìn qua người đàn ông, hướng ánh mắt dọc theo con phố, truy tìm bóng dáng của tên giết người. Rồi tôi chợt nghe có tiếng ai đó gọi to tên tôi.
- Này! Boxer!
Mọi thứ dường như nổ tung bên dưới những bậc thềm của tòa nhà, cả Jacobi lẫn Cappy đều đang la hét.
- Súng kìa...
Đến lúc này, mắt tôi mới chợt dừng lại ở viên cảnh sát kỳ quặc. Ngay lập tức, những chuyện khó hiểu nhất bất chợt trở nên rõ ràng hơn trong óc tôi. Bộ sắc phục màu xanh... Hắn đang mặc trên người bộ đồng phục của cảnh sát tuần tra mà trong một thoáng tôi đã không nhận thấy. Tôi dán mắt vào khuôn mặt của gã nọ, và trước sự kinh ngạc của mình, tôi nhận ra đó chính là kẻ mà tôi đang muốn tìm kiếm. Đó là Coombs, là Chimera. Tôi chính là cuộc hẹn mà hắn đang muốn sắp đặt.
Có ai đó kéo mạnh người tôi từ phía sau khi tôi giương khẩu Glock lên cao.
- Này! - Tôi hét lên đên lạc cả giọng.
Tôi trông thấy khẩu súng trong tay Coombs phun ra một quầng lửa màu cam chói mắt. Rồi hai quầng. Tôi chẳng thể làm gì để ngăn nó lại.
Kể từ lúc đó, mọi thứ trong đại sảnh trở nên hỗn độn và kinh hoàng đến độ không thể tin nổi. Tôi biết mình phải nổ súng trước khi người tôi trở nên cứng đơ vì đau.
Rồi tôi trông thấy Coombs chao đảo, cặp kính râm của hắn rơi ra nhưng súng của hắn thì vẫn chĩa thẳng về phía chỗ tôi đang đứng. Cặp mắt sẫm màu của hắn lóe lên những tia nhìn thù hận.
Một tiếng nổ khủng khiếp vang lên ở trước tòa nhà. Tiếp theo đó... năm, sáu, bảy tiếng vang làm thành một chuỗi liên tiếp, dội lên từ mọi phía. Mọi người la hét, xô đẩy nhau để bỏ chạy.
Bộ sắc phục màu xanh của Coombs cũng biến thành một quầng đỏ sẫm. Cappy và Jacobi đang bắn về phía hắn. Người hắn văng mạnh ra sau, giật lên vì trúng đạn. Khuôn mặt nhăn nhó vì đau đớn. Không gian nồng nặc mùi thuốc súng. Từng tiếng nổ vang lên như muốn chọc thủng màng nhĩ của tôi.
Bật chợt, mọi thứ trở nên yên ắng đến lạ kỳ. Sự im lặng bao trùm khắp gian đại sảnh khiến người tôi giật thót.
- Ôi, lạy Chúa. - Tôi nhớ mình đã thốt lên như thế, rồi tôi ngã sõng soài xuống những bậc cầu thang bằng bê tông. Tôi không biết chắc mình có bị thương hay không nữa.
Jacobi chạy tới, cúi xuống chỗ tôi ngã.
- Lindsay, chị cứ nằm yên đấy nhé. Không được cử động. - Anh ta nhẹ nhàng đặt tay lên vai tôi trong khi lời nói của anh ta cứ xoáy vào trí não của tôi một cách dữ dội.
Tôi gật đầu, kiểm tra xem mình bị thương ở chỗ nào. Những tiếng la hét và rên rỉ vẫn đang rộn lên chung quanh, mọi người vẫn xô đẩy nhau ở khắp mọi nơi.
Tôi bám vào cánh tay của Jacobi và gắng gượng ngồi dậy, bỏ qua lời nhắc nhở của anh ta.
Coombs đang nằm ngửa trên mặt đất, từng vệt máu đỏ thẫm đang rỉ ra ngoài qua lần áo sơ-mi của hắn.
Tôi đẩy Jacobi ra. Tôi cần phải nhìn Coombs cho thật rõ, nhìn sâu vào mắt hắn. Tôi hy vọng hắn vẫn còn sống bởi vì tôi muốn khi con quái vật đó trút hởi thở cuối cùng thì hắn phải nhìn thẳng vào tôi.
Một vài cảnh sát đã thiết lập nên một hàng rào bảo vệ xung quanh chỗ Coombs nằm. Họ luôn miệng nhắc nhở mọi người hãy tránh cho xa.
Coombs vẫn chưa chết, những hơi thở nặng nhọc thoát ra từ lồng ngực đang trồi lên trồi xuống của hắn. Một đội cứu thương vội vã chạy lại gần, hai người trong số họ kéo lê những dụng cụ cấp cứu theo sau. Một người là phụ nữ, bắt đầu cởi bỏ chiếc áo sơ-mi vấy đầy máu của Coombs. Một người khác cúi xuống đo huyết áp cho hắn.
Mắt của chúng tôi đã gặp nhau. Cái nhìn của Coombs trợn trừng và nóng nảy trong khi miệng hắn vặn xoắn lại thành một nụ cười độc ác. Hình như hắn đang muốn nói với tôi một câu gì đó.
Người phụ nữ trong đội cứu thương cố gắng đẩy mọi người ra xa để lấy chỗ cho Coombs thở.
- Tôi phải nghe được những điều hắn đang muốn nói. - Tôi bảo người phụ nữ. - Chị hãy cho tôi ở đây, chỉ một phút thôi cũng được.
- Hắn không thể nói gì đâu, - người phụ nữ gạt đi. - Mọi người hãy tránh ra! Cả chị nữa, chị trung úy. Hắn ta sắp chết rồi!
- Tôi phải nghe mà, - tôi nài nỉ rồi quỳ thụp xuống đất. Chiếc áo sơ-mi của Coombs đã được mở phanh ra, để lộ những vết thương rộng ngoác trông đến khiếp.
Miệng hắn run run. Hắn vẫn đang gắng sức để nói. Hắn muốn nói gì với tôi vậy nhỉ?
Tôi cúi xuống thấp hơn, máu của Coombs dây bẩn sang cả áo khoác của tôi, nhưng tôi không quan tâm. Tôi ghé sát tai mình vào miệng hắn.
- Còn nữa... cuối cùng... - hắn ta thì thầm. Mỗi hơi thở của hắn lúc này đúng là một cuộc vật lộn. Chẳng lẽ mọi việc kết thúc ở đây sao? Và Coombs sẽ mang những bí mật của hắn xuống mồ?
Còn nữa? Cuối cùng? Mục tiêu cuối cùng, hay là nạn nhân cuối cùng? Tôi nhìn chằm chằm vào mắt Coombs, nhận thấy vẻ hận thù vẫn còn nguyên trong đó.
- Còn cái gì nữa, hả Coombs? - Tôi gặng hỏi.
Máu ộc ra từ miệng của kẻ giết người. Hắn ta hít thật sâu một hơi thở nặng nhọc, gắng gượng chút sức lực cuối cùng để kéo dài sự sống.
- Còn một điều ngạc nhiên nữa... Điều ngạc nhiên cuối cùng. - Hắn mỉm cười.
101
Chimera đã chết. Mọi chuyện như vậy là đã kết thúc, ơn Chúa!
Tôi không hiểu Coombs muốn ám chỉ điều gì mà chỉ muốn ném trả lại những lời nói đó vào mặt hắn. Điều ngạc nhiên cuối cùng... Dù nó có là gì, thì Chimera cũng đã chết. Hắn sẽ không còn làm hại ai được nữa.
Tôi hy vọng không phải hắn định nói hắn đã để lại nạn nhân cuối cùng trước khi chết.
- Nào, trung úy, - Jacobi lẩm bẩm và nhẹ nhàng nâng tôi dậy.
Bất chợt, chân tôi như bị khóa chặt. Tôi có cảm giác như không tài nào điều khiển được phần dưới của cơ thể. Tôi nhìn thấy sự hoảng hốt hiện rõ trên mặt Jacobi.
- Chị bị thương rồi này, - anh ta thốt lên, mắt trơn tròn sợ hãi.
Tôi nghiêng người nhìn sang một bên. Jacobi giúp tôi cởi bỏ chiếc áo khoác để nhìn cho rõ một vết cắt dài và sâu trên bụng tôi. Đầu óc tôi bắt đầu quay cuồng. Một cơn buồn nôn quặn lên trong ruột.
- Chúng tôi cần cấp cứu ở đây, - Jacobi vẫy tay gọi đội cứu thương. Rồi anh ta quay sang, cùng Capy đỡ tôi nằm xuống đất.
Tôi nhớ lúc đó mắt tôi cứ như bị hút chặt về phía Coombs, khi nhân viên của đội cứu thương đã cởi bỏ xong chiếc áo sơ-mi của Coombs ra khỏi người hắn và chạy ngang qua chỗ tôi nằm. Có một điều gì đó không ổn. Người ta cũng cởi áo khoác của tôi ra và đặt lên cánh tay tôi một chiếc máy đo huyết áp. Nhưng tôi không chú ý, việc này cứ thể như đang xảy ra với người khác chứ không phải với tôi.
Mắt tôi vẫn dán chặt vào tên giết người. Có một điều gì đó thật khác lạ, nó khiến tôi phải chú ý. Nhưng nó là cái gì?
Tôi vùng người ra khỏi tay Jacobi.
- Tôi phải ra kia xem sao...
Nhưng anh ta giữ chặt tôi lại.
- Chị phải nằm yên ở chỗ này, Lindsay ạ. Xe cứu thương đang đến.
Tôi cố giằng co với Jacobi để đứng dậy và đi lại gần cái xác. Tôi trông thấy những vết thương khủng khiếp lộ ra trên ngực hắn. Nhưng vẫn còn cái gì đó bị thiếu; cái gì đó khiến tôi băn khoăn. Là cái gì nhỉ?
- Ôi Chúa ơi, Jacobi, - tôi khẽ kêu lên. - Nhìn kìa!
- Nhìn cái gì mà nhìn? - Jacobi cau mày. - Chị làm sao thế hả?
- Jacobi... không có hình xăm.
Một ý nghĩ chợt lóe lên trong óc tôi. Claire đã phát hiện ra chất nhuộm màu từ hình xăm trên ngực kẻ giết người dưới móng tay của bà Estelle Chipman cơ mà.
Tôi thò tay xuống dưới vai của Coombs và khẽ lật người hắn sang bên. Lưng hắn cũng không có hình xăm. Chẳng có hình xăm ở bất cứ chỗ nào.
Đầu óc tôi quay cuồng. Điều này tôi chưa hề nghĩ tới - nhưng Coombs chắc chắn không phải là Chimera.
Rồi tôi ngất lịm đi.
102
Tôi tỉnh dậy ở một căn phòng trong bệnh viện, cảm thấy vô cùng vướng víu vì những đoạn dây lằng nhằng nơi cánh tay.
Claire đang đứng bên cạnh.
- Em đúng là cô gái may mắn, - chị bảo tôi. - Chị đã nói chuyện với các bác sĩ rồi. Họ bảo viên đạn chỉ làm trầy da chứ không nằm lại trong cơ thể. Vấn đề cơ bản của em bây giờ là phải chịu đựng những vết bỏng khá nặng trên da.
- Em nghe nói phấn bột chữa bỏng tốt lắm, phải không chị? - Tôi nói khẽ, miệng cố nhoẻn một nụ cười yếu ớt.
Claire gật đầu, chỉ tay vào miếng gạc trên cổ của chị.
- Đúng vậy. Dù sao, cũng chúc mừng em... Trong vài tuần sắp tới, chị cho rằng em sẽ kiếm được một công việc bàn giấy dễ chịu đấy.
- Em đã kiếm được rồi, Claire ạ. - Tôi trả lời, nhìn quanh căn phòng một cách bối rối và gắng gượng ngồi dậy. Vết thương của tôi bỏng rát như bị ai châm lửa vào đó.
- Em cừ lắm, - Claire siết chặt cánh tay tôi. - Coombs đã chết, bây giờ hắn đang nằm gọn lỏn dưới địa ngục rồi. Ngoài kia có rất nhiều người đang muốn nói chuyện với em. Em phải làm quen dần với sự ôm hôn đi là vừa.
Tôi nhắm mắt lại, thầm nghĩ rằng đó đúng là sự quan tâm không đúng chỗ. Bất chợt, xuyên qua làn sương mù dày đặc, tôi chợt nhớ ra một điều. Tôi đã phát hiện ra chuyện gì trước khi bị ngất thế nhỉ?
Những ngón tay của tôi níu chặt lấy người Claire.
- Trên người Frank Coombs không có hình xăm, chị ạ.
Claire lắc đầu ngơ ngác.
- Thế thì sao...?
Cổ họng tôi bỏng rát, do đó tôi cảm thấy rất đau khi phải nói.
- Vụ giết người đầu tiên, bà Estelle Chipman... Bà ấy đã bị giết bởi một gã đàn ông có hình xăm trên người. Chị đã nói vậy mà.
- Chị có thể bị nhầm lắm chứ.
- Chị chẳng bao giờ nhầm lẫn cả, - mắt tôi sáng lên.
Claire thong thả ngồi xuống ghế, mày cau lại.
