Hết sức ngạc nhiên, tôi nhận ra chiếc Toyota màu trắng vẫn bám sát theo tôi một cách lén lút, cách tôi chừng ba chục dặm ở phía sau.
Tôi vẫn lái xe đi tiếp. Một chiếc BMW màu bạc tăng tốc ở làn đường bên trái, vượt ngang qua hông tôi. Theo sau nó là một chiếc xe buýt đồ sộ. Chiếc xe bí hiểm kia dường như biến mất khỏi tầm nhìn của tôi.
Với những gi đang xảy ra với tôi, chẳng ai có thể trách tôi được khi tôi hoảng sợ và bồn chồn như vậy? Tôi tự nhủ, ảnh của tôi chắc chắn đã được các báo và các kênh truyền hình đăng tải rầm rộ. Tôi rẽ phải về hướng Connecticut trên con đường quen thuộc và bắt đầu leo lên ngọn đồi Potreo, hy vọng bà hàng xóm tốt bụng tên là Taylor đã sang dẫn Martha đi chơi hộ tôi. Tôi tính sẽ dừng lại ở siêu thị trên Đại lộ 20 để mua một ít mì của Edy.
Đi thêm được một quãng, tôi liếc nhìn lần cuối vào gương chiếu hậu. Chiếc Toyota màu trắng lại trườn vào tầm nhìn của tôi.
Chẳng lẽ tên khốn giết người ấy lại ở cùng khu nhà với tôi, hay hắn ta đang theo dõi tôi từng bước?
Chắc chắn đó là Chimera.
Tim tôi đập thình thình, tóc tai dựng đứng. Tôi liên tục nhìn vào gương chiếu hậu và cố gắng ghi nhớ biển số chiếc xe đang bám theo tôi: California... PCV 182. Mặt người lái xe tôi không trông rõ. Chuyện này thật điên rồ... Nhưng tôi dám chắc rằng tôi không hề tưởng tượng chút nào.
Tôi từ từ dừng xe trong bãi đỗ trước cửa căn hộ của tôi rồi ngồi yên trong đó đợi cho tới khi mui chiếc Toyota nhô lên cao phía trên Đại lộ 20 và dừng lại ở chân ngọn đồi cuối cùng. Máu trong người tôi đông lại.
Tôi đã dẫn tên giết người về đúng nơi ở của mình.
Hết sức lóng ngóng, tôi mở cốp xe và lôi khẩu Glock của mình ra, kiểm tra đạn nạp trong đó. - Phải bình tĩnh. Mày phải tóm được cổ hắn. Mày sắp tóm được cổ Chimera rồi.
Tôi cúi người xuống thấp, run rẩy bấm số điện thoại. Tôi định gọi một chiếc xe tuần tra tới hỗ trợ nhưng lại thôi. Tôi muốn biết đích xác ai đang ở trong chiếc xe kia trước đã, và nếu có một xe cảnh sát xuất hiện thì gã kia sẽ hoảng sợ mà bỏ chạy.
Tim tôi đập điên loạn. Tôi nắm chặt khẩu súng trong tay và mở cửa xe, nhẹ nhàng trườn vào bóng đêm. Bây giờ tôi phải làm gì?
Ở tầng trệt trong khu nhà này có một cánh cửa hậu dẫn ra một cái ngõ nhỏ ngay dưới sân thượng căn hộ của tôi. Từ đây tôi có thể vòng sang áp sát chỗ chiếc Toyota đang đỗ. Nếu như tên khốn đã bưóc ra ngoài, tôi sẽ đột ngột ập tới từ sau lưng hắn khiến hắn phải giật mình vì bất ngờ.
Tôi nán lại một lúc nơi ngưỡng cửa, đủ để trông thấy chiếc Toyota chậm chạp chạy lùi trở lại trên phố. Tôi luống cuống lần tay vào túi xách tìm chìa khóa. Rồi tôi ấn mạnh chiếc chìa vào ổ khóa trên cánh cửa.
Tôi đã bước hẳn vào trong nhà. Nhòm qua một khung cửa sổ nhỏ xíu, tôi lại trông thấy chiếc Toyota. Tôi cố căng mắt ra hòng nhìn rõ được gương mặt của tên giết người nhưng đèn trong xe hắn đã bị tắt hết.
Tôi mở then cánh cửa hậu và bước ra ngoài con ngõ chạy dọc phía sau tòa nhà của tôi, cẩn thận núp vào trong bóng tối của tòa nhà để chạy tới đoạn ngõ cụt trên đỉnh ngọn đồi bên cạnh. Từ đây tôi bước chậm lại, và vẫn nép sát vào tường nhà, tôi đi dọc dãy phố.
Từ sau lưng hắn...
Lúc này, chiếc Toyota đã đỗ ngay đối diện ngôi nhà của tôi, đèn trong xe vẫn tắt.
Tên lái xe đang ngồi hút thuốc trên ghế trước.
Tôi cúi người núp sau một chiếc Honda Acccord đang đỗ gần đó, siết chặt khẩu súng trong tay. - Đã đến lúc rồi đó, Lindsay ạ!
Nhưng liệu tôi có lôi được Chimera ra khỏi xe hay không? Nhỡ cửa xe khóa chặt thì sao nhỉ?
Đột nhiên, tôi thấy cửa xe bật mở, đèn trong xe lóe sáng. Nhưng tên giết người lại quay lưng về phía tôi khi hắn từ trên xe bước ra ngoài phố.
Hắn mặc một chiếc áo khoác tránh gió, chiếc mũ mềm trên đầu hắn sụp xuống tận mắt. Hắn cứ nhìn chăm chăm về phía căn hộ của tôi. Rồi hắn băng ngang qua phố. Chẳng chút sợ hãi.
Bắt hắn đi. Ngay bây giờ! Chính kẻ kia đã làm tôi nhức đầu trong suốt những ngày vừa qua. Chính hắn đã đe dọa tôi bằng cuốn sách tìm thấy trong túi áo của cảnh sát trưởng. Tôi bước ra khỏi chỗ nấp phía sau chiếc xe đang đỗ.
Tim tôi vẫn đập như trống dội, tôi sợ hắn sẽ đột ngột quay lại phía sau. Hành động ngay đi! Mày phải tóm được hắn!
Tôi nhảy bổ tới, một tay nắm chặt khẩu Glock, tay kia tôi vòng quanh cổ tên giết người, dùng hết sức bình sinh kéo ghì hắn xuống, đồng thời đá mạnh vào khoeo chân của hắn.
Kẻ đang theo dõi tôi ngã sõng soài ra đất, mặt đập xuống hè đường lát gạch. Tôi nhào xuống theo, ghim chặt hắn ở tư thế đó và ấn mạnh nòng súng vào gáy hắn.
- Cảnh sát đây, đồ chó đẻ! Giơ tay lên!
Một tiếng rên đau đớn thốt lên từ dưới đất. Hắn từ từ giơ tay lên đầu. Có phải là Chimera không nhỉ?
- Mày muốn theo dõi tao à, đồ khốn kia? Quay mặt lại đây ngay!
Tôi nới lỏng đầu gối của tôi ra đủ để cho hắn có thể cử động được đầu. Khi hắn vừa quay lại, tim tôi dường như ngừng đập.
Tôi đang tròn xoe mắt nhìn vào khuôn mặt vừa quen thuộc vừa xa lạ của cha tôi.
52
Marty Boxer lăn người nằm ngửa ra đất, miệng không ngớt rên rẩm, hơi thở khò khè phát ra từ ngực ông ta. Khuôn mặt của ông vẫn phảng phất nét đẹp đàn ông gai góc mà tôi còn nhớ nhưng già hơn, gầy gò và kiệt quệ hơn. Mái tóc thì thưa thớt còn cặp mắt một thời đã từng xanh biếc và hết sức sống động nay trở nên bạc màu.
Tôi không trông thấy ông đã mười năm rồi. Và không nói chuyện với ông trong suốt hai chục năm.
- Ông làm gì ở đây? - Tôi lạnh lùng hỏi.
- Ngay bây giờ, - ông ta vừa nói vừa há miệng ra thở dốc, nghiêng người sang một bên, - thì đang phải chịu đau đớn vì vừa nhận được một cú đánh như trời giáng từ cô con gái thân yêu của mình.
Tôi cảm thấy có một vật gì đó cưng cứng nhô ra từ trong túi áo khoác của cha tôi. Tôi thò tay vào đó và lôi ra được một khẩu súng 40 ly do Smith & Wesson đăng ký.
- Cái chết tiệt gì thế này? Ông nói thế nào về nó?
- Xã hội bây giờ loạn lắm, ra ngoài mà không có nó thì sẽ gặp nguy hiểm. - Ông lại rên rỉ.
Tôi thả ông ta ra. Nhìn thấy ông trong hoàn cảnh này, tôi cảm thấy như bị sỉ nhục. Sự tỏa sáng của một người cha trong ký ức của tôi bất chợt tắt ngấm. Tôi chẳng buồn nâng ông ta đứng dậy.
- Ông làm gì ở đây? Theo dõi tôi à?
Cha tôi chậm chạp gượng dậy.
- Cha cứ tưởng rằng con chẳng thèm để ý tới việc một người cha già ghé thăm cô con gái yêu của mình, Hoa Vàng ạ.
- Tôi xin ông, đừng gọi tôi bằng cái tên đó, - Tôi vùng vằng đáp lại.
Hoa Vàng là cái tên ngày xưa ông đã dùng để gọi tôi khi tôi mới bảy tuổi và ông vẫn còn đang ở nhà. Em gái tôi, Cat, được gọi là Ngựa Bay. Nghe lại tên cũ, trong lòng tôi chợt rộn lên một niềm xót xa cay đắng.
- Ông nghĩ là ông có quyền ghé thăm nơi đây và gọi tôi là Hoa Vàng sau chừng ấy năm, bỏ mặc vợ con và gia tình? Tôi đâu còn là một đứa trẻ. Bây giờ tôi đã là trung úy trong Đội Homicide.
- Cha biết, con gái ạ. Cha biết con đã phải chịu nhiều buồn tủi.
- Thôi, cứ coi như hôm nay ông đã gặp may đi, - tôi nói, cài chốt an toàn của khẩu Glock lại.
- Con tưởng cha là ai thế? - Ông hỏi lại, tay xoa xoa vào một bên sườn. - Hòn đá tảng à?
- Chuyện đó không quan trọng. Chuyện quan trọng mà tôi muốn biết bây giờ là ông đang làm gì ở đây?
Cha tôi khụt khịt mũi tỏ vẻ ân hận.
- Cha đang bắt đầu nhận ra rằng con hoàn toàn chẳng xúc động khi gặp lại cha chút nào, Hoa Vàng.
- Thế à, vậy mà tôi không biết. Ông có đau không?
Cặp mắt xanh của ông ánh lên.
- Một gã đàn ông chẳng ra gì như cha thì không thể ghé thăm cô con gái đầu lòng khi không có lý do được gọi là chính đáng, phải thế không?
Tôi nhìn thẳng vào mặt ông, thăm dò.
- Con đã không gặp cha trong suốt mười năm trời, vậy mà cha lại cư xử cứ như mới chỉ một tuần vậy. Cha muốn cập nhật tin tức của con phải không? Con đã kết hôn, bây giờ đã ly dị. Con đã gia nhập Đội Homicide và bây giờ ở cấp bậc trung úy. Con biết như vậy là quá sơ sài, nhưng như vậy cũng đủ cho cha rồi đấy, cha ạ.
- Con cho là đã quá nhiều năm trôi qua nên cha không thể nhìn con bằng cặp mắt của một người cha được chứ gì?
- Con sẽ chẳng quan tâm xem cha nhìn con như thế nào đâu, - mặt tôi sưng sỉa.
Cặp mắt của cha tôi chợt trở nên ấm áp, ông nhìn tôi mỉm cười hiền hậu.
- Chúa ơi, trông con xinh quá... Lindsay.
Vẻ mặt của ông cũng trở nên lấp lánh và trong trẻo, chính vẻ mặt mà tôi đã nhìn thấy hàng ngàn lần khi còn bé. Tôi thất vọng lắc đầu.
- Marty, chỉ cần cha trả lời câu hỏi của con thôi.
- Xem kìa, - ông nhẫn nhịn. - Cha biết lén đi theo con như thế là không đúng, nhưng chẳng lẽ con không thể mời cha vào nhà để uống dù chỉ một tách cà phê thôi hay sao?
Tôi sững sờ nhìn người đàn ông đã bỏ mặc gia đĩnh tôi khi tôi mới mười ba tuổi. Người đã lêu lổng bên ngoài khi mẹ tôi lâm trọng bệnh. Người mà tôi luôn coi là một kẻ hèn nhát, là đồ bần tiện hạ lưu, thậm chí còn hơn thế trong suốt cả quãng thời gian từ khi tôi trưởng thành. Tôi đã không gặp lại ông kể từ ngày tôi trông thấy ông ngồi ở hàng ghế sau cùng trong hội trường khi tôi đọc lời tuyên thệ của một cảnh sát. Lúc này, tôi không biết mình nên đấm mạnh vào mặt ông hay giang tay ra ôm chầm lấy ông nữa.
- Chỉ một tách thôi đấy..., - tôi nói, chìa tay ra kéo ông đứng lên và phủi nhẹ những bụi đất xốp mềm bám trên vạt áo của ông. - Cha chỉ được kể về mình trong thời gian uống xong một tách cà phê thôi.
53
- Tôi pha một bình cà phê cho cha và một cốc Red Zinger cho mình. Tôi dẫn ông đi thăm một vòng quanh nhà, giới thiệu ông với Martha. Con vật này, khác với sự lạnh nhạt của tôi giành cho cha, có vẻ rất thích thú với sự xuất hiện trở lại của ông trong nhà.
Chúng tôi ngồi xuống chiếc đi-văng bọc vải bạt của tôi Martha nằm cuộn tròn trong lòng cha tôi một cách khoan khoái. Tôi đưa cho ông một cái khăn ẩm để ông áp vào vết trầy xước trên mặt.
- Con rất tiếc về vết thâm tím kia, - tôi nói khẽ, đặt cốc đồ uống lên đầu gối.
- Cha đáng phải chịu nhiều hơn vậy, - ông nhún vai, nhoẻn miệng cười
- Đúng thế.
Chúng tôi ngồi đối diện nhau, không ai biết nên bắt đầu như thế nào.
- Vậy là cha đang muốn kể cho con nghe những chuyện đã xảy ra với cha trong suốt hai chục năm vừa qua?
Cha tôi nuốt ngụm cà phê trong miệng rồi đặt tách, xuống.
- Đúng vậy. - Ông bắt đầu kể tóm tắt cho tôi nghe về cuộc đời của ông, một cuộc đời mà dường như chỉ toàn những vận rủi. Ông đã từng là trợ lý của cảnh sát trưởng, như tôi đã biết, ở bờ biển Redondo. Sau đó ông bỏ sang làm vệ sĩ riêng cho những nhân vật quan trọng. Kevin Costner. Whoopi Goldberg. - Thậm chí cha đã được tham dự một buổi lễ trao giải Oscar cơ đấy. - Ông bật cười khúc khích. Cha tôi đã lấy vợ một lần nữa, và lần này chỉ trụ được trong hai năm. - Cha đã nhận ra mình không có khả năng
làm một người chủ gia đình, - ông nhận xét, vẻ châm biếm pha lẫn chua cay kèm theo một chút khiêm tốn. Bây giờ ông đã quay trở lại với nghề bảo vệ, không phải bảo vệ những nhân vật quan trọng mà chỉ là một người bảo vệ thông thường.
- Cha vẫn đánh bạc à? - Tôi hỏi.
- Chỉ xem thôi, cha xem và nhẩm tính trong đầu, - ông trả lời. Bây giờ cha làm gì có tiền.
- Cha vẫn đến mấy sòng bạc ở Giants? - Khi tôi còn là một đứa trẻ, ông rất hay dẫn tôi tới đó sau những ca trực của ông, tới một quán bar có tên là Chứng Cớ Ngoại Phạm trên đại lộ Sunset. Ở đó, ông đặt tôi ngồi lên trên mặt bàn trong lúc ông cùng những người bạn thân của ông mải mê với trò đỏ đen. Lúc đó, tôi không biết gì nên đã tỏ ra vô cùng thích thú.
Cha tôi lắc đầu.
- Không, cha không còn tới đó nữa kể từ khi họ chuyển quán tới Will Clark. Giờ cha hay lui tới Dodger. Vả lại, cha cũng muốn thay đổi không khí. - Ông dừng lại và nhìn tôi thật lâu.
Giờ là tới lượt tôi. Làm thế nào để tôi có thể gắn kết được hai mươi năm trong cuộc đời tôi với hai mươi năm trong cuộc đời của cha được nhỉ?
Tôi đã kể cho ông nghe tất cả những gì mà tôi có thể nhớ ra lúc đó, tất nhiên là bỏ qua những chi tiết liên quan tới mẹ của tôi. Tôi kể cho ông nghe về Tom, người chồng cũ của tôi, về cuộc hôn nhân chẳng đến đầu đến đũa của chúng tôi.
- Con đúng là giống cha. - Cha tôi cười khẽ.
- Đúng thế, nhưng ít ra thì con không bỏ chạy, - tôi đáp. Tôi kể cả chuyện tôi đã phải phấn đấu rất nhiều để được gia nhập Đội Homicide và cuối cùng tôi đã đạt được.
Cha tôi ủ rũ gật đầu.
- Cha đã đọc về vụ án hóc búa mà con đang phải tham gia. Thậm chí ở dưới miền nam, người ta cũng đưa tin rất cụ thể.
- Có vẻ con được quảng cáo rầm rộ quá nhỉ. - Tôi kể lại cho ông nghe hoàn cảnh khi tôi bắt đầu vụ án, một tháng trước.
Cha tôi cúi người về phía trước và đặt tay lên đầu gối tôi.
- Cha đã rất muốn được gặp con, Lindsay ạ. Hàng trăm lần... nhưng cha cũng không hiểu nổi tại sao cha lại không làm vậy. Nhưng cha tự hào về con, một trung úy của Đội Homicide. Khi cha nhìn thấy ảnh của con... trông con thật mạnh mẽ, tự chủ và rất xinh đẹp. Giá mà cha có được, dù chỉ chút ít, uy tín của con thôi thì hay biết mấy.
