Cơ Hội Thứ 2

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 28 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
95 - 96
Phần Ba

❊ ❊ ❊

BỨC TƯỜNG XANH IM LẶNG

75

Sáng hôm sau, vụ việc chống lại Frank Coombs, trước đó một ngày còn là chuyện vặt vãnh, giờ đã nổ tung như một quả bom. Tôi cảm thấy mệt mỏi hết sức.

Đầu tiên là Jacobi gõ cửa phòng tôi.

- Có tin tức về Coombs rồi đây, trung úy.

- Tin gì thế? Các anh đã có tiến triển rồi à?

- Nói như chị cũng được. Nhưng hắn ta biến mất rồi, theo văn phòng cảnh sát thì Coombs đã rời khách sạn mà ông ta đang lưu trú ngắn ngày ở dưới Eddy. Không để lại địa chỉ để chuyển tiếp thư từ. Không đăng ký tên tại bất cứ khách sạn nào cả. Và cũng không liên lạc với người vợ cũ.

Tôi cảm thấy thất vọng vì sự mất tích của Coombs, nhưng dù sao biết được như vậy cũng tốt. Tôi bảo Jacobi cứ tiếp tục tìm kiếm.

Mấy phút sau, Madeline Akers gọi về từ San Quentin.

- Tôi nghĩ tôi đã có cái mà chị đang cần rồi, - cô ấy thông báo. Tôi không ngờ cô ấy lại có kết quả nhanh đến thế.

- Năm vừa qua, Coombs đã ở chung xà lim với bốn người bạn tù khác. Hai trong số đó đã được phóng thích, hai người còn lại đích thân tôi đã kiểm tra. Một gã thì khá cứng đầu cứng cổ, nhưng gã kia, tên là Toracetti... Tôi hầu như không phải nói cho gã biết tôi đang cần tìm gì. Gã nói luôn rằng khi gã nghe tin tức về vụ Davidson và cảnh sát trưởng Mercer, gã biết ngay chính Coombs là thủ phạm. Coombs đã nói với gã là hắn sẽ bới tung mọi chuyện ra.

Tôi cám ơn Maddie rối rít. Tasha, Mercer, Davidson... đã bắt đầu có liên quan tới nhau.

Nhưng còn Estelle Chipman thì sao?

Trong tôi lại dậy lên một sự thúc giục. Tôi lôi tập hồ sơ nhân sự ra và vùi đầu vào tìm kiếm. Đã mấy tuần nay tôi không mở nó ra xem rồi.

Tôi tìm thấy nó ở cuối tập hồ sơ. Bộ hồ sơ cá nhân mà tôi đã mượn ở bộ phận Lưu trữ: Ediuard c. Chipman.

Trong suốt ba chục năm làm việc cho lực lượng cảnh sát, chỉ có mỗi một sự kiện là nổi bật.

Ông ta đã từng là đại diện của quận trong Bồi thẩm đoàn.

Đã đến lúc phải đệ trình báo cáo. Tôi gọi điện cho sếp Tracchio. Hellen, thư ký của ông, người đã từng là thư ký của cảnh sát trưởng Mercer, nói ông ta đang tham dự một cuộc họp kín. Tôi nói với cô ta là tôi sẽ lên đó ngay.

Tôi vớ lấy tập hồ sơ về Coombs và chạy lao lên tầng năm. Tôi nghĩ tôi phải chia sẻ tin tức này cho mọi người, vì vậy tôi xộc thẳng vào giữa phòng sếp như một cơn gió.

Nhưng rồi, tôi chợt sựng người lại, không biết phải nói năng gì.

Trước cặp mắt sững sờ của tôi, ngồi quanh bàn họp là Traccchio, hai đặc vụ Ruddy và Hull của FBI, chuyên viên báo chí Carr và Chánh thanh tra Ryan.

Tôi đã không được mời tới cuộc họp của tổ công tác chung.

76

- Chuyện nhảm nhí gì thế này nhỉ? - Tôi sẵng giọng hỏi. - Vớ vẩn thật đấy! Cái này được gọi là gì - buổi sinh hoạt câu lạc bộ của các quý ông à?

Tracchio, Ruddy và Hull của FBI, Carr, Ryan. Năm người đàn ông ngồi quanh bàn họp - trừ tôi, một người phụ nữ.

Ngài quyền cảnh sát trưởng đứng dậy. Mặt ông ta đỏ lựng.

- Lindsay, chúng tôi đang định gọi cô lên.

Tôi hiểu như vậy có nghĩa là gì. Chuyện gì đang diễn ra ở đây. Tracchio đang chuẩn bị chuyển quyền điều tra vụ này. Vụ của tôi. Ông ta và Ryan sắp giao nó cho FBI.

- Chúng ta đang ở trong một thời điểm hết sức nhạy cảm về chính trị, - Tracchio phân trần.

- Đáng tiếc là ông nói rất đúng, - tôi ngắt lời ông ta. Rồi tôi đưa mắt nhìn khắp lượt những người còn lại trong nhóm. - Nhưng tôi đã biết ai là thủ phạm rồi.

Đột nhiên, mọi con mắt đổ dồn cả lại phía tôi. Những người đàn ông im phăng phắc. Tôi có cảm giác như mặt đất đang tròng trành, còn da thịt tôi thì đau nhói như có kim châm.

Tôi đưa mắt nhìn Tracchio.

- Ông còn muốn tôi trình bày không hả? Hay ông muốn tôi rời khỏi phòng họp?

Bằng một cử chỉ câm lặng, ông ta kéo ghế cho tôi ngồi.

Nhưng tôi không ngồi. Tôi vẫn đứng. Và tôi bắt đầu dẫn dắt cả tổ qua những tình tiết của tôi trong một tâm trạng hết sức thích thú. Tôi kể lại lúc đầu tôi đã hoài nghi như thế nào, nhưng sau đó tôi đã cố gắng để gắn kết các sự kiện. Chimera, Vịnh Bồ Nông... Lòng hận thù của Coombs dành cho lực lượng cảnh sát. Nghe nhắc đến tên của Coombs, mắt của mọi người trong tổ bắt đầu mở lớn. Tôi liên kết các nạn nhân lại với nhau. Coombs vốn là một nhà thiện xạ trong ngành, và chỉ có những nhà thiện xạ mới đủ khả năng và trình độ để bắn được những phát đạn chính xác đến vậy.

Khi tôi kết thúc, căn phòng trở nên lặng ngắt như tờ. Tất cả chỉ nhìn tôi chằm chằm. Tôi muốn nhảy cẫng lên, vỗ tay reo to trong niềm hân hoan chiến thắng.

Rồi đặc vụ Ruddy hắng giọng.

- Thế nhưng, tôi vẫn chưa thấy được mới liên hệ trực tiếp giữa Coombs với từng vụ án.

- Hãy cho tôi thêm một hoặc hai ngày nữa, rồi các anh sẽ thấy, - tôi đáp. - Coombs chính là kẻ giết người.

Hull, người đồng sự có bờ vai rộng của Ruddy, nhún vai hết sức lạc quan với cảnh sát trưởng.

- Ông có còn muốn chúng tôi theo đuổi vụ này nữa hay thôi?

Tôi không thể tin nổi. Đây là vụ án của tôi. Chính tôi đã chọc thủng được bức màn bí ẩn. Vụ của Đội Homicide. Người của chúng tôi đã bị giết cơ mà.

Tracchio có vẻ nghĩ ngợi ghê lắm. ông ta bặm cặp môi dày cộp của mình như thể đang phải hút giọt nước cuối cùng đọng trên một cọng rơm. Rồi ông ta nhìn người đàn ông của FBI và lắc đầu.

- Có lẽ không cần nữa rồi. Đây là những vụ án xảy ra trong thành phố, vì vậy hãy để cho cảnh sát thành phố xử lý.

77

Điều duy nhất còn đang cản đường tôi lúc này là tôi phải tìm cho ra nơi ẩn náu của Frank Coombs.

Hồ sơ lưu của Coombs trong tù có đề cập đến một người vợ tên là Ingrid, đã đâm đơn ly dị trong lúc hắn ta còn đang ngồi tù và sau đó đã tái hôn.

- Đi nào, - tôi dùng khuỷu tay huých vào người Jacobi. - Anh đi với tôi, chúng ta lại lên đường. Như ngày trước.

- Oái, chẳng dễ chịu chút nào.

Ingrid Thiasson sống trong một khu phố khá dễ chịu thuộc tầng lớp trung lưu ở ngoại ô Laguna.

Chúng tôi đỗ xe ngoài phố, bước lên bậc tam cấp và nhấn chuông. Không có ai trả lời. Chúng tôi không biết vợ của Coombs có đi làm hay không, nhìn ra chỗ đỗ xe thì không thấy có chiếc xe nào cả.

Ngay khi chúng tôi vừa định quay ra thì một chiếc Volvo đời cũ về tới, đỗ xịch trước cửa.

Ingrid Thiasson là một phụ nữ chừng năm mươi tuổi, có một mái tóc nâu xơ xác. Bà ta ăn mặc hết sức giản dị, một chiếc váy màu xanh xấu xí bên dưới chiếc áo len dài tay nặng nề. Bà ta chui ra khỏi xe và mở cửa sau, lôi ra một đống những đồ tạp phẩm lặt vặt.

Là vợ cũ của một cảnh sát, bà ta nhận ngay ra chúng tôi là ai.

- Các người muốn gì? - Bà ta hỏi.

- Chúng tôi chỉ xin bà vài phút. Chúng tôi đang cố gắng xác định nơi ở hiện tại của chồng cũ của bà.

- Các người thật là trơ tráo khi tìm đến đây. - Bà ta cau mặt, nhấc bổng hai chiếc túi lên tay bằng một động tác hết sức giận giữ.

- Chúng tôi phải kiểm tra mọi khả năng mà, - Jacobi nhẹ nhàng giải thích.

Ingrid Thiasson vùng vằng ngắt lời.

- Như tôi đã giải thích với người ký giấy phóng thích cho Frank, tôi không hề nghe được tin tức gì kể từ khi ông ấy ra tù.

- Ông ấy không tới gặp bà à?

- Chỉ một lần, khi ông ấy vừa được thả ra ngoài. Ông ấy đến đây để nhặt nhạnh mấy thứ đồ lặt vặt mà ông ấy nghĩ tôi vẫn giữ cho ông ấy. Nhưng tôi bảo tôi đã vứt hết đi rồi.

- Những thứ đồ gì vậy?

- Vài bức thư vô dụng, mấy tò báo đăng tin về phiên tòa. Có thể là cả những khẩu súng của ông ấy nữa. Frank luôn say mê những khẩu súng.

Jacobi gật đầu.

- Vậy ông ấy làm gì sau đó?

- Làm gì á? - Ingrid Thiasson bật cười khanh khách. - Còn biết làm gì nữa ngoài việc lẳng lặng bỏ đi, chẳng thèm hỏi xem hai chục năm qua tôi đã sống như thế nào. Chẳng một lời hỏi thăm tới vợ và con trai. Các người có tin không?