- Chị sẽ phải khám nghiệm tử thi của Frank Coombs vào sáng thứ hai tới. Chắc chắn chị sẽ tìm ra được một đám da bị nhuộm màu hoặc đổi màu trên người hắn ta.
Tôi mỉm cười.
- Khám nghiệm tử thi ư...? Em tưởng hắn chết vì bị bắn, rõ quá rồi còn gì.
- Cám ơn em đã nhắc nhở, - Claire cũng nhe răng cười theo tôi. - Nhưng vẫn phải có ai đó lấy viên đạn ra khỏi xác chết để so sánh chứ. Đó là thủ tục bắt buộc mà.
- Ừ phải, - tôi thở phào nhẹ nhõm và ngả đầu trở lại xuống gối. Toàn bộ sự việc đã xảy ra, từ chuyện tôi trông thấy một viên cảnh sát đi lại gần, nhận ra đó chính là Coombs, kẻ đang bị chúng tôi săn đuổi cho tới ánh lửa lóe lên từ họng súng của hắn tất cả vụt ùa về trước mắt tôi như những mảnh vỡ.
Claire đúng dậy, phủi bụi trên váy.
- Em cứ nghỉ đi nhé. Bác sĩ bảo ngày mai là em có thể ra viện được rồi. Chị sẽ đến đón em vào buổi sáng. - Chị cúi người xuống và khẽ hôn lên má tôi. Rồi chị đi ra cửa.
- Này Claire...
Chị quay người lại. Tôi những muốn chạy tới ôm chầm lấy chị, nói với chị rằng tôi yêu chị vô cùng, rằng tôi thực sự hãnh diện khi có một người bạn như chị. Thế nhưng tôi chỉ mỉm cười và bảo.
- Chị nhớ để ý tìm hình xăm đấy nhé.
103
Tôi định dành phần còn lại của ngày hôm đó cố gắng nghỉ ngơi, nhưng thật không may là phòng tôi chẳng có lúc nào được yên tĩnh cả. Hết đoàn khách này tới đoàn nhà báo khác lũ lượt kéo tới hỏi chuyện tôi. Tất cả đều muốn mục sở thị người nữ cảnh sát anh hùng vừa bị thương trong khi truy bắt kẻ giết người hàng loạt.
Ngài thị trưởng cũng đến, được hộ tống bởi đại diện báo chí của ông và sếp Tracchio. Họ tổ chức một cuộc họp báo ứng khẩu ngay tại bệnh viện, hết lời tuyên dương chiến công của tôi và của cả Đội Homicide trong việc điều tra thành công một vụ trọng án trong thành phố.
Sự huyên náo om sòm cuối cùng rồi cũng chấm dứt. Tới lúc này, Cindy và Jill mới lò dò đi vào. Jill mang một bông hồng xinh xắn cắm trong bình thủy tinh đặt lên chiếc bàn cạnh đầu giường tôi nằm.
- Cậu sẽ không ở đây đủ lâu để ngắm nó đâu. - Cô ấy nhìn tôi cười toe toét.
Gindy đưa cho tôi một cuốn băng video bọc kín. Tôi mở nó ra. Zena, người nữ chiến binh. Cindy nháy mắt.
- Tớ nghe nói nhân vật chính của bộ phim này cũng hay bày ra những trò mạo hiểm lắm.
Tôi gắng gượng ngồi dậy và vươn cánh tay cứng đờ của tôi ra ôm chặt lấy họ.
- Đừng moi móc chuyện cũ như thế nữa đi, - tôi mỉm cười dọa dẫm.
- Người ta có cho cậu dùng thuốc tốt không đấy? -
Jillhỏi.
- Có. Thuốc Percocet. Thỉnh thoảng cậu cũng nên dùng. Đáng để mạo hiểm lắm.
- Lindsay này, cậu cừ lắm, - Cindy nhìn tôi chăm chú. - Có thể nhiều khi cậu hành động như một kẻ điên rồ, nhưng không ai có thể phủ nhận cậu là một cảnh sát giỏi.
- Cám ơn các cậu.
- Nhưng cậu đừng tưởng bị thương như thế này là có thể thoát khỏi chuyên mục của tớ trên báo đâu đấy nhé. Tuy nhiên, tớ sẽ dành cho cậu một chút thời gian để bình phục. Sáu giờ nhé?
- Được. - Tôi bật cười khúc khích. - Nhớ mang cho tớ một con gà rán từ quán Susie.
- Bác sĩ bảo chúng tớ chỉ được vào mấy phút thôi, - Jill nói. - Chúng tớ sẽ gọi điện thoại cho cậu sau nhé. - Cả hai người bọn họ nhìn tôi mỉm cười dịu dàng và quay ra phía cửa.
Tới năm giờ, Jacobi và Cappy thò đầu vào.
- Chúng tôi đang tự hỏi không biết chị biến đi đằng nào, - Jacobi lẩm bẩm, mặt giả bộ ngây ra như phỗng. - Chị đã vắng mặt trong cuộc họp đội chiều nay.
Tôi cười toe toét, ngồi dậy khỏi giường bằng một động tác cứng đơ.
- Hai bạn mới đúng là những người anh hùng. Còn tôi, tôi chỉ biết dúi đầu xuống đất để tránh đạn mà thôi.
- Xì - Cappy nhún vai. - Chúng tôi đang muốn nói với chị điều này: mặc dù chị đã được ngài thị trưởng đề xuất tặng thưởng Huy chương Danh dự nhưng chúng tôi không ganh tị đâu và vẫn rất quý mến chị.
Tôi mỉm cười, giật mạnh chiếc áo màu xanh của bệnh viện và từ từ ngồi xuống ghế.
- Mọi người đã xâu chuỗi được các sự kiện chưa?
- Có gì đâu mà phải xâu chuỗi, - Jacobi bình thản đáp.
- Chimera đã tiến lại gần chị. Hắn đã bắn và chúng tôi buộc phải nổ súng giết chết hắn. Câu chuyện kết thúc.
Tôi cố gắng nhớ lại toàn bộ sự việc, từ đầu tới cuối.
- Ai đã nổ súng?
- Tôi bắn bốn phát, - Jacobi trả lời. - Tom Perez từ Đội chống cướp giật đứng ngay cạnh tôi, bắn hai phát.
Tôi nhìn sang Cappy.
- Tôi bắn hai, - anh ta bổ sung. - Nhưng còn rất nhiều phát đạn bắn từ bốn phía.
- Cám ơn, - tôi mỉm cười nhã nhặn. Rồi tôi nghiêm mặt lại, nhìn hai người đồng nghiệp bằng ánh mắt gay gắt.
- Các anh nghĩ thế nào về điều này? Cùng cái gã đã bắn chết Tasha Catchings và Davidson từ cự ly khá xa, vậy mà hắn lại chỉ bắn sượt qua tôi ở cự ly gần đến vậy?
Jacobi nhìn tôi bôi rối.
- Chị định nói với chúng tôi chuyện gì thế, Lindsay?
Tôi thở dài.
- Suốt từ đầu đến cuối, chúng ta đi tìm một gã có hình xăm trên người, phải không nào? Kẻ đã giết chết bà Estelle Chipman. Mấu chốt của vụ án.
Họ lẳng lặng gật đầu.
- Vậy mà trên người Coombs không có một hình xăm nào cả. Không hề có.
Jacobi liếc nhanh về phía Cappy, sau đó anh ta lại nhìn tôi.
- Chị đang muốn nói gi? Rằng Coombs không phải là người mà chúng ta đang tìm kiếm à? Chúng ta đã tìm cách buộc hắn với những vụ giết người đã xảy ra, chúng ta đã tìm thấy những mẩu báo trong phòng trọ của hắn, hắn định giết chị không phải chỉ một mà tới tận hai lần. Bây giờ hóa ra không phải hắn là thủ phạm?
Tôi cảm thấy trí óc mình lúc này không được minh mẫn cho lắm. Quá nhiều sự kiện đã xảy ra, tôi đã bị ngất và đã phải dùng thuốc. Điều mà tôi đang nghĩ có lẽ chỉ là chuyện vặt vãnh so với tất cả những gì chúng tôi đã thu thập được để chống lại Coombs.
- Ý tôi muốn nói là, các anh đã bao giờ thấy Claire Washbun nhầm lẫn chưa?
- Chưa. - Jacobi lắc đầu quả quyết. - Và tôi cũng chưa bao giờ thấy chị nhầm lẫn cả.
Hai người chúc tôi ngủ ngon và chuẩn bị ra về.
- Trong thâm tâm, tôi có cảm giác, - Jacobi quay lại nhìn tôi trên đường đi ra cửa, - khi nào thuốc hết tác dụng và chị có cơ hội để nhìn nhận lại mọi chuyện một cách sáng suốt hơn thì chị sẽ thấy là chị đã làm được một cú ngoạn mục lắm đấy.
Tôi mỉm cười với họ.
- Tất cả chúng ta đã làm.
Đêm đó, tôi không tài nào ngủ được. Tôi nằm ngửa, một bên hông cứ đập thon thót, nhưng tôi cũng lờ mờ cảm nhận được một cảm giác dễ chịu có được nhờ tác dụng của thuốc Percocet. Tôi nhìn quanh căn phòng lạ lẫm tối mờ, tự nhủ rằng tôi đã may mắn biết bao khi vẫn còn sống.
Jacobi nói đúng; đây đúng là một cú ngoạn mục. Coombs là kẻ giết người. Mọi chuyện đã diễn ra đúng như dự đoán ban đầu của chúng tôi. Cuối cùng, hắn đã định giết chết tôi.
Tôi nhắm chặt mắt lại và cố gắng xua mọi chuyện ra khỏi đầu, nhưng tôi lại nghe thấy một tiếng nói thì thầm ngân nga bên tai tôi. Một giọng nói lén lút luồn qua những kết luận chắc chắn, qua những điều mà chúng tôi cho là đáng tin cậy.
Tôi cố gắng ngủ, nhưng giọng nói cứ mỗi lúc một to hơn.
Tại sao Coombs lại bắn trượt
104
Tôi được xuất viện trong buổi sáng hôm sau..
Jill đến đón tôi. Cô ấy dừng chiếc BMW của mình ở bên ngoài Bệnh viện Đa khoa San Francisco khi người ta đẩy tôi ra trên một chiếc ghế có bánh xe. Cánh báo chí cũng đã có mặt. Tôi vẫy tay chào tất cả mọi người nhưng không dừng lại trò chuyện với ai cả. Tôi về nhà, ôm chặy Martha vào lòng rồi tắm và thay quần áo.
Cho tới lúc tôi bước vào căn phòng số 350 trong Tòa với một dáng đi gượng gạo, cứng nhắc vào sáng ngày thứ Hai thì mọi chuyện có vẻ như đã trở lại bình thường, cả đội ùa tới vây quanh tôi, ra sức vỗ tay khen ngợi.
- Chị đã thắng trong trận này, trung úy ạ, - Jacobi tươi cười chạm nhẹ vào người tôi và nói.
- Thôi nào, - tôi phẩy tay ra hiệu mọi người hãy tránh ra. - Chúng ta còn phải chờ để giải trình đấy.
- Giải trình cái gì cơ? - Jacobi ngơ ngác hỏi lại. - Chị đừng có mà tỏ ra nghiêm trọng quá vậy.
- Trung úy ạ, - Cappy xen vào, cặp mắt ánh lên một niềm tự hào rạng rỡ. - Chúng tôi giành việc đó cho chị đấy.
- Đúng thế, chị hãy làm đi, trung úy.
Có lẽ đây là lần đầu tiên kể từ khi được sếp Mercer đề bạt, tôi mới cảm thấy thích thú với cấp bậc mới của mình trong Đội Homicide. Mọi nghi ngờ về giá trị đích thực của công việc này mà tôi đã mang theo kể từ khi tôi gia nhập ngành cảnh sát bỗng chốc trở nên xa vời.
Tôi đi tới bên chiếc bảng, nơi những vụ án của chúng tôi đã được liệt kê và xóa tên Tasha Catching khỏi đó. Tôi xóa cả tên của Art Davidson.
Lòng tôi tràn ngập một niềm vui sướng hoan hỉ. Tôi thấy mình như vừa được giải thoát khỏi một gánh nặng, và tôi rất hãnh diện.
Ta không thể giúp người chết sống lại. Ta cũng không thể giải thích tại sao mọi chuyện đã xảy ra theo chiều hướng đó. Tất cả những gì chúng ta làm là cố gắng tới mức tối đa để những người sống tin tướng rằng tâm hồn của họ đang được yên ổn.
Những thanh tra cảnh sát khác vây quanh tôi, chăm chú theo dõi.
Tôi xóa nốt tên của Earl Mercer trên tấm bảng đen.
105
Tôi dành trọn mấy giờ sau đó để tiếp nhận những cuộc điện thoại. Còn lại phần lớn thời gian, tôi ngồi yên tại bàn làm việc của mình, cố gắng tĩnh tâm để suy nghĩ. Có lẽ chúng tôi sẽ phải giải trình về việc đã bắn Coombs - đó là thủ tục bắt buộc mỗi khi một người cảnh sát nào đó quyết định nổ súng.
Toàn bộ sự việc có vẻ như vẫn chưa hoàn toàn rõ nét. Các bác sĩ đã bảo với tôi rằng tôi sẽ phải ở trong tình trạng chống chếnh như vậy mất một thời gian. Một dạng của việc bị sốc.