- Cha hoàn toàn có thể mà. Chính cha đã dạy con không nên dựa dẫm vào bất cứ ai mà chỉ tin tưởng ở bản thân mình thôi còn gì.
Tôi đứng dậy, rót thêm một tách cà phê nữa cho cha tôi. Sau đó, tôi ngồi xuống và tiếp tục nhìn thẳng vào mặt ông.
- Con rất buồn vì mọi chuyện đối với cha không được suôn sẻ. Thật đấy, cha ạ. Nhưng đã hai mươi năm trôi qua, tại sao cha lại quay trở về đây?
- Cha đã gọi điện cho Cat để thăm dò xem con có hỏi han tin tức về cha hay không. Nhưng nó bảo con đang bị ốm.
Tôi không cần phải hồi tưởng lại những gì đã qua, điều đó đối với tôi thật quá khắc nghiệt. Vì vậy, tôi chỉ im lặng nhìn cha tôi.
- Vâng, con đã bị ốm, - một lúc sau tôi mới nói. - Nhưng giờ con khá hơn rồi. Con đã vượt qua được thời kỳ khủng hoảng và đang bắt đầu với một sự khởi đầu mới.
Tim tôi đau nhói trong lồng ngực. Đó là dấu hiệu báo trước một cơn khó chịu sắp đến.
- Vậy cha đã đi theo con được bao lâu rồi?
- Mới chỉ từ ngày hôm qua thôi. Cha đã ngồi trong xe, đối diện với tòa án suốt ba tiếng đồng hồ, cố gắng tìm ra cách tiếp cận con một cách tự nhiên nhất. Cha không biết con có muốn gặp lại cha hay không.
- Con cũng không biết, cha ạ. - Tôi cố gắng tìm những lời lẽ dễ nghe nhất trong khi nước mắt bắt đầu dâng đầy hai bên khóe mắt. - Chẳng bao giờ cha ghé về thăm nhà cả. Cha đã bỏ mặc chúng con. Không thể một sớm một chiều mà con bỏ ngay những mặc cảm đã phải chịu đựng trong suốt chừng ấy năm trời được.
- Cha không hy vọng con như thế, Lindsay ạ, - ông buồn bã lắc đầu. - Giờ cha già rồi. Mà những người già thì thường hay ngồi ngẫm lại những lỗi lầm mình đã gây ra trong quá khứ. Bây giờ, cha chỉ muốn bù đắp lại cho những lỗi lầm đó mà thôi.
Tôi nhìn ông chăm chú, nửa muốn lắc đầu không tin nửa lại muốn mỉm cười. Tôi đưa tay gạt mấy giọt nước mắt đang lăn dài xuống má.
- Mọi chuyện bây giờ đang điên đảo lắm cha ạ. Cha có nghe tin về cảnh sát trưởng Mercer hay không?
- Tất nhiên là có, - cha tôi thở hắt ra. Tôi chờ ông nói thêm một điều gì đó, nhưng ông chỉ nhún vai. - Cha đã trông thấy hình của con trên báo. Gây ấn tượng lắm đấy, con có biết không hả Lindsay?
- Cha ạ, - vụ này đang khiến tôi thật sự điên đầu, nhưng tôi không muốn nghĩ tới nó trong lúc đang ngồi đối diện với người cha lâu ngày mổi gặp mặt. - Con không biết là con có thể tiếp tục với nó được hay không,
- Cha cũng không biết, - ông đáp, ngập ngừng chìa tay về phía tôi. - Nhưng nếu cả hai cha con mình cùng cố gắng thì sao nhỉ?
54
Chín giờ sáng ngày hôm sau, Morris Ruddy, đặc vụ cao cấp của FBI đã ngồi trước mặt tôi và viết nguệch ngoạc lên một tờ giấy nhắc việc màu vàng.
- Nào, trung úy. Xin cô cho biết cô bắt đầu xác định được biểu tượng của con Chimera kia có liên quan đến động cơ phân biệt chủng tộc từ khi nào?
Đầu óc tôi vẫn còn miên man nghĩ tới những sự kiện đã diễn ra trong buổi tối hôm trước. Tôi đang nóng lòng muốn gặp lại những người bạn thân của tôi để kể cho họ nghe, vậy mà lại bị giam ở đây, trong một cuộc họp chán ngắt với đội đặc nhiệm.
- Chính văn phòng FBI của các anh ở Quantico đã giúp tôi xác định điều đó. - Tôi đáp.
Tất nhiên, tôi biết như vậy là nói dối. Stu Kirkwood chỉ xác nhận lại những gì mà tôi được Cindy tiết lộ.
- Sau khi cô xác định được rồi, - giọng người đàn ông của FBI đều đều nghe thật buồn tẻ, - thì cô đã kiểm tra được bao nhiêu nhóm phân biệt chủng tộc?
Tôi ném cho anh ta một cái nhìn chán nản, ngụ ý rằng chúng ta chỉ thực sự bắt đầu hợp tác điều tra khi nào chúng ta ra khỏi căn phòng tù túng này.
- Chắc anh đã đọc xong tập hồ sơ mà tôi đưa cho anh rồi nhỉ. Chúng tôi đã kiểm tra được hai, ba nhóm gì đó.
- Cô mới chỉ kiểm tra có một nhóm thôi, - anh ta nhướn mày.
- Nhưng, - tôi giải thích, - những nhóm đó không hoạt động trong vùng này mà. Bên cạnh đó, phương pháp chúng tôi đang sử dụng hoàn toàn nhất quán với những vụ khác mà tôi đã từng tham gia điều tra. Tôi có thể khẳng định rằng chúng ta đang phải đương đầu với một kẻ giết người hàng loạt.
- Từ bốn vụ giết người riêng rẽ, - Ruddy nói, - chưa có chứng cớ gì mà cô đã có thể thu hẹp xuống thành một thủ phạm à?
- Đúng vậy, từ bốn vụ giết người và từ bảy năm làm việc cho Homicide. - Tôi không thích giọng điệu của người đàn ông này.
- Nghe này, đặc vụ Ruddy, đây đâu phải là một cuộc lục vấn, - Sam Ryan, chánh thanh tra sở cảnh sát, cuối cùng cũng phải lên tiếng.
- Tôi không lục vấn, tôi chỉ đang cố gắng xác định xem chúng ta còn phải cố gắng bao nhiêu nữa trong vụ này thôi, - người của FBI trả lời.
- Vậy thì anh hãy nghe đây, - tôi tuyên bố,’- các đầu mối liên quan đến Chimera không tự nhiên từ trên trời mà rơi xuống. Hình dán trên chiếc xe chở hàng màu trắng đã được một đứa trẻ sáu tuổi trông thấy. Cái thứ hai được vẽ nguệch ngoạc trên bức tường tại hiện trường vụ án. Nhân viên pháp y của chúng tôi thì cho rằng viên đạn bắn Catchings không phải là một viên đạn tình cờ.
- Nhưng ngay cả bây giờ, - Ruddy nói, - sau khi cảnh sát trưởng của cô vừa bị giết, thì cô vẫn tin rằng những vụ giết người này hoàn toàn không có động cơ chính trị?
- Những vụ giết người có thể xuất phát từ động cơ chính trị. Tôi vẫn chưa biết toàn bộ chương trình hành động của tên giết người. Nhưng tôi dám khẳng định rằng thủ phạm chỉ là một và là một kẻ điên cuồng gàn bướng. Cuộc hỏi đáp này sẽ dẫn tới đâu thế nhỉ?
- Dẫn tới vụ giết người thứ ba, - đặc vụ Hall xen vào. - Vụ cảnh sát Davidson bị bắn lén. - Anh ta nhấc tâm thân chắc nịch ra khỏi ghế ngồi và bước tới bên một biểu đồ sơ sài trên đó mỗi vụ giết người và những chi tiết liên quan đến vụ đó được liệt kê thành những cột dọc ngay ngắn.
- Vụ thứ nhất, thứ hai, và thứ tư, - anh ta giải thích, - tất cả đều liên quan đến Chimera. Nhưng còn vụ của Davidson thì hoàn toàn không có chút dính dáng nào. Chúng tôi muốn biết điều gì đã khiến cô khẳng định thủ phạm vẫn chỉ là một.
- Chắc anh chưa nhìn phát đạn, - tôi khinh khỉnh đáp lại.
- Theo những gì mà tôi có, - Hull giở nhanh cuốn sổ ghi chép của anh ta ra, - thì Davidson bị giết bởi một viên đạn được bắn ra từ một loại vũ khí khác hẳn.
- Tôi không nói về đạn đạo học đâu Hull, mà tôi nói về phát đạn. Đó là một khả năng bắn súng siêu hạng. Giống hệt như trong trường hợp của Tasha Catchings.
- Theo ý kiến của tôi, - Hull nói tiếp, - thì chúng ta cần phải có chứng cớ xác thực thì mói có thể gắn kết vụ Davidson với những vụ còn lại. Nếu như chúng ta chỉ quan tâm đến sự thật thôi, và dẹp linh cảm của thanh tra Boxer sang một bên, thì sẽ thấy là vẫn chưa hề có gì để khẳng định rằng chúng ta đang phải đương đầu với một loạt vụ việc có động cơ chính trị. Chưa hề có gì cả.
Đúng lúc này, một tiếng gõ nhẹ vào cửa phòng họp vang lên, và Charlie Clapper ló đầu vào trong. Trông anh ta chẳng khác nào một con chuột chũi nhút nhát đang từ trong hang của mình thò đầu ra.
Clapper gật đầu chào những đặc vụ của FBI rồi sau đó quay sang phía tôi, nháy mắt.
- Tôi cho rằng chị sẽ có thể cần đến cái này.
Anh ta đặt lên bàn tôi một bản photo đen trắng hình một dấu giày đế mềm khá lớn.
- Chị có nhớ vết giày mà chúng ta thu được trên lớp nhựa đường tại vị trí đứng của kẻ bắn lén trong vụ Art Davidson không?
- Tất nhiên là nhớ, - tôi đáp.
Anh ta lấy thêm một bản khác ra đặt ngay cạnh bản thứ nhất.
- Còn đây là vết giày mà chúng tôi vừa tìm thấy trên khoảnh đất ướt tại hiện trường vụ Mercer.
Hai vết giày giống hệt nhau.
Một sự im lặng nặng nề bao trùm khắp căn phòng. Tôi hết nhìn đặc vụ Ruddy rồi lại nhìn sang đặc vụ Hull.
Tất nhiên, chúng chỉ là loại giày thể thao hiêu Reebok rất phổ biến, - Clapper giải thích.
Sau đó, anh ta tiếp tục thò tay vào túi chiếc áo trắng mặc trong phòng thí nghiệm và lấy ra một tấm phim dương bản. Trên đó có những hạt phấn nhỏ li ti.
- Chúng tôi còn tìm thêm được cả cái này tại nơi cảnh sát trưởng bị giết.
Tôi cúi người xuống và nhìn chăm chú vào những hạt phấn.
- Một kẻ giết người bằng súng, - tôi nói khẽ.
Tôi gọi mấy cô bạn gái tới ăn trưa. Tôi không thể đợi thêm được nữa.
Chúng tôi gặp nhau tại vườn hoa Yerba Buena, bên ngoài siêu thị IMAX, vừa xem lũ trẻ con chạy nhảy tung tăng quanh đài phun nước, vừa ăn món sa lát và bánh bao mua từ cửa hàng về. Tôi kể lại mọi chuyện đã xảy ra kể từ lúc chúng tôi chia tay nhau ở quán Susie, tới lúc có một kẻ khả nghi bám sát tôi về tận nhà, và tôi đã đánh ngã cha tôi ngay bên ngoài căn hộ của mình.
- Chúa ơi, - Claire thốt lên. - Người cha hoang tàng!
Trong khoảnh khắc, một bầu không khí im nặng đã phủ xuống người chúng tôi, ngăn cách chúng tôi với phần còn lại của thế giới. Mấy cô bạn gái nhìn tôi chăm chú bằng những cặp mắt ngờ vực.
- Cậu gặp ông ta lần cuối là khi nào? - Jill hỏi tôi.
- Ông ấy đã tới dự buổi lễ nhận bằng tốt nghiệp của tớ â trường đại học cảnh sát. Tớ không mời, nhưng không hiểu sao ông ấy lại biết.
- Ông ấy đã đi theo cậu à? - Jill tỏ ra khá hồi hộp. - Từ chỗ gặp gỡ của chúng mình? Giống như một kẻ rình lén đáng sợ?
- Đó chính là tính cách điển hình của Marty Boxer, - tôi thốt lên. - Đó chính là cha tớ.
Claire đặt tay chị lên tay tôi.
- Thế ông ấy muốn gì?
- Em không rõ, hình như ông ấy muốn sửa chữa những sai lầm cũ thì phải. Qua Cat, em gái em, ông ấy biết tin em đang bị ốm. Ông ấy đã theo dõi vụ án cô dâu chú rể Ông ấy bảo ông ấy muốn nói cho em biết là ông ấy rất tự hào về em.
- Chuyện đó cách đây đã mấy tháng rồi còn gì, - Jill khịt mũi, cắn một miếng to bánh bao nhân thịt gà và quả lê. - Ông ấy có chắc là đã về đúng lúc hay không đấy?
- Tớ cũng đã hỏi cha tớ đúng như vậy, - tôi gật đầu.
Cindy lắc đầu.
- Ông ấy chỉ quyết định tới thăm cậu sau hai chục năm trời à?
- Chị nghĩ như vậy cũng tốt, Lindsay ạ, - Claire nhận xét. - Em biết chị luôn lạc quan yêu đời mà.
- Tốt vì sau hai mươi năm ông ấy đã quay trở về với một lương tâm cắt rứt.
- Không, tốt vì cuối cùng ông ấy đã nhận ra là ông ấy cần có em, Lindsay. Ông ấy đang cô độc, phải không nào?
- Cha em bảo ông ấy đã lấy vợ một lần nữa, nhưng lần này chỉ sống vói vợ được hai năm rồi lại chia tay. Chị thử hình dung mà xem, chị Claire, em sẽ cảm thấy như thế nào khi gặp lại cha sau từng ấy năm trời để rồi được biết ông ấy đã cưới vợ khác.
- Điều đấy không quan trọng, Lindsay ạ, - Claire đáp. - Ông ấy đã giang rộng vòng tay. Em không nên tỏ ra quá ngạo mạn mà không chấp nhận sự trở về đó.
- Cậu thấy thế nào? - Jill hỏi.
Tôi quệt tay ngang miệng, nhấp một ngụm trà đá rồi hít một hơi thật sâu.
- Nói thật nhé, tớ cũng chẳng biết nữa. Ông ấy giống như một bóng ma từ quá khứ hiện về, đem lại cho mình vô số những kỷ niệm đáng buồn. Mọi việc mà ông ấy đã làm chỉ đem lại đau khổ cho những người xung quanh mà thôi.
- Nhưng đó là cha em mà, em gái thân mến, - Claire nói. - Em đã mang tâm trạng buồn tủi kể từ khi chị biết em. Em nên đón nhận sự trở về của ông ấy, rồi em sẽ có những gì mà em chưa từng được hưởng trước đây.
- Nhưng ông ấy cũng có thể bỏ cậu thêm một lần nữa, Jill nói.
- Thôi nào, - Cindy quay lại lườm Jill. - Viễn cảnh sắp được làm mẹ không làm cho cậu trở nên rộng lượng và mềm dịu hơn chút nào thì phải.
- Mới chỉ hẹn gặp mục sư có một lần, - Jill phun phì phì như một con rắn, - vậy mà cậu đã có vẻ nhân từ quá nhỉ. Cậu làm tớ cảm kích quá đấy.
Mấy cặp mắt đều đổ dồn về phía Cindy, tất cả chúng tôi cố nín cười.
- Đúng vậy, - Claire gật đầu. - Em có nghĩ là em sẽ thoát khỏi cái bẫy đó không hả, cô bé?
Mặt Cindy bắt đầu đỏ bừng. Từ trước tới giờ chưa lúc nào tôi trông thấy Cindy Thomas đỏ mặt cả.
- Hai người trông có vẻ đẹp đôi đấy chứ, - tôi thở dài.
- Tớ thích ông ấy, - Cindy thú nhận. - Chúng tớ đã nói chuyện suốt nhiều giờ đồng hồ trong một quán bar. Sau đó, ông ấy đã đưa tớ về nhà. Và kết thúc ở đó.
- Chắc chắn rồi, - Jill ngoác miệng ra cười. - ông ấy đẹp trai và lịch lãm thế cơ mà. Nghề nghiệp lại ổn định. Và nếu như cậu gặp thất bại trong nghề báo của mình thì cậu vẫn không phải lo lắng tới chuyện ai sẽ là người chu cấp cho cuộc sống của cậu.
- Tớ chưa nghĩ tới chuyện đó, - Cindy mỉm cười theo. - Nhưng xem mọi người kìa, đó mới chỉ là một cuộc hẹn thôi mà. Tớ đang tìm hiểu để viết bài về mục sư và những giáo dân của ông ta. Tớ không biết chắc ông ta có còn hẹn gặp tớ nữa hay không.
- Nhưng cậu phải biết chắc cậu sẽ hẹn gặp ông ta nữa chứ?
- Chúng tớ mới chỉ là bạn. Không, cũng chưa hẳn là bạn mà mới chỉ trò chuyện tâm đầu ý hợp. Tớ dám chắc rằng tất cả các cậu ở đây đều sẽ thích được nói chuyện với mục sư. - Cindy kết luận rồi khoanh tay lại.
Chúng tôi mỉm cười. Nhưng Cindy nói đúng - không một ai trong số chúng tôi có thể từ chối cơ hội được nói chuyện với Aaron Winslow. Tôi vẫn còn cảm thấy gai người mỗi khi nhớ lại bài phát biểu của ông trong đám tang của Tasha Catchings.
Tôi quay lại phía Jill.
- Cậu cảm thấy thế nào? Vẫn khỏe chứ?
Cô ấy mỉm cười.