- Như vậy là bà không biết làm cách nào để liên lạc với ông ta phải không?

- Không. Đó là một con rắn độc. Tôi đã tìm được một người biết coi trọng tôi, người chấp nhận làm cha của con trai tôi. Tôi không muốn gặp lại Frank Coombs nữa.

Tôi hỏi.

- Liệu ông ta có tìm gặp con trai bà không?

- Không đời nào. Tôi đã giữ để cho hai người không gặp được nhau. Con trai tôi không muốn có bất cứ một sợi dây liên hệ nào với cha của nó. Nó đang học ở trường đại học Stanford, nhưng các người chớ có tìm đến đó làm phiền nó đấy nhé.

Tôi tiến lên phía trước.

- Liệu còn ai khác biết được chỗ ở của Frank Coombs hay không, bà Thiasson? Chuyện này rất quan trọng, liên quan đến một vụ án giết người.

Tôi thoáng trông thấy một cử chỉ lưỡng lự.

- Tôi đã sống yên ổn suốt hai mươi năm trời rồi. Bây giờ tôi đã có một gia đình mới. Tôi không muốn mọi người biết những chuyện đã xảy ra với tôi.

Tôi gật đầu, cảm thấy máu nóng chảy rần rật trên mặt.

- Frank Combs thường giữ liên lạc với Tom Keating, ngay cả khi ông ta đang phải ngồi tù. Nếu như có ai biết được nơi ở hiện tại của Combs thì người đó chính là ông ta.

Tom Keating. Tôi biết cái tên này.

Đó là một cảnh sát đã về hưu.

78

Chưa đầy một giờ đồng hồ sau đó, Jacobi và tôi đã đỗ xe lại trước căn nhà số 3A thuộc khu dân cư Blakesly, mạn cuối bờ biển ở Vịnh Nửa vầng Trăng.

Tên của Keating đã ăn sâu vào trí nhớ của tôi từ khi tôi còn là một đứa trẻ. Ông ta là khách hàng thường xuyên của quán Alibi sau ca trực từ chín giờ sáng đến bốn giờ chiều, nơi mà rất nhiều lần cha tôi đã bế tôi tới đó, đặt tôi ngồi trên chiếc ghế đẩu cao lênh khênh bên cạnh quầy rượu. Trong ký ức của tôi, Keating có một nước da hồng hào và mái tóc bù xù sớm có nhiều sợi bạc. Chúa ơi, tôi nghĩ thầm, mới đó mà đã gần ba mươi năm trôi qua rồi đấy.

Chúng tôi gõ nhẹ lên cánh cửa vào ngôi nhà bằng gỗ mỏng trông khá khiêm nhường của Keating. Một phụ nữ thanh mảnh, ưa nhìn với mái tóc màu xám nhạt xuất hiện.

- Bà Keating phải không ạ? Tôi là trung úy Lindsay Boxer của Đội Homicide San Francisco. Còn đây là thanh tra Jacobi. Xin hỏi chồng bà có nhà không?

- Đội Homicide...? - Bà ta ngạc nhiên hỏi lại.

- Chúng tôi chỉ tới vì một vụ án cũ thôi mà. - Tôi nhẹ nhàng trả lời bà ta kèm theo một nụ cười.

Một giọng nói vọng ra từ bên trong.

- Helen, anh không tìm thấy cái điều khiển ti-vi ở đâu cả.

- Chờ em một phút, Tom nhé. Ông ấy đang ở trong kia. - Bà ta ra hiệu cho chúng tôi theo bà vào nhà.

Chúng tôi bước qua một căn hộ bày biện sơ sài vào trong một phòng khách ngập tràn ánh nắng, nhìn thẳng ra một hàng hiên nhỏ chạy dài phía sau. Mấy bức ảnh cảnh sát đóng khung treo trang trọng trên tường nhà. Trông Keating chẳng khác mấy so với những gì tôi còn nhớ, chỉ có điều già hơn nhiều. Dáng vẻ gầy gò, mái tóc lưa thưa bạc phơ, nhưng vẫn nước da hồng hào khỏe mạnh ấy.

Ông ta đang ngồi xem bản tin buổi chiều trên ti-vi, một dòng chữ ghi các thông tin về thị trường chứng khoán chạy ngang bên dưổi màn hình. Tôi nhận thấy ông ta đang phải ngồi trên một chiếc xe lăn.

Helen Keating giới thiệu chúng tôi, sau đó quay sang tìm điều khiển ti-vi và vặn nhỏ tiếng xuống. Keating tỏ vẻ rất vui khi có những vị khách thuộc lực lượng cảnh sát tới thăm.

- Kể từ khi chân tôi bị hỏng đến nay, tôi thấy mình vô dụng quá. Chứng viêm khớp đấy, họ bảo tôi thế. Hậu quả của việc bị trúng đạn ở ngang thắt lưng. Tôi chẳng còn chơi gôn được nữa. - ông ta bật cười khúc khích. - Nhưng tôi vẫn còn quan sát được sự tăng giảm của những đồng lương trợ cấp.

Tôi thấy ông ta đang chăm chú nhìn tôi.

- Cô là Marty Boxer, phải không cô gái?

Tôi mỉm cười.

- Quán Alibi... Một cặp 5-0-1, ông nhớ chứ, Keating? - 5-0-1 là số điện thoại để gọi hỗ trợ và cũng là từ mà những người cảnh sát đường phố thường dùng để chỉ món đồ uống ưa thích của họ - một ly whiskey Ai-len với một vại bia uống sau khi dùng rượu mạnh.

- Gần đây tôi nghe nói nhiều đến cô, - Keating gật đầu, cười nhe mấy cái răng khấp khểnh. - Thế điều gì đã khiến hai thanh tra sáng giá của Đội Homicide phải tìm đến nói chuyện với tay cảnh sát đường phố giải nghệ này vậy?

- Frank Coombs. - Tôi trả lời.

Vẻ mặt của Keating chợt đanh lại.

- Frank có chuyện gì?

- Chúng tôi đang tìm ông ta, Tom ạ. Tôi nghe nói ông có thể biết được nơi ở hiện tại của Frank.

- Tại sao cô không đi mà hỏi người đã ký giấy trả tự do cho Frank ấy? Chứ tôi thì làm sao biết được.

- Ông ta bỏ việc rồi, cách đây bốn tuần.

- Bây giờ, Đội Homicide được giao thêm nhiệm vụ theo dõi những tù nhân mới được phóng thích à?

Tôi nhìn thẳng vào mắt Keating.

- Ông nói gì thế, Keating?

- Thế cô nghĩ gì khi cho rằng tôi biết chỗ ở hiện tại của Frank? - Ông ta liếc nhìn xuống dưới chân. - Vừa già cả, vừa tàn tật như tôi, chỉ ngồi ru rú một xó thì biết gì mà hỏi.

- Tôi nghe nói hai người các ông vẫn thường xuyên liên lạc với nhau mà. Tôi xin ông đấy, việc này rất quan trọng.

- Hừm, cô đang phí phạm thời gian ở đây đấy, cô trung úy trẻ ạ, - Keating nói, điệu bộ chợt trở nên kiểu cách.

Tôi biết ông ta đang nói dối.

- Ông nói chuyện với Coombs lần cuối cùng là khi nào?

- Có lẽ là lúc ông ta vừa được thả, một hoặc hai lần gì đó. Ông ta cần giúp đỡ, và tôi đã giúp ông ta mấy việc lặt vặt.

- Lúc đó ông ta ở đâu, - Jacobi nói xen vào, - lúc ông giúp ông ta đấy?

Keating lắc đầu.

- Ở một khách sạn nào đó phía Eddy hay OTarrell gì đó. Nhưng không phải St. Francis, - ông ta trả lời.

- Sau đó, ông có nói chuyện với ông ta không? - Tôi liếc nhìn về phía Helen Keating.

- Nói tóm lại, các người cần gì ở ông ấy? - Keating nổi cáu. - Ông ấy phạm tội, và ông ấy đã phải trả giá. Tại sao các người không để ông ấy được yên?

- Vấn đề sẽ trở nên dễ dàng hơn, Keating ạ, - tôi nói với ông ta, - nếu như ông chịu nói chuyện đàng hoàng với chúng tôi.

Keating bặm cặp môi khô nứt lại, dường như đang cố gắng so sánh lòng trung thành của mình với ngành cảnh sát và với một người bạn cũ.

- Ông phục vụ được gần ba chục năm, phải không? - Jacobi hỏi tiếp.

- Chính xác là hai mươi tư năm, - ông ta vỗ nhẹ vào cái chân. - Kết thúc bằng việc bị cắt cụt chân như thế này.

- Hai mươi tư năm đẹp đẽ. Do đó sẽ rất đáng hổ thẹn nếu như bây giờ ông không chịu hợp tác với chúng tôi...

Ông ta cáu kỉnh vặc lại.

- Này này, cậu có muốn biết ai hiểu rõ khái niệm bất hợp tác hơn không? Frank Coombs à? Ông ta đã từng là một cảnh sát năng nổ, làm tốt công việc của mình, song lại bị những kẻ vốn được coi là bạn ruồng bỏ. Có vẻ như cũng giống với cách mà các người đang làm bây giờ đấy.

- Keating. - Vợ của ông ta lúc này mới lên tiếng. - Frank Coombs đã giết một đứa trẻ. Còn những người này, họ là bạn của anh. Họ muốn nói chuyện với Coombs. Em chẳng hiểu anh muốn giữ lòng trung thành ngớ ngẩn với kẻ kia đến bao giờ nữa. Bổn phận của anh bây giờ là ở đây.

Keating ném sang vợ một cái nhìn tóe lửa.

- Phải, chắc chắn bổn phận của anh. bây giờ là ở đây rồi. - Ông ta cầm chiếc điều khiển ti-vi lên và quay về phía tôi. - Cứ việc ở đây suốt cả ngày nếu các người muốn; còn tôi, tôi chẳng biết cái quái gì về nơi ở của Frank Coombs đâu.

Rồi ông ta vặn to tiếng của ti-vi lên.

- Quỷ tha ma bắt lão già đi, - Jacobi càu nhàu khi chúng tôi rời khỏi ngôi nhà.

- Đằng nào chúng ta cũng xuống đây rồi, tôi bảo anh ta. - Anh có muốn lái xe tới Stanford không? Đến thăm cậu con trai của Frank Combs.

- Được thôi. - Anh ta nhún vai. - Cũng là một dịp để tôi được sống lại thuở sinh viên của mình.

Chúng tôi vòng xe sang đường 280 và đi thêm nửa giờ đồng hồ nữa để tới Palo Alto.