Tôi chợt nhớ lại bộ sắc phục cảnh sát đã lỗi thời của Coombs và ánh mắt nhìn tôi đầy thù hận của hắn. Hắn đã giơ tay lên, một quầng lửa màu cam đã lóe lên từ nòng súng của hắn. Tôi nhớ là đã có ai đó gọi to tên tôi, có lẽ là Cappy hoặc Jacobi, rồi tiếng một người nào khác, Súng....
Rồi khẩu Glock của tôi bị rơi xuống đất. Tôi biết tôi đã chậm một bước so với Coombs. Rồi tiếng súng vang lên từ mọi phía, pằng, pằng, pằng... Cuối cùng, tôi gạt những suy nghĩ đó ra khỏi đầu và quay trở lại làm việc.
Khoảng một giờ sau đó, tôi đang xem lướt qua tập hồ sơ của một vụ án mới thì thấy Claire xuất hiện ở ngưỡng cửa.
- Chào chị!
- Chị cũng chào em, Lindsay ạ.
Tôi rất hiểu Claire. Tôi quá rành vẻ mặt của chị ấy mỗi khi chị tìm ra được thứ mà chị đang chờ đợi và xóa bỏ mọi ngờ vực. Tôi cũng quá rành vẻ mặt của chị khi có một chuyện gì đó không được chính đáng.
Lần này, rõ ràng chị đang mang bộ mặt không chính đáng.
- Chị không tìm thấy hình xăm nào, phải không? - Tôi hỏi.
Claire lắc đầu. Vẻ mặt của chị không thể nào buồn phiền hơn thế nếu như chị phát hiện ra một hành động đáng trách nào đó của Edmund hay của một trong các cậu con trai.
Tôi ra hiệu cho chị bước vào và khép cửa lại.
- Được rồi, thế chị đã tìm thấy gì?
Claire buồn bã nhún vai.
- Chị cho rằng chị đã tìm ra được nguyên nhân khiến Coombs bắn trượt.
106
Claire ngồi xuống và bắt đầu giải thích.
- Chị đang làm xét nghiệm mô như thường lệ để nghiên cứu các sắc tố trên bề mặt da...
- Nào, chị Claire, chị nói dễ hiểu hơn đi, - tôi ngắt lời. - Em xin chị đấy!
Claire mỉm cười.
- Chị lấy một vài tế bào ở giữa não. Coombs đã bị đánh vào đầu chín lần cả thảy. Tám lần từ phía trước, một lần từ phía sau. Cú đánh từ phía sau này nhằm trúng đốt sống cổ. Lúc đầu, chị chỉ định tìm hiểu nguyên nhân gây nên cái chết mà thôi.
- Vậy chị đã tìm thấy gì?
Ánh mắt của chị nhìn tôi hết sức kỳ lạ.
- Não của hắn bị thiếu một số nơ-ron thần kinh... những tế bào thần kinh sống.
Tôi ngồi thẳng dậy, tim đập thình thịch.
- Nghĩa là sao, hả chị?
- Nghĩa là... Coombs bị mắc bệnh Parkinson Lindsay ạ. Bệnh này rất khó chữa.
Bệnh Parkinson... Một ý nghĩ vụt hiện lên trong óc tôi. À, hóa ra chính vì nó mà Coombs đã bắn trượt. Tôi thật may mắn quá!
Rồi tôi thấy cái nhìn trống rỗng trên khuôn mặt của Claire đột ngột biến thành một tín hiệu báo động. Tôi hiểu chuyện không đơn giản chỉ có thế.
- Lindsay này, một người trong tình trạng bệnh tật như Coombs thì không bao giờ có thể nổ phát súng thiện xạ đến thế.
Tôi nhớ lại cảnh tượng trước nhà thờ La Salle Heights... Tasha Catchings đã ngã gục bởi một phát đạn chính xác đến không ngờ... Và Art Darvidson, với một lỗ thủng ngay giữa trán... Viên đạn được bắn qua cửa sổ từ mái nhà đối diện, cách đó ít nhất cũng phải một trăm thước.
Tôi nhìn chằm chằm vào mắt Claire.
- Chị có chắc không?
Claire chậm rãi gật đầu.
- Chị không phải là một bác sĩ chuyên khoa thần kinh, nhưng chị dám chắc vào điều chị vừa mới nói. Tình trạng bệnh Parkinson như vậy sẽ không cho phép có được sự tương tác giữa não và tay. Bệnh của Coombs nặng lắm.
Với một cơn ớn lạnh khó chịu, tôi lướt qua tất cả mọi điều mà tôi đã biết về tên giết người. Chúng tôi đã cho rằng trên người Chimera có một hình xăm. Nhưng Coombs lại không có. Hắn đã bắn trượt tôi mặc dù chỉ đứng cách tôi có vài bước chân. Và bây giờ, bệnh Parkinson... Dù cho Chimera là ai thì hắn ta chắc chắn phải là một nhà thiện xạ. Điều này thật khó có thể bác bỏ.
Chúng tôi đưa mắt nhìn nhau và tôi buột miệng thốt ra một câu không đáng nói.
- Chị Claire, Coombs không phải là người chúng ta đang tìm.
- Đúng vậy, - chị trả lời. - Vậy người đó là ai, hả trung úy?
107
Chúng tôi ngồi im lặng một lúc lâu sau đó, khuôn mặt lộ rõ vẻ choáng váng và kinh hoàng. Báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng khác cùng mọi người dân trong thành phố đang ăn mừng cái chết của Chimera. Và vừa mới sáng nay thôi, tôi đã xóa những vụ trọng án khỏi tấm bảng đen của đội.
- Coombs đã cố gắng nói với em một điều gì đó trước khi chết, - tôi bảo Claire, trầm ngâm nhớ lại khoảnh khắc sự sống rời bỏ kẻ giết người. - “Còn nữa...”, hắn đã thì thào như vậy, và khi em hỏi lại, còn cái gì nữa? thì hắn ta chỉ cười. “Còn điều ngạc nhiên cuối cùng.” Hắn biết Chimera vẫn đang ở bên ngoài. Chị Claire ạ, hắn biết chúng ta sẽ tìm ra. Tên khốn đó đã cười nhạo em cả khi hắn sắp chết. Chắc chắn đó là một người khác trong nhóm của hắn. Một thằng điên khác.
Claire bặm chặt môi lại.
- Lihdsay ạ, giá mà chị có thể kết luận giúp em được...
Tôi vẫn chưa hình dung mình sẽ làm gì tiếp theo với suy đoán mới này của mình. Mọi sự kiện lại trở về trạng thái rời rạc. Bay View... Chimera. Mấy thứ giấy tờ tìm thấy trong phòng trọ của Coombs. Cái cách hắn tiến lại gần tôi trong gian đại sảnh của tòa. Cuối cùng, một câu hỏi xuất hiện: nếu không phải là Coombs, thì là ai?
Tôi muốn đi lên gác để đập tan cuộc ăn mừng của những người đồng nghiệp, nhưng tôi và Claire lại vẫn ngồi im, nhìn nhau trừng trừng. Tên giết người thực sự vẫn đang nhởn nhơ ngoài kia, và Chúa ơi, có lẽ hắn đang chuẩn bị thực hiện một tội ác khác.
- Đi với em, - tôi nói, cảm thấy nhói đau bên hông. Tôi thong thả bước dọc hành lang tới văn phòng của Charlie Clapper.
- Nữ anh hùng đã đến. - Viên cảnh sát béo phục phịch trông thấy tôi vội đứng dậy và mỉm cười. - Dáng dấp có vẻ hơi lòng khòng, nhưng trông cô vẫn rất tuyệt.
- Anh Charlie này, - tôi nói, - bao giờ thì chúng ta có kết quả so sánh đạn đạo?
- Đạn á...? - Anh ta khẽ cau mày.
- Vâng, đạn trong khẩu súng của Coombs. Mất bao nhiêu lâu để có được kết quả so sánh nó với loại đạn đã giết Mercer?
- Cũng khá lâu đấy, nếu như cô muốn thu hẹp diện nghi vấn.
- Bao giờ hả Charlie? - Tôi ngắt lời anh ta. - Cụ thể là khi nào?
- Chắc cũng phải tới tận thứ Tư cơ. - Anh ta nhún vai. Chúng tôi phải xem xét tỉ mỉ phía trong khẩu súng...
- Ngày mai nhé, Charlie, - tôi đề nghị. - Tôi cần có kết quả vào ngay mai.
- Lindsay ạ, - anh ta bắt đầu bối rối thực sự, - chuyện quái gì đang xảy ra thế?
Tôi quay về phía Claire, cố gắng nuốt ngụm mật đắng đang chực dâng lên làm ngực tôi tức nghẹn.
- Chúng ta phải mang tin này lên gác, chị ạ.
Chúng tôi vội vã gọi thang máy để lên tầng năm.
Người tôi cứ thẫn thờ vì bị sự day dứt hành hạ. Tôi hầu như không chú ý tới những cơn đau đang từ vết thương lan khắp người tôi. Chúng tôi xông thẳng vào phòng làm việc của quyền cảnh sát trưởng Tracchio. Ông ta đang nhoài người ra nguệch ngoạc một cái gì đó trên bàn viết.
- Cô làm gì ở đây vậy? - ông ta kêu lên. - Lẽ ra cô phải về nhà và nghỉ ngơi. Trung úy ạ, nếu như có ai đó xứng đáng được hưởng một kỳ nghỉ phép dài thì người đó chính là cô đấy...
Tôi vội vàng ngắt lời Tracchio và kể cho ông ta nghe những gì Claire đã tìm được. Đột nhiên, mặt Tracchio nghệt ra như thể ông ta vừa nuốt phải một miếng sò ươn to tướng.
- Tôi không muốn nghe thêm đâu, trung úy ạ, - ông ta nói một cách khó nhọc. - Cô đã giải quyết xong vụ án đó. Mọi chuyện đã qua rồi.
- Có thể ông không muốn nghe, - Claire nghiêm giọng, - nhưng tôi chưa bao giờ chắc chắn điều gì hơn thế trong sự nghiệp của mình. Coombs không thể bắn nổi những phát đạn chính xác tới vậy.
- Nhưng đó chỉ là suy đoán, - Tracchio phản đổi. - Mối liên hệ với vụ giết Sikes... Là thành viên của nhóm Chimera... Trình độ bắn súng của hắn. Tất cả đều là sự thật. Sự thật của cô đấy, trung úy. - Ổ mỗi một điểm nhấn, ông ta lại chỉ ngón tay về phía tôi một lần. - Không ai có thế phù hợp với các mô tả đó hơn hắn. Tôi không thể tranh cãi với kết luận của cô, bác sĩ Washburn ạ, nhưng tôi tin Coombs chính là thủ phạm...
- Chúng ta cũng có thế thử ADN của hắn và so sánh với mẫu da mà chúng ta thu được dưới móng tay của bà Estelle Chipman, - Claire đáp. - Chắc chắn tôi sẽ làm như vậy, nhưng tôi dám đem danh dự của mình ra đánh cuộc với ông rằng chúng sẽ không giống nhau.
- Trong khi chờ đợi, chúng ta phải mở lại vụ án, - tôi nói.
- Mở lại vụ án á? - Tracchio há hốc miệng. - Tôi sẽ không ra bất cứ một mệnh lệnh nào dạng đó đâu.
- Nếu Chimera vẫn đang ở bên ngoài, - tôi nài nỉ, - thì hắn ta sẽ còn lập kế hoạch giết thêm nhiều người nữa. Tôi nghi rằng hắn ta đang làm vậy đấy.
- Chỉ vừa mới hôm qua thôi, - Tracchio thốt lên, - cô còn khẳng định trăm phần trăm Coombs chính là Chimera.
- Đó là chuyện của ngày hôm qua, tôi nói. - Chúng tôi đã nói cho ông biết tại sao chúng tôi thay đổi ý kiến rồi mà. Ngay bây giờ tôi có thể khẳng định trăm phần trăm với ông rằng Coombs không phải là Chimera.
- Điều mà các cô vừa nói với tôi chỉ là sự suy đoán dựa trên cơ sở y khoa mà thôi. Tôi muốn những bằng chứng vững chắc hơn thế. Hãy mang kết quả thử ADN tới đây cho tôi.
- Cũng phải mất mấy ngày nữa mới có, - Claừe nói. - Một tuần...
- Vậy thì kết quả so sánh đạn đạo vậy, - Tracchio yêu cầu. - Sếp Mercer bị giết bởi một khẩu súng cõ 38 ly. Tôi dám cá với các cô rằng Clapper sẽ chỉ ra đó là một khẩu súng cùng loại.
- Đành rằng là vậy. Nhưng trong khi chờ...
- Không có nhưng nhiếc gì hết, trung úy. Tôi thấy cô mập mờ giữa hai làn nước quá đấy. Cô đang yêu cầu tôi một việc kinh khủng. Tốt nhất cô hãy về nhà và nghỉ dưỡng thương đi thì hơn, đừng có cố bắt đầu một cuộc điều tra mới như vậy.
Claire và tôi đưa mắt nhìn nhau.
Tracchio cầm mấy tờ báo lên đọc, một cách mà nhiều quan chức thường hay làm để thể hiện rằng cuộc nói chuyện đã kết thúc. Quỷ tha ma bắt ông ta đi.