- Khá ổn. - Rồi cô vòng tay ôm lấy cái bụng đã hơi căng, phùng má thở phì phò như thể muốn nói, béo quá...
- Tớ vừa mới kết thúc vụ kiện tụng cuối cùng. Sau đó, ai mà biết được, chắc có lẽ tớ sẽ nghỉ ngơi một thời gian.
- Tớ chỉ tin khi nào tớ tận mắt nhìn thấy, - Cindy cười như nắc nẻ. Claire và tôi đưa mắt nhìn nhau, đồng tình.
- Được rồi, mọi người hãy chờ mà xem, - Jill vùng vằng.
- Vậy bây giờ em định thế nào? - Claire quay lại phía tôi khi chúng tôi đứng lên chuẩn bị ra về.
- Tiếp tục tìm kiếm chứng cớ để kết nối các vụ giết người lại với nhau.
Chị nhìn tôi chăm chú.
- Ý chị muốn hỏi về chuyện của cha em cơ.
- Em cũng không biết nữa, chị ạ. Em đã phải chịu quá nhiều buồn tủi. Bây giờ Marty trở về, nếu như ông ấy muốn được em tha thứ thì ông ấy phải cho em thời gian chứ.
Claire đứng lại, nhìn tôi và mỉm một nụ cười từng trải.
- Chắc chị muốn cho em một lời khuyên? - Tôi hỏi chị.
- Rất tự nhiên. Tại sao em không làm cái việc mà người ta thường làm khi còn nghi ngờ và căng thẳng nhỉ?
-Việc đó là...?
- Nấu cho cha em một bữa ăn.
56
Chiều hôm đó, Cindy ngồi gò lưng trước màn hình vi tính trong tòa soạn tờ Biên niên sử vừa nhấm nháp một cốc kem cam hiệu Stewart vừa nhẫn nại tìm kiếm.
Ở một nơi nào đó sâu thẳm trong trí nhớ, cô biết có một điều mà cô đã bỏ qua và bây giờ nó khiến cô cứ phải bứt rứt không yên. Chimera... được nêu lên trong một bối cảnh khác, dưới một hình thức khác nhưng có lẽ rất hữu dụng cho cuộc điều tra của Lindsay.
Cô cũng đã cất công tìm kiếm qua CAL, hồ sơ lưu trực tuyến của Biên niên sử nhưng chẳng có kết quả gì. Cô đành quay lại với những phương tiện tìm kiếm thông thường: Yahoo, Jeeves, Google. Mọi giác quan của cô cứ căng ra, và cũng giống Lindsay, cô có linh cảm rằng con quái vật kỳ dị sẽ đưa cô tới một nơi nào đó khác hẳn với những nhóm phân biệt chủng tộc bình thường. Nó sẽ đưa cô tới với một cá nhân cực kỳ thông minh nhưng cũng hết sức quái dị.
Nào. Cô thốt lên, nhấn mạnh phím Enter một cách tuyệt vọng. Tao biết mày ở đâu đó quanh đây thôi mà.
Một ngày nữa lại dần trôi qua, nhưng cô vẫn chưa làm nên trò trống gì. Thậm chí một chút manh mới cho số báo ra sáng mai cũng không có nốt. Chắc chắn tổng biên tập sẽ lại rên rỉ cho mà xem. Chúng ta có các độc giả, ông ta sẽ lầm bầm như vậy, mà độc giả thì luôn đòi hỏi sự cập nhật tin tức liên tục. Cô đã hứa với ông ta. Nhưng hứa gì? Cuộc điều tra đang bị sa lầy rồi còn gì.
Khi cô nhìn thấy nó, cô đang ở trang Google, lướt cặp mắt mệt mỏi suốt dọc trang thứ tám của kết quả tìm kiếm.
- Nó đập mạnh vào mặt cô như một cái tát.
Chimera... Nơi tận cùng của địa ngục trần gian, một biểu tượng của cuộc sống tù ngục trên Vịnh Bồ Nông, được viết bởi Antoine James. Xuất bản sau khi tác giả đã qua đời vì sự cùng cực, tàn bạo giữa những kẻ tội phạm nguy hiểm nhất.
Vịnh Bồ Nông... Vịnh Bồ Nông là nơi người ta giam những kẻ gây rối tồi tệ nhất trong hệ thống nhà tù California. Những kẻ tội phạm hung hãn không thể điều khiển nổi ở bất cứ nơi nào khác.
Giờ thì cô đã nhớ ra. Cô đã đọc về Vịnh Bồ Nông trên tờ Biên niên sử, khoảng chừng hai năm trước. Đó chính là nơi cô đã nghe nhắc tới Chimera lần đầu tiên. Và cũng chính nó đã khiến cô bứt rứt không yên trong suốt mấy ngày trời.
Cô co chân đạp cho chiếc ghế xoay lăn tới trước thiết bị CAL đặt trên cái giá gần đó. Đẩy kính cao lên trán, cô gõ nhanh vào hộp tìm kiếm. Antoine James.
Năm giây sau, câu trả lời đã xuất hiện. Một bài báo, in trong số ra ngày 10 tháng 8 năm 1998, tác giả là Deb Meyer, người phụ trách chuyên mục Ngày chủ nhật với tựa đề: “Cuốn nhật ký được xuất bản sau khi tác giả qua đời, mô tả chi tiết thế giới bạo lực đầy ác mộng đằng sau những chấn song sắt.”
Cô bấm con trỏ vào thanh hiển thị, và thêm một vài giây nữa, một bản sao của bài báo đã xuất hiện trên màn hình máy tính. Antoine Jameo, trong khi lãnh án tù ở Vịnh Bồ Nông vì tội cướp có vũ trang, đã bị đâm bằng dao cho đến chết trong một trận cãi vã giữa các tù nhân. Trong cuốn nhật ký của mình, ông ta đã kể lại những câu chuyện gây sốc về cuộc sống nơi tù ngục bao gồm ăn cắp vặt, xung đột sắc tộc, sự đánh đập hành hạ của lính canh và cách cư xử hung hãn của những tù nhân chịu án chung thân.
Cô in bài báo ra, tắt màn hình CAL đi và lăn ghê trở lại bàn làm việc. Nằm xoài người ra trên ghế, chân gác lên một chồng sách gần đó, cô bắt đầu đọc nhanh qua những trang giấy.
“Kể từ lúc người ta ném bạn qua cánh cửa phòng giam, cuộc sống ở Vịnh Bồ Nông bắt đầu trở thành một cuộc chiến đấu liên miên chống lại sự đe dọa của lính canh và bạo lực của bạn tù,” James đã viết như vậy trong một cuốn vở giấy đen nhàu nhĩ. “Chính những kẻ đó đã quy định cho bạn một địa vị mới, một nhận dạng mới và một sự bảo kê mới. Tất cả mọi tù nhân đều phải tuyên bố rõ mình thuộc nhóm nào trong tù và mình mong muốn điều gì ở nhóm đó.”
Cặp mắt của Cindy lướt nhanh xuống dưới. Nhà tù này quả đúng là một hang rắn độc chứa đầy những kẻ hung hãn nhất và những cách trả thù tàn bạo nhất. Tù nhân da màu có các nhóm Máu Đỏ, Dao Găm và Tín Đồ Hồi Giáo. Tù nhân La-tinh có nhóm Nortenos đeo dải băng màu đỏ và nhóm Serranos đeo dải băng màu xanh trên đầu bên cạnh nhóm Mafia Mê-hi-cô và Los Eme. Tù nhân da trắng lại có nhóm Đồng Ghi-nê Vàng và Những Người Đi Xe Đạp, thậm chí có cả một nhóm có cái tên hết sức kỳ quái: Rác Thối. Ngoài ra, họ còn có nhóm Người Arian luôn ủng hộ thuyết người da trắng là ưu việt.
“Một số nhóm hoạt động hết sức bí mật,” James viết tiếp. “Một khi bạn đã tham gia nhóm đó, sẽ không ai có thể động chạm tới bạn được.”
“Trong số những nhóm tù nhân người da trắng, có một nhóm đặc biệt hiểm ác. Nhóm gồm toàn những gã lực lưỡng to cao, phải ngồi tù vì đã phạm trọng tội. Thậm chí bọn chúng còn dám mổ bụng cả một người bạn tù chỉ để cá cược với nhau xem anh ta đã ăn gì."
Một cơn rùng mình kinh hãi chạy dọc người Cindy khi mắt cô dừng lại ở câu tiếp theo.
James đã gọi tên của nhóm đó ra - Nhóm Chimera.
57
Tôi sắp kết thúc một ngày làm việc mà vẫn không tìm thêm được manh mối nào trong việc điều tra bốn vụ án giết người. Vết phấn trắng thu được tại hiện trường hai vụ án vẫn còn là điều bí ẩn khi tôi nhận được điện thoại của Cindy.
- Văn phòng của các cậu vẫn còn đang trong tình trạng thiết quân luật à? - Cô ấy trêu chọc tôi, ám chỉ tới lệnh tạm ngưng liên lạc vổi giới báo chí của ngài thị trưởng.
- Tin tớ đi, mọi chuyện trong tòa án vẫn đang rối beng cả lên đây này.
- Tại sao cậu không gặp tớ nhỉ? Tớ có cái này hay lắm
- Chắc chắn rồi. Gặp nhau ở đâu đây?
- Hãy nhìn ra cửa sổ, tớ đang ở ngay bên ngoài.
Tôi ngó đầu xuống phố và trông thấy Cindy ngay, cô ấy đang đứng tựa người vào chiếc xe đỗ trước cửa tòa án. Lúc này đã gần bảy giờ. Tôi sắp xếp lại bàn làm việc, gọi điện thoại chúc Lorraine và Chin ngủ ngon rồi lao đầu ra ngoài cửa sau, chạy ngang qua phố tới chỗ Cindy đang đứng. Cô ấy mặc váy ngắn và áo khoác bò thêu hoa, một chiếc ba-lô bằng vải ka-ki bạc màu đeo lủng lẳng ở một bên vai.
- Cậu vừa đi tập hát thánh ca về đấy à? - Tôi nháy mắt với cô bạn.
- Cậu... chỉ được cái nói năng lung tung. Lần sau tớ mà thấy cậu đang lái xe như điên ngoài phố, tớ sẽ bảo cậu đang hẹn gặp với cha của cậu.
- Nhân tiện nhắc đến cha của tớ, tớ đã gọi điện mời ông ngày mai đến nhà tớ ăn tối. Còn cậu, kẻ lắm lời, cậu có cái gì quan trọng đến độ phải chờ tớ ở đây thế hả?
- Vừa có tin tốt, vừa có tin xấu, - Cindy trả lời và lôi từ trong ba-lô ra một chiếc phong bì kích thước 8x11. - Tớ nghĩ tớ đã tìm thấy nó, Lindsay ạ.
Cô ấy đưa cho tôi chiếc phong bì, tôi mở nó ra: một bài báo của tờ Biên Niên sử ra cách đây gần hai năm nói về cuốn nhật ký viết trong một trại giam nào đó. Nơi tận cùng của địa ngục trần gian của tác giả Antoine James. Một vài đoạn đã được đánh dấu bằng bút nhắc dòng màu vàng. Tôi bắt đầu đọc.
...Aryan... còn tệ hơn cả Aryan. Tất cả bọn chúng đều to cao, vâm vấp. Da trắng, bản chất xấu xa, lòng tràn đầy thù hận. Chúng tôi không biết lũ người này căm ghét cái gì hơn: chúng tôi, những người chia sẻ phần ăn với chúng hay cảnh sát và lính gác, những người đã tống chúng vào ngục.
Những gã này đã tự đặt tên cho mình. Chúng tự gọi chúng là Chimera.
Mắt tôi dán chặt vào từ cuối cùng.
- Bọn chúng là một lũ súc vật mọi rợ, Lindsay ạ. Những kẻ gây rối tồi tệ nhất trong hệ thống trừng phạt của bang ta. Bọn chúng thậm chí còn cam kết sẽ tìm đến nhau một khi đã được trả tự do.
- Đó là tin tốt, - Cindy nói tiếp. - Còn tin xấu là nhà tù này nằm trong Vịnh Bồ Nông.
58
Nếu phân tích và so sánh kỹ lưỡng các nhà tù nằm trong hệ thống trừng phạt của bang California thì Vịnh Bồ Nông có thể nói là nơi mà mặt trời không bao giờ tỏa sáng.
Ngày hôm sau, tôi rủ Jacobi đi trực thăng ra bờ biển của thành phố Crescent, gần biên giới Oregon. Trước đây tôi đã hai lần tới Vịnh Bồ Nông, một lần là để gặp một kẻ ăn cắp vặt có liên quan đến vụ giết người mà tôi phải điều tra lúc đó và một lần để tham dự buổi tuyên bố phóng thích một tù nhân đã bị tôi tống giam. Lần nào cũng thế, khi máy bay lượn vòng trên khu rừng bách gỗ đỏ rậm rạp bao quanh nơi này là tôi lại thấy ruột gan mình cồn cào như bị ai xát muối vậy.
Nếu như bạn là một nhân viên thực thi pháp luật - đặc biệt khi bạn là phụ nữ - thì đây là nơi mà chắc chắn bạn chẳng bao giờ muốn phải đặt chân tới. Ở ngay ngoài cổng vào, người ta đã treo một tấm biển cảnh báo nếu như bạn bị bắt làm con tin thì bạn sẽ phải tự chịu trách nhiệm. Không điều đình.
Tôi đã hẹn gặp trợ lý giám thị trại giam, ông Roland Estes trong tòa nhà hành chính. Nhưng ông ấy vẫn bắt chúng tôi ngồi đợi mấy phút rồi mới xuất hiện. Estes là một người đàn ông cao lớn, nghiêm nghị với một khuôn mặt khắc khổ và cặp mắt xanh lạnh lùng. Nhìn ông ta, tôi thấy toát lên vẻ hoài nghi đáng sợ mà tôi đoán là được sinh ra sau nhiều năm phải sống khép mình trong kỷ luật thép.
- Xin lỗi vì tôi đã đến muộn, - ông ta nói sau khi đã ngồi xuống chiếc ghế bành đằng sau bàn làm việc bằng gỗ sồi của mình. - Vừa có một vụ lộn xộn xảy ra ở xà lim số 0. Một trong số các cư dân của chúng tôi ở đây đã đâm dao vào cổ đối thủ của hắn.
- Hắn lấy đâu ra dao? - Tôi ngạc nhiên hỏi lại.
- Không phải một con dao thực sự, - Estes thoáng mỉm cười, - mà là một mẩu cuốc làm vườn hắn đã giấu được từ trước.
Tôi sẽ không bao giờ có thể làm được cái nghề mà Estes đang làm vì tôi rất hay xúc động, và tôi cũng không thích tiếng tăm mà nơi này đã tạo ra từ việc đánh đập, hăm dọa và khẩu hiệu trứ danh của nó: “Chỉ Điểm, Tạm Tha hay là Chết.”
- Như vậy, chị đã nói chuyện này có liên quan tới vụ ám sát cảnh sát trưởng Mercer phải không, thưa trung úy? - Ông trợ lý giám thị ngả người về phía trước, nhìn tôi và hỏi.
Tôi gật đầu, lấy từ trong cặp ra tập hồ sơ vụ án.
- Và có khả năng liên quan tới một loạt các vụ giết người khác nữa. Tôi muốn tìm hiểu một số vấn đề về các tù nhân bị giam ở đây.
Estes nhún vai.
- Hầu hết bọn họ đều bắt đầu tham gia các băng đảng xã hội đen từ khi mới mười tuổi. Chị sẽ tìm thấy tất cả các địa danh của Oakland hoặc Đông Los Angeles tồn tại trong nhà tù này.
- Tôi muốn hỏi về một nhóm có tên là Chimera, - tôi nói.
Khuôn mặt của Estes chẳng biểu lộ chút ngạc nhiên nào.
- Chị không bắt đầu từ những nhóm nhỏ à, trung úy? Vậy chị muốn biết gì về Chimera?
- Tôi muốn biết liệu những vụ giết người mà tôi đang phải điều tra có liên quan đến mấy gã thuộc nhóm Chimera này không. Tôi muốn biết liệu họ có thực sự xấu xa như những gì họ thể hiện. Và tôi cũng muốn biết tên tuổi của bất cứ thành viên nào trong nhóm đã được thả tự do.
- Câu trả lời duy nhất giành cho tất cả những câu hỏi của chị là: Có. - Estes gật đầu dứt khoát. - Điều này có phần hơi giống với việc dùng lửa để thử vàng. Bất kỳ một tù nhân nào có thể chịu đựng được những thử thách do chúng tôi đặt ra, hoặc ai đó bị nhốt vào khu cách ly trong một thời gian dài thì sẽ được “lên hạng” và được hưởng những đặc quyền đặc lợi nhất định.
- Đặc quyền đặc lợi?
- Đúng, được tự do theo cách chúng tôi định nghĩa ở đây. Họ sẽ không bị thẩm vấn, không phải chỉ điểm.
- Tôi muốn có danh sách tất cả những thành viên đã được phóng thích của nhóm này.
Viên trợ lý giám thị mỉm cười.
- Không nhiều lắm đâu. Một số đã được chuyển sang các nhà tù khác. Tôi cho rằng ở tất cả các nhà tù trong bang đều có chi nhánh của nhóm Chimera này, và như vậy thì chúng tôi không thể nắm hết được danh sách ai còn trong tù và ai đã được thả.
- Nhưng chắc ông nắm được kẻ nào đứng đầu nhóm này chứ?
- Chúng tôi biết. - Estes gật đầu thừa nhận rồi đứng dậy, tỏ ý muốn kết thúc cuộc trò chuyện. - Chắc phải mất chút ít thời gian để chúng tôi chuẩn bị. Tôi cũng phải tham khảo ý kiến của một số người khác nữa, nhưng tôi hứa sẽ cố gắng tới mức có thể.
- Dù sao tôi cũng đã mất công đến đây rồi, tôi nghĩ tôi nên gặp hắn.
- Gặp ai cơ, trung úy?
- Kẻ cầm đầu nhóm Chimera.
Estes nhìn tôi chăm chú.
- Tôi xin lỗi, nhưng tôi chưa thấy ai làm vậy cả. Chẳng ai muốn bước chân vào xà lim biệt giam.