Khi chúng tôi dừng xe trong khu sân bãi của trường đại học - nơi có những hàng cây cọ cao vút viền hai bên đường, những tòa nhà uy nghiêm sơn màu nâu nhạt với mái ngói đỏ rực, Tòa Tháp Hoover tráng lệ vươn cao phía sau tòa nhà chính - tôi lại cảm nhận được sức hấp dẫn của môi trường học tập. Từng người trong số những cô cậu thanh niên kia đều hết sức giỏi giang và thông minh. Tôi bỗng thấy khâm phục con trai của Coombs, mặc dù có một sự khởi đầu hết sức khó khăn, nhưng đã thi đỗ được vào trường đại học này.

Chúng tôi vào làm thủ tục tại văn phòng trong tòa nhà chính. Trợ lý chủ nhiệm khoa cho chúng tôi biết Rusty Coombs đang tập thể thao ở khu luyện tập của trường. Ông ta còn cho biết thêm Rusty là một sinh viên tốt, có nhiều triển vọng. Chúng tôi tìm tới khu luyện tập và được một người quản lý sinh viên đội chiếc mũ đỏ trứ danh của trường đại học Stanford dẫn lên gác. Anh ta bảo chúng tôi hãy chờ một lát bên ngoài phòng tập tạ.

Một lúc sau, chúng tôi trông thấy một thanh niên vóc người chắc đậm, tóc màu vàng cam, mặc một chiếc áo tập dài tay hiệu Cardinals thong thả bước ra. Rusty Coombs có một khuôn mặt niềm nở, tàn nhang lấm tấm. Ở cậu không hề có một chút gì vẻ hung hãn hoặc u ám mà tôi đã nhìn thấy trong những bức ảnh chụp trong hồ sơ lưu của người cha.

- Tôi biết anh chị đến đây làm gì rồi, - cậu ta vừa nói vừa bước lại gần chỗ chúng tôi đang đứng. - Mẹ tôi đã gọi điện báo cho tôi.

Từ sau lưng cậu ta, vang lên những tiếng kêu lách cách của máy nâng và dụng cụ tập tạ. Tôi mỉm cười nhã nhặn.

- Chúng tôi đang tìm cha của cậu, Rusty ạ. Chúng tôi muốn biết cậu có tin tức gì của ông ấy không.

- Ông ấy không phải là cha của tôi, - cậu con trai trả lời thẳng thừng kèm theo một cái lắc đầu dứt khoát. - Cha tôi tên là Theodore Bell cơ. Ông ấy là người đã cùng mẹ tôi nuôi dạy tôi khôn lớn. Chính ông ấy đã dạy tôi cách bắt bóng, và cũng chính ông ấy đã động viên tôi để tôi thi đỗ vào trường đại học này.

- Lần cuối cùng cậu nhận được tin của Frank Coombs là khi nào?

- Thế ông ấy đã làm gì? Mẹ tôi bảo anh chị là người của Đội Homicide. Chúng tôi cũng biết chuyện đang xảy ra qua các bản tin. Nhưng cho dù trước đây ông ấy đã làm gì, thì ông ấy cũng đã phải trả giá, phải không nào? Anh chị không thể nghi ngờ ông ấy có trách nhiệm trong những vụ án khủng khiếp của anh chị chỉ vì một lỗi lầm đã xảy ra cách đây hơn hai chục năm.

- Chúng tôi không lái xe từng ấy đoạn đường đến đây trừ phi vấn đề hết sức nghiêm trọng, - Jacobi nói.

Cậu sinh viên kiêm cầu thủ bóng đá cúi xuống, đá qua đá lại quả bóng giữa hai chân. Trông cậu ta đúng là một chàng trai đáng yêu, năng động và sẵn sàng hợp tác. Cậu xoa hai tay vào nhau.

- Ông ấy có đến đây một lần, khi vừa ra tù. Trong thời gian ông ấy ngồi tù, tôi có vài lần viết thư cho ông ấy. Tôi đã hẹn gặp ông ấy trong thị trấn. Tôi không muốn mọi người ở đây trông thấy ông ta.

- Ông ấy nói gì với cậu? - Tôi hỏi.

- Tôi nghĩ ông ấy muốn gột sạch lương tâm mình. Và muốn biết mẹ tôi nghĩ gì về ông ấy. Ông ấy chẳng buồn khen tôi lấy một câu, kiểu như “Này, chàng trai! Trông con kìa. Con khá lắm.” hoặc “Cha sẽ đến xem con chơi bóng...” Ông ấy chỉ quan tâm tới việc mẹ tôi đã vứt những thứ đồ cũ của ông ấy đi hay chưa thôi.

- Những thứ đồ gì vậy? - Tôi hỏi tiếp. Tôi muốn biết cái gì quan trọng đến nỗi ông ta phải đi tít xuống tận đây và đối diện với cậu con trai đã trưởng thành của mình.

- Mấy thứ từ hồi ông ấy còn làm cảnh sát ấy mà, - Rusty Coombs bĩu môi, lắc đầu - Súng ống gì đó.

Tôi mỉm cười thông cảm. Tôi có thể hiểu được cảm giác xem thường một người cha là như thế nào.

- Ồng ấy có nói với cậu là ông ấy sẽ đi đáu không?

Rusty Coombs lại lắc đầu. Mắt cậu ta rưng rưng như sắp khóc.

- Tôi không phải là Frank Coombs, thanh tra ạ. Có thể tôi phải mang họ của ông ấy. Có thể tôi sẽ phải sống suốt đời với những gì mà ông ấy đã làm, nhưng tôi không phải là ông ấy. Tôi xin anh chị, hãy để cho gia đình tôi được yên!

80

Khỉ thật! Phải khuấy động những ký ức đau buồn của Rusty Coombs, tôi cũng cảm thấy không vui. Ngay cả Jacobi cũng đồng ý với tôi như vậy.

Chúng tôi về đến văn phòng vào lúc bốn giờ chiều. Suốt một ngày trời, chúng tôi lái xe tới Palo Alto chỉ để tìm thấy một đầu mối bế tắc khác. Buồn cười thật đấy.

Có một tin nhắn đang đợi tôi trên bàn làm việc. Tôi nhấc máy gọi lại cho Cindy ngay lập tức.

- Nghe nói cậu đang thu hẹp diện nghi vấn thì phải? - Tiếng cô bạn thản của tôi vang lên.

- Chúng tớ đã có một cái tên, Cindy ạ. Nhưng tớ vẫn chưa thể nói gì với cậu được. Chúng tớ mới chỉ muốn triệu tập ông ta để thấm vấn mà thôi.

- Như vậy tức là các cậu chưa có lệnh bắt chứ gì?

- Cindy... Làm gì đã có.

- Tớ hỏi nghiêm túc đấy, Lindsay ạ. Hắn đã theo dõi bạn của chúng ta. Cậu nhớ không? Nếu như tớ có thể giúp gì cho cậu...

- Bên cạnh tớ đã có hàng trăm cảnh sát khác đang làm việc rồi mà, Cindy. Nhiều người trong số họ đã từng khám phá những vụ án còn phức tạp hơn thế này cơ. Xin cậu hãy tin tớ.

- Nhưng nếu như cậu chưa triệu tập được ông ta, có nghĩa là cậu chưa tìm thấy ông ta chứ gì?

- Cũng có thể là do chúng tớ chưa có đầy đủ bằng chứng. Nhưng Cindy này, thông tin không phải để đăng báo đâu đấy nhé.

- Tất nhiên rồi. Chỉ tớ thôi, Lindsay ạ. Cả Claire và Jill nữa, chúng ta là một nhóm phải không nào?

Cô ấy nói đúng. Không giống như những vụ điều tra giết người khác mà tôi đã tham gia, vụ này có vẻ như càng ngày càng trở nên riêng tư hơn. Tại sao thế nhỉ? Tôi chưa tìm thấy Coombs và tôi cần phải được giúp đỡ. Chừng nào mà hắn còn tự do ở ngoài thì bất cứ chuyện gì cũng có thể xảy ra được.

- Tớ cần sự giúp đỡ của cậu. Cậu hãy tìm kiếm trong đống hồ sơ cũ của cậu, Cindy nhé. Hình như cậu vẫn chưa chịu tìm tòi kỹ lưỡng thì phải.

Cô ấy dừng lại, hít một hơi thật sâu.

- Cậu đúng, phải không? Hắn ta là một cảnh sát.

- Cậu không được đi theo hướng của tớ đâu đấy nhé, bạn thân mến. Nếu cậu làm vậy, có thể cậu sẽ đi sai đường. Cậu sẽ bị bế tắc.

Tôi có thể hình dung ra cảnh cô bạn thân của tôi đang cắn môi suy nghĩ.

- Chúng ta sẽ vẫn tiếp tục gặp nhau chứ?

Tôi mỉm cười.

- Tất nhiên rồi. Cậu vừa nói chúng ta là một nhóm cơ mà. Hơn bao giờ hết.

Tôi đang định thu xếp công việc để ra về thì một cú điện thoại được nối đến đường dây của tôi. Lúc đó, tôi đang nghĩ rằng Tom Keating nói dối. Chắc chắn ông ta đã nói chuyện với Coombs. Nhưng chừng nào chúng tôi chưa đưa ra lệnh triệu tập, thì Keating vẫn có quyền giữ kín mọi chuyện mà ông ta muốn.

Nhấc máy lên, tôi quá đỗi ngạc nhiên khi nhận ra vợ của ông ta đang gọi điện tới. Suýt nữa thì tôi đánh rơi cả ống nghe.

- Chồng tôi đúng là một kẻ ương bướng gàn dở, trung úy ạ, - bà ta bắt đầu, rõ ràng là đang hết sức căng thẳng. - Nhưng ông ấy rất tự hào được làm một cảnh sát. Tôi chưa bao giờ đòi hỏi ông ấy phải giải thích bất cứ chuyện gì. Bây giờ cũng vậy. Nhưng tôi không thể ngồi yên mà nhìn được. Frank Coombs đã giết đứa trẻ đó. Và nếu như ông ta còn tiếp tục làm như vậy thì tôi sẽ không thể nào tỉnh giấc vào mỗi buổi sáng mà không cảm thấy bứt rứt khi đã tiếp tay cho một tên giết người.

- Bà Keating ạ, nếu như chồng bà chịu nói ra mọi chuyện mà ông ấy biết thì sẽ tốt cho mọi người hơn.

- Tôi không biết ông ấy biết những gì, - bà ta trả lời, - và tôi không tin khi ông ấy bảo đã lâu ông ấy không nói chuyện với Coombs. Nhưng ông ấy không chịu nói ra toàn bộ sự thật, trung úy ạ.

- Vậy tại sao bà không gợi chuyện?

Bà Keating có vẻ lưỡng lự.

- Coombs có đến đây. Một lần. Hai tháng trước thì phải.

- Bà có biết bây giờ ông ta đang ở đâu không? - Máu tôi lại bắt đầu chảy rần rật trong huyết quản.

- Không, - bà ta trả lời. - Nhưng tôi có nhận được một mảnh giấy ông ta gửi cho chồng tôi. Tôi vẫn còn giữ số đó.

Tôi lập cập vớ vội cây bút.

Bà ta đọc - 434-9117.