Quay trở ra ngoài hành lang, tôi nhìn Claire.
- Em sắp làm cho cả thành phố này khinh thường mình, chị Claire ạ. Chị có chắc chắn vào kết luận của chị không đấy?
- Tất nhiên là chị chắc chắn rồi, - Claire trả lời - Em định làm gì tiếp theo?
- Có lẽ em sẽ chờ kết quả phân tích đạn đạo, và cầu nguyện cho không có chuyện gì xảy ra trong thời gian chờ đợi này. Em cũng sẽ thúc giục mọi người tiếp tục điều tra thêm về vụ án.
108
- Cindy Thomas, em đấy à?
Aaron Winslow gần như không tin vào mắt mình nữa. Khi Cindy ra mở cửa, anh trông thấy cô mặc một bộ váy dài màu đen giản dị mà sang trọng, cổ đeo một chuỗi dây chuyền nạm kim cương. Sau lưng cô, anh còn thấy trong phòng ăn thấp thoáng mấy ngọn nến đang cháy, đồ sứ, đồ pha lê và những chiếc đĩa bằng bạc.
Cindy tiến lên và hôn Aaron, rồi cô quay vào trong. Chúa ơi, trông cô ấy mới xinh đẹp làm sao. Tối nay cô ấy thật lộng lẫy.
- Thôi được, em đang muốn xưng tội đây này, - cô mỉm cười đáp lại. - Bộ váy Armani này là của Jill bạn em, cô luật sư đấy. Đôi giày Ferragamo này cũng vậy. Nếu như em làm đổ bất cứ thứ gì vào váy hoặc làm trầy xước đôi giày thì cô ấy sẽ chẳng thèm nói chuyện với em nữa đâu.
Cindy mỉm cười và cầm tay Aaron.
- Anh vào đi, đừng quá e ngại như vậy chứ. Tối nay chúng ta sẽ ăn mừng sự kết thúc của một vụ án kinh khủng.
Aaron cười phá lên.
- Chỉ để ăn mừng sự kiện đó thôi thì trông em xinh hơi quá mức đấy.
Cindy vẫn tươi cười.
- Đúng vậy. Em còn chuẩn bị món gà hầm hạnh nhân, sa-lát và mì ống với bạc hà. Thật không may, em chỉ biết làm có ba món đó thôi.
- Tính trung thực của em thật đáng khen ngợi, - Aaron nói. - Thế còn đồ sứ và pha lê thì là của ai?
Cindy cũng cười to khi cô dẫn anh vào phòng ăn. Thật thú vị, cô có cảm giác như mình là một minh tinh màn bạc vậy.
- Anh tin hay không thì tùy, nhưng chúng là của em đấy. Mẹ em đã tặng em khi em mười tám tuổi. Em nghĩ rượu Wedgwood và Waterford sẽ rất hợp cho buổi tối đặc biệt này. Đồ ăn đã sẵn sàng. Chúng mình ngồi vào bàn thôi.
- Để anh giúp em bày biện nhé? - Aaron đề nghị.
- Tuyệt quá! Mọi thứ tối nay đều rất tuyệt vời phải không anh?
Đúng là mọi thứ thật tuyệt và mấy phút sau đó họ đã ngồi vào trước một bàn ăn la liệt những món ngon mắt.
Cindy nhẹ nhàng đặt cốc rượu vang của mình xuống bàn.
- Em ra nướng bánh.
Ngay lúc đó, Aaron chợt trông thấy một hình ảnh động phản chiếu trong tấm gương phía trên tủ bếp sau lưng Cindy. Tim anh chợt ngừng đập. Không thể nào, không phải ở đây.
- Cindy, không! - Anh kêu lên, nhao người ra khỏi ghế khiến cho những món đồ sứ và pha lê trên bàn đổ lăn lóc, rơi cả xuống đất. Anh hy vọng mình chạy tới chỗ Cindy kịp thời.
Anh túm lấy người Cindy. Đồ đạc trong bếp rung lên khi phát đạn đầu tiên làm vỡ tan tành khung cửa sổ trong phòng. Sau đó một vài phát đạn nữa liên tiếp được bắn tới.
Ánh lửa loang loáng. Chimera đang ở đây. Lần này hắn đang nhắm vào họ.
Cindy sực nhớ ra cô có một chiếc điện thoại đặt ngoài hành lang. Cô chạy vội tới đó và bấm số bốn trong danh sách các phím quay số nhanh của cô. Chẳng phải chờ lâu, cô nghe thấy giọng của Lindsay vang lên.
- Hắn đang ở đây, ngay trong căn hộ của tớ. Hắn đang bắn tớ và Aaron! - Cô hét to vào ống nói. - Chimera đang ở đây, hắn đang nổ súng!
109
Chuyện này không thể xảy ra, nhưng nó đang xảy ra thật.
Tôi gọi cho đội phản ứng nhanh rồi lao ngay tới căn hộ của Cindy. Tôi tới đó nhanh trong giới hạn sức người có thể. Thậm chí còn nhanh hơn thế. Tôi trông thấy Cindy và Aaron đang đứng ở cổng trước. Nửa tá xe tuần tra của cảnh sát đang đỗ xung quanh ngôi nhà. Nhưng liệu hai người đã được an toàn hay chưa?
Tay tôi nắm chặt lại khi tôi chạy tới chỗ họ. Tôi ôm choàng lấy Cindy và nhận thấy người cô ấy vẫn còn đang run bắn. Chưa bao giờ tôi gặp cô ấy trong trạng thái bị xúc động mạnh tói vậy. Cô ấy đang bị tổn thương và quá sợ hãi.
- Ơn Chúa, xe tuần tra của cảnh sát đến đây rất nhanh, Lindsay ạ. Không hiểu họ đã làm cho hắn sợ hay là hắn đã bỏ đi từ trước đó.
- Anh không sao chứ? - Tôi hướng sự chú ý của mình sang Aaron. Cả người anh lẫn người Cindy đều lấm lem vết bẩn. Trông họ như vừa trải qua một trận chiến thức ăn vậy. Chuyện quái gì đã xảy ra vậy nhỉ?
- Aaron đã cứu tớ, - Cindy nói trong hơi thở hổn hển, nhưng Aaron chỉ lắc đầu và nắm chặt tay Cindy trong tay anh. Nhìn hai ngươi dịu dàng an ủi nhau, tôi thực sự cảm kích.
- Hắn lại ra tay, - tôi lẩm bẩm, nói cho bản thân mình nghe hơn là nói với họ. Dù Chimera là ai thì hắn ta đang trong cơn giận dữ. Rõ ràng, hắn muốn tôi hoặc bất cứ ai có quan hệ với tôi phải đau khổ. Cũng có thể hắn khó chịu khi thấy Aaron Winslow và Cindy ở bên nhau chăng? Hắn không còn chuẩn bị chu đáo cho những cuộc tấn công của hắn nữa; hắn đang tỏ ra khinh suất trong hành động nhưng vẫn là kẻ hết sức nguy hiểm.
Và hắn đang ở đâu đó ngoài kia. Có khi còn đang quan sát chúng tôi nữa.
- Thôi nào, chúng ta vào trong đi, - tôi bảo họ.
- Tại sao hả, Lindsay? - Cindy vẫn chưa hết bàng hoàng. - Tại sao hắn lại nhằm bắn vào chúng tớ? Rôt cuộc thì hắn là ai? Và hắn đang muốn gì?
- Tớ vẫn chưa biết, Cindy ạ. Tớ xin cậu đấy, vào nhà đi thôi.
Mấy thanh tra cảnh sát đã tới kiểm tra nơi xuất phát của những viên đạn.. Họ cũng ước lượng kích thước của vũ khí. Nhưng chẳng cần thế thì tôi cũng đã biết. Tôi biết đó chính là hắn: Chimera.
Tao vẫn còn đang ở đây, hắn đang nói với chúng tôi như vậy. Nói với tôi.
Chiếc Ford màu xanh da trời của Warren Jacobi từ từ đỗ lại và tôi trông thấy anh ta chui ra khỏi xe, chạy vội về phía tôi.
- Hai người bọn họ vẫn ổn chứ?
- Vẫn ổn. Họ đã vào nhà rồi. Lạy Chúa, Jacobi ạ, chúng ta lại có việc để làm rồi.
Tôi gục đầu xuống bờ vai vững chãi của Jacobi trong một giây. Nước mắt dâng đầy trong khóe mắt, từ từ lăn xuống má tôi, bỏng rát và cay xè.
- Tôi sẽ giết hắn. - Tôi thì thầm với anh ta như vậy.
Jacobi ôm chặt lấy người tôi. Anh ta thật tốt bụng.
Chúng tôi lại trở về với điểm xuất phát ban đầu. Tôi không thể nào đoán nổi thủ phạm là ai. Tôi cũng không biết phải bắt đầu tìm hắn từ đâu nữa.
Một chiếc Lincoln Town màu đen lao nhanh dọc theo con phố đã bị chặn đường rồi phanh két một cái. Cửa xe mở tung và khuôn mặt khắc nghiệt của sếp Tracchio hiện ra. Đích thân ông ta đã xuống quan sát hiện trường của vụ nổ súng.
Ông ta nhìn tôi bằng ánh mắt đầy ắp sự khiển trách cố nén, những ánh đèn nhấp nháy của xe cảnh sát tuần tra xung quanh phản chiếu vào cặp kính của ông ta loang loáng.
Tôi nhìn ông ta trừng trừng. Đủ để chứng minh chưa vậy?
110
Sáng hôm sau, một nửa Đội Homicide tập hợp nhau lại trong phòng họp, cố gắng xem xét lại từng chứng cớ, từng giả thuyết mà chúng tôi đã có. Khi cuộc họp kết thúc, tôi kéo Jacobi sang một bên:
- Có một việc này, Warren. Tôi muốn anh kiểm tra cho tôi xem Tom Keating có thực sự phải ngồi xe lăn hay không nhé.
Mãi tới gần một giờ chiều, tôi mới nghỉ ăn trưa. Tôi cần ra ngoài cho thoải mái đầu óc. Tôi muốn trò chuyện với mấy cô bạn gái. Vì thế tôi gọi điện hẹn họ đi ăn trưa ở quán Rialto, bên kia phố, đối diện với Tòa. Ngay cả Cindy cũng tới. Cô ấy tỏ ra rất hăng hái.
Khi Cindy tới quán Rialto thì tất cả mọi người đều ôm chầm lấy cô, nước mắt giàn giụa. Không ai trong chúng tôi có thể ngờ rằng Chimera lại theo dõi Cindy và Aaron - nhưng hắn đã làm như vậy.
- Chuyện này mới thật điên rồ, - tôi nói khi chúng tôi đã ngồi xúm lại quanh bàn ăn món sa-lát trộn. - Tất cả đều hoàn toàn phù hợp với quá khứ của Coombs, tất cả chứng cớ đều đưa chúng ta tới kết luận đó. Chúng ta không thể nhầm lẫn được.
- Việc em cần phải làm ngay bây giờ, - Claire nhắc nhở, - là quan tâm tới sức khỏe của mình trước đã. Đúng là những chuyện đã xảy ra mới khủng khiếp làm sao, nhưng chúng ta không được phép xúc động một cách quá đáng.
- Em biết vậy, - tôi thở hắt một cách chán chường. - Làm cho chúng ta phải xúc động mạnh chính là điều mà tên giết người mong muốn lúc này.
Jill ngọ nguậy trên ghế.
- Nghe này, Coombs là tâm điểm của sự nghi ngờ. Quá nhiều chứng cớ cho thấy hắn chính là thủ phạm. Có thể hắn không chạm tay tới cò súng, nhưng nếu hắn nhờ người khác làm hộ thì sao? Một trong những gã bạn thân thiết của hắn ở Nam San Francisco?
- Vẫn còn hai người nữa chúng ta chưa liên lạc được, - tôi nói, - nhưng trong thâm tâm tớ vẫn cho rằng không phải vậy. Ôi khỉ thật, tớ chẳng còn hiểu vấn đề đang ra sao nữa. Mọi người trong Đội Homicide đang làm ầm ĩ. Coombs là một thằng điên. Nhưng chẳng lẽ lại còn một thằng điên thứ hai?
- Cậu đã xem xét kỹ lưỡng những thứ tìm thấy trong phòng trọ của Coombs hay chưa? - Cindy hỏi, từ nãy tới giờ cô ấy chỉ ngồi im lặng.
- Xem rồi, xem hai lần ấy chứ. - Tôi đáp.
Và hình như đây là lần thứ mười, trí óc tôi lại quay trở lại với căn phòng chật hẹp, bẩn thỉu nơi Coombs đã ở trọ - chiếc va-li đựng đầy những thứ đồ lặt vặt của hắn khi còn trong tù, những mẩu báo giấu dưới đệm, những số điện thoại trên mặt bàn, những bức thư... Tôi cảm thấy có một cái gì đó gờn gợn...
Cindy đang hỏi liệu chúng tôi đã nghĩ tới khả năng một ai đó muốn đổ tội cho Coombs hay chưa, nhưng tôi không trả lời. Trí óc tôi vẫn đang mải mê ở đó... dính chặt với căn phòng trọ bẩn thỉu dơ dáy. Một đống vỏ lon bia và đầu mẩu thuốc lá vứt bừa trên bậu cửa sổ cạnh giường, ở đó còn gì nữa nhỉ? Tôi cố mường tượng lại quang cảnh căn phòng lúc đó. Và rồi, cuối cùng thì tôi cũng thấy thứ mà tôi đang muốn tìm kiếm - thứ mà trước đó tôi đã bỏ qua.