Tôi nhìn thẳng vào mắt ông ta.
- Vậy ông có muốn tôi quay trở lại với lệnh của chính quyền bang cho phép tôi làm thế không? Nghe này, ông trợ lý, cảnh sát trưởng của chúng tôi đã bị giết. Tất cả các chính trị gia của bang này đều muốn thủ phạm phải bị tóm cổ. Vậy mà ông lại dung túng cho bọn chúng.
Vẻ mặt căng thẳng của Estes chợt giãn ra.
- Tôi có nói gì đâu, trung úy. Cô luôn được chào đón ở đây mà. Chúng tôi sẽ tạo điều kiện giúp cô, nhưng cô phải hết sức cẩn thận đấy nhé.
Nói rồi, ông ta nhấc điện thoại và quay số. Sau một lúc chờ đợi, ông ta thốt ra một mệnh lệnh gay gắt.
- Bảo Weiscz chuẩn bị. Hắn ta sắp có khách đấy. Một phụ nữ.
59
Chúng tôi đi dọc con đường hầm khá dài được đào sâu trong lòng đất, theo sau là Estes và người chỉ huy đội lính canh có tên O’Koren.
Khi chúng tôi đặt chân lên những bậc cầu thang có gắn tấm biển SHU-C, vị trợ lý giám thị vẫy tay vào màn hình bảo vệ và cánh cửa dày chịch nặng nề ở đó liền mở ra, đưa chúng tôi vào khu xà lim biệt giam cực kỳ tối tân.
Dọc đường đi, tôi đã được Estes cung cấp thêm một số thông tin.
- Giống như hầu hết các tù nhân ở Vịnh Bồ Nông này, Weiscz được đưa tới đây từ một nhà tù khác trong bang, nhà tù Folsom. Hắn ta là kẻ cầm đầu nhóm Hội ái hữu Arian cho đến khi hắn siết cổ một lính canh người da màu. Hắn bị nhốt vào xà lim biệt giam này đến nay đã được mười tám tháng để chờ tới ngày đưa đi xử. Chúng tôi chẳng còn biết làm gì cho hắn cả.
Jacobi ghé vào tai tôi, thì thầm.
- Chị có chắc vào điều mà chị đang làm không đấy, Lindsay?
Tôi không chắc. Tim tôi bắt đầu phi nước đại, và mồ hôi đã túa ra đầy hai lòng bàn tay.
- Chính vì thế mà tôi cần anh đi cùng tôi tới đây.
- Đúng vậy, - Jacobi lầm bầm.
Khu biệt giam của Vịnh Bồ Nông thật không hề giống với bất cứ cái gì mà tôi đã từng được nhìn. Mọi vật đều được sơn bằng một màu trắng đục buồn tẻ. Những người lính canh vạm vỡ mặc đồng phục bằng vải ka-ki, nam cũng có mà nữ cũng có. Tất cả bọ họ đều giống nhau cả về tác phong lẫn vẻ mặt.
Màn hình theo dõi và camera bảo vệ được gắn nhan nhản khắp nơi. Khu biệt giam giống hệt một cái kén được chia thành mười ngăn nhỏ, cửa đóng then cài kín như bưng.
Estes dừng lại trước một cánh cửa bằng kim loại có một khung cửa sổ khá rộng.
- Chào mừng chị đã đến xà lim số 0 của chúng tôi, - ông ta nói.
Một anh lính gác to cao, đầu hói, đeo mặt nạ và mang súng bước lại gần chúng tôi.
- Weiscz đang hồi lại, thưa ngài trợ lý giám thị. Tôi nghĩ hắn ta cần có thêm thời gian để thư giãn.
Tôi tò mò nhìn sang Estes.
- Hồi lại á?
Estes khịt mũi.
- Thế chị cho rằng sau nhiều tháng bị giam trong xà lim này thì hắn ta rất vui khi được tiếp xúc với bên ngoài à? Không phải thế đâu, trung úy. Rồi chị sẽ thấy hắn ta nổi loạn và bất hợp tác như thế nào. Chúng tôi đã phải cử một đội đến để sửa soạn cho hắn gặp chị đấy.
Ông ta hất hàm về phía cửa sổ.
- Người mà chị muốn gặp kia kìa.
Tôi bước tới bên cánh cửa nặng chịch và trông thấy Weiscz, bị trói chặt vào ghế hắn đang ngồi bằng dây da, hai chân nằm gọn trong một cái cùm bằng sắt, tay bị trói quặt về phía sau khiến cho cơ thể đồ sộ, vạm vỡ của hắn gập cong lại. Mái tóc của hắn dài lởm chởm, rối bù và bết dính. Hắn có một chùm râu dê nhếch nhác trông thật ghê tởm. Hắn mặc một bộ áo liền quần màu cam ngắn tay, cổ mở để lộ những hình xăm gớm guốc khắp ngực và hai cánh tay.
Viên trợ lý giám thị nói thêm.
- Sẽ có một người lính canh vào đó với chị, và chị sẽ được theo dõi sát sao qua màn hình suốt thời gian chị ở trong đó. Nhưng phải nhớ luôn giữ khoảng cách với hắn. Đừng lại gần hơn năm bước chân. Chỉ cần hắn chĩa cằm về phía chị thôi là chúng tôi sẽ làm cho hắn tê liệt ngay.
- Hắn ta bị trói và xích thế kia rồi còn gì, - tôi thắc mắc.
- Tên khốn đó có thể ăn được cả xích đấy, - Estes thản nhiên. - Chị cứ tin tôi đi.
- Tôi có thể dùng một thứ gì đó để hứa hẹn với hắn không?
- Có đấy, - Estes cười khẩy. - Chị có thể hứa cho hắn một bữa ăn ngon. Chị đã sẵn sàng chưa?
Tôi ra hiệu cho Jacobi lúc này đang mở to hại mắt đầy cẩn trọng. Tim tôi dường như ngừng đập, giống hệt như lần đầu tiên tôi bắn trúng mục tiêu là một con bồ câu bằng đất sét trong giờ tập súng.
- Chúc chị may mắn, - Estes lẩm bẩm. Sau đó ông ta ra hiệu cho phòng điều khiển, và tôi nghe thấy một tiếng kẹt khe khẽ vang lên khi cánh cửa nén chặt khí được mở ra.
60
Tôi bước vào gian xà lim trắng đến độ ảm đạm và khắc nghiệt. Trong này hoàn toàn không có gì ngoại trừ một chiếc bàn sắt và bốn chiếc ghế được bắt vít chặt xuống sàn nhà cùng hai chiếc camera theo dõi được gắn trên cao. Trong một góc phòng, một người lính canh, môi mím chặt dữ tợn, đứng im phăng phắc với một khẩu súng đáng nể trong tay.
Weiscz vừa kịp nhận ra sự có mặt của tôi trong xà lim. Chân hắn bị kẹp chặt trong một cái cùm, còn hai cánh tay thì bị trói gập ra sau lưng ghế. Cặp mắt của hắn ánh lên vẻ lì lợm và hung bạo.
- Tôi là trung úy Lindsay Boxer, - tôi dừng lại cách hắn khoảng năm bước chân và nói.
Weiscz chẳng buồn trả lời, chỉ liếc xéo qua khe mắt ti hí và ném về phía tôi một cái nhìn dữ dội.
- Tôi cần nói chuyện với anh về những vụ giết người đang diễn ra ở San Francisco. Tôi không thể hứa hẹn gì nhiều, nhưng tôi hy vọng anh sẽ nghe tôi nói. Như vậy rất có lợi cho anh đấy.
- Lợi hại cái đếch gì, - hắn phun phì phì như một con rắn độc, cất giọng khàn khàn phản bác lại lời tôi.
Người lính canh tiến về phía hắn một bước, và tôi thấy Weiscz hơi sựng người lại như một đứa trẻ con bị vấp phải lời quở phạt của người lớn. Tôi giơ tay lên, ra hiệu ngăn người lính canh lại.
- Có thể anh biết một chút gì đó về mấy vụ này, - tôi tiếp tục, một cơn rùng mình kinh sợ chạy dọc theo sống lưng của tôi. - Tôi chỉ muốn anh giải thích cho tôi hiểu cái này có ý nghĩa gì mà thôi. Những vụ giết người...
Weiscz trợn mắt tò mò nhìn tôi, rõ ràng là đang cố gắng ước lượng xem hắn sẽ kiếm chác được gì từ vụ này.
- Ai bị giết thế? - Hắn hỏi.
- Bốn người cả thảy. Có hai người là cảnh sát, trong đó một là sếp của tôi. Một bà quả phụ và một đứa trẻ mười một tuổi. Tất cả đều là người da màu.
Một nụ cười thích thú thoáng lướt qua khuôn mặt của Weiscz.
- Nếu như cô không nhận ra, cô em cảnh sát ạ, thì tôi phải nhắc cho cô nhớ rằng chứng cớ ngoại phạm của tôi là hoàn toàn vững chắc.
- Tôi chỉ hy vọng anh biết một vài điều có liên quan đến mấy vụ này.
- Tại sao lại là tôi?
Tôi thò tay vào túi áo, lôi ra hai bức ảnh chụp hình Chimera mà tôi vừa cho Estes xem khi nãy và chìa về phía Weiscz.
- Tên giết người đã để cái này lại hiện trường. Tôi tin anh biết rõ ý nghĩa của nó.
Weiscz nhe răng cười nhăn nhở.
- Tôi không biết cô em đến đây làm gì, nhưng tin tức mà cô em vừa cung cấp đã khiến trái tim tôi ấm áp hẳn lên đấy.
- Kẻ sát nhân là người của nhóm Chimera, Weiscz ạ. Nếu anh chịu hợp tác, anh có thể sẽ được trả công bằng một vài ân huệ. Người ta có thể sẽ thả anh ra khỏi xà lim biệt giam này.
- Cả tôi lẫn cô em đều biết sẽ chẳng bao giờ chúng cho tôi ra khỏi cái hố hôi thối này đâu.
- Vẫn còn nhiều thứ khác kia mà, Weiscz. Ai mà lại không có nhu cầu.
- Nhu cầu của tôi là... - mãi sau hắn mới trả lời. - Cô em bước lại gần đây cái đã.
Người tôi lạnh cứng.
- Tôi không được phép đến gần anh.
- Vậy cô em có gương ở đó không?
Tôi gật đầu. Tôi luôn mang theo một chiếc gương trang điểm ở trong túi xách.
- Cho tôi mượn soi một lúc.
Tôi đưa mắt nhìn người lính canh. Anh ta lắc đầu dứt khoát.
Lần đầu tiên, Weiscz nhìn thẳng vào mắt tôi. - Nếu không, cô em cứ đứng đó mà soi cho tôi cũng được. Hơn một năm rồi, tôi chẳng biết mặt mũi của mình nom ra sao nữa. Ngay đến nước tắm ở đây cũng đục lờ lờ khiến tôi chẳng thể soi vào đó được. Lũ khốn kia muốn tôi quên mình là ai đấy mà.
Người lính canh bước lên phía trước.
-Anh biết điều đó là không được phép mà, Weiscz.
- Mày là thằng chó đẻ, Labont. - Weiscz trừng mắt nhìn người lính canh rồi ngửa mặt lên chiếc camera trên tường, hằn học. - Mày cũng vậy, Estes ạ. - Sau đó hắn quay trở lại phía tôi. - Bọn chúng chắc hẳn đã cử cô em đến đây mà chẳng cho nhiều thứ đế mặc cả đâu nhỉ?
- Họ bảo tôi có thể hứa cho anh một bữa ăn ngon, - tôi hơi mỉm cười.
- Chỉ tôi với cô em thôi chứ?
Tôi đưa mắt nhìn người lính canh.
- Cả anh ta nữa.
Chòm râu dê của Weiscz nứt ra thành một nụ cười.
- Lũ khốn kiếp, bọn chúng biết cách phá hủy mọi thứ.
Tôi đứng im, cảm thấy hết sức căng thẳng. Tôi không thể nào cười nổi. Tôi cũng không muốn để lộ ra dù chỉ một chút xíu lòng thương hại đối với gã tù nhân đang ngồi trước mặt tôi.
Tôi lẳng lặng ngồi xuống chiếc bàn đối diện với Weiscz rồi thò tay vào túi xách, lấy ra một hộp phấn. Toàn thân tôi căng ra, chờ đợi một tiếng nói có thể vang lên bất cứ lúc nào từ hệ thống liên lạc hoặc thời điểm người lính canh mặt lạnh như nước đá kia sẽ chạy lao ra và giằng nó khỏi tay tôi. Nhưng thật đáng ngạc nhiên, không có ai ngăn cản tôi cả. Tôi mở hộp phấn, nhìn Weiscz và quay chiếc gương về phía hắn.
Tôi không biết trước đây trông Weiscz thế nào, nhưng mặt mũi của hắn lúc này thật khủng khiếp. Hắn ta nhìn trừng trừng vào hình phản chiếu trong gương, mắt mở to, bắt đầu nhận ra vẻ khắc nghiệt hằn sâu trên khuôn mặt của hắn do bị giam hãm quá lâu trong khu biệt giam. Mắt hắn dán chặt vào gương như thể đây là lần cuối cùng trong kiếp này hắn được ngắm hình của mình. Rồi hắn nhìn sang tôi và nhe răng ra cười.
- Chẳng có gì nhiều để mà nhìn, phải không nhỉ?
Tôi không hiểu tại sao, nhưng tôi chợt nhận ra mình cũng đang cười với hắn.
Weiscz lại ngoái cổ về phía hai chiếc camera.
- Thằng chó Estes, - hắn gầm lên. - Mày thấy chưa, tao vẫn trụ vững đấy. Chúng mày muốn gây áp lực với tao, nhưng tao vẫn chẳng hề hấn gì. Cứ cho là tao sẽ chết, nhưng mọi việc vẫn sẽ ổn mà không cần đến tao. Chimera vẫn còn khối người kế nghiệp... Vinh quang thay những con người sẵn sàng làm mọi chuyện để dẹp lũ mọi hèn hạ vào một xó.
- Ai có thể gây ra những vụ này? - Tôi thúc giục. - Hãy nói cho tôi biết, Weiscz. - Hắn biết, tôi dám khẳng định là hắn biết. Một kẻ nào đó đã từng ở chung xà lim với hắn. Một kẻ nào đó đã từng cùng hắn ngồi tù.
- Hãy giúp tôi đi Weiscz! Có kẻ đang giết người ngoài kia. Anh chẳng còn gì để mà mặc cả nữa đâu.
Cặp mắt của gã tù nhân bất chợt sáng lên trong một trạng thái vui sướng cuồng nhiệt.
- Cô em nghĩ tôi sẽ ỉa cho lũ mọi đen đã chết của cô em một bãi hay sao? Lũ cớm đen của cô em đó? Chẳng bao lâu nữa, người ta sẽ gom tất cả bọn chúng lại và nhốt vào chuồng lợn. Mấy con điếm da đen bẩn thỉu, mấy con khỉ mặc quần áo cảnh sát... Mà này, có khi một trong đám cảnh sát các người tỉnh ngộ rồi cũng nên. Nhưng cả tôi lẫn cô em đều biết, dù tôi có nói cho cô em bất cứ chuyện gì đi chăng nữa thì tôi cũng chẳng bao giờ có được cái bữa ăn ngon mà mấy thằng khốn ngoài kia đã hứa hẹn đâu. Ngay sau khi cô em đi khỏi là Labont sẽ đánh cho tôi bất tỉnh nhân sự, vì vậy tốt hơn hết là cô em hãy tranh thủ lúc này để chúng ta vui vẻ...
Tôi ngao ngán lắc đầu, đứng dậy và dợm bước ra cửa.
- Cứ coi như đó là một nghề kiếm tiền trong đây đi, - hắn cười ré lên, gọi với theo tôi. - Được lắm đấy!
Người tôi run bắn lên vì phẫn nộ. Kẻ này đúng là một con vật, ở hắn tôi chẳng thấy còn chút nhân tính nào. Tất cả những gì mà tôi muốn làm bây giờ là đập cánh cửa vào giữa mặt hắn.
- Tôi đã cho anh một cơ hội rồi đấy, dù chỉ rất nhỏ.
- Thế cô em tưởng là tôi không đáp lại lòng tốt của cô em à? Tôi cũng đã cho cô em một cơ hội, nhưng tốt hơn hết là đừng có nghĩ tới việc tóm cổ Chimera làm gì cho mất công. Chúng mày sẽ chẳng bao giờ bắt được hắn đâu mà... - Weiscz cúi gập cằm xuống ngực, ý muốn chỉ cho tôi thấy hình xăm trên vai của hắn. Nhưng trên đó, chỉ có một cái đuôi rắn lộ ra. - Bọn tao có thể chịu đựng được bất cứ trò gì mà lũ cớm chúng mày có thể nghĩ ra. Nhìn tao đây, con mụ cảnh sát chết tiệt kia... Cứ tưởng tống được tao vào đây là có thể bắt tao ăn cứt. Đừng hòng nhé! - Đột nhiên, người hắn giãy lên đành đạch. Hắn thét to đến lạc cả giọng. - Chiến thắng cuối cùng sẽ thuộc về chúng tao. Ân huệ của Chúa chỉ dành cho người da trắng. Chimera sẽ sống mãi...
Tôi quay lưng, vội vã bước ra ngoài trong khi Weiscz vẫn bướng bỉnh la hét.
- Thế còn bữa ăn ngon thì sao, hả đồ chó đẻ?
Khi tôi ra tới cửa, tôi nghe có tiếng rít đáng sợ của một cây gậy vung mạnh vào không khí. Tôi ngoái lại phía sau, chỉ kịp nhìn thấy người lính canh vụt chiếc roi điện một nghìn oát vào cơ thể đang co giật của Weiscz một cái thật mạnh.
61
Chúng tôi trở về thành phố với một vài cái tên nhờ sự giúp đỡ nhiệt tình của Estes. Những tù nhân mới được phóng thích bị nghi là thành viên của hội Chimera. Về đến tòa, Jacobi chia đều bản danh sách đó cho Cappy và Chin.