- Hình như đó là số điện thoại của một khách sạn hoặc một nhà trọ nào đó.

- Cám ơn bà nhiều lắm, bà Helen.

Tôi định đặt máy thì bà ta nói thêm.

- Vẫn còn một chuyện nữa... Khi chồng tôi nói ông ấy đã giúp Coombs mấy chuyện lặt vặt, ông ấy đã chưa nói hết. Ông ấy đã cho Frank Coombs một ít tiền. Ông ấy cũng cho phép Coombs lục lọi tìm kiếm thứ gì đó trong đống đồ cũ ngoài kho.

- Thứ gì vậy? - Tôi hỏi.

- Mấy thứ cũ ngày xưa ông ấy đã dùng khi còn làm cảnh sát. Hình như là một bộ đồng phục, một tấm phù hiệu.

Đó cũng chính là thứ mà Coombs đã tìm kiếm trong nhà của người vợ cũ. Những bộ đồng phục cánh sát của hắn ta. Trí óc của tôi đang bật tín hiệu báo động. Có thể đó chính là nguyên nhân khiến hắn tiếp cận được Chipman và Mercer chăng...?

- Còn gì nữa không ạ? - Tôi hỏi.

- Không, - Helen Keating trả lời. - Tom có mấy khẩu súng dưới đó. Và Coombs đã lấy đi hết.

81

Trong vòng có mấy phút, tôi đã tìm ra được địa chỉ của số điện thoại mà Helen Keating vừa cung cấp. Đó là một nhà trọ ở góc đường Larkin và McAllister. Khách sạn William Simon. Tim tôi đập thình thịch.

Tôi gọi cho Jacobi, vừa lúc anh ta chuẩn bị ngồi vào bàn ăn bữa tối.

- Gặp tôi ở góc đường Larkin và McAllister nhé. Khách sạn William Simon.

- Chị muốn tôi gặp chị ở một khách sạn? Thật không biết xấu hổ! Được rồi, tôi đến ngay.

- Tôi nghĩ chúng ta đã tìm thấy Coombs rồi.

Chúng tôi không thể xông vào đó bắt Frank Coombs được. Chúng tôi vẫn chưa có một chút chứng cớ gì có thể gắn hắn ta trực tiếp tới vụ án. Tất nhiên là tôi vẫn có thể xin được lệnh triệu tập và xông thẳng vào phòng của hắn. Nhưng ngay lúc này đây, điều quan trọng nhất mà tôi cần phải làm là xác định xem hắn còn ở đó hay không.

Hai mươi phút sau, tôi lái xe tới một khu vực tiều tụy xơ xác, nằm giữa trung tâm hành chính và Quảng trường Liên Bang. Khách sạn William Simon là một nhà trọ rẻ tiền nằm dưới tầng hầm của một cửa hàng, và nếu là Jill thì cô ấy sẽ bĩu môi và xì một cái thật to.

Tôi không muốn vào chỗ lễ tân và giơ tấm phù hiệu của mình cùng ảnh của Frank Coombs ra chừng nào chúng tôi chưa sẵn sàng hành động. Vì thế, tôi đành đứng ngoài và giở số điện thoại mà Helen Keating đã cho ra và bấm máy. Sau ba hồi chuông mới có một giọng đàn ông uế oải trả lời.

- Khách sạn William Simon...

- Tôi muốn gặp ông Coombs... - Tôi nghe có tiếng giở giấy sột soạt, chắc anh ta đang kiểm tra danh sách khách trọ.

- Ở đây không có ai tên như thế cả.

Cứt thật. Tôi đề nghị anh ta kiểm tra lại một lần nữa nhưng anh ta từ chối.

Ngay lúc đó, cửa sau xe của tôi bật mở. Các đầu dây thần kinh của tôi nảy tưng lên như dây đàn của một cây ghi-ta bass.

Jacobi chui vào xe. Anh ta mặc một chiếc áo sơ-mi chơi gôn có sọc vằn và một chiếc quần soóc, khoác bên ngoài là áo jacket có in dòng chữ Chỉ Giành Cho Thành Viên trông đến gớm. Cái bụng của anh ta căng phình. Anh ta nhe răng ra cười trông thật giống một gã đểu cáng.

- Xin chào cô em, cô hẹn tôi đến đây làm gì thế hả?

- Để ăn tối, có thể, nếu như anh chịu thết đãi tôi.

- Có gì mới chưa vậy? - Anh ta nghiêm túc trở lại.

Tôi lắc đầu và kể vắn tắt cho anh ta nghe những gì mà tôi vừa tìm ra.

- Nhỡ hắn chuyển đi chỗ khác rồi thì sao? - Jacobi thắc mắc. - Chị nghĩ thế nào nếu để tôi vào thẳng lễ tân và giơ thẻ cảnh sát ra hỏi? Tất nhiên là phải mang cả ảnh của Coombs vào cùng.

Tôi lại lắc đầu.

- Thế anh nghĩ thế nào nếu chúng ta cứ ngồi đây và chờ đợi?

Chúng tôi đã chờ trong suốt hai tiếng đồng hồ sau đó. Khu vực bị chúng tôi giám sát buồn tẻ đến không ngờ. Xe cộ qua lại thưa thớt. Chúng tôi vừa theo dõi khách sạn William Simon vừa bàn về tin tức mà Helen Keating đã cung cấp, sau đó lại nói sang chuyện những món ăn mà vợ Jacobi đang nấu ở nhà và cả những chuyện tào lao trong Sở Cảnh sát. Jacobi còn ra ngoài mua một cặp bánh mì kẹp thịt mang về.

Tới mười giờ, Jacobi bắt đầu càu nhàu.

- Chả lẽ cứ ngồi mãi thế này à. Thôi để tôi vào trong xem sao, Lindsay nhé?

Có lẽ Jacobi nói đúng. Chúng tôi không chắc chắn Frank Coombs có còn ở đây nữa hay không. Số điện thoại mà Helen Keating có cách đây cũng đã nhiều tuần rồi.

Tôi đang chuẩn bị đầu hàng thì bất chợt trông thấy một người đàn ông ló ra từ góc phố Larkin. Ông ta đi thẳng tới cửa khách sạn. Tôi liền tóm lấy tay Jacobi.

- Nhìn kìa!

Đó chính là Coombs. Tôi có thể nhận ra hắn ta ngay lập tức. Hắn ta đang mặc một chiếc áo khoác to sù, hai tay nhét vào túi áo. Một chiếc mũ mềm kéo sụp xuống tận mắt.

- Đồ khốn, - Jacobi lẩm bẩm.

Nhìn theo gã đàn ông lén lút đi vào trong khách sạn, phải kìm mình lắm tôi mới không nhảy ra khỏi xe và lao tới giáng cho hắn một cái tát. Nhưng dù sao, cuối cùng thì chúng tôi cũng đã lần ra dấu vết của Chimera. Chúng tôi đã biết chắc nơi ẩn náu của hắn.

- Tôi muốn có người theo dõi gã này, hai tư trên hai tư giờ. - Tôi bảo Jacobi. - Nếu như hắn có động tĩnh gì đó, thì chúng ta phải bắt hắn ngay và tìm cách buộc tội hắn sau vậy.

Jacobi gật đầu.

- Tôi hy vọng anh có mang theo bàn chải đánh răng. - Tôi nháy mắt. - Lượt anh theo dõi trước nhé.

82

Trong lúc hai người nắm tay nhau đi bộ về phía căn hộ của cô, Cindy buộc phải thừa nhận rằng cô đang rất sợ hãi.

Đây là lần thứ năm cô và Aaron Winslow hẹn gặp. Họ đã cùng nhau xem Cyrus Chestnut và Freddie Hubbard biểu diễn trong quán Cánh Cửa Xanh; cùng nhau xem vở Traviata; cùng nhau đi phà qua vịnh tới quán cà phê Jamaica nhỏ xíu mà Aaron biết. Tối nay, họ vừa xem xong một bộ phim hết sức lãng mạn có tên là Sô-cô-la.

Chẳng cần biết chuyện này rồi sẽ đi tới đâu, Cindy cảm thấy rất thích thú khi được ở bên mục sư. Anh là người đàn ông sâu sắc nhất mà từ trước tới nay cô từng hẹn hò, và rõ ràng là cũng nhạy cảm nhất. Không chỉ vì anh đã đọc những quyển sách đáng nể đại loại như Kiệt tác đau buồn của một thiên tài xuất chúng của Dave Eggers hay Con gái người nắn xương của Amy Tan, mà còn vì anh đã cố gắng sống đúng với những gì mà hàng ngày anh thường thuyết giáo. Anh làm việc từ mười hai đến mười sáu tiếng mỗi ngày và được tất cả những người dân trong vùng yêu quý hết mực. Ngoài ra lòng tự trọng của anh rất cao. Cindy đã phải nghe đi nghe lại mãi những lời ca tụng khi cô đi phỏng vấn mọi người cho câu chuyện của mình. Aaron Winslow quả đúng là một người đàn ông rất tuyệt.

- Tối nay em có vẻ yên lặng quá nhỉ, - Aaron lên tiếng. - Em khỏe chứ, Cindy?

- Em không sao, - cô nói dối, vẫn nghĩ ngợi trong đầu rằng bên cạnh cô lúc này là người đàn ông hấp dẫn nhất mà cô từng gặp. Nhưng lạy Chúa, anh ấy là một mục sư. Tại sao mình không nghĩ tới điều đó nhỉ? Hẹn hò với anh có phải là một quyết định đúng đắn hay không? Có lẽ mình phải suy nghĩ kỹ hơn. Đừng làm anh ấy phải đau khổ. Và cùng đừng tự mình làm khổ mình.

Họ dừng lại ở trước lối vào khu nhà của Cindy, bên dưới khung cửa vòm thắp đèn sáng rực. Aaron khẽ ngân nga một giai điệu R&B du dương, “...trước đây tôi đã đi qua lối này”. Ngay cả giọng hát của anh cũng rất tuyệt.

Chẳng còn cớ gì để mà trì hoãn lâu hơn nữa.

- Aaron ơi, rồi cũng phải có người nói ra câu này trước. Anh có muốn lên thăm nhà em không? Em sẽ rất thích nếu anh nói có, và sẽ rất ghét nếu anh nói không.

Aaron thở dài và mỉm cười.

- Bản thân anh cũng chẳng biết rồi chuyện này sẽ đi tới đâu, Cindy ạ. Có lẽ anh đã đi hơi chệch ra ngoài khuôn phép rồi. Anh... nói thế nào được nhỉ, anh chưa bao giờ hẹn hò với một cô gái tóc vàng cả. Anh không dám hy vọng bất cứ điều gì trong chuyện này.

- Em hiểu, - Cindy cũng mỉm cười theo Aaron. - Nhưng từ đây lên nhà em chỉ có hai tầng gác thôi mà. Chúng ta có thể nói chuyện trên đó.