- Lindsay? - Claire ngẩng đầu lên. - Mọi chuyện ổn chứ?
- Quay trở lại mặt đất đi nào, Lindsay... - Jill trêu chọc.
Còn Cindy thì nắm lấy tay tôi.
- Lindsay, cậu làm sao thế?
Tôi vớ lấy túi xách và đứng bật dậy.
- Chúng ta phải quay vào trong Tòa thôi. Tớ nghĩ tớ vừa tìm thấy một thứ.
111
Tang vật của vụ án đã được đưa hết vào kho trong tầng hầm của Tòa, được quản lý hết sức chặt chẽ.
Fred Karl, viên cảnh sát đang trong ca trực, nhìn bốn chúng tôi có vẻ hơi khó chịu.
- Đây đâu phải là phòng hội đồng, - anh ta vừa càu nhàu, vừa đẩy về phía tôi một chiếc cặp đựng hồ sơ rồi nhấn nút mở cánh cửa lằng nhằng dây xích. - Chị và chị Bernhardt có thể vào được. Còn hai chị kia phải đợi ở ngoài.
- Mặc xác anh đấy, Fred ạ. Anh cứ việc bắt chúng tôi. - Tôi đáp và vẫy tay cho cả ba người còn lại ùa vào trong.
Những món đồ thu được trong phòng trọ của Coombs đã được bỏ hết vào một ngăn tủ rộng gần cuối phòng. Tôi dẫn mấy cô bạn đi thẳng về phía đó, treo áo lên tường và bắt đầu lục lọi.
- Cậu có thể cho chúng tớ biết cậu đang tìm cái quái gì thế được không? - Jill hỏi, cũng tỏ vẻ khó chịu. - Còn cái chết tiệt gì mà tớ chưa thấy nhỉ?
- Cậu đã thấy tất cả, - tôi trả lời, vẫn lúi húi tìm kiếm. - Tớ cũng vậy. Nhưng không một ai trong số chúng ta chú ý tới nó cả. Cậu nhìn đây.
Như thể đó là một cái ly bạc, tôi gượng nhẹ cầm chiếc cúp bằng đồng thau bóng loáng lên - chiếc cúp thiện xạ nhỏ có hình một nhà thiện xạ đang nghiêng người ngắm bắm. Vô địch mục tiêu 50 mét thẳng, một dòng chữ được in trên cúp. Đấy là những gì mà tôi còn nhớ được kể từ lần đầu tiên tôi nhìn thấy nó.
Nhưng cái tên bên dưới đã làm đảo lộn mọi chuyện.
Frank L. Coombs... Không phải Frank C. Francis Laurence, không phải Francis Charles.
Rusty Coombs! Chiếc cúp này đã được trao tặng cho con trai của Coombs.
Bất thình lình, mọi giả định và mọi sự thấu hiểu bản chất sự việc đã hoàn toàn bị thay đổi. Có thể do gần đây tôi đã đọc quá nhiều thứ giấy tờ về vụ án nên tên đầy đủ của Coombs đã ăn sâu vào nhận thức của tôi.
Frank C. là cha, Frank L. là con trai.
- Tôi không phải là cha tôi, - tôi nhớ lại lời Rusty đã nói. Tôi còn hình dung được cả vẻ mặt của cậu ta lúc đó, đầy sức thuyết phục với Jacobi và tôi.
- Chính là thằng con trai. - Tôi thì thầm.
Jill ngồi phịch xuống sàn nhà, sửng sốt.
- Có phải cậu đang bảo rằng tất cả những vụ giết người khủng khiếp đó là do con trai của Coombs gây ra phải không? Cậu sinh viên của đại học Stanford?
Cindy buột miệng.
- Vậy mà tớ cứ tưởng nó ghét cha nó lắm. Tớ cứ tưởng hai cha con bọn chúng không liên lạc gì với nhau.
- Tớ cũng vậy, - tôi gật đầu. - Thằng bé đã lừa được tất cả chúng ta, phải không?
Chúng tôi đứng im, đưa mắt nhìn nhau trong căn phòng mờ tối của tầng hầm. Trước mắt tôi lại vụt hiện lên chiếc xe tải màu trắng. Chiếc xe đã bỏ chạy trong vụ giết Tasha Catchings... Nó đã bị đánh cắp ở Mountain View. Palo Alto và Mountain View cách nhau chỉ vài phút.
- Người chủ chiếc xe tải màu trắng đó, - tôi nói to suy nghĩ của mình, - là một giáo sư nhân loại học ở một trường cao đẳng. Ông ấy bảo ông ấy còn nhận dạy kèm cho nhiều sinh viên của các trường đại học khác nữa. Thỉnh thoảng, có nhiều người trong số đó hay đùa...
Đột nhiên, mọi thứ có vẻ đã khớp.
- Có thể một trong số những sinh viên ấy là Rusty Coombs?
112
Tôi vội vã quay trở lên trên gác. Việc đầu tiên mà tôi định làm lúc này là gọi điện cho giáo sư Stasic ỏ Trường Cao đẳng Mountain View. Nhưng tôi chỉ nghe thấy tiếng của máy trả lời tự động. Tôi để lại lời nhắn dặn ông ta gọi điện gấp cho tôi.
Tôi gõ tên của Francis L. Coombs vào chiếc máy lưu trữ dữ liệu của CCI. Sự kết án của người cha hiện lên trong ô tìm kiếm, còn thằng con trai thì chẳng có gì. Không có hồ sơ lưu tiền án tiền sự.
Tôi cho rằng một khi thằng bé đó đủ lạnh lùng để gây ra chừng ấy vụ giết người thì chắc chắn tên của nó phải nằm đâu đó trong hệ thống. Tôi gõ tiếp vào ngân hàng dữ liệu các hồ sơ vị thành niên. Những hồ sơ trong mục này đã được niêm phong, chúng tôi chỉ có thể vào xem chứ không thể lấy nó ra sử dụng trong các phiên tòa. Mấy giây sau đã có kết quả ngay. Một hồ sơ dài dằng dặc... Tôi nhìn màn hình không chớp mắt.
Rusty Coombs đã vi phạm pháp luật ít nhất là bảy lần kể từ khi nó tròn mười ba tuổi.
Năm 1992, nó đã bị đưa ra xét xử trong tòa án vị thành niên vì tội bắn chết con chó nhà hàng xóm bằng súng bắn bi.
Một năm sau, nó lại bị buộc tội bày trò nghịch ngợm vô đạo đức vi đã giết một con ngỗng ngay giữa công viên đông người qua lại.
Mười, lăm tuổi, nó cùng một thằng bạn bị buộc tội báng bổ vì đã phun sơn lên tường một giáo đường Do Thái thành những dòng chữ bài xích đạo giáo này.
Nó đã bị kết án, nhưng cho hưởng án treo vì tội ném chai bia qua cửa sổ một nhà hàng xóm. Người thưa kiện là một người da màu.
Nó còn bị nghi ngờ có tham gia vào một nhóm trong trường đại học, nhóm Những Gã Trai Phố Kott, được biết như một nhóm phân biệt chủng tộc chống lại người da đen, người Mỹ La-tinh và người châu Á.
Lần lượt từng đoạn một, tôi vừa đọc vừa cảm thấy hết sức choáng váng. Cuổi cùng, tôi gọi Jacobi tới phòng tôi và kể lại những gì tôi vừa tìm thấy. Quá khứ tội lỗi của Rusty Coombs. Tên của nó trên chiếc cúp thiện xạ. Chiếc xe tải bị đánh cắp ở Mountain View cách Palo Alto không xa.
- Rõ ràng là những yêu cầu nhập học của trường Stanford bây giờ dễ dãi hơn nhiều so với hồi tôi còn học ở đó. - Jacobi khịt mũi.
- Đừng đùa nữa đi, Jacobi. Tôi xin anh đấy. Anh nghĩ gì nào? Tôi đã bỏ qua những chi tiết này, phải không? Tôi thật điên rồ quá nhỉ?
- Không điên rồ lắm đâu nếu như chúng ta đến thăm thằng nhóc đó một lần nữa, - anh ta đáp.
Vẫn còn nhiều thứ nữa chúng tôi có thể dùng để khẳng định giả thuyết của mình. Chúng tôi có thể chờ xem kết quả xét nghiệm ADN của Coombs có phù hợp với mẫu da tìm thấy dưới móng tay của bà Estelle Chipman hay không. Nhưng như vậy thì hơi lâu. Chúng tôi càng chần chừ bao nhiêu thì Rusty sẽ càng có thêm nhiều thời gian để gây tội ác bấy nhiêu.
Đầu óc tôi quay cuồng. Một cơn rùng mình ghê tởm chạy dọc khắp cơ thể.
- Ôi Chúa ơi, Jacobi này... phấn trắng.
Jacobi ngả người ra phía trước, nheo mắt nhìn tôi chăm chú.
- Phấn trắng thì sao?
- Những bụi phấn mà Clapper đã tìm thấy ở hiện trường của hai vụ án. - Tôi nhớ lại hình ảnh của Rusty Coombs, khuôn mặt lấm tấm tàn nhang và bờ vai rộng của một vận động viên trong chiếc áo phông hiệu Cardinals ướt sũng mồ hôi. Hình ảnh hoàn hảo của một sinh viên tài giỏi.
- Anh có nhớ chúng ta gặp nó ở đâu và khi nào không?
- Chắc chắn rồi, ở phòng luyện tập của trường đại học Stanford.
- Hắn ta đang tập tạ. Mà những người tập tạ thì thường sử dụng cái gì để giữ cho thanh tạ không bị trượt khỏi tay, Jacobi nhỉ? - Tôi đứng vụt dậy. Hình ảnh Rusty Coombs càng trở nên sông động trước mắt tôi. Nó đang xoa hai bàn tay trắng xóa của nó vào nhau.
- Họ dùng phấn trắng, - Jacobi lẩm bẩm đáp lại.
113
Chạy bộ trở về ký túc xá sau buổi tập luyện ban chiều, Rusty Coombs chọn con đường nhánh dài bốn dặm dẫn từ nhà thi đấu vòng qua South Campus. Hắn ta quyết định sẽ chạy hết tốc lực trong hai trăm mét cuối.
Một chiếc xe cảnh sát rú còi chạy vượt qua hắn. Tiếp theo sau là một xe của cảnh sát tuần tra.
Lúc đầu, vừa nhìn thấy những chiếc xe này, hắn đã cảm thấy hết sức choáng váng. Nhưng khi chúng chạy ngang qua hắn về phía trước thì hắn thở phào. Hai cẳng chân cơ bắp của hắn vẫn tiếp tục guồng đều trong bài tập chạy.
Mọi chuyện đều rất tuyệt vời. Ở trường Stanford này, hắn cảm thấy rất an toàn và thoải mái. Một trong số rất ít những đặc quyền đặc lợi mà hắn từng được hưởng, phải thế không nhỉ?
Trí óc của hắn quay trở về với những điều mà hắn đã từng nghĩ tới trước khi hai cảnh sát khốn kiếp kia can thiệp một cách sỗ sàng vào cuộc sống của hắn. Hắn vòng sang Santa Ynez, cách khu ký túc xá nơi hắn cùng với vài người bạn là cầu thủ bóng đá đang sống có một tòa nhà. Vừa rẽ sang được một đoạn, hắn chợt đờ người lại.
- Chuyện quái quỉ gì thế kia nhỉ? Chẳng lẽ cảnh sát đến đây để bắt mình?
Cả khu phố sáng rực vì những ánh đèn nhấp nháy. Những chiếc xe cảnh sát... ba cái cả thảy, và hai xe giữ trật tự của trường đang đỗ ngay trước cửa nhà hắn. Một đám đông nhốn nháo đứng dọc hai bên phố. Cảnh sát thị trấn không cho phép ai được vào khu vực này nếu như không có chuyện quan trọng.
Một ý nghĩ khó chịu chợt thoáng qua óc hắn khiến hắn cảm thấy bồn chồn. Chẳng lẽ mọi chuyện đã qua? Chẳng lẽ hắn không còn cơ hội để tước đoạt ánh sáng của mụ cảnh sát khốn kiếp, kẻ đã giết chết cha của hắn? Hai chân hắn vẫn cử động trong tư thế chạy tại chỗ.
- Mà làm sao bọn khốn kia lại biết được nhỉ? Ai là kẻ đã tìm ra sự thật? Không phải Lindsay Boxer chứ?
Một sinh viên có vẻ ngoài khá lập dị, mặc một chiếc quần soóc màu đỏ chóe với một chiếc ba-lô cũng màu đỏ vắt vẻo qua vai đang đi dọc phố lại gần chỗ hắn. Rusty vẫn tiếp tục chạy tại chỗ.
- Này, cậu có biết chuyện quái gì đằng kia không hả?
- Cảnh sát đang tìm kiếm ai đó, - người kia trả lời. - Chắc là chuyện động trời vì thấy bảo cảnh sát San Francisco cũng đang trên đường tới đây.
- Thế cơ à? - Rusty lẩm bẩm. - Tít tận San Francisco ư?