- Tôi sẽ bắt đầu tìm từ bưu điện, - anh ta bảo tôi. - Chị có muốn đi cùng tôi không, chị Lindsay?
Tôi nhìn anh ta, lắc đầu.
- Hôm nay tôi phải về sớm, Warren ạ.
- Chuyện gì thế? Chị đừng nói với tôi là chị có hẹn đấy nhé!
- Đúng là tôi có hẹn, - Tôi gật đầu, không nén nổi một nụ cười rạng rỡ làm sáng bừng cả khuôn mặt.
Chuông dưới gác vang lên báo hiệu đã bảy giờ tối.
Khi tôi ra mở cửa, tôi thấy cha tôi đang đeo một cái mặt nạ chơi bóng chày. Tay ông dang ra trong một tư thế phòng thủ.
- Bạn bè nhé? - Ông nhoẻn miệng cười bẽn lẽn và hỏi tôi.
- Một bữa tối... - Tôi cảm thấy hơi bực. - Đó là tất cả những gì con có thể làm lúc này.
- Một sự bắt đầu mới, - ông nói và bước hẳn vào trong. Hôm nay, ông mặc một chiếc áo khoác ngắn màu nâu, quần bó và một chiếc sơ-mi trắng cổ mở. Ông đưa cho tôi một chai rượu vang đỏ bọc trong tờ giấy.
- Ôi cha, cha không phải làm thế đâu mà, - tôi lúng túng đỡ lấy chai rượu và xé bỏ tờ giấy gói. Nhìn vào nhãn chai, tôi hết sức bất ngờ. Đó là một chai Bordeaux, Chateau Latour, năm 1965.
Tôi thảng thốt ngước nhìn ông, 1965 là năm tôi chào đời.
- Cha đã mua nó vào năm mẹ con sinh con. Đó là thứ duy nhất mà cha mang theo mình khi cha rời bỏ gia đình. Cha luôn hình dung ra chúng ta sẽ uống nó vào một ngày trọng đại trong đời con, ngày nhận bằng tốt nghiệp hoặc ngày cưới gì đó.
- Cha đã giữ nó suốt chừng ấy năm trời sao? - Tôi ngẩn ngơ lắc đầu.
Cha tôi nhún vai.
- Như cha đã nói, cha mua nó cho con mà. Với lại, Lindsay ạ, cha thấy chẳng còn dịp nào có ý nghĩa hơn buổi tối hôm nay cả.
Một cảm giác ấm áp dậy lên trong lòng tôi.
- Cha khiến con thật khó có thể ghét bỏ cha được.
- Con đừng ghét bỏ cha nhé, Lindsay. - Ông liệng chiếc mặt nạ về phía tôi. - Cái này không còn thích hợp. Cha muốn sẽ không bao giờ phải dùng đến nó nữa.
Tôi dẫn cha vào trong phòng khách, rót bia cho ông uống và ngồi xuống ghế. Tôi đang mặc một chiếc áo len dài tay hiệu Eileen Fisher màu rượu nho, tóc buộc túm đuôi ngựa. Cha tôi nhìn tôi bằng ánh mắt lấp lánh.
- Trông con thật lộng lẫy quá, Hoa Vàng, - cha tôi nói.
Tôi cau mày, và ông lập tức nhoẻn cười chữa lại.
- Cha quên mất, cha quên là con không muốn bị gọi bằng cái tên đó nữa.
Chúng tôi ngồi nói chuyện vãn một lúc lâu sau đó. Martha nằm im bên cạnh cha tôi như thể ông là bạn cũ của nó vậy. Chúng tôi chỉ nói những câu chuyện vô thưởng vô phạt, những chuyện mà chúng tôi đã biết, về những người bạn đồng niên của ông hiện còn làm việc trong ngành cảnh sát, về Cat và đứa con gái nó mới sinh mà cha tôi chưa biết mặt. Dần dà, chúng tôi nói vòng vo sang chuyện của cảnh sát trưởng Mercer.
Thật ngạc nhiên, càng nói chuyện với người cha lâu năm mới gặp lại, tôi lại càng có cảm giác rằng ông thật khác xa với những gì mà tôi vẫn hình dung trong suốt mấy chục năm qua. Không ba hoa, không khoe khoang khoác lác và lắm chuyện như tôi còn nhớ, ông tỏ ra hết sức khiêm tốn và dè dặt. Gần như ăn năn hối hận. Điều duy nhất mà ông còn giữ là cách nói chuyện dí dỏm, hài hước.
- Con có cái này cho cha xem, - tôi bảo ông rồi đi vào
phòng ngủ, mở tủ quần áo rồi quay trở ra với một chiếc áo thể thao bằng sa-tanh hiệu Giants, mặc để chơi bóng chày mà ông đã cho tôi hơn hai mươi năm về trước. Trên ngực áo phía trước có thêu số 24 và tên đội Tháng Năm.
Mắt cha tôi sáng bừng lên vì ngạc nhiên.
- Cha gần như đã quên nó rồi đấy. Cha đã chơi cho đội này vào năm 1968. - Ông giơ nó ra trước mắt và ngắm nghía hồi lâu như thể vật kỷ niệm cũ đã làm ký ức về một quá khứ sôi động trong ông chợt sống dậy. - Con có cho rằng vật này thật đáng giá trong ngày hôm nay không hả?
- Con luôn gọi nó là tài sản thừa kế của con. - Tôi mỉm cười nhìn ông.
62
Tôi đã chuẩn bị sẵn món cá hồi nướng với nước sốt gừng, khoai tây rán rắc hạt tiêu, tỏi tây và đậu. Tôi vẫn nhớ cha tôi rất thích các món ăn Trung Quốc. Chúng tôi mở nút chai Latour năm 1965. Vị của nó thật tuyệt vời, mềm mại và thơm phức với màu sắc lóng lánh như đá quý. Chúng tôi ngồi trong góc hóng mát, ngắm nhìn khung cảnh của vịnh. Cha tôi bảo đó là thứ rượu ngon nhất từ trước tới giờ mà ông từng được uống.
Cuộc trò chuyện của chúng tôi dần hướng tới những vấn đề riêng tư hơn. Cha tôi hỏi về người chồng cũ của tôi và tôi đã phải thừa nhận rằng thật không may anh ấy rất giống ông ở nhiều điểm. Ông hỏi tôi có ghét bỏ ông không, và tôi đã trả lời hết sức thành thực là có.
- Con đã rất ghét cha, cha ạ.
Dần dà, chúng tôi thậm chí nói sang cả chuyện phá án. Tôi kể cho ông nghe mọi chi tiết về vụ mà tôi đang theo đuổi và thú thực với ông rằng đó là một vụ hóc búa và tôi đang bị bế tắc. Tôi biết chắc cả bốn vụ giết người kia đều nằm trong kế hoạch gây án của một tên sát thủ, nhưng tôi lại chẳng có gì để chứng minh được điều ấy.
Chúng tôi đã nói chuyện suốt ba giờ đồng hồ, cho tới hơn mười một giờ đêm, khi chai rượu vang đã cạn sạch và Martha đã ngủ thiếp dưới chân cha tôi. Chốc chốc, tôi lại phải tự nhắc nhở rằng tôi đang nói chuyện với cha đẻ của mình. Rằng đây là lần đầu tiên tôi ngồi gần ông đến thế kể từ khi tôi lớn. Một cách từ từ, tôi bắt đầu nhận thức được cha tôi đã phải dằn vặt rất nhiều về những tội lỗi mà ông đã gây ra. Ông không còn đáng bị tôi khinh thường hay ghét bỏ nữa. Ông không phải là một kẻ giết người. Ông không phải là Chimera. Với những gì mà tôi đang phải đương đầu lúc này thì tội lỗi của cha tôi là có thể tha thứ được.
Cuối cùng, tôi không thể kìm nén câu hỏi mà tôi đã muốn đưa ra trong suốt mấy chục năm trồi.
- Con rất muốn biết, tại sao cha lại bỏ nhà ra đi?
Ông nuốt ngụm rượu vang trong miệng một cách khó khăn rồi ngả người ra đi-văng. Cặp mắt xanh của ông trở nên buồn bã.
- Bây giờ cha có nói thế nào đi chăng nữa thì cũng chẳng có nghĩa lý gì với con cả... Con đã là một phụ nữ trưởng thành. Con đã gia nhập lực lượng cảnh sát. Con biết mọi việc thường diễn ra như thế nào mà. Mẹ con và cha... hai vợ chồng không hợp nhau lắm. Cha đã tiêu xài phung phí, nợ nần chồng chất, thậm chí sẵn sàng ngửa tay vay tiền của bất kỳ ai trên phố. Đối với một người cảnh sát, như vậy thật không đàng hoàng chút nào. Cha đã làm nhiều chuyện đáng hổ thẹn... với tư cách là một cảnh sát và cả tư cách của một người đàn ông trong gia đình.
Tôi trông thấy tay ông run bắn.
- Chắc con cũng biết đôi khi người ta thường phạm tội một cách hết sức đơn giản chỉ vì họ bị rơi vào hết tình huống xấu này đến tình huống xấu khác mà không thể có cách lựa chọn nào khác? Đó cũng chính là trường hợp của cha. Mắc nợ, công việc không được suôn sẻ... Cha không còn biết làm gì khác ngoài việc bỏ nhà ra đi. Cha biết bây giờ mới nói là quá muộn, nhưng cha đã phải sống trong dằn vặt hàng ngày kể từ khi rời bỏ ba mẹ con.
- Thế khi mẹ con ốm...?
- Cha đã rất buồn khi biết tin mẹ con bị ốm. Nhưng khi ấy cha đã có gia đình mới, cuộc sống mới. Và cha nghĩ rằng cha không được chào đón nếu quay trở về. Cha có thể làm đau lòng mẹ con hơn là giúp đỡ gì được cho bà ấy.
- Con thấy mẹ luôn miệng nói rằng cha là một kẻ nói dối bệnh hoạn.
- Đó là sự thật, Lindsay ạ, - cha tôi trả lời. Tôi thấy thích cái cách ông chấp nhận sự thật trần trụi đó. Nói một cách thật lòng, tôi bắt đầu thấy quý mến cha tôi.
Tôi đứng dậy, thu dọn bát đĩa và mang bỏ vào chậu rửa trong bếp. Ruột gan tôi cồn cào. Tôi muốn bật khóc thật to. Cha tôi cuối cùng cũng đã trở về và tôi bắt đầu nhận thấy tôi đã nhớ ông ghê gớm. Chuyện này nghe mới khó tin làm sao!
Cha tôi giúp tôi rửa bát đĩa. Tôi xả nước còn ông thì úp chúng vào tủ. Chúng tôi hầu như không nói một lời nào với nhau. Khắp người tôi rộn rã một niềm vui thật khó tả.
Khi bát đĩa đã được rửa xong hết, chúng tôi quay lại, ánh mắt của chúng tôi gặp nhau.
- Thế mấy hôm nay cha ở đâu? - Tôi hỏi.
- Cha ở với một người bạn cũ, tên là Ron Fazio. Ông ấy đã từng là đồng nghiệp của cha trong đội cảnh sát tuần tra ở Đại lộ Sunset. Ông ấy cho cha mượn một chiếc đi-văng nhỏ.
Tôi quay lại rửa nốt nồi nấu mì.
- Ở đây con cũng có đi-văng đấy, - tôi bảo ông.
63
Cả ngày hôm sau, chúng tôi bò nhoài trên bản danh sách do trợ lý giám thị Estes và người của ông ta cung cấp. Hai người bị chúng tôi gạch tên ngay lập tức. Kiểm tra trên máy vi tính cho thấy họ đã bị bắt trở lại trong một nhà tù ở California.
Bất chợt, một câu nói nào đó của Weiscz khiến tôi băn khoăn ghê gớm, nhưng tôi không nhớ rõ hắn đã nói gì.
- Tôi đã cho anh một cơ hội, - tôi đã nói như vậy với hắn trong lúc gã tù nhân đang lải nhải như bị mê sảng về tính ưu việt của người da trắng.
- Thế cô em tưởng là tôi không đáp lại lòng tốt của cô em à? Tôi cũng đã cho cô em một cơ hội, - hắn đã trả lời tôi. Những từ này của hắn cứ vo ve bên tai tôi suốt cả ngày hôm đó. Lần đầu tiên chúng lóe lên trong óc tôi là vào hai giờ sáng, nhưng lúc đó tôi lại chìm luôn vào một giấc ngủ mê mệt. Chúng xuất hiện trở lại lúc tôi lái xe tới cơ quan và bây giờ vẫn cứ quanh quẩn với tôi.
Tôi cũng đã cho cô em một cơ hội...
Tôi bỏ chân ra khỏi đôi giày đế mềm và nhìn chăm chăm ra ngoài cửa sổ xuống đoạn dốc dành cho ô tô, cố gắng hình dung lại từng chi tiết trong cuộc đọ sức giữa tôi với hắn.
Hắn là một con vật không còn cơ hội được nhìn thấy ánh sáng ban ngày. Vậy mà, không hiểu sao tôi vẫn có cảm giác là đã có một bản giao kèo nảy sinh giữa tôi với hắn. Tất cả những gì hắn muốn trong gian xà lim kín như bưng đó chỉ là được nhìn thấy khuôn mặt của chính hắn. Tôi cũng đã cho cô em một cơ hội.
Hắn đã cho tôi cơ hội gì thế nhỉ?
- Cô em nghĩ tôi sẽ ỉa cho lũ mọi đen đã chết của cô em một bãi hay sao? - Hắn đã tỏ ra hết sức kích động. - Chimera sẽ sống mãi, - hắn đã thét đến lạc cả giọng khi người ta nhốt hắn trở lại xà lim biệt giam...
Và rồi, hết sức từ từ, trí óc tôi dần sắp xếp lại được toàn bộ cuộc đốt thoại.
- Mà này, có khi một trong đám cảnh sát các người tỉnh ngộ rồi cũng nên.
Tôi không biết chắc liệu tôi đã hiểu ngọn ngành ý nghĩa câu nói của Weiscz hay chưa? Liệu có phải hắn đã thực sự ám chỉ tới một điều gì đó mà hắn không bao giờ có trách nhiệm phải giải thích?
Một trong đám cảnh sát các người...
Tôi nhấc máy gọi cho Estes ở Vịnh Bồ Nông.
- Ở chỗ ông đã bao giờ có một tù nhân từng là cảnh sát không? - Tôi hỏi.
- Một cảnh sát...? - Viên trợ lý giám thị lưỡng lự.
- Đúng vậy, - tôi giải thích luôn lý do tại sao tôi muốn biết điều đó.
- Xin thứ lỗi cho tôi, cô bạn trẻ xinh đẹp, - Estes cáu kỉnh đáp lại, - nhưng rõ ràng là Weiscz chỉ muốn giỡn với cô thôi mà. Tên khốn đó ghét cảnh sát lắm.
- Ông vẫn chưa trả lời câu hỏi của tôi, thưa ông.
- Một cảnh sát à...? - Tôi nghe tiếng Estes thở phì phò, vẻ giễu cợt lộ rõ trong giọng nói của ông ta. - ở đây đã từng có một điều tra viên tội phạm ma túy ở Los Angeles, tên là Bellacora. Lỡ bắn chết ba trong số những người cung cấp tin tức. Nhưng anh ta đã bị chuyển đi rồi, và theo tôi biết thì anh ta vẫn bị giam ở Fresno. - Tôi nhớ đã đọc được trường hợp của Bellacora. Đó là vụ bê bối lớn nhất mà ngành cảnh sát từng dính líu tới.
- Chúng tôi còn có một tù nhân cảnh sát khác tên là Benes, người đã từng bảo kê cho một nhóm buôn bán chất kích thích ở sân bay San Diego.
- Còn ai nữa không?
- Không, trong sáu năm tôi ở đây, chỉ có hai người đó.
- Thế còn trước đó thì sao, hả ông Estes?
Viên giám thị gầm gừ vẻ sốt ruột lắm.
- Nhưng cô muốn biết trước đó bao xa, hả cô trung úy?
- Thế Weiscz ở đó được bao lâu rồi?
- Mười hai năm.
- Vậy tôi muốn biết xa tới chừng ấy.
Chắc chắn là viên trợ lý giám thị đang nghĩ tôi bị điên. Ông ta bảo tôi chờ ông ta tìm hiểu xong sẽ gọi lại rồi đặt bụp ống nói xuống.
Tôi cũng đặt điện thoại. Việc này nghe thật không tưởng - nhưng tôi lại tin vào lời mà Weiscz đã nói. Hắn ghét cảnh sát. Tôi là một cảnh sát. Hắn rõ ràng ghét cả đàn bà nữa.
Bất chợt, Karen, thư ký của tôi chạy bổ vào phòng. Trông cô ta thất sắc.
- Trợ lý của cô Jill Bernhardt vừa gọi điện xuống. Cô Bernhardt đang bị đột quỵ.
- Bị đột quỵ...?
Karen gật đầu lia lịa.
- Cô ấy đang chảy máu. Trên gác. Cô ấy cần chị lên luôn, ngay bây giờ.
64
Tôi lao dọc hành lang vào trong thang máy và sau đó từ thang máy lại lao thẳng tới phòng làm việc của Jill.
Tôi thấy Jill đang nằm ngửa trên đi-văng.
Một đội nhân viên pháp y của sở cảnh sát đã ở đó. Có rất nhiều khăn bông, những chiếc khăn bông sũng máu, kê ở phía dưới chiếc váy màu xanh của Jill. Khuôn mặt cô bơ phờ và tái xám. Tôi lập tức hiểu ngay chuyện gì đang xảy ra.
- Ôi, Jill, - tôi kêu lên, quỳ xuống bên cô. - Ôi bạn thân mến, tớ lên đây rồi này.
Nhìn thấy tôi, cô nhoẻn miệng cười, nhưng yếu ớt, thận trọng và sợ sệt. Cặp mắt thường ngày xanh biếc và lấp lánh sáng, giờ mờ xỉn hẳn đi.
- Tớ mất nó rồi, Lindsay ạ, - Jill thều thào. - Lẽ ra tớ phải nghỉ việc, vậy mà tớ đã không làm thế. Tớ đã không nghe lời bác sĩ, không nghe lời các cậu nói. Tớ đã tưởng tớ muốn đứa trẻ này hơn bất cứ thứ gì khác trên đời, nhưng hình như không phải như vậy. Tớ đã để mất nó rồi.