Hai bờ môi của Aaron khẽ run run, và khi anh chạm vào tay cô thì dường như anh đã truyền vào người cô cả một luồng điện. Ôi Chúa ơi, cô thực sự thích anh. Và tin tưởng ở anh nữa.

- Anh có cảm giác như mình đang vượt qua ranh giới, - Aaron nói. - Và ranh giới đó anh không phải vượt qua một cách vô tình. Chính vì vậy anh muốn biết: Có phải chúng ta đang đứng cạnh ranh giới đó cùng nhau hay không? Có phải chúng ta đang có chung một tâm trạng?

Cindy kiễng chân lên và áp chặt môi cô vào môi anh. Lúc đầu Aaron cảm thấy sững sờ, người cứng đơ, nhưng rồi anh từ từ vòng tay ôm lấy người cô và bắt đầu hôn đáp lại.

Đó mới chính là điều mà Cindy mong muốn - một nụ hôn thật sự. Nhẹ nhàng và hấp dẫn. Qua lớp áo khoác ngoài của Aaron, cô có thể cảm nhận được nhịp đập rộn ràng của một trái tim nóng bỏng. Nó khiến cô càng muốn gần gũi anh hơn nữa.

Khi họ buông nhau ra, cô nhìn sâu vào mắt anh và nói khẽ.

- Chúng ta có chung một tâm trạng.

Cô lấy chìa khóa nhà ra và dẫn anh lên tầng hai tới nơi ở của mình. Tim cô đập thình thịch.

- Thật tuyệt, - Aaron thốt lên. - Anh không chỉ khen cái này thôi đâu. - Vừa nói anh vừa khoát tay chỉ tay vào những giá sách kê dọc bốn bức tường trong phòng và căn bếp ấm cúng. - Anh nói cả em nữa đấy... Cindy ạ. Thật dại dột khi anh không chịu lên đây từ trước.

- Em biết không phải là anh không cố gắng, - Cindy cười thật tươi. Nhưng Chúa ơi, bên trong cô lại đang hết sức căng thẳng.

Aaron lại ôm cô vào lòng, lần này nụ hôn dài hơn trước. Mục sư không phải là không biết hôn. Từng tế bào trong cơ thể Cindy dường như sinh động hẳn lên. Cô nép sát vào người Aaron, cảm thấy thật an tâm và dễ chịu. Aaron có một cơ thể mảnh dẻ, nhưng trong anh tiềm ẩn một sức mạnh phi thường.

Cindy bắt đầu cười thoải mái hơn.

- Anh đang chờ đợi điều gì vậy?

- Anh cũng không biết nữa. Có lẽ là chờ một tín hiệu.

Cindy lại càng nép sát vào người anh hơn, cảm thấy cơ thể anh cũng đang rạo rực chẳng kém.

- Có tín hiệu rồi đấy, - cô nói khẽ.

- Anh cho là đã đến lúc anh phải tiết lộ một bí mật. Đúng vậy, anh rất thích em, Cindy ạ.

Đột nhiên, chuông điện thoại reo vang, gần như nổ tung bên tai họ.

- Ôi Chúa ơi, - Cindy kêu lên. - Đừng thế nữa đi, hãy để chúng tôi được yên!

- Anh hy vọng đó không phải là một tín hiệu khác. - Aaron bật cười khúc khích.

Điện thoại vẫn reo, hồi chuông sau giục giã hơn hồi chuông trưóc. Cuối cùng, bộ phận trả lời tự động của máy cũng bật.

- Cindy, tớ là Lindsay đây, - một giọng nói vang lên. - Tớ có một chuyện vô cùng quan trọng.

- Em nghe máy đi, - Aaron giục.

- Nào, nhấc máy lên đi. Cậu đừng bắt tớ phải đợi lâu như thế để thay đổi ý kiến đấy nhé.

Cindy bước vòng ra sau ghế đi-văng, cầm ống nghe lên vào áp sát vào một bên tai.

- Tớ sẽ không làm như vậy với bất kỳ ai ngoài cậu, - cô nói.

- Buồn cười thật, đó cũng chính là câu mà tớ đang muốn nói với cậu đấy. Cậu nghe này. - Lindsay bắt đầu chia sẻ với Cindy những tin tức mới nhất về vụ án trong khi Cindy cảm nhận được một đợt sóng hân hoan đang trào dâng trong lòng. Chẳng phải nhờ cô mà Lindsay mới có hướng điều tra đúng đắn như vậy hay sao?

- Cám ơn cậu đã gọi điện báo cho tớ biết, - cô nói và đặt ống nghe xuống rồi quay phắt lại phía Aaron, nhìn anh bằng ánh mắt rạng ngời.

- Anh muốn có một tín hiệu phải không? Em sẽ cho anh tín hiệu hay nhất trên trái đất này nhé. - Khuôn mặt cô sáng bừng vì vui sướng.

Họ đã tìm được hắn, Aaron ạ.

83

Chúng tôi đã thức cả đêm để theo dõi khách sạn WiHxam Simon một cách không chính thức. Kể từ lúc đó trở đi, Coombs đã không ra ngoài thêm một lần nào. Tôi đã biết chỗ ở của hắn, giờ tất cả những gì mà tôi phải làm là thu xếp nốt những việc còn lại.

Jill quay trở lại làm việc vào buổi sáng hôm sau. Tôi định lên phòng của cô ấy để báo cho cô ấy biết những tin tức mới nhất. Nhưng tôi muốn hỏi ý kiến của Claire trước đã, và chị ấy đã tán thành ý định của tôi.

Chúng tôi gõ cửa phòng của Jill và trông thấy cô ấy đang ngồi sau bàn, dáng vẻ yếu ớt tiều tụy. Mấy chồng hồ sơ tài liệu dày cộp cho thấy Jill đã không hề bỏ phí một ngày nào. Nhìn thấy chúng tôi, ánh mắt của Jill sinh động hẳn lên, nhưng khi cô ấy đứng dậy chào đón chúng tôi thì trông cô ấy có vẻ hơi phải gắng sức quá.

- Đừng, - tôi ngăn lại và đi vòng qua bàn tới bên Jill, ôm choàng lấy cô ấy. - Cậu phải cẩn thận chứ.

- Tớ khỏe rồi mà, - cô ấy khẽ trả lời. - Bụng vẫn hơi cứng, tim vẫn hơi đau. Nhưng tớ đã ở đây. Đó là điều tuyệt vời nhất với tớ lúc này.

- Em có chắc chắn rằng việc đi làm trở lại là một quyết định sáng suốt hay không? - Claire lo lắng hỏi lại.

- Đối với em, đó là một quyết định sáng suốt, - Jill đáp. - Em thề với chị, bác sĩ ạ, em khỏe rồi mà. Vì thế, em xin hai người đừng nài ép em phải nghỉ nữa nhé. Nếu như hai người muốn giúp e1m làm lành vết thương, thì hai người hãy cho em biết tin tức mới nhất về những vụ việc đang xảy ra trong sở.

Chúng tôi hoài nghi quan sát cô ấy. Nhưng sau đó, tôi bắt đầu chia sẻ tin tức của mình.

- Tớ cho rằng chúng ta đã tìm được hắn.

- Ai cơ? - Jill ngơ ngác hỏi lại.

- Chimera chứ còn ai. - Tôi nhoẻn cười rạng rỡ.

Claire thì lại không cười chút nào, chị nhìn tôi chòng chọc. Rồi chị nhắm mắt lại một lúc như thể đang cầu nguyện một điều gì đó rồi mở mắt ra kèm một tiếng thở dài.

Jill có vẻ như bị gây ấn tượng.

- Lạy Chúa, mọi người đã rất bận rộn trong lúc em nằm viện thì phải.

Họ bắt đầu đưa ra những câu hỏi cụ thể, còn tôi thì trình bày mọi chi tiết cho họ nghe. Khi tôi nói đến tên kẻ nghi phạm, Jill chợt thốt lên.

- Coombs... Tớ nhớ vụ này, lúc nó xảy ra tớ đang học trong trường luật... - Một tia sáng lấp lánh vụt lóe trong cặp mắt sắc sảo của cô. - - Frank Coombs. Ông ta đã giết chết một cậu bé chưa tới tuổi trưởng thành.

- Em có chắc chắn đó là hắn không vậy? - Claire hỏi. Chị vẫn còn đeo một mảnh gạc trên cái cổ bị thương.

- Em hy vọng, - tôi trả lời. Sau đó, không chút ngập ngừng nào nữa, tôi khẳng định luôn. - Đúng, em chắc chắn đó chính là hắn.

- Em đã bắt hắn chưa? - Claire hỏi tiếp. - Liệu chị có thể giáp mặt hắn trong tù được không? Chị đang nóng lòng muốn xem mặt kẻ đã bắn lén chị.

- Em chưa bắt được hắn. Hắn ta vẫn còn ở chỗ ẩn náu của hắn dưới tầng hầm của một cửa hàng ở Tenderloin. Chúng em đã cắt cử người giám sát hắn hai tư trên hai tư giờ rồi.

Tôi quay lại phía Jill.

- Cậu nghĩ sao, luật sư? Tớ muốn triệu tập hắn tới để thẩm vấn.

Jill khẽ nhỏm người dậy, có phần hơi thận trọng. Cô tựa người vào mép bàn.

- Để tớ xem nào, hãy nói cho tớ biết chính xác cậu đã có những gì rồi?

Tôi lướt qua từng mắt xích một: những mối liên kêt lỏng lẻo giữa ba nạn nhân. Quá khứ của Coombs đã từng là một nhà thiện xạ. Lòng thù hận của hắn giành cho người da màu cùng với việc OFJ đã trói buộc số phận của hắn như thế nào. Nhưng dường như với tất cả các cấu thành chứng cớ đó, tôi vẫn chưa thuyết phục được Jill thì phải.

- Jill, cậu nghe này, - tôi giơ cao tay lên. - Hắn ta đã lấy được một khẩu súng 38 ly từ chỗ một cảnh sát về hưu, và cảnh sát trưởng Mercer đã bị bắn bằng một khẩu súng 38 ly như thế. Cả ba nạn nhân đều liên quan trực tiếp tới quá khứ của hắn. Mình đã hỏi thăm qua một người bạn đang làm giám thị tại nhà tù San Quentin, và cô ấy nói hắn đã từng lải nhải rất nhiều về chuyện trả thù với các tù nhân ở đó.

- Súng 38 ly ư? Cậu có thể mua một hào một tá, Lindsay ạ.

- Nhưng mà, Jill, kẻ giết Tasha Catching đã chọn đúng địa điểm nơi Coombs đã từng bị bắt vì tội giết người hai mươi năm về trước.

Cô ấy vội ngắt lời tôi.

- Thế còn nhân chứng, người đã trông thấy hắn lảng vảng tại hiện trường vào thời điểm vụ án xảy ra? Có ai không, Lindsay?

Tôi lắc đầu.

- Vậy thì một dấu vết, hay là một mảnh quần áo? Bất cứ thứ gì có thể buộc hắn vào tội giết một trong những người kia?