Quá tệ, hắn nghĩ, người mềm nhũn. Hắn cũng tiếc là mọi chuyện đã chấm dứt vì hắn thường xuyên mơ mộng viễn vông về những vụ tiếp theo mà hắn sắp gây ra.
Hắn quay đầu lại và bắt đầu chạy thẳng tới tòa nhà chính. Sải chân của hắn nhanh hơn và mạnh mẽ hơn.
Rusty Coombs quay đầu đi khi một chiếc xe cảnh sát khác rú còi inh ỏi lao vụt qua hắn. Không còn cách nào lọt được ra ngoài rồi, hắn biết vậy. Cảnh sát đã ở khắp mọi nơi.
Thật may, hắn đã chuẩn bị sẵn một kết thúc hoàn hảo.
114
Jacobi và tôi phóng xe như bay trên đường 101 hướng về Palo Alto với tốc độ duy trì ở mức 90 km một giờ. Những tấm biển báo các địa danh Burlingame, San Mateo và Menlo Park dần lùi về phía sau. Chúng tôi phải tới nơi trong vòng một tiếng đồng hồ nữa.
Tôi đang hy vọng giành cho Rusty Coombs một bất ngờ nho nhỏ, có thể là vào lúc hắn vừa bước chân ra khỏi giảng đường, ở trường Stanford có hàng ngàn sinh viên theo học. Hắn lại được trang bị vũ khí và rất hung hãn, vì vậy tôi muốn tránh một sự đối đầu nếu như tôi có thể.
Tôi đã hẹn gặp trung úy Joe Kimes của Đội Phòng chống bạo lực Palo Alto tại văn phòng chủ nhiệm khoa trong Tòa Nhà Chính. Khi chúng tôi gần đến Palo Alto thì Kimes đã gọi lại. Anh ta thông báo không tìm thấy Rusty Coombs đâu. Chiều hôm nay hắn ta không có lịch lên lớp. Hắn cũng không có mặt ở nhà hay ở sân vận động, nơi đội bóng đá của trường Stanford đã kết thúc buổi luyện tập trước đó một giờ đồng hồ.
- Hắn có biết chúng ta đến gặp hắn không? - Tôi hỏi lại. - Mọi chuyện dưới đó thế nào rồi?
- Ở đây thật khó mà giữ cho chuyện gì đó không ầm ĩ, - Kimes đáp. - Chắc chắn hắn ta đã trông thấy xe của cảnh sát rồi.
Tôi bắt đầu cảm thấy lo lắng. Tôi muốn tóm được Rusty Coombs trước khi hắn biết chúng tôi đang đến cơ. Hắn muốn thu hút sự chú ý của mọi người - hắn muốn trở thành một ngôi sao.
- Chị muốn chúng tôi làm gì bây giờ? - Kimes hỏi.
- Tôi muốn anh huy động đội phản ứng nhanh của địa phương trong tình trạng báo động, nhưng cố gắng giảm tối đa sự náo động, Kimes ạ. Đừng để sổng tên này, hắn ta thực sự nguy hiểm.
115
Thang máy đi lên thật nhanh và khi nó mở ra thì Chimera vội vã bước vào đài quan sát của tòa tháp Hoover, ngó đầu nhìn xuống từ độ cao hơn hai trăm năm mươi feet trên Tòa Nhà Chính của trường đại học Stanford.
Chẳng có ai trên đài quan sát cả. Không một ai làm phiền hắn, không một ai để hắn giết cho bõ tay. Chỉ có bầu trời xanh thăm thắm và vòm mái bằng bê-tông cùng với mấy chiếc chuông khổng lồ thường vang những tiếng kêu rền như sấm khắp khuôn viên trường đại học.
Rust Coombs với tay tắt công tắc điện thang máy, hai cánh cửa dừng lại trong tư thế mở toang.
Rồi hắn ném phịch chiếc túi đồ nghề bằng ni-lông màu đen xuống đất và tựa người vào tường, lưng áp vào một trong tám khung cửa sổ có thanh chắn của đài quan sát. Hắn mở túi và lôi ra khẩu PSG-1 tháo rời của hắn, một ống ngắm bắn và hai khẩu súc lục; tất cả đều đã được nạp đầy đạn.
Nhưng còn một thứ nữa - nó mới thực sự ngoạn mục, hấp dẫn. Bom! Hắn đưa mắt nhìn ra những dãy núi phía xa, từ phía Tây Nam kéo dài tới phía bắc bao quanh thành phố San Francisco. Hôm nay là một ngày đẹp trời. Mọi thứ thật tĩnh lặng và hoàn hảo. Khuôn viên trường Stanford trải rộng phía dưới hắn. Đám sinh viên đi đi lại lại như những chú kiến tí hon. Những con người ưu tú nhất và thông minh nhất.
Hắn bắt đầu lắp ráp khẩu súng của hắn, từ nòng súng tới miếng đệm vai do hắn đặt làm cho tới khi nó nằm gọn trong tay hắn; như một nhạc cụ tuyệt hảo.
Một con chim sẻ bỗng từ đâu bay tới nhẹ nhàng đậu xuống chiếc chuông khổng lồ. Hắn hướng nòng súng về phía đó và nhấn cò bằng một động tác hết sức chính xác. Cạch
Rồi hắn lắp nốt ống ngắm bắn. Trong khẩu súng này là một băng hai mươi viên đạn.
Hắn thu người núp sau bức tường xi-măng. Những cơn gió vi vu thổi qua tựa như một đợt gió lớn trên biển làm cánh buồm bằng vải bạt bay phần phật. Bầu trời màu ngọc lam lộng lẫy. Ta sẽ chết, bọn mi thì biết gì chứ? Ta thực sự không quan tâm.
Những sinh viên bình thản đi lại trong sân trường hoặc nằm dài đọc sách trên những chiếc ghế đá. Bọn chúng chẳng biết nhỉ...? Bọn chúng không hề nghi ngờ tới một hiểm họa sắp xảy ra. Còn hắn, hắn có quyền lựa chọn. Hắn có đủ khả năng làm cho bất cứ đứa nào trong số kia trở nên nổi tiếng.
Rusty Coombs chĩa nòng súng qua những thanh sắt của một khung cửa sổ. Hắn nheo mắt lại và nhìn qua ống ngắm, tìm kiếm mục tiêu đầu tiên của hắn. Lũ sinh viên dần hiện lên trong tầm nhìn. Một con bé người Nhật khá xinh với mái tóc màu nâu đang nép người bên cậu bạn trai da trắng của nó trên một bãi cỏ rộng. Một thằng cha ngông nghênh mặc áo phông vàng đang cưỡi một chiếc xe đạp cũng màu vàng. Hắn di chuyển ống ngắm sang chỗ khác. Một sinh viên da đen với hai bím tóc màu vàng ngô đang lững thững đi về phía hiệu sách. Coombs mỉm cười. Đôi lúc chính hắn cũng phải ngạc nhiên không hiểu làm sao hắn lại căm thù bọn da đen đến thế. Hắn đủ thông minh để hiểu rằng hắn không hề ác cảm với họ. Hắn khinh thường chính bản thân mình. Khinh thường cơ thể gân guốc của hắn, khinh thường sự không hoàn hảo mà chỉ một mình hắn biết. Nhưng trên hết, hắn căm thù những suy nghĩ, những ám ảnh trong đầu mình, căm thù trí tuệ khốn kiếp của hắn. Hắn luôn cảm thấy cô độc. Bây giờ cũng vậy.
Từ phía xa, Coombs trông thấy một chiếc Explorer màu xanh lao nhanh trên đường rồi đỗ xịch ngay trước lối vào tòa nhà chính. Con mụ cảnh sát khốn kiếp từ San Francisco từ trên xe nhảy bổ ra ngoài. Nhìn thấy mụ, tim hắn đập thình thình như trống đánh.
Mụ ta đã đến đây. Cuối cùng thì hắn cũng có cơ hội với mụ.
Hắn hướng ống ngắm của khẩu súng trở lại chỗ con bé phương Đông xinh xắn đang âu yếm bạn trai trên bãi cỏ. Chúa ơi, hắn căm thù cả hai đứa kia. Căm thù chủng tộc của bọn chúng.
Rồi hắn nghĩ lại và đổi tầm ngắm sang phía đứa sinh viên có mái tóc màu bắp ngô. Cổ nó đeo một dây chuyền có mặt hình trái tim bằng vàng, những tia sáng lấp lánh trong cặp mắt màu nâu trong veo của nó.
- Đó là do bản năng của ta thôi. Hắn nở một nụ cười ngớ ngẩn và siết chặt ngón tay vào cò súng bằng kim loại.
Chimera đã bắt đầu hành động.
116
Khi chiếc Explorer vừa phanh gấp, tạo nên một âm thanh chói tai bên ngoài tòa nhà chính, tôi và Jacobi liền nhảy bổ ra ngoài và lao thẳng vào dãy hành lang xây theo kiểu Tây Ban Nha dẫn thẳng vào văn phòng chủ nhiệm khoa.
Chúng tôi gần như đâm sầm vào Kimes khi anh đang hò hét ra những mệnh lệnh vào máy bộ đàm. Anh ta đang đứng với người phụ trách sinh viên có khuôn mặt nghiêm khắc tên là Felix Stern.
- Chúng tôi vẫn chưa thấy Rusty Coombs đâu cả, - Kimes bảo tôi. - Cách đây hai mươi phút, người ta còn trông thấy hắn ở sân trường. Nhưng bây giờ hắn lại biến mất rồi.
- Đội phản ứng nhanh của các anh đâu? - Tôi hỏi Kimes
- Đang trên đường tới đây. Chị nghĩ chúng ta cần tới họ à?
Tôi lắc đầu.
- Tôi hy vọng là không. Chúng ta sẽ không cần tới họ nếu như Coombs đã hoảng sợ và bỏ trốn.
Ngay lúc đó, chúng tôi nghe thấy một tiếng nổ. Tôi hiểu rằng đó không phải là một người cảnh sát nào đó nổ súng trước. Vả lại, tiếng nổ nghe đúng là tiếng của một khẩu súng trường.
- Tôi cho rằng hắn vẫn đang ở đây, - mặt Warren Jacobi ngây ra.
Những tiếng la hét thất thanh của đám sinh viên hoảng sợ vang dội khắp dãy hành lang. Rồi họ bắt đầu bỏ chạy về phía chúng tôi, rời xa sân trường.
Có ai đó kêu to.
- Hắn đang ở trên Tháp Hoover. Hắn đang lên cơn điên!
Jacobi, Kimes và tôi chạy vội vào giữa đám sinh viên đang xô đẩy tán loạn. Joe Kimes hùng hổ hét vào máy bộ đàm.
- Hắn bắt đầu nổ súng đấy! Tất cả tập trung lại Tháp Hoover. Đặc biệt cẩn thận!
Chúng tôi chỉ mất có vài giây để chạy đến bãi cỏ xanh mướt. Các cô cậu sinh viên nép mình sau gốc cây, sau cột nhà, sau những chậu hoa to hoặc bất cứ thứ gì có thể tạo ra cho họ một chỗ ẩn nấp. Trên bãi cỏ có hai sinh viên đang nằm sõng soài, trong đó có một cô gái da màu với quầng máu đang lan rộng trên ngực áo. Thằng khốn! Chimera thật khốn nạn!
- Nằm xuống! Nằm yên đấy! - Tôi gào to về phía sân trường. - Cúi thấp đầu xuống đất!
Một tiếng nổ khô khốc vọng xuống từ tòa tháp. Sau đó là tiếng thứ hai và thứ ba. Một nam sinh viên ngã nhào phía sau một chiếc ghế làm bằng những thanh gỗ mỏng.
- Mọi người nằm xuống! - Tôi tiếp tục la hét. - Nằm hết cả xuống!
Tôi ngước nhìn lên phía chiếc chuông trên nóc tòa nhà, cố căng mắt ra để tìm kiếm một hình người, một khẩu súng hoặc bất cứ thứ gi có thế giúp tôi định vị được Rusty Coombs.
Thình lình, hai tiếng súng nữa lại vang lên. Rõ ràng Coombs đang ở trên đó thật. Với một tên giết người cuồng bạo đang ở vị trí thuận lợi như thế, chúng tôi thật khó có thể bảo vệ được cho số đông sinh viên trong sân trường. Hắn đã đặt chúng tôi vào đúng nơi mà hắn muốn. Chimera đang thắng thế.
Tôi tóm lấy tay Kimes.
- Làm thế nào để lên được trên kia?
- Sẽ chẳng có ai dám lên trên đó đâu, - Joe Kimes cau mày đáp lại, - nếu như không có sự hậu thuẫn của đội phản ứng nhanh. - Mắt anh ta mở to lạnh lùng. Anh ta hét vào máy bộ đàm. - Đội phản ứng nhanh và nhân viên y tế tập trung hết về tòa nhà chính! Kẻ giết người đang nổ súng đấy. Ít nhất đã có ba người bị thương.
Tôi nhìn thẳng vào mắt anh ta.
- Làm thế nào để tôi lên được trên đó, Kimes? - Tôi hỏi lại. - Tôi sẽ lên, vì vậy anh phải nói cho tôi biết cách nhanh nhất để lên được đó.
- Có một chiếc thang máy ở dưói tầng hầm, - Stern, người phụ trách sinh viên, nói xen vào.