- Ôi Jill, - tôi siết chặt tay cô. - Không phải lỗi do cậu. Cậu đừng nói vậy. Vấn đề ở đây là sức khỏe của cậu. Mà việc mang thai lại có rất nhiều rủi ro.
- Do tớ, Lindsay ạ. - Cặp mắt của Jill bất chợt dâng đầy nước mắt. - Tớ cho là tớ đã không thật sự muốn có nó.
Một nữ nhân viên y tế trong đội pháp y đề nghị tôi đứng tránh sang một bên, sau đó cô ta đeo vào người Jill một đoạn dây và một màn hình nhỏ xíu. Tim tôi thắt lại. Bạn của tôi luôn là một phụ nữ mạnh mẽ và độc lập. Nhưng bây giờ cô ấy biến đổi hoàn toàn. Cô ấy đã rất mong mỏi có được một đứa con. Cô ấy không đáng bị như thế này chút nào.
- Steve đâu, Jill? - Tôi cúi xuống người cô.
Cô cố hít một hơi thật sâu.
- Đi Denver rồi. April đã gọi điện cho anh ấy, và anh ấy đang trên đường trở về.
Bất chợt, Claire từ ngoài cửa nhảy bổ vào giữa phòng.
- Nghe được tin là chị lên đây ngay, - chị giải thích rồi liếc nhìn tôi, vẻ hết sức lo ngại. Sau đó chị hỏi nhân viên y tế.
- Bị sao thế em?
Người nhân viên y tế nói rằng sự sống của Jill thì đã ổn định, nhưng cô ấy bị mất rất nhiều máu. Khi Claire đề cập tới đứa bé thì nhân viên y tế lắc đầu thất vọng.
- Ôi, em thân yêu, - Claire quỳ thụp xuống, nắm chặt tay Jill. - Em cảm thấy thế nào rồi, em gái?
Nước mắt lăn dài trên má Jill.
- Chị Claire ơi, em để mất đứa con của em rồi.
Claire đưa tay vuốt gọn mấy lọn tóc ướt sũng mồ hôi trên trán Jill.
- Em sẽ ổn thôi mà. Em đừng lo! Mọi người sẽ chăm sóc em chu đáo.
- Chúng tôi phải đưa chị ấy đi ngay bây giờ, - nhân viên y tế nói. - Bác sĩ riêng của chị ấy vừa gọi điện thoại tới, bà ta đang đợi ở bệnh viện Cal Pacific.
- Bọn tớ sẽ đi cùng cậu tới đó, - tôi nói.
Jill cố gắng mỉm cười, nhưng trông hết sức căng thẳng.
- Họ sẽ phải nạo thai, đúng không?
- Chị không nghĩ vậy, - Claire đáp.
- Em biết họ sẽ làm thế mà. - Jill lắc đầu. Cô ấy là người phụ nữ cứng rắn nhất mà tôi từng biết, vậy mà lúc này đây sự thật kinh hoàng khiến đôi mắt cô ấy hiện lên một điều gì đó mà tôi sẽ phải nhớ trong suốt quãng đời còn lại của mình.
Cửa bật mở, và một nhân viên y tế khác đẩy một chiếc cáng có bánh xe vào.
- Nào chúng ta đi thôi, - nhân viên y tế thứ nhất nói.
Tôi cúi xuống sát gần Jill.
- Chúng tớ sẽ luôn ở bên cậu, - tôi nói
- Đừng bỏ rơi tớ nhé, - cô ấy nắm chặt tay tôi, năn nỉ.
- Cậu tưởng cậu có thể bỏ rơi chúng tớ dễ thế hay sao?
- Chúng ta là những cô gái của Đội Homicide mà, phải không nhỉ? - Jili lẩm bẩm trong một nụ cười căng thẳng.
Họ nhẹ nhàng đặt Jill lên chiếc cáng. Claire và tôi cũng xúm vào giúp một tay. Một chiếc khăn đẫm máu rơi nhẹ xuống sàn căn phòng làm việc sạch sẽ của Jill.
- Nó là con trai, - Jill thì thầm, thốt ra một tiếng kêu đau đớn. - Tớ muốn có một đứa con trai.
Tôi đặt tay Jill gọn vào trong lòng.
- Nhưng tớ đã không biết giữ gìn, - Jill buồn rầu, mãi đến lúc này cô ấy mới bắt đầu khóc thổn thức và không thể dừng lại được.
65
Chúng tôi chui vào đằng sau chiếc xe cứu thương chở Jill đến bệnh viện, sau đó xuống xe và chạy dọc hành lang trong lúc người ta đẩy cáng của Jill đi lên khoa sản. Ớ đó, chúng tôi căng thẳng chờ đợi trong khi các bác sĩ của cô ấy gắng sức giữ lại đứa bé.
Khi người ta đưa Jill sang phòng hậu phẫu, cô ấy nắm chặt lấy tay tôi.
- Họ dường như lúc nào cũng chiến thắng, - cô ấy lẩm bẩm. - Chẳng cần biết cậu đã bỏ tù được bao nhiêu gã đểu cáng, họ luôn tìm cách để chiến thắng.
Cindy chạy lao vào phòng, cả ba chúng tôi xúm xít quanh Jill. Hai giờ đồng hồ sau, chồng của Jill, Steve, cũng vội vã đi vào. Chúng tôi bắt tay nhau lúng túng, ngượng ngập, một phần trong tôi muốn hét thẳng vào mặt anh ta, chẳng lẽ anh không nhận ra được đứa trẻ ấy là con của anh hay sao? Khi bác sĩ xuất hiện, chúng tôi gật đầu ra hiệu cho nhau rút lui, bỏ mặc hai người bọn họ ở lại.
Sức khỏe của Jill đã ổn. Cô ấy đã mất đứa bé. Họ gọi đó là một ca nhau thai đứt gãy, hậu quả của sự căng thẳng trong công việc. Tin tốt lành duy nhất là bào thai đã tự trôi ra, và người ta không phải nạo thai cho Jill.
Yên tâm phần nào, Claire, Cindy và tôi nối đuôi nhau rời khỏi bệnh viện bước ra phố California. Không có ai muốn về nhà ngay cả. Gần đó lại có một nhà hàng ăn Nhật Bản mà Cindy biết rất rõ. Chúng tôi rủ nhau tới đó, ngồi quanh một cái bàn, uống bia và rượu sa-kê.
Thật khó có thể chấp nhận nổi sự thật rằng Jill, người đã làm việc không biết mệt mỏi tại văn phòng, người đã từng trèo lên đỉnh Moab và đạp xe vượt qua địa hình gồ ghề ở Sedona, lại hai lần để mất con.
- Cô bé tội nghiệp ấy đã quá khắt khe với bản thân mình, - Claire thở dài, ôm lấy cốc rượu sa-kê để sưởi ấm hai bàn tay lạnh cóng. - Chúng mình đã nhắc nhở cô ấy nhiều lần...
- Jill không chịu nghe lời, - Cindy gật đầu.
Tôi cầm một cái bánh cuộn kiểu California và lật qua lật lại nó trong bát nước sốt.
- Cô ấy muốn làm Steve vừa lòng. Chẳng lẽ mọi người không nhận ra điều đó trên khuôn mặt của cô ấy hay sao? Cô ấy đã cố bám theo một kế hoạch làm việc mà một người bình thường không thể kham nổi trong khi chồng cô ấy cứ chạy khắp đất nước hòng thuyết phục các nhà đầu tư.
- Cô ấy yêu chồng, - Cindy phản đối. - Họ rất hợp nhau.
- Họ không hề hợp nhau chút nào, Cindy ạ. Claire và Edmund mới gọi là hợp nhau. Hai vợ chồng chị ấy làm gì cũng ăn ý.
- Đúng vậy, - Claire tán thành. - Jill luôn muốn dẫn đầu. Cô ấy không muốn mình bị thất bại.
- Thế thì... chúng ta có điểm gì khác nhau nào? - Cindy hỏi, đưa mắt nhìn quanh. Chờ đợi.
Khoảnh khắc im lặng kéo dài. Những cái nhìn trân trối của chúng tôi gặp nhau cùng với những nụ cười ân hận.
- Nghĩ sâu xa hơn, - tôi nói, - Jill khác chúng ta rất nhiều. Bề ngoài trông cô ấy rất cứng rắn, nhưng trái tim thì lại mềm yếu và đơn độc. Bất cứ ai trong số chúng ta đều có thể rơi vào hoàn cảnh như của cô ấy lúc này. Chúng ta không phải là không thể bị đánh bại. Trừ chị, chị Claire ạ, chị biết cách giữ gìn cho mọi việc suôn sẻ. Chị, Edmund và những đứa con, tất cả đều giống một con thỏ chạy pin, liên tục... liên tục... và liên tục...
Claire mỉm cười.
- Trên đời cũng phải có người thế này, người thế khác. Như vậy mới là cân bằng. Thế tối qua em có gặp cha em không?
Tôi gật đầu.
- Cuộc gặp gỡ khá thú vị, chị ạ. Em và cha em đã nói chuyện rất lâu, nói thẳng thắn, tất cả,
- Không xảy ra xô xát chứ? - Cindy tinh nghịch hỏi lại.
- Không hề, - tôi mỉm cười. - Khi tớ mở cửa, tớ thấy cha tớ đang đeo một cái mặt nạ chơi bóng chày. Tớ nói nghiêm túc đấy.
Cả Cindy và Claire cùng phá lên cười rất to.
- Ông ấy mang tới cho tớ một chai rượu vang. Loại Fancy French hảo hạng. Năm 1965. Ông ấy đã mua nó vào năm tớ chào đời và giữ suốt chừng ấy năm trời. Hai người nghĩ sao nào? Ông ấy thậm chí còn không biết có gặp lại tớ nữa hay không.
- Ông ấy biết chắc sẽ gặp lại em, - Claire tươi cười nói. Chị nhấm nháp một ngụm rượu sa-kê. - Em là cô con gái điệu của ông ấy cơ mà. Cha nào mà lại không thương con.
- Hai người chia tay nhau thế nào, hả Lindsay? - Cindy hỏi tiếp.
- Ý cậu muốn hỏi là tớ với cha tớ có hẹn gặp lại nhau hay không chứ gì? Sự thực là tớ đã mời ông ấy ở lại chỗ tớ một thời gian.
Cindy và Claire cùng chớp mắt.
- Chúng tớ chỉ bảo cậu nên khoan dung và gặp lại cha cậu thôi, Lindsay ạ, - Cindy khịt mũi. - Chứ chúng tớ có bảo cậu mời ông ấy ở lại đâu.
- Tớ biết nói với cậu thế nào bây giờ nhỉ? Cha tớ đang phải ở nhờ nhà của một người bạn cũ, ngủ trên đi-văng ở ngoài. Tớ còn biết làm gì khác nào?
- Đúng vậy, em thân mến ạ, - Claire mỉm cười. - Ly rượu này dành cho em.
- Ồ không, - tôi lắc đầu. - Giành cho Jill chứ.
- Ừ, dành cho Jill, - Cindy nói và giơ cao cốc bia của mình.
Chúng tôi cùng nhau cụng ly, sau đó im lặng mất một vài phút.
- Tớ không muốn thay đổi chủ đề đâu nhé, - Cindy rào trước đón sau, - nhưng cậu có gì muốn chia sẻ với chúng tớ về chuyện vụ án hay không?
Tôi gật đầu.
- Chúng tớ đang dò tìm tên của Chimera trong bản danh sách mà trợ lý giám thị Estes cung cấp. Nhưng hôm nay tớ lại nảy ra ý định thay đổi phương pháp.
- Một phương pháp mới à? - Cindy khẽ chớp mắt.
Tôi gật đầu.
- Cậu nghe này, gã kia bắn súng rất giỏi, có vẻ được đào tạo bài bản. Hắn chẳng để xảy ra sơ suất nào. Hắn luôn đi trước chúng ta một bước. Hắn biết rõ cách làm việc của cảnh sát chúng ta.
Cindy và Claire chăm chú lắng nghe. Không nói một lời. Tôi kể lại những lời Weiscz đã nói. Một trong đám cảnh sát các người...
- Chuyện gì sẽ xảy ra nếu Chimera không hề bị điên, không phải là một kẻ giết người phân biệt chủng tộc thuộc một trong những nhóm cực đoan quá khích? - Chuyện gì sẽ xảy ra nếu hắn là một cảnh sát?
66
Trong bóng tôi của một quán bar, Chimera đang ngồi nhấm nháp cốc Guinness của hắn. Ngon nhất trong những thứ đồ uống ngon nhất, hắn nghĩ thầm.
Ngay cạnh hắn, một người đàn ông tóc bạch kim có khuôn mặt thô ráp, đỏ ửng đầy vết bẩn đang nghếch mặt xem bản tin trên ti-vi. Một phóng viên truyền hình đang thuật lại một cách tẻ nhạt những tình tiết được cho là mới nhất trong vụ Chimera, đưa tin sai bét khiến hắn cảm thấy bị xúc phạm.
Cặp mắt của hắn săm soi con phố vắng bên ngoài khung cửa sổ mở rộng của quán bar. Hắn đang theo dõi nạn nhân tiếp theo của hắn. Con mồi này mới thực sự khiến hắn thích thú. Lũ cớm vô tích sự thì cứ mải lần theo những đầu mối sai lầm. Vụ giết người lần này của hắn sẽ khiến bọn chúng thật sự gục ngã.
- Mọi chuyện vẫn chưa qua đâu, - hắn lẩm bẩm trong hơi thở. Và đừng bao giờ cho rằng có thể đoán trước được những hành động của ta.
Lão già nát rượu bên cạnh chợt huých khuỷu tay vào người hắn.
- Tôi thì tôi cho rằng kẻ sát nhân là một người trong số bọn họ, - lão nói.
- Một người trong số bọn họ á? - Chimera hỏi lớn - Nhìn cái khuỷu tay của ông kìa. Ông đang nói chuyện quái gì thế hả?
- Thì rõ như ban ngày rồi còn gì, - lão già cười khẩy. - Bọn họ đang lùng sục những nhóm quá khích. Ha, buồn cười thật đấy! Thật chẳng khác nào tìm tuyết giữa sa mạc. Này Ray, - ông ta gọi người phục vụ quầy rượu. - Anh có thấy thế không?
- Điều gì đã khiến ông nghĩ như vậy? - Chimera hỏi tiếp, vẫn không quên quét ánh mắt dọc theo dãy phố Hắn nóng lòng muốn biết dân chúng đang nghĩ gì về vụ này. Có lẽ hắn phải chịu khó hỏi chuyện những người ngoài phố như lão già nát rượu này cũng nên.
- Anh nghĩ kẻ sát nhân cố tình để lại dấu vết cho mấy tay cớm kia lần ra hắn à? Chẳng thằng ngu nào lại đi làm như vậy đâu. - Lão già thì thầm vẻ bí ẩn.
- Tôi chẳng tưởng như vậy, mà tôi nghĩ ông đang cầm đèn chạy trước ô tô đấy, ông lão ạ. - Cuối cùng, Chimera cũng nhe răng ra cười. - Tôi cho rằng kẻ sát nhân này khá khôn ngoan.
- Khôn ngoan mà lại đi giết người à?
- Khôn ngoan đủ để không bị tóm cổ, - Chimera đáp.
Lão già cau mặt nhìn lên màn hình vô tuyến.
- Được rồi, cứ chờ xem sao. Mặc dù cảnh sát bây giờ đang bị lạc hướng, nhưng tôi dám chắc sẽ có một sự ngạc nhiên lớn ở phía trước.
Hắn cố giữ không cho máu nóng bốc lên đầu. Nhưng lão già chết tiệt này nói đúng ở một chỗ. Lũ cớm San Francisco đang bị lạc hướng. Này lão già, bọn chúng sẽ không lần ra đầu mối đâu. Trung úy Lindsay Boxer vẫn chưa đi đến đâu cả. Chẳng có gì liên quan đến hắn.
- Tôi đánh cuộc với ông, - Chimera cười nhăn nhở với lão già nát rượu. Hắn ghé sát mặt hắn vào mặt lão, mắt mở to trừng trừng. - Nếu như bọn họ bắt được tên sát nhân, tôi đánh cuộc với ông là hắn có cặp mắt màu xanh.
Đột nhiên, ở bên kia phố, Chimera trông thấy mục tiêu của hắn đã trở về. Chà, có lẽ vụ này sẽ giúp trung úy Boxer phải tập trung hơn vào việc điều tra. Hắn liệng mấy tờ đô lẻ lên mặt quầy rượu.
- Này này, đi đâu mà vội thế? - Lão già quay mặt lại. - Uống thêm một vại bia nữa đã. Mà quỷ thật, tôi thấy mắt của anh cũng có màu xanh đấy.
Chimera đứng dậy khỏi ghế.
- Tôi phải đi rồi. Tôi đang có một cuộc hẹn.
67
Trên quãng đường khá dài trở về nhà, Claire Washburn vẫn còn suy nghĩ miên man về chuyện đã xảy ra với Jill. Gần về tới Burlingame rồi mà chị vẫn không thể nào gạt nổi những suy nghĩ đáng sợ ra khỏi trí óc mình.
Chị rời khỏi đường cao tốc ở Burlingame và rẽ lên trên một ngọn đồi. Đầu đau như búa bổ. Ngày hôm nay mới dài làm sao. Những vụ giết người tàn bạo đã khiến thành phố này bị chia rẽ. Rồi tới chuyện Jill bị mất đứa con.
Những con số điện tử trên bảng đồng hồ chỉ mười giờ hai mươi phút. Tối nay Edmun phải đi biểu diễn. Anh ấy sẽ không trở về nhà trước mười một giờ. Chị mong anh có nhà biết bao. Tối nay và mọi buổi tối khác.
Claire lái xe ngoặt sang đường Skytop và đi một đoạn nữa tới lối rẽ vào ngôi nhà sang trọng của chị. Toàn bộ ngôi nhà tối om, đó chính là nguyên nhân khiến gần đây Reggie thường xuyên ở lại trường đại học. Còn Willie, học sinh năm thứ hai trường trung học, chắc lại đang chơi trò chơi điện tử trong phòng riêng.