Với một hơi thở cáu kỉnh, tôi bật ra câu trả lời.

- Không có gì cả.

- Tất cả đều là những chứng cớ do suy diễn mà có, Jill ạ. - Claire xen vào. - Coombs là một con quái vật. Chúng ta không thể để hắn nhởn nhơ ngoài phố mãi được.

Jill ném về phía chúng tôi một cái nhìn sắc lạnh. Ái chà, cô ấy đã gần như trở lại với hình ảnh quen thuộc của mình mấy hôm về trước rồi.

- Thế hai người nghĩ tớ không muốn bắt hắn bằng hai người à? Chị tưởng em nhìn chị mà không thấy đau lòng hay sao, hả Claire? Nhưng trong tay chúng ta chưa hề có vũ khí, ngay cả động cơ giết người của hắn cũng chưa có nốt. Nếu chúng ta cố tình ập vào bắt giữ hắn thì chắc chắn chúng ta sẽ bị thua cho mà xem.

- Coombs chính là Chimera, Jill ạ, - tôi nói. - Tớ biết tớ vẫn chưa sẵn sàng, nhưng tớ đã xác định được động cơ giết người của hắn và mối liên hệ giữa hắn với ba nạn nhân. Tớ có chứng cớ có thể chứng thực được mục đích của hắn.

- Chứng cớ của nhà tù à? - Jill lắc đầu. - Bồi thẩm đoàn sẽ cười vỡ bụng ra mất.

Cô ấy đứng dậy, đặt hai tay lên cả vai tôi lẫn vai Claire.

- Xem kìa, tớ biết hai người muốn bắt hắn đến độ nào rồi. Tớ là bạn của các cậu, nhưng bên cạnh đó tớ còn là người đại diện cho pháp luật. Hãy mang đến cho tớ bất cứ thứ gì các cậu có, bất cứ ai đã trông thấy hắn ở hiện trường, hoặc chí ít cũng là một dấu vân tay hắn để lại trên cánh cửa. Bất cứ thứ gì, Lindsay, và tớ sẽ là người đầu tiên chạy lao tới xích tay hắn, xếch ngược người hắn lên và bẻ cho hắn gãy cổ.

Tôi đứng im như trời trồng, vừa giận giữ vừa thất vọng. Nhưng tôi biết rằng Jill nói đúng. Tôi lắc đầu và dợm bước về phía cửa.

- Em sẽ làm gì tiếp theo đây? - Claire hỏi với theo tôi.

- Em sẽ đến chỗ hắn, xếch ngược người hắn lên và bẻ cho hắn gãy cổ.

84

Mười lăm phút sau đó, tôi và Jacobi gặp Cappy bên ngoài khách sạn William Simon. Chúng tôi đi thẳng vào gian tiền sảnh tồi tàn của khách sạn, nơi một người Ân Độ có cặp mắt buồn ngủ đang ngồi đọc lướt một tờ báo in bằng tiếng bản ngữ của ông ta đằng sau dãy bàn đón tiếp. Jacobi ném phịch tấm ảnh của Coombs cùng với thẻ của mình lên mặt bàn trước cặp mắt thảng thốt của người đàn ông.

- Phòng nào?

Phải mất ba giây sau người nhân viên chít khăn của khách sạn mới có thể nhìn xuống tấm ảnh, rồi ông ta lập cập giở một cuốn sổ có vẻ như là sổ đăng ký bí mật của khách sạn này và lắp bắp một cách khó khăn.

- Ba lẻ bảy, ông ta đăng ký với cái tên Burns. - Nói rồi người đàn ông chỉ tay về phía thang máy. - Lên đường kia rẽ tay phải.

Một lát sau, chúng tôi đã đứng trong một dãy hành lang bẩn thỉu, tốì tăm trên tầng ba, bên ngoài phòng trọ của Coombs. Không ai bảo ai, chúng tôi cùng mở chốt an toàn của súng.

- Nhớ là chúng ta chỉ được hỏi chuyện thôi đấy, - tôi nhắc nhở. - Và phải cố gắng quan sát tới mức tối đa.

Jacobi và Cappy gật đầu rồi chia nhau đứng án hai bên cánh cửa. Cappy gõ nhẹ lên đó.

Không có ai trả lời.

Anh ta gõ thêm một lần nữa.

- Ông Frank Burns.

Cuối cùng, một giọng nói lúng búng, nặng nề vọng ra.

- Cút mẹ chúng mày đi. Quên rồi à? Tao đã trả tiền cho đến hết ngày thứ sáu rồi cơ mà.

Jacobi quát to.

- Cảnh sát San Francisco đây, ông Burns. Chúng tôi mang cà-phê sáng tới cho ông đây mà.

Có một sự im lặng kéo dài. Tôi nghe thấy một tiếng động khá lớn, nghe như tiếng ghế bị kéo lê trên sàn và tiếng một ngăn kéo bị đóng sập lại. Mãi sau, mới có tiếng bước chân nặng nề bước lại gần cửa ra vào và tiếng người đàn ông trong phòng gắt lên một cách cáu kỉnh.

- Các người muốn cái chết tiệt gì thế?

- Chỉ một vài câu hỏi nho nhỏ thôi. Phiền ông mở cửa ra mau.

Mấy phút sau đó, chúng tôi đứng chờ với ngón tay đặt sẵn trên cò súng cho tới lúc cánh cửa bật mở và gã đàn ông tên Coombs cau có xuất hiện.

Chimera.

Hắn ta có một khuôn mặt tròn nặng nề, hai mắt trũng xuống thành hai cái hố sâu hoắm. Khổ người thấp bè, mái tóc hoa râm, cái mũi tẹt to tướng và làn da thì lấm tấm những đốm đen. Hắn đang mặc một chiếc áo lót ngắn tay màu trắng thả bên ngoài một cái quần nhàu nát màu xám nhạt. Cặp mắt của hắn rực cháy ánh nhìn khinh bỉ và hận thù.

- Đây..., - Jacobi kêu lên, đập mạnh tờ Biên niên sử cuộn tròn mà anh ta đang cầm trên tay vào ngực gã đàn ông hung hãn. - Báo buổi sáng nhé. Ông có phiền lòng khi chúng tôi vào hẳn bên trong hay không?

- Có, tôi phiền lòng nhiều lắm - Coombs cau có đáp lại

Cappy mỉm cười.

- Đã có ai nói cho ông biết ông rất giống một người từng làm việc trong ngành cảnh sát chưa hả? Gã kia tên gì ấy nhỉ? À phải, gã Coombs. Frank Coombs. Ông đã bao giờ nghe nói tới cái tên đó chưa?

Coombs dửng dưng chớp mắt, rồi môi ông ta vặn xoắn lại thành một một nụ cười nửa miệng.

- Các người không biết chứ, ở trên máy bay tôi suốt ngày bị nhận nhầm như vậy đấy.

Nếu như hắn ta chịu khó quan sát Jacobi và Cappy kỹ hơn một chút, thì thể nào hắn cũng nhận ra đó là hai người quen cũ của mình. Nhưng ngay lúc này đây, hắn đang ném sang phía tôi một cái nhìn hết sức suồng sã.

- Đừng có nói với tôi là các người từ ban đón tiếp của Sở Cảnh sát đến đấy nhé.

- Ông có định cho chúng tôi vào trong hay không đây? - Jacobi sẵng giọng.

- Lệnh khám xét đâu? - Coombs lừ mắt trông rất đểu cáng.

- Tôi đã nói với ông một cách tử tế rằng chúng tôi đến đây chỉ để mang báo buổi sáng đến cho ông thôi mà.

- Vậy thì vào đi, Coombs nói giữa hai hàm răng nghiến ken két. Cái nhìn của hắn khiến tôi lạnh gáy, cứ như thể nó xuyên qua đầu tôi từ phía trước ra phía sau vậy.

Cappy đập mạnh cánh cửa vào mặt Coombs, rồi anh ta cùng Jacobi nghêng ngang bước vào giữa phòng.

- Trong lúc chúng tôi ở đây, chúng tôi muốn đưa ra một vài câu hỏi.

Coombs vừa xoa cái cằm râu ria lởm chởm của hắn vừa ném về phía chúng tôi một cái nhìn hằn học. Cuối cùng, hắn lôi một chiếc ghế gỗ từ sau bàn viết ra và ngồi phịch xuống đó, tay khoanh trước ngực.

- Thật vớ vẩn, - hắn lẩm bẩm. - Trò cứt đái vô tích sự.

Căn phòng nhỏ xíu bừa bộn những giấy với báo, mấy chai rượu Budweiser đứng sắp hàng trên bậu cửa sổ, đầu mẩu thuốc lá thì chất đầy trong những vỏ lon Coca. Tôi có cảm giác nếu như mình có thể lục tung đống hổ lốn kia lên thì thể nào cũng tìm ra được một thứ gì đó.

- Đây là trung úy Boxer từ Đội Homicide, - Jacobi giới thiệu. - Còn chúng tôi là thanh tra Jacobi và thanh tra McNeil.

- Chào mừng, - Coombs nhe răng cười nhăn nhở. - - bên các người, tôi cảm thấy an toàn lắm. Lũ rối các người đang muốn gì vậy?

- Như tôi đã nói lúc nãy, - Jacobi trả lời, - ông nên thường xuyên đọc báo để theo kịp với những gì đang diễn ra quanh mình.

- Nếu như các người có điều gì muốn nói, thì hãy nói nhanh lên đi! - Coombs trở lại với thái độ hậm hực.

- Tại sao ông không bắt đầu bằng việc nói cho chúng tôi biết bốn hôm trước ông đã ở đâu? - Tôi hắng giọng. - Vào ngày thứ Sáu? Khoảng mười một giờ đêm?

- Thế tại sao các người không bắt đầu trước bằng việc liếm cái mông đít của tôi đây này? - Coombs nhếch mép cười nhạo. - Các người muốn chơi trò trốn tìm chứ gì? Xin cứ việc. Múa ba lê hay mở triển lãm nghệ thuật, tôi chiều tất. Còn hỏi tôi đã ở đâu cách đây bốn hôm thì tôi nói luôn là tôi chẳng nhớ gì đâu. Dạo này, thời gian biểu của tôi kín mít.

- Nói ngắn gọn thôi, - Cappy ngắt lời.

- Chắc chắn rồi. Đúng thế, tôi đã ở với mấy người bạn.

- Mấy người bạn à? - Jacobi xen vào. - Họ có tên tuổi, số điện thoại chứ? Tôi tin rằng họ sẽ rất vui lòng làm chứng cho ông.

- Tại sao? - Miệng Coombs lại dúm lại trong một nụ cười nham nhở.- - Có ai nói trông thấy tôi ở một nơi nào đó à?

- Tôi muốn biết, - tôi nhìn thẳng vào mắt gã đàn ông hung hãn, - lần cuối cùng ông đến Bay View là khi nào? Vùng đất cũ của ông đấy? Hay tôi phải nói rõ hơn đó là nơi ông đã bóp chết một đứa trẻ?