Tôi rút khẩu Glock ra khỏi bao súng và kiểm tra lại khẩu Beretta nhỏ xíu mà tôi đã buộc chặt ở mắt cá chân. Chimera đang ở dưới mái vòm và trút đạn như mưa xuống phía dưới.
Mắt tôi dán chặt vào một dãy nhà có địa thế khá kín đáo. Jacobi nắm lấy tay tôi, nhưng anh ta hiểu rằng anh ta không thể ngăn tôi lại.
- Chúng ta đi vội quá, chẳng còn kịp mang theo áo tránh đạn, trung úy nhỉ?
- Tôi sẽ gặp anh trên đó, Jacobi - tôi nháy mắt với người đồng nghiệp trung thành rồi nép sát người vào bức tường và chạy thật nhanh về phía tòa tháp.
Ở một nơi nào đó sâu thẳm trong suy nghĩ, tôi tự hỏi tại sao mình lại làm chuyện này ?
117
Lạy Chúa, hắn đang cảm thấy vô cùng dễ chịu.
Chimera rút khẩu súng trường xuống khỏi khung cửa sổ và ngồi phịch xuống đất, tựa lưng vào bức tường vững chãi bằng bê tông. Chỉ một lát nữa thôi, mặt đất dưới kia sẽ biến thành địa ngục. Đội phản ứng nhanh, những tên cảnh sát bắn tỉa, thậm chí là cả máy bay lên thẳng nữa. Hắn biết hắn đang chiếm ưu thế so với tất cả bọn chúng và hắn không quan tâm đến chuyện sống chết của bản thân mình.
Hắn nhìn chằm chằm vào chiếc chuông khổng lồ. Hắn luôn thích những chiếc chuông ngu ngốc. Khi chúng kêu vang, người ta có thể nghe rõ tiếng chúng dù đang ở góc nào trong khuôn viên của trường đại học. Hắn tự hỏi, khi mọi chuyện đã kết thúc và hắn không còn sống trên cõi đời này nữa, thì liệu có tiếng chuông nào vang lên trong đám tang của hắn hay không. Đúng vậy!
Rồi hắn nhận ra rằng hắn chỉ còn trơ lại có một mình trên Tháp Hoover. Hắn đã giết năm người cả thảy. Ngày hôm nay mới thật tồi tệ, cuộc đời của hắn cũng thế. Nhưng dù sao trước khi chết hắn cũng đã có cơ hội ghi tên mình vào lịch sử. Điều này không thể nghi ngờ.
Hắn nhổm người dậy và ngó xuống phía dưới. Đột nhiên, mọi vật dưới kia trở nên tĩnh lặng vô cùng. Sân trường đã vắng tanh. Chẳng bao lâu nữa đội phản ứng nhanh và nhân viên y tế sẽ tới. Đến lúc đó hắn sẽ được tha hồ bắn bao nhiêu tùy thích. Bọn kia sẽ được trả công xứng đáng cho việc làm thêm giờ ở trường đại học Stanford này.
Còn ngay bây giờ, trên độ cao này, mọi thứ mới tuyệt vời làm sao...
Rồi hắn trông thấy Lindsay Boxer. Hắn nheo mắt nhìn qua ống ngắm để xác định chắc chắn. Đó đúng là “người hùng cảnh sát”, kẻ đã giết chết cha hắn. Mụ ta đang cong đuôi chạy từ chỗ nấp sang tòa nhà hành chính, chạy theo hình dích dắc để tránh đạn. Hắn ta vui mừng vì đã nhử được mụ ta tới đây. Bất chợt, mọi thứ đã bị đảo lộn. Hắn ta lại có thêm một cơ hội mới...
Hắn ta nhìn hút theo bóng người đang lao nhanh như một mũi tên và từ từ nhắm mắt trái lại. Hắn buông một tiếng thở dài nhẹ nhõm như thể vừa được giải thoát khỏi một gánh nặng kinh người.
Hắn nhớ lại cha hắn đã bị bắn tới chín phát. Và mụ cảnh sát kia cũng phải chịu đúng như vậy.
Hắn tiếp tục thở phào và nhắm thẳng vào chiếc áo khoác màu trắng của Lindsay.
Mi là một mụ đàn bà đáng chết.
118
Lúc này, khoảng sân của ngôi trường đã hoàn toàn yên ắng. Rusty Coombs có lẽ đang nghỉ ngơi cho lại sức hoặc đang bận rộn với việc nạp thêm đạn.
Nào, cố lên, Lindsay!
Tôi nhìn thẳng vào tòa nhà trước mặt, cảm nhận được trong lòng mình đang có một sự kích động bị kìm nén. Như vậy không tốt. Tôi đang là mục tiêu ngắm bắn và Coombs có thể nổ súng bất cứ lúc nào.
Đột nhiên, tôi nghe có tiếng súng nổ sau lưng tôi. Tôi ngoái nhìn lại và trông thấy Jacobi đang bắn lên phía tòa tháp.
Trước khi Coombs kịp chĩa súng vào tôi, tôi chạy lao như tên bắn ra sau một chiếc ghế dài bằng gỗ dương rất dày rồi chạy tiếp vào trong tòa nhà, tìm đường xuống tầng hầm.
Tôi nhìn xung quanh và trông thấy Jacobi đứng cùng với Kimes. Anh ta lắc đầu với tôi như muốn nói: “Tôi xin chị đấy, Lindsay, đừng vào trong. Chị mà vào trong tháp thì chúng tôi không thể hỗ trợ chị được." Tôi nháy mắt đáp lại anh ta với vẻ gần như xin lỗi.
Tôi chạy quanh cho tới khi tìm được lối vào tầng hầm ở hướng bắc tòa nhà. Tôi bước lên cầu thang và nhận ra mình đang đi dọc một dãy hành lang lát đá cẩm thạch rất đẹp.
Thang máy ở ngay phía trước.
Tôi nhấn vào nút điều khiển, tay lăm lăm chĩa súng vào cửa thang máy. Nhưng nó không mở ra. Bất lực, tôi dùng cả nắm đấm để đấm mạnh vào cánh cửa mạ crôm sáng bóng, miệng kêu to.
- Cảnh sát đây!
Tiếng kêu của tôi vang dội khắp hành lang. Tôi cần một người nào đó, bất cứ người nào. Tôi không biết phải làm sao để lên được trên đỉnh tòa tháp cao ngất kia.
Một người đàn ông đứng tuổi mặc bộ quần áo bảo dưỡng máy móc hiện ra từ cuối hành lang, ông ta hơi sựng người lại khi nhìn thấy trong tay tôi là một khẩu súng.
- Cảnh sát đây, - tôi hét lên. - Làm thế nào để tôi lên được trên kia bây giờ?
- Gã kia chắc đã khóa thang máy lại rồi, - ông ta đáp. - Chỉ còn cách duy nhất để lên trên đó là trèo theo thang thoát hiểm thôi.
- Hãy chỉ cho tôi! Làm ơn! Vấn đề sống còn đấy.
Người trực tòa nhà dẫn tôi đi qua một cánh cửa và lên tầng ba, sau đó đi tiếp theo một hành lang dẫn tới những bậc cầu thang rất hẹp.
- Chị phải leo mười ba dãy bậc cầu thang cả thảy. Trên cùng sẽ là cửa thoát hiểm. Mở từ hai phía.
- Hãy chờ trong hành lang và nói với bất cứ ai đi tới rằng tôi đang ở trên đó, - tôi quay lại dặn người trực tòa nhà rồi bắt đầu chạy lên những bậc cầu thang nhỏ hẹp. - Đó cũng là vấn đề sống còn.
- Tôi hiểu.
Mười ba dãy bậc cầu thang. Và tôi không biết điều gì đang đợi tôi trên đó. Tim tôi đập thình thịch, còn áo thì dính chặt vào lưng vì mồ hôi lạnh.
Con số mười ba may mắn. Càng lên cao, cổ họng của tôi càng bị thít lại khiến tôi nghẹt thở. Hai chân tôi bắt đầu đau nhức từ trên xuống dưới mặc dù mỗi tuần tôi đều tập chạy bốn lần. Tôi không biết mình có bị điên hay không khi quyết định chạy lên đỉnh tháp mà không có sự hậu thuẫn. Có lẽ tôi bị điên thật.
Mãi rồi tôi cũng vượt qua được mười hai dãy bậc cầu thang và lên đến dãy cuối cùng. Nhưng Chúa ơi, chỉ có một cánh cửa thoát hiểm nặng chịch ngăn tôi với Chimera. Tim tôi như muốn vỡ tung.
Ở phía bên kia cánh cửa, tôi nghe thấy thêm mấy tiếng súng nổ nữa. Pằng, pằng, pằng. Chimera lại đang bắn. Tôi sợ rằng đã có thêm ai đó bị giết. Tôi thực sự nổi giận, càng muốn tóm cổ hắn thật nhanh. Tôi kiểm tra lại khẩu Glock và hít một hơi dài. Ôi Chúa ơi, Lindsay... dù cô muốn làm bất cứ điều gì đi chăng nữa, thì hãy làm nhanh lên!
Cánh cửa thoát hiểm có một đòn bẩy khá nặng dùng trong những trường hợp khẩn cấp. Chỉ cần nhấn nó xuống là có thể mở được cửa.
Tôi nhấn tay vào đó và lao thẳng ra giữa đài quan sát.
119
Tôi cảm thấy choáng váng vì bị một luồng ánh sáng chói chang và những âm thanh chát chúa: pằng, pằng, pằng... tấn công. Tôi nhìn ngay ra Rusty Coombs đang quỳ trước một chỗ trống với khẩu súng tiểu liên của hắn chĩa qua những thanh chắn bằng bê-tông.
Thình lình, hắn quay ngoắt về phía tôi. Khẩu súng trong tay hắn tiếp tục nhả đạn. Một tiếng nổ đinh tai nhức óc kèm với những quầng lửa màu cam lóe lên.
Tôi nhào ra khỏi chỗ đứng bên cạnh cửa thoát hiểm, tránh được bốn phát đạn tiếp sau đó. Tôi cố hít một hơi thật sâu, chờ xem có cơn đau nhói nào dội lên không để biết được liệu tôi có bị trúng đạn. Nhưng không có.
- Này, bị người khác bắn trả là gay lắm đấy, - tôi hét lên.
Tôi thu người nép vào sau một tấm lưới sắt cao ngất. Tấm lưới này dùng để quây một bộ bảy chiếc chuông khổng lồ mà mỗi cái trong số đó đều có thể làm thủng màng nhĩ của tôi nếu nó cất tiếng kêu vang. Phần còn lại của đài quan sát chỉ rộng không quá tám bước chân. Nó chạy quanh những cái chuông, cứ khoảng sáu thước lại có một lỗ hổng trên tường để quan sát.
Rusty đang ở phía bên kia - những chiếc chuông vô hình chung đóng vai trò như một tấm lá chắn cho cả tôi lẫn hắn.
Hắn hét to, đáp lại lời tôi bằng một giọng thản nhiên và ngạo mạn.
- Chào mừng chị đã lên đây, trung úy... Tất cả những bộ óc thông thái đều ở lại dưới kia, chỉ để cho một mình chị lên đây nói chuyện với tôi sao?
- Các bạn tôi sẽ lên sau. Họ sẽ không nói chuyện đâu, Rusty ạ. Họ sẽ chỉ tìm cách bắn hạ cậu thôi. Việc gì mà phải chết như thế?
- Tôi không biết, nhưng có vẻ như đó là kế hoạch hay nhất cho tôi lúc này. Chị muốn chết cùng tôi, xin cứ tự nhiên, - Rusty trả lời.
Tôi ghé mắt nhìn qua tấm lưới, cố gắng xác định nơi Rusty đang đứng. Bên kia tháp chuông, tôi nghe thấy tiếng hắn đang nạp thêm một băng đạn mới.
- Tôi rất mừng khi đó là chị. Ý tôi muốn nói... nó rất thích hợp, chị có nghĩ thế không? Chị đã bắn chết cha tôi, giờ tôi sắp làm thế với chị đấy.
Giọng của hắn đổi từ chỗ này sang chỗ khác, như thể hắn đang di chuyển.
Tôi cũng bắt đầu di chuyển, khẩu Glock trong tay tôi chĩa thẳng về một góc của tháp.
- Tôi không muốn cậu phải chết ở đây, Rusty.
- Chị hơi chậm hiểu đấy, phải thế không, chị trung úy? Giống như những lần trước. Tôi đã cho chị mọi thứ mà tôi có thể nghĩ ra. Những biểu tượng của Ghimera, chiếc ô-tô chở hàng, số điện thoại 911... Tôi còn phải làm gì nữa chứ, gửi E-mail tới cho chị và bảo: "Này, tao đang ở đây” à? Chị đã mất quá nhiều thời gian để tìm hiểu chân tướng sự việc. Trả giá bằng nhiều mạng ngươi.
Đột nhiên, một tiếng súng vang lên, đạn bắn vào tấm lưới bằng sắt, bật vào một trong những chiếc chuông khiến nó kêu lên lanh lảnh.
Tôi vội chúi xuống, hai tay ôm chặt lấy đầu.
- Dù sao cha cậu cũng đã chết, - tôi la lên. - Làm thế này chẳng thể khiến ông ấy sống lại được.