Tất cả những gì mà chị muốn làm bây giờ chỉ là cởi bỏ bộ quần áo công sở và mặc vào người bộ pyjama mềm mại của mình. Kết thúc một ngày khủng khiếp...
Trong nhà, Claire gọi Willie thật to nhưng không nghe thấy tiếng trả lời. Chị đọc lướt qua lời nhắn đặt trên bàn ăn trong bếp rồi vào phòng khách, ngồi xuống và lơ đãng nhặt một quyển catalog thời trang lên xem.
Điện thoại bỗng reo vang. Claire liệng cuốn catalog xuống và vội vàng cầm ống nghe lên.
- Xin chào...
Một sự im lặng trống rỗng, như thể một ai đó đang chờ đợi ở đầu dây bên kia.
Có lẽ là bạn của Willie chăng?
- Xin chào...? - Claire nhắc lại. - Lần thứ nhất, lần thứ hai, lần cuối cùng... - vẫn không có tiếng trả lời. - Tạm biệt!
Chị đặt ống nghe trở lại điện thoại.
Một cơn rùng mình căng thẳng chạy dọc sống lưng Claire. Thậm chí sau chừng ấy năm, khi chị phải ở nhà một mình thì bất cứ một tiếng động không mong muốn nào hoặc những ánh đèn hắt lên từ dưới tầng hầm cũng đều có thể khiến chị rùng mình hoảng sợ.
Điện thoại lại reo. Lần này, chị cầm ông nghe lên thật nhanh.
- Xin chào...
Lại một sự im lặng khó chịu nữa. Lần này, Claire không thể giữ nổi bình tĩnh.
- Ai thế hả? - Chị hỏi to.
- Thử đoán xem, - tiếng một người đàn ông vang lên.
Claire nín thở. Chị liếc nhìn lên mặt hiện số trên điện thoại.
- Nghe này, 901-4476, - chị nghiêm giong. - Tôi không cần biết anh đang bày ra trò gì hoặc làm cách nào mà anh có được số điện thoại của nhà chúng tôi. Nếu như anh có chuyện muốn nói, thì hãy nói thật nhanh, tôi không có nhiều thời gian đâu.
- Chị biết chuyện của Chimera chứ? - Giọng nói vẫn đều đều. - Chị đang được nói chuyện với hắn đấy. Chị có thấy vinh dự không hả?
Người Claire cứng lại. Chị khẽ nhỏm dậy trên ghế. Một ý nghĩ lướt nhanh qua óc “Chimera là một cái tên trong sở Cảnh sát". Chuyện về Chimera có được đăng lên báo đâu. Vậy ai mà lại biết chị có liên quan tới vụ điều tra này nhỉ?
Chị lập cập với tay sang một máy điện thoại khác trong nhà có đường dây riêng và nhấn mạnh số 911.
- Tốt hơn hết là anh hãy nói cho tôi biết anh là ai đi, - chị nói.
- Tôi đã nói rồi mà. Đứa bé gái trong dàn đồng ca nhà thờ là số một, - giọng nói đáp lại. - Tiếp đó tới mụ già béo phị, tên cớm ngô nghê và lão cảnh sát trưởng của các người... Chị có biết mấy người đó có điểm chung nào không hả? Bản thân chị liệu có điểm chung nào với lũ người đó hay không?
Toàn thân Claire bắt đầu run bắn. Chị hình dung ra những phát đạn bắn tỉa thật tinh vi đã giết chết tới bốn nạn nhân. Ánh mắt của chị trượt ra ngoài cửa số, vào khoảng không tối tăm xung quanh ngôi nhà.
Tiếng nói lại vang lên.
- Nghiêng người sang bên trái đi, chị bác sĩ.
68
Claire cúi rạp người xuống vừa kịp lúc một viên đạn lao tới làm nứt toác khung cửa sổ bằng kính.
Phát đạn thứ hai làm cửa sổ vỡ vụn, và Claire cảm thấy đau rát nơi cổ họng. Chị vội vàng nằm áp người xuống sàn nhà khi phát đạn thứ ba và thứ tư bay thẳng vào giữa phòng.
Một tiếng kêu kinh hoàng vọt ra từ cổ họng chị. Có mấy vệt máu rơi trên sàn nhà, máu từ cổ họng của chị đang chảy nhỏ giọt xuống vạt váy và hai cánh tay. Chuyện này mới thật tồi tệ. Không biết động mạch chủ có bị đứt hay không nhỉ?
Rồi chị nhìn về phía cửa ra vào, người chị tê liệt. Willie...
- Mẹ! - Cậu bé kêu lên, khuôn mặt của nó căng phồng vì hoảng sợ. Con trai chị đang mặc áo phông và quần đùi. Nó đang bị ngắm bắn.
- Willie, nằm xuống! - Chị thét to lạc cả giọng. - Có ai đó đang bắn vào nhà mình.
Cậu bé luống cuống chúi đầu xuống sàn trong lúc Claire gắng sức bò thật nhanh về phía nó.
- Sẽ ổn thôi mà, chỉ cần con cúi thật thấp xuống. Để mẹ nghĩ nhé, - chị thì thầm. - Con không được ngẩng đầu lên đâu đấy nhé!
Vết thương nơi cổ chị đau buốt, hệt như da thịt chị đang bị xé rách. Mặc dù vậy, chị vẫn thở được. Nếu viên đạn cắt đứt động mạch chủ thì chị đã bị ngạt thở rồi. Chắc có lẽ chị chỉ bị thương ở phần mềm thôi.
- Mẹ, chuyện gì thế? - Willie cũng thì thào. Người nó run bắn lên như một tàu lá. Chị chưa bao giờ thấy con như vậy cả.
- Mẹ không biết... Con nằm yên nhé, Willie.
Đột nhiên, bốn ánh lửa nữa lóe sáng từ bên ngoài. Claire ôm choàng lấy con trai. Dù là ai đang nổ súng ngoài kia, chắc chắn hắn đang điên cuồng muốn bắn trúng một thứ gì đó. Tên giết người có biết là chị còn sổng không nhỉ? Một cơn choáng váng dâng lên. Lỡ hắn đột nhập vào nhà thì sao? Hắn có biết trong nhà còn con trai chị không? Hắn biết cả tên chị nữa!
- Willie, - Chị thở dốc, dùng hai bàn tay ôm chặt lấy đầu con trai. - Con hãy chạy ngay xuống tầng hầm. Khóa chặt cửa lại. Gọi 911. Nhớ phải trườn sát xuống đất, con nhé! Nằm úp bụng xuống!
- Con sẽ không bỏ mẹ lại một mình đâu, - thằng bé kêu lên.
- Đi đi con, - giọng chị nhỏ nhưng nghe thật cương quyết. - Đi ngay đi. Làm đúng theo những gì mẹ dặn. Cứ ở yên dưới đó! Mẹ yêu con lắm, Willie.
Claire đẩy Willie về phía trước.
- Nhớ gọi 911. Hãy nói cho họ biết con là ai và đang có chuyện gì xảy ra. Sau đó gọi vào điện thoại trong xe của bố. Lúc này chắc bố con đang trên đường về nhà.
Willie nhìn mẹ van nài, nhưng nó hiểu. Nó trườn trên sàn nhà, mặt và người áp sát xuống đất. Thằng bé thật ngoan. Mẹ của nó đã không nuôi dạy một kẻ ngu xuẩn.
Một quầng lửa khác lóe sáng từ bên ngoài. Nín thở, Claire cầu khẩn.
- Chúa ơi, xin Người đừng để gã khốn kia vào nhà. Đừng để chuyện đó xảy ra, con xin Người đấy.
69
Chimera mắm môi mắm lợi xả thêm mấy loạt đạn qua khung cửa sổ vỡ vụn rồi từ từ xoay tròn khẩu PSG-1 trong tay một cách thiện nghệ.
Hắn biết hắn đã bắn trúng mục tiêu của hắn. Không phải ở phát đạn đầu tiên vì mụ bác sĩ đã kịp né người xuống dưới. Mà là phát đạn sau đó khi mụ ta đang tìm cách núp xuống dưới gầm bàn. Hắn chỉ không biết mình làm như vậy có đúng hay không. Hắn chỉ muốn gửi tới trung úy Lindsay một thông điệp, và nếu chỉ làm người bạn thân của ả này bị thương thôi thì vẫn chưa đủ. Claire Washburn phải chết.
Hắn ngồi sau một lùm cây nơi góc phố tối om, nòng của khẩu súng tiểu liêu thò ra ngoài cửa sổ ô tô. Hắn muốn biết chắc Claire đã chết, nhưng khỉ thật, hắn lại không muốn đi vào hẳn trong nhà. Mụ bác sĩ có một thằng con trai, chắn chắn nó đang ở nhà. Một trong hai người bọn họ chắc chắn đã gọi 911.
Đột nhiên, có ánh đèn lóe lên từ trong một ngôi nhà, hắt ra ngoài phố. Một ai đó đang bước ra bãi cỏ.
- Chết tiệt, - hắn giận giữ. - Khốn nạn thật! - Một phần trong hắn muốn tiếp tục nã đạn vào khung cửa sổ nham nhở kia và bắn tung mọi thứ trong phòng khách nhà mụ bác sĩ. Washburn phải chết. Hắn không muốn bỏ đi mà chưa xử lý triệt để được mụ ta.
Từ phía sau hắn vang lên những tiếng động. Một chiếc xe chạy như bay dọc con phố vắng, bóp còi inh ỏi, đèn nhấp nháy liên tục. Chiếc xe lao sầm qua hắn như một ngôi sao băng rồi đỗ xịch trước cửa ngôi nhà của mụ bác sĩ.
- Chuyện quái gì thế nhỉ?
Có thể mụ ta đã gọi cảnh sát. Cũng có thể những người hàng xóm, nghe thấy tiếng súng nổ đã mở cửa chạy ra xem. Hắn không thể mạo hiểm. Mụ bác sĩ không đáng để hắn phải đặt cược cả mạng sống của mình. Hắn sẽ không để mình bị bắt.
Một chiếc xe khác, bóp còi inh ỏi, phanh gấp trước lối vào ngôi nhà tạo nên một âm thanh thật chói tai. Những người hàng xóm bắt đầu lố nhố ló ra khỏi cửa nhà họ.
Hắn đập mạnh tay vào vô-lăng và kéo súng vào trong. Hắn nhấn ga, rồ máy phóng vụt đi.
Đây là lần đầu tiên hắn làm hỏng bét mọi chuyện. Lạy Chúa, lẽ ra hắn không bao giờ được phép mắc lỗi.
Mụ gặp may đấy, bác sĩ. Nhưng dù sao mụ cũng đã bị ta ngắm bắn.
Việc tiếp theo mới là quan trọng.
70
Tôi vừa tẩy lớp phấn trang điểm trên mặt xong và đang nằm cuộn tròn xem bản tin cuối cùng trên vô tuyến thì Edmund gọi điện tới.
Chồng của Claire đang hết sức kích động, miệng lắp bắp liên hồi. Tôi không thể tưởng tượng ra nổi một người điềm tĩnh và lịch lãm như anh lại đang phải cố gắng đến mức tối đa như vậy để diễn tả lại chuyện đang xảy ra trong nhà mình.
- Claire không sao, Lindsay ạ. Cô ấy đang ở bệnh viện Peninsula.
Tôi xỏ vội áo pull và quần bò vào người rồi chạy vội ra xe lái tới Burlingame. Từ nhà tôi tới đó phải chạy xe phải mất bốn mươi phút, nhưng tôi lao nhanh và chỉ sau hai mươi phút là tới nơi.
Claire đang ngồi trong phòng cấp cứu, vẫn mặc bộ quần áo màu đồng như khi chúng tôi chia tay nhau ba tiếng trước đây. Một người bác sĩ đang lúi húi quấn băng quanh cổ của chị. Edmund và Willie đứng ở hai bên.
- Lạy Chúa, Claire... - Dù cố gắng hết sức nhưng mắt tôi vẫn cứ ướt nhòa. Tôi quay sang gục đầu vào vai Edmund khóc thổn thức. Một lúc sau, tôi quay sang ôm choàng lấy Claire.
- Khóc gì mà khóc, em thân mến - Chị nhăn mặt, khẽ né người ra. Rồi chị cố gắng nở một nụ cười. - Có phải chị đã nói với em rằng những tế bào mỡ một lúc nào đó sẽ có ích phải không nhỉ? Nhờ nó mà chị đã không bị viên đạn đáng nguyền rủa ấy cướp đi mạng sống.
Tôi vẫn ôm chặt lấy chị.
- Chị có biết là chị may mắn lắm không?
- Có chứ, - chị thở dài. Tôi có thể nhận ra điều đó trong ánh nhìn của chị. Tin chị đi, chị biết chứ.
Viên đạn chỉ làm trầy da Claire. Các bác sĩ của phòng cấp cứu đã lau rửa, băng bó vết thương. Xong xuôi, họ để chị về nhà.
Claire chìa tay về phía Edmund và Willie, mỉm cười thật tươi.
- Những người đàn ông của tôi thật tuyệt, phải không nào? Cả hai người bọn họ. Chiếc xe của Edmund đã khiến kẻ bắn lén phải một phen khiếp sợ.
Edmund làm bộ nhăn nhó.
- Lẽ ra anh phải đuổi theo hắn. Lẽ ra anh phải tóm cổ hắn giao cho cảnh sát...
- Thôi nào, con hổ đáng yêu của em, - Claire mỉm cười. - Anh cứ để Lindsay lo vụ đó. Anh chỉ là một người đánh trống thôi mà.
Mãi đến lúc này, thực tế mới trỗi dậy áp đảo Edmund. Sự cố gắng làm ra vẻ can đảm của anh chợt tan biến. Anh ngồi sụp xuống, tựa vào người Claire một lúc và lấy tay che mắt. Claire im lặng nắm chặt lấy tay chồng, an ủi.
Hơn một giờ đồng hồ sau đó, sau khi đã kể qua một lượt mọi chi tiết cho cảnh sát Burlingame, chúng tôi đi dạo và nói chuyện bên ngoài bãi cỏ trước cửa nhà chị.
- Chính là hắn, phải không chị Claire? Chính là Chimera. - Claire chỉ gật đầu, đúng vậy.
- Hắn đúng là kẻ khốn nạn máu lạnh, Lindsay ạ. Chị đã nghe thấy tiếng hắn nói: “Nghiêng người sang bên trái đi, chị bác sĩ". Rồi hắn bắt đầu bắn súng.
Cảnh sát địa phương và người của văn phòng hạt trưởng cảnh sát San Mateo đang rà soát khắp khu vực xung quanh ngôi nhà. Tôi cũng đã gọi Clapper đến để giúp một tay.
Claire nói.
- Tại sao lại là chị, hả Lindsay?
- Em không biết, chị Claire ạ. Chị là người da màu. Chị làm việc trong lực lượng cảnh sát. Bản thân em cũng không hiểu nổi. Tại sao hắn lại thay đổi cách thức gây án nhỉ?
- Chị và hắn đã nói chuyện với nhau, hết sức bình tĩnh và thận trọng, Lindsay ạ. Cứ như thể hắn đùa giỡn chị vậy.
Tôi nghĩ tôi đang trông thấy một điều gì đó thật khác lạ trên gương mặt của Claire, một điều mà trước đây tôi chưa từng thấy bao giờ. Sự hoảng sợ. Ai có thể trách móc chị được?
- Có lẽ chị nên nghỉ một thời gian, Claire ạ. - Tôi bảo chị. - Chị hãy đứng ngoài cuộc điều tra.
- Em tưởng chị sẽ để cho hắn đè bẹp được chị hay sao? Không đâu, Lindsay ạ. Không bao giờ chị để cho hắn thắng chị.
Tôi ôm choàng lấy Claire.
- Chị ổn chứ?
- Chị ổn. Hắn đã có cơ hội của hắn. Giờ chị muốn có cơ hội của chính chị.
71
Cuối cùng thì tôi cũng kéo lê được cái thân xác mệt mỏi của mình về tới căn hộ quen thuộc vào quãng hai giờ sáng hôm sau.
Những sự kiện liên tiếp xảy ra trong một ngày dài khủng khiếp - việc Jill đánh mất đứa con, thử thách đáng sợ của Claire - cứ trôi vụt qua óc tôi như những đoạn phim mô tả một cơn ác mộng xưa cũ. Gã đàn ông mà tôi đang săn tìm suýt nữa thì cướp được mạng sống của người bạn thân nhất của tôi. Tại sao lại là Claire? Chuyện này có nghĩa gì? Một phần trong tôi cảm thấy mình phải chịu trách nhiệm.
Khắp người tôi đau như dần. Tôi muốn ngủ, tôi cần phải gạt bỏ những sự kiện đáng sợ ra khỏi suy nghĩ của tôi. Nhưng đột nhiên, cửa phòng ngủ dành cho khách bật mở, và cha tôi xuất hiện. Trong cơn lốc điên cuồng của một ngày đầy ắp sự kiện, tôi gần như đã quên mất sự hiện diện của cha tôi trong nhà.
Cha tôi đang mặc một chiếc áo phông dài màu trắng và một chiếc quần ống rộng có in hoa văn hình vỏ sò. Tự dưng, đang buồn ngủ rũ ra mà tôi vẫn cảm thấy hết sức buồn cười.
- Này, ngài đang mặc quần ống rộng đấy, ngài Boxer ạ, - Tôi thốt lên. - Cha thật là hóm hỉnh. - Rồi tôi thuật lại cho ông nghe những việc đã xảy ra. Là một cựu cảnh sát, ông hiểu ngay mọi chuyện. Một điều khiến tôi hết sức ngạc nhiên: cha tôi là người biết lắng nghe một cách kiên nhẫn. Đó chính là điều mà tôi đang cần bây giờ.
Ông đi vòng sang bên cạnh tôi trên chiếc đi-văng.
- Con có muốn uống một tách cà-phê không hả? Cha sẽ pha cho con, Lindsay nhé?
Boxers, tiếng Anh có nghĩa là quần ống rộng.