Coombs quắc mắt giận giữ. Tôi dám đảm bảo rằng hắn đang cực kỳ muốn bóp cố cho tôi tắt thở.

- Chúng ta có thể thấy rằng ông ấy có đọc báo, - Cappy cười phá lên.

Gã tù nhân vừa được phóng thích tiếp tục trợn mắt.

- Này đồ cứt thối, các người nghĩ tôi là lính mới tò te và chỉ cần ngoe nguẩy cái mông vào mặt tôi là đã có thể khiến tôi sợ vãi đái ra rồi đấy à? Chắc chắn là tôi có đọc báo chứ. Còn nếu như các người không giải quyết nổi vụ án của các người thì cũng đừng nên đến đây và dọa dẫm tôi bằng những tội lỗi trong quá khứ. Chắc các người đang nghi ngờ tôi đã nhúng tay vào việc giết mấy con chó hoang kia chứ gì?... Bây giờ tôi đang có việc phải đi ra ngoài, các người hỏi xong chưa vậy?

Chao ôi, sao tôi muốn tóm lấy cổ áo và dúi cái bản mặt dương dương tự đắc kia vào tường đến vậy. Nhưng Coombs nói đúng. Chúng tôi không thể bắt hắn được chỉ với những gì chúng tôi đang có.

- Vẫn còn một số câu hỏi nữa cần được ông giải đáp, ông Coombs ạ. Ông phải trả lời cho chúng tôi rõ tại sao cả ba nạn nhân đều có liên quan đến việc ông bị kết tội giết người cách đây hai mươi năm. Ông phải trả lời chính xác ông đã làm gì vào những thời điểm mà họ bị giết.

Những mạch máu trên trán Coombs phình lên. Nhưng hắn cố gắng nén giận và nhếch môi cười nhạt.

- Nếu như cô đã có nhân chứng nhìn thấy tôi tại hiện trường vụ án, cô trung úy trẻ ạ, thì cô đã không phải lên đây gặng hỏi tôi.

Tôi nhìn chòng chọc vào mặt hắn và không nói năng gì.

- Hay là dấu vân tay của tôi trên một thứ vũ khí nào đó? Hay là sợi vải từ quần áo của tôi?

Tôi đứng im, cách Chimera chỉ vài thước, nhìn hắn ta nở một nụ cười ngạo mạn, cặp mắt lạnh lùng và kiêu căng của gã đàn ông. Tôi muốn được tóm cố hắn quá, vì vậy tôi đánh liều nghiêm giọng nói to:

- Ông đang bị nghi ngờ phạm tội giết người, ông Coombs ạ. Ông biết quy định rồi đấy. Không được rời khỏi thành phố. Chúng tôi sẽ sớm quay lại tìm ông.

Tôi gật đầu ra hiệu cho Cappy và Jacobi. Chúng tôi cùng nhau tiến ra cửa.

- Còn điều này nữa, - tôi quay lại phía hắn cùng với một nụ cười toe toét. - ông biết không... Claire Washburn đã nhờ tôi chuyển lời... Nghiêng người sang bên trái đi, được không?

85

Tôi gần như mệt lử sau giờ làm việc. Tôi muốn về nhà và nghỉ ngơi. Vì thế tôi lái xe trở về Potrero, trí óc tôi vẫn còn quanh quẩn với cuộc đối thoại khó chịu cùng Coombs khi nãy. Hắn đã nhiếc móc chúng tôi, chửi bới chúng tôi, cười nhạo vào mặt chúng tôi và biết rằng chúng tôi không có cớ gì để bắt hắn.

Tôi đã biết Chimera là ai... vậy mà tôi không thể nào tiếp cận hắn được.

Tôi dừng lại trước một cột đèn đỏ, chưa muốn về nhà nhưng không có chỗ nào để đi. Cindy đang có hẹn; còn Jill và Claire thì ở nhà với chồng. Lẽ ra tôi cũng đã có thể hẹn hò với một người nào đó nếu như thời gian qua tôi không khép chặt lòng mình tới vậy.

Tôi định gọi cho Claire, nhưng điện thoại của tôi lại hết pin - tôi phải nạp lại cục pin chết tiệt này mới được. Nhưng ngay lúc này đây, mình phải làm một việc gì đó - trí óc tôi cứ nài nỉ giục giã tôi như vậy.

Chỉ cần mình lọt được vào phòng trọ của Coombs... Trí óc tôi đang bị giằng xé giữa hai quyết định: về nhà hay quay trở lại chỗ Coombs và phạm sai lầm lớn nhất trong sự nghiệp cảnh sát của mình. Giọng nói của lý trí thì bảo tôi rằng: Lindsay, về nhà thôi, cứ mặc hắn đấy... Rồi ngày mai đầu óc hắn sẽ rối tung lên như một mớ bòng bong thôi mà.

Nhưng trái tim đang đập thình thịch của tôi lại nói. Nào nào, cô gái... hãy theo sát hắn. Hãy tóm cổ tên đểu cáng ấy.

Tôi ngoặt xe sang Đại lộ Sô Bảy và hướng thẳng tới quận Tenderloin. Lúc này đã gần chín giờ tối.

Xe của tôi cứ tự động chạy tới khách sạn Williara Simon. Ngực tôi như thể bị một vật gì đó ép chặt khiến tôi tức thở. Đang là ca trực của Pete Worth và Ted Morelli, và khi tới nơi thì tôi trông thấy hai người bọn họ đang ngồi trong một chiếc Acura màu xanh. Họ đã được lệnh nếu Coombs rời khách sạn thì phải theo sát hắn và liên lạc bằng bộ đàm ngay với trực ban. Hồi chiều, Coombs đã ra ngoài đi tản bộ quanh khu nhà, sau đó hắn vào một quán cà-phê và giở báo ra đọc. Hắn biết hắn đang bị theo dõi.

Tôi bước xuống khỏi chiếc Explorer của tôi rồi đi thẳng về phía Worth và Morelli.

- Có dấu hiệu gì không?

Morelli ló đầu ra khỏi cửa sổ chỗ ngồi lái.

- Chưa, trung úy ạ. Có lẽ hắn ta đang xem chương trình King game. Cái đồ thối thây ấy, hắn biết chúng tôi đang theo dõi hắn. Sao chị không về nhà đi? Chị cứ yên tâm, đêm nay chúng tôi sẽ không rời mắt khỏi hắn đâu.

Mặc dù hết sức khó chịu, nhưng tôi buộc phải công nhận rằng anh ta nói đúng. Tôi chẳng có gì để làm ở đây cả.

Tôi quay về xe của mình, nổ máy và nhấp nháy đèn xin đường khi tôi chạy ngang qua một cậu bé. Nhưng tới góc phố thì một cơn bốc đồng trỗi dậy níu kéo tôi ở lại. Cứ như thể nó nói: Điều mà cô muốn đang ở đây đấy.

Hắn biết hắn đang bị theo dõi... Và... Hắn muốn làm cho cảnh sát San Francisco phải xấu hổ.

Tôi lái xe vòng trở lại Polk, về phía khách sạn William Simon, ngang qua một hiệu cầm đồ, một cửa hàng bán đồ uống suốt đêm, mặt trước của một quầy bán đồ ăn Trung Quốc. Có một chiếc xe của cảnh sát tuần tra đang đỗ ở cuối khu nhà.

Tôi đi vòng ra phía sau khách sạn. Ở đó có rất nhiều vỏ đồ hộp và vứt đầy rác rưởi. Ngoài ra chẳng còn gì khác. Dãy phố vắng hoe. Tôi tắt đèn ô-tô và ngồi đợi. Thực lòng tôi cũng chẳng hiểu mình đang ngồi đợi cái gì, nhưng tôi muốn làm vậy đến phát điên.

Cuôi cùng tôi ra khỏi xe và đi qua cửa hậu vào hẳn bên trong khách sạn. Mình phải tóm cổ hắn mới được. Tôi đang nghĩ tới chuyện quay trở lại phòng trọ của Coombs và nói chuyện với hắn thêm một lần nữa.. Mà cũng có thể tôi sẽ ngồi xem chương trình King game với hắn cũng nên.

Ngay bên ngoài hành lang là một quán bar bẩn thỉu dơ dáy. Tôi hé mắt nhìn vào bên trong, trông thấy ngay mấy cái đầu lâu dữ tợn, nhưng không có Frank Coombs ở đó. Khỉ thật, một kẻ giết người đang trú ngụ ngay trong khách sạn này, hắn đã giết hai người cảnh sát, vậy mà chúng tôi không thể làm gì hắn được.

Chợt tôi trông thấy có một vật gì đó thoáng động đậy ở đầu cầu thang. Tôi vội vàng nép người vào sau khung cửa tối om của quán bar. Trong đó, một lão già đang chơi đàn hộp, bản “Vĩ nhân” của Sam và Dave. Vật động đậy mà tôi nhìn thấy bây giờ hiện rõ là một hình người đang vội vã bước xuống cầu thang, mắt len lén nhìn quanh như một kẻ lánh nạn.

Cái quái gì thế nhỉ?

Tôi nhận ngay ra chiếc áo khoác ngụy trang, chiếc mũ mềm kéo sụp xuống mặt. Tôi đã gần như biết chắc.

Đó là Frank Coombs.

Chimera bắt đầu hành động.

86

Coombs cắm cúi bước vào căn bếp dính đầy dầu mỡ bên hông khách sạn. Tôi đứng chờ thêm vài phút nữa rồi cũng đi theo hắn.

Bây giờ, đến lượt tôi phải cúi gằm mặt xuống và ném những cái nhìn lén lút ra xung quanh. Tôi trông thấy Coombs, nhưng hắn đã thay đổi trang phục. Hắn đã mặc vào người bộ quần áo nấu bếp trắng toát và đội lên đầu chiếc mũ dính đầy dầu mỡ của người bếp trưởng. Tôi chợt nhớ ra bộ đàm của tôi đã bị hết pin - nó không còn hoạt động nữa. Nhưng tôi đã hết giờ làm việc, do vậy tôi thực sự không cần đến nó.

Coombs đường hoàng bước qua cửa sau khách sạn ra phố. Nhưng tôi chưa kịp làm ám hiệu cho chiếc xe tuần tra thì hắn đã nhanh chóng chui tọt vào một ngõ hẻm.

Tôi nhìn dọc con ngõ và trông thấy đầu kia của nó cắt ngang qua dãy phố nơi tôi đang đỗ xe. Tôi bèn chạy thục mạng trở về xe của mình.

Ơn Chúa, tôi vẫn còn trông thấy bóng dáng của hắn. Coombs đang vội vã đi ngang qua phố, cách đầu xe của tôi chưa đầy hai chục thước. Tôi hy vọng có một cơ hội để ra ám hiệu cho cảnh sát tuần tra, nhưng không được.

Coombs thu người đi vào một khoảng đất trống hướng về phía Van Ness. Tôi bắt đầu bực bội vì người của tôi - họ đã để hắn ra ngoài mà không biết. Họ đã bỏ rơi đối tượng.