Bây giờ hắn đang ở đâu nhỉ? Tôi lại ghé mắt nhòm qua khe hở của tấm lưới sắt. Trí óc tôi chợt trở nên đông cứng.
Rusty Coombs đang đứng đó. Hắn đang nhìn tôi mỉm cười - một nụ cười tự mãn, đầy hận thù giống hệt như cha của hắn. Khẩu súng tiểu liên của hắn chĩa qua những chiếc chuông.
Cùng lúc đó, tôi trông thấy một ánh chớp lóe lên và cảm nhận được một sức mạnh tàn bạo dội thẳng vào người mình. Tôi ngã bật ra phía sau.
Tôi vội vàng lồm cồm bò dậy, định bỏ chạy đi tìm chỗ nấp thì Rusty đã lao thẳng tới trước mặt tôi. Những ngón tay của tôi dò dẫm tìm khẩu Glock, nhưng lạy Chúa, khẩu súng của tôi... không còn ở đó nữa.
Rusty đã bắn văng nó khỏi tay tôi mất rồi!
Hắn ta tiếp tục tiến về phía tôi cho tới khi bóng hắn trùm kín xuống khoảng đất chỗ tôi đang bị ngã. Nòng súng của hắn chĩa thẳng vào ngực tôi.
- Mày phải chấp nhận thôi, tao bắn nhé?
Những tia hy vọng mong manh cuối cùng cũng tan biến. Mắt hắn xanh biếc, lạnh lùng, bình thản. Sao tôi căm ghét hắn đến thế!
- Đừng có gây thêm cái chết nào nữa, Rusty. - Tôi cố gắng thuyết phục, miệng khô khốc. - Đội phản ứng nhanh đang tới. Nếu cậu giết tôi, chỉ cần năm phút sau sẽ tới lượt cậu.
Rusty nhún vai.
- Trong trường hợp đó, không có ai nợ nần ai cả. Những người như mày - cặp mắt của Rusty mở ra trợn trừng, trống rỗng, - thì làm sao biết được cảm giác bị mất cha là thế nào chứ. Mày đã cướp cha của tao.
Tôi nhìn thẳng vào ngón tay hắn đang chuẩn bị siết chặt vào cò súng, hiểu rằng mình sắp chết. Tôi vừa nghĩ vừa thầm cầu nguyện, tôi chưa muốn chết.
Bất chợt, một âm thanh trầm hùng, chói tai vang lên, nghe như tiếng một tòa nhà đang đổ sập xuống. Một tiếng chuông vang rền lan xa, lan xa mãi. Tôi phải đưa tay lên bịt chặt hai tai cho khỏi bị điếc.
Đó là những cái chuông. Chúng đang ngân nga, những tiếng ngân to nhất mà tôi từng nghe thấy, cả tòa tháp dường như rung lên dưới những tiếng động vang rền như tiếng sấm.
Mặt Rusty Coombs méo xệch vì đau đớn và kinh hoàng. Hắn ta lảo đảo, co người lại như một quả bóng để tự vệ.
Hắn vừa cúi gập người xuống là nhanh như cắt tôi thò tay xuống dưới và rút ra khẩu Beretta mà tôi đã giấu ở mắt cá chân.
Mọi chuyện xảy ra sau đó mới thật nhanh chóng, giống hệt như trong một bộ phim hành động nhưng sống động, chính xác hơn nhiều. Rusty Coombs trông thấy tôi rút súng, vội vàng chĩa thẳng khẩu tiểu liên của hắn trở lại người tôi. Nhưng tôi lại nhanh tay bắn trước, ba phát đạn cả thảy. Những phát đạn giật trở lại tay tôi khiến tôi đau điếng. Những chiếc chuông vẫn đang kêu vang... mãi không dứt,
Ba quầng máu đỏ sẫm bắn tung tóe trên bộ ngực rỗng của Rusty Coombs. Những phát đạn của tôi làm cho hắn ngã nhào về phía sau.
Tôi lại nghe thấy những tiếng chuông. Mỗi tiếng vang lanh lảnh hệt như một tiếng búa tạ bổ thẳng vào giữa đầu tôi.
Rusty ngồi phịch xuống đất. Hắn hoang mang nhìn xuống những vết thương trên ngực. Cặp mắt đờ đẫn với cái nhìn vô hồn. Hắn lại nâng súng lên chĩa thẳng về phía tôi.
- Mày cũng phải chết, đồ khốn!
Tôi siết chặt cò súng của khẩu Beretta. Một tiếng chuông khô khốc vang lên như hồi chuông báo tử cho một tên giết người. Rusty rên lên rồi nằm vật ra, mắt trợn ngược.
Tôi thấy mình lại đưa tay lên bịt chặt hai tai. Đầu tôi đau nhức. Tôi lết lại gần chỗ Rusty nằm và lấy chân đá văng khẩu tiểu liên của hắn ra xa. Những chiếc chuông vẫn tiếp tục vang lên thành một giai điệu kỳ lạ mà tôi không nhận biết được. Có thể đó là sự đáp lại lời cầu nguyện của tôi chăng?
Tôi quỳ xuống bên Rusty và trông thấy ngay điều tôi đang tìm kiếm.
- Nó đây rồi, - tôi thì thầm.
Một cái đuôi của loài bò sát cuộn chặt được xăm trổ bằng mực xanh và mực đỏ nổi liền với một thân dê và hai cái đầu kiêu ngạo, hung dữ của một con dê và một con sư tử. Chimera... Một phát đạn của tôi đã bắn trúng vào giữa thân mình của con thú xấu xa hiểm độc. Trông nó cũng như đã chết rồi.
Tôi nghe thấy những tiếng kêu vọng lại từ phía sau, nhưng tôi vẫn tiếp tục quỳ bên cạnh Rusty Coombs. Tôi thấy mình phải có nghĩa vụ đáp lại lời nói của hắn. Những người như mày... thì làm sao biết được... cảm giác bị mất cha là thế nào chứ.
- Có, tôi có biết, - tôi nói với cặp mắt bất động của Rusty Coombs.
120
Lần này thì cánh báo chí mới có tin tức chính xác để đăng. Chimera đã chết. Vụ án giết người hàng loạt đã thực sự được khép lại.
Nhưng nó không khép lại trong bầu không khí vui vẻ, ít nhất là đối với tôi. Đội Homicide không tụ tập nhau lại trước tấm bảng để xóa những cái tên trên đó. Không có rượu chúc mừng của mấy cô bạn thân. Quá nhiều người đã chết. Tôi là một người may mắn trong số họ. Claire và Cindy cũng vậy.
Tôi nghỉ vài ngày ở nhà, muốn giành thời gian để vết thương trên hông và tay lành hẳn. Tôi đi lang thang cùng với Martha khắp công viên Marina Green và Fort Mason trong khi thời tiết mỗi lúc một trở nên ẩm ướt và lạnh lẽo.
Phần lớn thời gian, tôi hồi tưởng lại những sự kiện kinh hoàng của vụ án. Và tôi đã phải hai lần mặt đối mặt với một tên giết người. Tại sao vậy nhỉ? Việc tôi đã làm có nghĩa gì với cuộc đời tôi?
Đôi khi, những ký ức đáng nhớ trong quá khứ cũng trở lại trong suy nghĩ của tôi, ký ức về một người cha tôi chưa thực sự hiểu hết. Ông quay về với tôi như một món quà tặng, rồi món quà đó lại đột ngột biến đi. Cha tôi đã biến mất vào cái lỗ hổng đen ngòm, nơi mà ông đã chui ra từ đó. Tôi biết có thể tôi sẽ chẳng bao giờ còn được gặp lại ông nữa.
Trong những ngày này, tôi luôn cố gắng nghĩ ra đủ mọi việc mà tôi cho là có ý nghĩa để làm cho đỡ buồn. Giá mà tôi biết vẽ, hoặc có năng khiếu viết lách thì hay biết mấy. Tôi cũng nghĩ tới chuyện mở một cửa hàng quần áo nho nhỏ để thử kinh doanh. Nhưng cho tới cuối tuần thì tôi quyết định trở lại làm việc.
Chiều muộn hôm đó, tôi nhận được cú điện thoại của Tracchio bảo tôi lên gặp ông ta ở văn phòng. Khi tôi vừa bước vào, ông ta liền nhỏm dậy để bắt tay tôi, vẻ hết sức thân mật. Ông ta nói cho tôi biết ông ta đã tự hào vì tôi như thế nào và tôi thực sự tin lời ông ta nói.
- Cám ơn Sếp, - tôi gật đầu, thậm chí còn nhoẻn cười. - Đó là tất cả những gì mà ông muốn nói với tôi, phải không ạ?
Tracchio gỡ cặp kính ra khỏi mắt. Ông ta nhìn tôi chăm chú cùng với một nụ cười ân hận.
- Không đâu. Cô cứ ngồi xuống cái đã, trung úy.
Ông ta nhặt từ mép chiếc bàn bằng gỗ cây óc chó của mình lên một tập hồ sơ màu đỏ.
- Đây là những kết luận sơ bộ về vụ nổ súng bắn chết Coombs. Gã Coombs Cha.
Tôi hơi ngập ngừng, không biết các nhân viên trong đội khám nghiệm đã tìm ra được điểm gì nghi vấn.
- Không có gì đáng phải lo ngại đâu, - Tracchio khẳng định. - Mọi thứ đều đã được kiểm tra kỹ lưỡng. Vụ nổ súng là hoàn toàn có căn cứ.
Tôi gật đầu. Vậy thì là chuyện gì?
- Tuy nhiên, vẫn còn một điểm khá kỳ lạ. - sếp đứng dậy và nghiêng người, chống tay xuống mặt bàn. - Nhân viên khám nghiệm đã tìm thấy chín vết đạn trên xác của Coombs. Ba vết là từ khẩu chín ly của Jacobi. Hai vết từ khẩu súng của Cappy. Một vết là từ khẩu Glock của cô. Hai vết 20 ly là của Tom Perez thuộc Đội Chông Cướp Giật. Như vậy là tám.
Ông ta nhìn tôi chăm chú.
- Nhưng trên người gã kia có tới chín vết đạn.
- Thế ạ? - Tôi nhướn mày ngạc nhiên, mặc dù điều đó lúc này chẳng có ý nghĩa gì với tôi nữa. Dù cho là ai bắn đi chăng nữa, chắc chắn người đó phải có lý do chính đáng.
Tracchio đi tới bên ngăn kéo bàn làm việc rồi quay trở lại với một chiếc túi nhỏ đựng một viên đạn dẹt màu xám, hơi giống với màu mắt của ông ta. Ông ta đưa nó cho tôi.
- Cô xem này... đường kính bốn mươi ly
Một luồng điện bất chợt xuất hiện, chạy dọc người tôi. Bốn mươi ly...
- Điều kỳ lạ hơn nữa là... - Tracchio cau mày - nó lại hợp với những viên đạn này. - Ông ta đưa ra chiếc túi thứ hai trong đó có đựng bốn viên đạn khác.
- Chúng tôi đã tìm thấy nó trong ga-ra ô tô và sau mấy thân cây bên ngoài ngôi nhà ở Nam San Francisco, nơi cô đã theo chân Coombs tới đó. - Tracchio vẫn nhìn tôi chăm chú. - Điều này có nghĩa gì với cô không?
Quai hàm tôi chợt cứng đơ. Nó chẳng có nghĩa gì cả, trừ phi... Tôi vụt nhớ lại quang cảnh trong gian đại sảnh của Tòa ngày hôm đó.
Coombs đang chạy thẳng về phía tôi, tay hắn giơ ra, đó là khoảnh khắc tê liệt trước khi tôi kịp chú ý tới khuôn mặt của hắn. Từ phía sau Coombs, một giọng nói vang lên, có ai đó đang gọi tên tôi.
Nổi bật trên nền khung cảnh hỗn loạn là một tiếng nổ pằng... Rồi người Coombs chao đảo.
Coombs đã bị giết chết bởi một viên đạn súng ngắn cỡ 40 ly... Khẩu súng của cha tôi...
Tôi nhớ tới Marty, nhớ tới lời ông đã hứa khi quay lại nhìn tôi lần cuối trên ngưỡng cửa.
Lindsay, cha xin con hãy để cha giúp... Chính cha tôi đã bắn Frank Coombs từ bậc tam cấp của Tòa. Ông đã có mặt ở đó kịp thời để bảo vệ con gái của ông.
- Cô không cần phải trả lời, trung úy ạ. Nhưng điều này có nghĩa gì với cô không? - Tracchio hỏi lại.
Tim tôi đập loạn xạ trong lồng ngực. Tôi không hiểu Tracchio có biết chuyện này không, nhưng tôi đang là anh hùng trong con mắt của ông ấy. Việc trừ khử Chimera đã giúp xóa đi chữ “Quyền” đằng trước chức danh của ông ta. Và theo như lời ông ta nói thì đây được coi là một vụ nổ súng hoàn toàn có căn cứ.
- Không, thưa sếp, - tôi trả lời. - Nó chẳng có nghĩa gì với tôi cả.
Tracchio vẫn giữ nguyên tập hồ sơ trên tay. Ông nhìn tôi chằm chằm rồi gật đầu, xếp nó xuống vị trí dưới cùng trong chồng báo cáo dày cộp của mình.
- Cô khá lắm, trung úy. Không ai có thể giải quyết vụ vừa rồi xuất sắc như cô.