- Có lẽ một ly rượu mạnh thì có ích hơn. Nhưng vẫn còn một ít trà Moonlight Sonata trong ngăn tủ đằng kia nếu như cha muốn pha một thứ gì đó. - Thật tuyệt vời khi có người thân bên cạnh trong hoàn cảnh như thế này. Cha tôi dường như đang rất nôn nóng muốn làm cho tôi bình tĩnh lại.
Tôi ngồi thụp xuống chiếc đi-văng, mắt nhắm nghiền và cố gắng hình dung ra những gì mình phải làm ở những bước tiếp theo. Davidson, Mercer, và bây giờ là Claire Washburn... Tại sao Chimera lại muốn giết Claire nhỉ? Chuyện này có nghĩa là gì?
Cha tôi quay trở lại với một tách trà bốc hơi nghi ngút và một chiếc cốc hẹp miệng đựng đầy rượu Courvoisier.
- Cha cho rằng con đã lớn, thế nên có thể uống cả hai thứ.
Tôi nhấm nháp một ngụm trà rồi uống cạn một nửa ly rượu.
- Ôi, đúng là thứ mà con đang cần đấy, cha ạ. Con cần nó như cần phải được nghỉ ngơi trong vụ điều tra. Tên giết người đã để lại dấu vết, vậy mà con không tài nào giải nghĩa nổi những dấu vết đó.
- Con đừng căng thẳng quá thế, Lindsay, - cha tôi nói bằng giọng hết sức nhẹ nhàng.
- Cha sẽ làm gì, - tôi hỏi, khi tất cả mọi người trên thế giới đều đang dõi theo cha trong khi cha chẳng biết phải hành động như thế nào? Khi cha nhận ra rằng kẻ mà cha đang phải đương đầu thật sự không dễ khuất
phục, rằng cha đang phải đánh nhau với một con quái vật khổng lồ?
- Đó chính là điều mà những người trong Đội Homicide thường hay gặp phải, - cha tôi nhoẻn miệng cười thật tươi.
- Cha đừng cố chọc cho con cười đi! - Tôi van nài. Nhưng bất chấp lời van nài đó, cha tôi vẫn tiếp tục. Càng lúc tôi càng cảm thấy ngạc nhiên hơn vì tôi đã bắt đầu thấy gắn bó thật sự với người cha mới gặp lại.
Giọng của ông chợt thay đổi.
- Cha có thể kể cho con nghe việc cha đã làm mỗi khi phải đương đầu với khó khăn. Cha đã bỏ cuộc. Con không được làm như vậy, Lindsay ạ. Con phải giỏi hơn cha.
Cặp mắt của ông nhìn tôi cương quyết, ông không còn cười nữa.
Chuyện xảy ra tiếp theo khiến tôi không thể nào tin nổi. Hai cánh tay của cha tôi dang rộng ra, và không chút do dự hay bối rối, tôi đã lao vào đó và gục đầu lên bờ vai vững chãi của ông. Ông vòng tay ôm lấy người tôi, lúc đầu còn hơi ngập ngừng, chỉ như bất kỳ người cha và cô con gái nào trên thế giới. Nhưng sau đó vòng tay ông siết chặt hơn trong một cử chỉ vỗ về hết sức dịu dàng. Tôi lại ngửi thấy mùi nước hoa quen thuộc của ông khi tôi vẫn còn là một đứa trẻ. Một cảm giác vừa lạ lẫm vừa thân thương.
Được cha ôm gọn trong lòng như khi còn bé, mọi đau khổ và buồn bực dường như tan biến luôn.
- Con sẽ tóm được hắn, Lindsay ạ, - tôi nghe thấy tiếng cha tôi nói khẽ trong lúc tay ông vỗ nhẹ vào lưng tôi. - Con sẽ làm được, Hoa Vàng ạ...
Đó chính là câu mà tôi muốn nghe nhất bây giờ.
- Ôi cha, - Tôi thốt lên. Rồi im lặng không nói thêm gì nữa.
72
- Trung úy Boxer. - Sang ngày thứ hai, Brenda liên lạc với tôi bằng điện thoại từ sáng sớm. - Giám thị Estes ở Vịnh Bồ Nông muốn gặp chị. Đường dây số hai.
Tôi nhấc ống nghe lên, trong lòng không hy vọng gì nhiều.
- Chị đã hỏi tôi liệu có một cảnh sát nào đã từng bị giam ở đây rồi hay chưa, đúng không? - Giọng Estes vang lên.
Trí óc tôi trở nên linh hoạt hơn.
- Đúng thế đấy ạ.
- Xin chị nhớ cho rằng tôi không thèm đếm xỉa gì đến những lời lảm nhảm của thằng điên Weiscz đâu đấy nhé. Mà là tôi đã tìm hiểu trong đống hồ sơ lưu. Và tôi thấy đã có một vụ đáng quan tâm. Mười hai năm trước, có một kẻ cặn bã đã bị dẫn giải tới đây. Lúc đó tôi là giám thị ở Soledad.
Tôi áp chặt ống nghe vào tai.
- Họ đã giam hắn ở đây trong năm năm, sau đó đưa hắn trở về Quentin. Một trường hợp khá đặc biệt. Có thể chị cũng biết tên hắn.
Tôi vớ vội một cái bút và bắt đầu căng óc. Một cảnh sát bị giam ở Vịnh Bồ Nông? Ở Quentin?
- Đó là Frank Coombs, - Estes nói chậm rãi từng từ một.
Tôi đã nhận ra cái tên này. Nó giống như một cái tít báo vụt lóe lên từ trong ký ức xa xôi khi tôi còn trẻ. Coombs. Một cảnh sát đường phố, ông ta đã giết chết một đứa trẻ trong một khu chung cư cách đây hơn hai chục năm. Đối với bất cứ người cảnh sát San Francisco nào, tên của ông ta giống như một hồi chuông cảnh báo không nên lạm dụng quyền hạn một cách quá đáng.
- Trong tù, Coombs càng trở nên hung bạo hơn ngoài đời, - Estes tiếp tục. - Hắn ta đã bóp cổ một gã bạn tù của hắn ở Quentin, chính vì thế người ta đã phải đưa hắn đến giam trong Vịnh Bồ Nông. Sau một thời gian bị giam trong khu cách ly, người ta đã khắc phục được phần nào khuynh hưóng bạo lực của hắn.
Coombs! Tôi ghi cái tên đó lại. Tôi không còn nhớ được chi tiết của vụ án liên quan đến người cảnh sát này ngoại trừ việc ông ta đã bóp cổ một đứa trẻ con da đen cho tới chết.
- Điều gì đã khiến ông nghĩ rằng Coombs có thể có liên quan? - Tôi hỏi.
- Như tôi đã nói... - Estes hắng giọng. - Tôi không quan tâm nhiều tới những lời nhăng cuội của Weiscz mà tôi đã hỏi một vài người trong đội của tôi. Trong thời gian bị giam ở đây, Coombs đã là một thành viên khá quan trọng trong nhóm mà các chị đang tìm kiếm.
- Thật vậy không, Estes?
- Đúng thế, thưa trung úy. Nhóm Chimera.
73
Chắc các bạn cũng biết câu thành ngữ: “Cái khó ló cái khôn”. Nửa tiếng sau, tôi gõ nhẹ lên cửa sổ, ra hiệu cho Jacobi đi sang phòng tôi.
- Anh biết gì về Frank Coombs? - Tôi hỏi khi anh ta bước vào.
Jacobi nhún vai.
- Một cảnh sát đường phố bẩn thỉu. Hắn đã bóp cổ một đứa trẻ khi đang điều tra một vụ án ma túy nhiều năm trước. Đứa trẻ chết. Vụ xì-căng-đan lớn nhất mà tôi từng biết kể từ khi tôi vào ngành cảnh sát. Sao, hắn lại gây chuyện ở Quentin à?
- Hừm... - Tôi đưa cho Jacobi tập hồ sơ cá nhân của Coombs. - Anh hãy cho tôi biết những gì mà tôi không thể tìm thấy trong tập hồ sơ này.
Jacobi mở ra xem.
- Theo như tôi còn nhớ, gã này là một cảnh sát cứng rắn, đã từng được tặng thưởng huy chương. Hắn có một bản báo cáo bắt giữ tội phạm khá dày đặc, nhưng tôi nhận thấy hắn cũng đã nhận được khá nhiều lời khiển trách của cấp trên.
Tôi gật đầu.
- Tiếp tục đi...
- Chị đọc tập hồ sơ này rồi còn gì. Hắn ta đã ập vào trận thi đấu bóng rổ của một khu chung cư vì cho rằng đã nhận ra một trong số những người đang chơi chính là đứa trẻ mà hắn đã bỏ tù vì tội tàng trữ ma túy. Nhưng hóa ra hắn đã bị lầm. Đứa trẻ đã vùng vằng cãi lại rồi bỏ đi. Coombs đã đi theo nó.
- Chúng ta đang nói tới một đứa trẻ da đen, - tôi ngắt lời. - Người ta đã xử Coombs tội ngộ sát cấp độ hai, án phạt là từ mười lăm đến hai mươi năm tù giam.
Jacobi nháy mắt.
- Chuyện này sẽ dẫn tới đâu hả Lindsay?
- Tới Weiscz, ở Vịnh Bồ Nông Jacobi ạ. Lúc ấy tôi nghĩ hắn chỉ nói huyên thuyên, nhưng sau đó tôi cứ bị ám ảnh mãi bởi câu nói của hắn. Rõ ràng là Weiscz đã ám chỉ một điều gì đó. Hắn nói nghe cứ như thể kẻ sát nhân là một người trong ngành cảnh sát vậy.
- Chị lôi tập hồ sơ này ra chỉ vì một câu nói của Weiscz thôi sao? - Jacobi nhìn cau mày.
- Coombs chính là Chimera. Hắn đã bị giam hai năm trong khu cách ly. Xem nhé... Gã này đã được đào tạo nghiệp vụ cảnh sát. Trình độ chuyên môn của hắn là xạ thủ. Hắn lại công khai thú nhận mình là người phân biệt chủng tộc. Bây giờ hắn đang ở ngoài. Coombs vừa được thả khỏi San Quentin mấy tháng trước.
Jacobi ngồi yên, vẻ mặt lạnh như băng.
- Chị vẫn còn thiếu động cơ giết người, trung úy. Ý tôi muốn nói là nếu đúng như suy luận của chị, nhưng hắn ta cũng là một cảnh sát cơ mà. Vậy tại sao hắn phải làm hại những người cảnh sát khác?
- Trong phiên tòa, hắn ta đã tự biện hộ cho mình rằng hắn ta chỉ giết người để tự vệ, rằng đứa trẻ kia đã kháng cự ghê quá. Nhưng không có ai tin hắn, không ai ủng hộ hắn, Jacobi ạ. Cấp trên không, đồng nghiệp cũng không nốt. - Tôi vớ lấy tập hồ sơ, lướt nhanh qua và dừng lại ở nơi mà tôi đã dùng mực đỏ để đánh dấu. - Anh nói rằng Coombs đã giết đứa trẻ này ở một khu chung cư?
Jacobi gật đầu.
Tôi chìa trang giấy ra trước mặt anh ta.
- Bay View, La Salle Heights Jacobi ạ. Đó là nơi hắn đã bóp cổ đứa trẻ. Khu chung cư này đã bị phá đi để xây lại vào năm 1990. Họ đã đặt tên mới cho nó...
- ... Là Whitney Young, - Jacobi tiếp lời.
Ngay gần chỗ Tasha Catchings bị bắn.
74
Bước tiếp theo của tôi là gọi điện thoại cho Madeline Akers, trợ lý giám thị tại nhà tù San Quentin. Maddie vốn là bạn của tôi. Cô ấy nói có biết chuyện của Coombs.
- Một cảnh sát tồi, một gã tồi, một tù nhân cực kỳ tồi. Hắn là một kẻ khốn nạn có máu lạnh. - Maddie hứa sẽ hỏi thêm về Frank Coombs, có thể hắn đã kể cho ai đó nghe dự định của hắn khi hắn được phóng thích.
- Madeline này, chuyện này phải tuyệt đối bí mật hộ mình nhé, - tôi nài nỉ.
- Mercer cũng là bạn của mình mà, Lindsay. Mình sẽ làm mọi việc có thể. Hãy cho mình một vài ngày.
- Nhanh lên nhé, Maddie. Chuyện sống còn đấy. Hắn ta sẽ còn giết thêm nhiều người nữa.
Một lúc lâu sau, tôi ngồi nguyên tại bàn làm việc, cố gắng ráp nối những gì tôi đã có lại với nhau. Tôi không tài nào đặt nổi Coombs vào diện nghi vấn. Tôi không có bất kỳ thứ vũ khí nào. Thậm chí tôi còn không biết hắn đang ở đâu nữa. Nhưng lần đầu tiên kể từ ngày Tasha Catchings bị giết, tôi đã có lại được cảm giác phấn chấn.
Bản năng của tôi nhắc tôi nhờ Cindy lục lọi trong phòng tư liệu của tờ Biên niên sử để tìm những câu chuyện cũ. Sự việc này xảy ra cách đây đã hơn hai chục năm. Chỉ còn rất ít người trong Sở thời đó vẫn còn làm việc đến bây giờ.
Bất chợt, tôi sực nhớ tới một người đang sống ngay dưới mái nhà của tôi.
Cha tôi đang ngồi xem bản tin buổi tối khi tôi bước vào cửa.
- Này, - ông gọi to. - Hôm nay về sớm thế con? Đã giải quyết xong vụ đó chưa?
Tôi thay quần áo, vớ đại một lon bia từ trong tủ lạnh rồi kéo ghế tới ngồi đối diện với cha tôi.
- Con cần nói chuyện với cha. - Tôi nhìn thẳng vào mắt ông. - Cha có nhớ người nào tên là Frank Coombs không ạ?
Cha tôi gật đầu.
- Đã lâu rồi cha không nghe thấy ai nhắc tới cái tên đó. Nhưng cha vẫn nhớ rõ lắm. Đó là một cảnh sát đã bóp cổ một đứa trẻ con trong một khu chung cư. Ông ta đã bị buộc tội giết người và bị bỏ tù.
- Lúc đó cha vẫn còn làm cảnh sát chứ, đúng không?
- Đúng thế, cha biết ông ta mà. Vụ việc tai tiếng nhất trong ngành cảnh sát mà cha từng nghe nói. Vụ đó khiến nhiều người bị sốc. Nhưng ông ta cũng đã bắt được khá nhiều kẻ tội phạm, theo cách riêng của ông ta. Báo chí không đưa được hết những mặt tốt, mặt xấu của con người.
- Nhưng đứa trẻ mà ông ta bóp cổ chết... Nó mới có mười bốn tuổi thôi, cha ạ.
- Tại sao con lại muốn tìm hiểu về Coombs? Ông ta đang ở trong tù mà.
- Được thả rồi, cha ạ. - Tôi kéo ghế ngồi gần cha tôi hơn. - Con đọc trong hồ sơ thấy nói Coombs đã tự bào chữa cho mình rằng ông ta giết người để tự vệ.
- Tại sao không chứ? Cảnh sát cũng phải có quyền tự bảo vệ mình mà. Ông ta nói lúc đó đứa trẻ kia đã định dùng một vật sắc nhọn để đâm ông ta.
- Cha có biết lúc đó ai bênh vực ông ta không, cha?
- Hừm... - Cha tôi nhún vai. - Stan Dragula chứ ai. Đúng thế, ông ta đã làm chứng trước tòa. Nhưng nghe đâu ông ta đã chết cách đây mấy năm rồi. Còn lại, chẳng ai muốn dính líu tới Coombs cả.
- Thế Stan Dragula là người da đen hay người da trắng? - Tôi hỏi.
- Stan là người da trắng, - cha tôi trả lời. - Cha nghĩ ông ấy là người Ý hay người Do Thái gì đó.
Đó không phải là câu trả lời mà tôi đang mong đợi. Không ai làm Coombs nổi giận. Vậy tại sao hắn ta lại giết những người da đen?
- Cha à, nếu như chính Coombs là thủ phạm của vụ này... nếu như hắn đã được tự do với một mối thù hận khủng khiếp, thì tại sao hắn muốn chống lại người da đen?
- Coombs là một con thú dữ, nhưng ông ta cũng là cảnh sát. Như vậy, vấn đề trở nên khác hẳn. Con biết bức tường xanh im lặng nổi tiếng rồi chứ? Tất cả những người cảnh sát đều đã được dạy từ trong trường đại học. Phải biết giữ mồm giữ miệng. Bức tường luôn ở đó để ủng hộ chúng ta. Nhưng tới trường hợp của Frank Coombs thì nó đã đổ nhào. Tất cả mọi người đều vui mừng khi từ bỏ được ông ta. Với lại lúc đó, người da màu và người Mỹ la-tinh đã bắt đầu có những chỗ đứng quan trọng. Thậm chí họ có cả một nhóm hoạt động chính trị ngoài hành lang nữa - nhóm OFJ...
- OFJ có phải là nhóm cảnh sát thi hành công lý không cha? Bây giờ nhóm đó vẫn còn tồn tại chứ?
Cha tôi gật đầu.
- Tình hình lúc đó cực kỳ căng thẳng. Nhóm OFJ đe dọa biểu tình. Cuối cùng, thành phố cũng phải gây áp lực. Nhưng dù có do nguyên nhân gì đi chăng nữa thì Coombs cũng đều cảm thấy như bị phơi mình chịu trận.
Mọi việc có vẻ bắt đầu được làm sáng tỏ. Coombs cho rằng hắn ta đã bị kết tội oan sai bởi một nhóm người da đen hoạt động chính trị ngoài hành lang. Hắn đã phải vào tù và một mình gặm nhấm một mối thù hận trong đó. Bây giờ, hai mươi năm đã trôi qua, hắn đã được quay trở lại với các con đường trong thành phố San Francisco này.
Đột nhiên, một ý nghĩ khủng khiếp chợt len lỏi vào trí óc tôi.
- Cảnh sát trưởng Earl Mercer cũng có liên quan, phải thế không ạ?
Cha tôi lại gật đầu.
- Mercer là cấp trên trực tiếp của Coombs lúc đó.