Tôi chờ cho bóng của Coombs biến mất khỏi khoảng đất trống rồi mới nổ máy chiếc Explorer của tôi và lao vọt tới chỗ ngã tư. Đoạn phố này khá là tấp nập. Có một cửa hiệu tên là Kinko, một cửa hiệu khác tên là Circuit City, và rất nhiều người qua lại.

Tôi đưa mắt nhìn vào nơi mà tôi nghĩ khoảng đất trống sẽ dẫn ra đó.

- Liệu tôi có bị hắn bỏ rơi ở đây không nhỉ? Liệu hắn có lẩn vào đám đông kia không? Khỉ thật!

Bất chợt, ở đằng trước, tôi lại bắt gặp chiếc áo khoác ngụy trang đang đi lướt ra khỏi một cái ngách nhỏ nằm giữa cửa hiệu Kinko và cửa hiệu Circuit City.

Hắn đã cởi bỏ bộ quần áo và chiếc mũ của người bếp trưởng.

Tôi đoán rằng hắn không biết đang bị tôi theo dõi. Hắn ngó trước ngó sau rồi thọc tay vào túi áo, bắt đầu ung dung đi về phía Phố Chợ. Chao ôi, tôi ước giá như tôi có thể chạy xe chèn ngang qua người gã đàn ông đểu cáng kia.

Ở ngã tư tiếp theo, tôi vòng xe lại và chạy từ từ bên kia phố, đi sau Coombs khoảng hai mươi thước.

Lúc này, hắn đã trở nên khá tự tin. Rõ ràng hắn đã sắp đặt trước một kế hoạch, hắn cảm thấy rất hài lòng vì cho rằng đã thoát khỏi sự theo dõi của cảnh sát.

Tới Phố Chợ, Coombs lừ lừ đi ra giữa phố tới một trạm đỗ xe buýt. Hắn nhảy lên một chuyến xe đi về phía Nam thành phố.

Tôi tiếp tục đi theo chiếc xe buýt đó, và mỗi lần nó dừng lại ở điểm đỗ trên lộ trình của nó thì tôi lại phải từ từ chạy chậm lại, nghển cổ nhìn xem Coombs có xuống xe không. Nhưng hắn không xuống. Hắn vẫn ngồi nguyên trên xe trong lúc chiếc xe chạy xa dần khỏi trung tâm thành phố.

Gần tới Bernal Heights, tại trạm Glen Park, chiếc xe cũng dừng lại trong vài giây. Khi nó vừa bắt đầu chuyển bánh đi tiếp thì tôi thấy Coombs nhảy bổ ra ngoài.

Lúc này đã quá muộn để tôi dừng lại. Tôi không còn cách nào khác ngoài việc tiếp tục chạy qua. Tôi cúi người xuống thấp, từng sợi dây thần kinh trên cơ thể tôi căng ra. Tôi đã từng theo dõi, bám đuôi hàng chục chiếc ô-tô nhưng chưa bao giờ cảm thấy mạo hiểm như lần này.

Coombs chần chừ trên bến đỗ một lúc, nhìn trước ngó sau. Tôi nhìn hắn qua kính chiếu hậu. Khỉ thật... Tất cả những gì tôi có thể làm bây giờ là tiếp tục lái xe, dù trong lòng bực bội vô cùng. Khi đã chắc chắn thoát khỏi tầm nhìn của hắn, tôi tăng tốc, leo lên một đỉnh đồi bên đường và cua một đường hình chữ U, thầm cầu mong Coombs vẫn đứng nguyên tại chỗ.

Tôi lao xe ngang qua phố và quay trở lại trạm Glen Park ở làn đường đối diện.

Tên khốn đã biến mất! Tôi điên cuồng nhìn ra tứ phía nhưng chẳng thấy Coombs đâu cả. Tôi đập mạnh tay vào vô-lăng.

- Chó chết! - Tôi rít lên.

Rồi tôi trông thấy ở phía trước, cách xe tôi chừng ba chục thước, có một chiếc Pontiac Bonneville màu vàng hạt cải đang chạy chầm chậm gần sát hè đường rồi dừng hẳn lại. Lý do duy nhất khiến tôi để ý tới chiếc xe vì nó là vật duy nhất chuyển động trước mắt tôi lúc này.

Thình lình, Coombs lại xuất hiện. Hắn ló ra từ một cửa hàng bên đường và nhảy bổ vào chiếc Bonneville qua cửa sau của xe.

Thật may quá, tôi tự nhủ trong lúc chiếc Bonneville bắt đầu lao đi.

Và tôi cũng làm như vậy.

87

Tôi đi theo, cách chiếc xe đằng trước một đoạn. Chiếc Bonneville lao lên một đoạn dốc dẫn sang đường 280 và hướng về phía Nam. Tôi vẫn lái xe theo, tim đập thình thịch. Tôi chẳng còn sự lựa chọn nào khác ngoài việc theo hút Coombs càng lâu càng tốt.

Đi được vài dặm, chiếc Bonneville bật đèn xi-nhan và rẽ sang lối ra hướng Nam của thành phố San Francisco. Nó lao nhanh như gió qua khu công sở của thành phố rồi leo lên một đoạn phố dốc đứng mà tôi biết là phố South Hill. Càng đi, đường sá càng tối tăm mờ mịt nên tôi buộc phải tắt hết đèn.

Chiếc Bonneville rẽ ngoặt vào một dãy phố hoang vắng. Những ngôi nhà mang dáng dấp của tầng lớp trung lưu đang cần được tu sửa sắp thành hàng dài. Tới cuối phố, chiếc xe dừng lại trườc lối vào của một ngôi nhà bằng gỗ ván màu trắng đứng chon von trên một ngọn đồi nhìn thẳng xuống thung lũng. Vị thế của ngôi nhà tuyệt đẹp, nhưng bản thân nó thì xơ xác tiêu điều.

Coombs và gã bạn của hắn bước ra khỏi xe, vẫn mải mê trò chuyện. Chúng đi vào nhà, còn tôi thì núp vào vách của ngôi nhà gần đó. Chưa bao giờ tôi có một cảm giác ớn lạnh khi phải ở một mình như thế này. Chỉ vì tôi không muốn để tuột Coombs khỏi tầm nhìn, tôi không muốn bị hắn xỏ mũi mãi như thế.

Tôi rút khẩu Glock ra khỏi cốp xe và kiểm tra đạn trong đó. Khẩu súng đã được nạp đầy. Lạy Chúa, Lindsay. Không có áo tránh đạn, máy bộ đàm lại không hoạt động.

Tôi khom người đi dọc vỉa hè tối om về phía ngôi nhà màu trắng, súng tự động giắt bên hông. Tôi bắn súng không tồi, nhưng trong tình huống này thì tôi không dám chắc.

Một vài chiếc xe cũ mèm đỗ lộn xộn bên ngoài ngôi nhà. Đèn ở tầng dưới bật sáng. Tôi nghe thấy có những tiếng nói. Chà, tôi đã đi quá xa.

Tôi lách người vào lối đi chật hẹp dẫn vào ga-ra ô-tô.

Đó là một ga-ra có thể đỗ được hai chiếc xe, đứng tách biệt hẳn khỏi ngôi nhà chính bởi một lối đi trải nhựa dường. Ở đây, tiếng nói chuyện từ trong nhà vọng ra càng rõ hơn nhưng khi tôi dỏng tai lên thì vẫn chẳng nghe thấy gì. Tôi nép sát người vào tường và ghé mắt nhìn qua cửa sổ. Nếu như Coombs định ở lại trong đó một lúc lâu thì tôi vẫn có thể núp người tại vị trí thuận lợi này.

Sáu gã du thủ du thực đang ngồi xúm xít quanh một chiếc bàn. Trên mặt bàn la liệt những vỏ chai bia, còn trong không trung thì dày đặc khói thuốc. Một trong số đó là Coombs. Trên cánh tay của một gà khác, tôi trông thấy rất rõ một hình xăm trỏ cầu kỳ.

Đầu của một con sư tử bên cạnh đầu của một con dê, đuôi là của loài bò sát.

Đó là một cuộc họp của nhóm Chimera.

Tôi ghé lại gần hơn, cố gắng nghe ngóng. Thình lình, có tiếng ô- tô sầm sập leo lên đỉnh đồi. Người tôi cứng lại. Tôi dán người vào tường nhà vì không biết phải chui vào đâu trên khoảng trống giữa nhà chính và ga-ra ô-tô. Tôi nghe tiếng cánh cửa xe đóng sầm, tiếp theo là tiếng bước chân và tiếng người nói lao xao tiến gần lại chỗ tôi đang đứng.

88

Tôi đứng sững nhìn hai gã đàn ông đang đi đến, một người có mái tóc dài màu vàng buộc cao theo kiểu đuôi ngựa, còn người kia mặc áo vải bông chéo không tay để lộ hai cánh tay xăm trổ chắc nịch. Tôi chẳng biết phải trốn đi đâu.

Hai gã kia trố mắt nhìn tôi.

- Mày là con nào?

Lúc này, tôi chỉ có hai khả năng: giơ súng về phía bọn chúng và chạy lùi trở lại chỗ đỗ xe hoặc đứng yên tại chỗ để bắt Coombs ngay bây giờ. Tôi thiên về khả năng thứ hai hơn.

- Cảnh sát đây, - tôi kêu to hòng ngăn hai gã kia không được tiến thêm bước nào nữa. Khẩu súng tự động được tôi chĩa ra bằng cả hai tay. - Đội Homicide San Francisco. Giơ tay lên!

Hai gã đàn ông kia đứng sững lại nhưng chẳng tỏ vẻ gì là hoảng sợ cả. Chúng nhìn nhau thăm dò và sau đó quay lại nhìn tôi. Tôi dám chắc bọn chúng có trang bị vũ khí và cả mấy gã trong kia cũng vậy. Một ý nghĩ khủng khiếp chợt lóe lên trong óc tôi. Mình có thể bị chúng giết chết lắm chứ.

Trong nhà chợt nhốn nháo hẳn lên. Hai gã đàn ông khác chạy bổ ra ngoài. Tôi quay ngoắt người lại, chĩa thẳng súng vào mặt bọn chúng.

Đột nhiên, đèn trong nhà vụt tắt. Lối đi cũng trở nên tối om. Coombs đâu rồi nhỉ? Hắn đang làm gì?

Tôi thu người trong một tư thế ngắm bắn. Việc này không còn là do gã Coombs kia nữa.

Tôi nghe sau lưng mình có một tiếng động. Một ai đó đang chạy thật nhanh. Tôi ngoái nhìn về hướng đó và lập tức bị một gã trong đám hạ gục. Tôi ngã nhào xuống mặt đất khô cứng vì một cú đánh nặng tới mấy trăm pao.

Đến lúc này tôi mới trông thấy khuôn mặt của kẻ mà tôi ghét cay ghét đắng.

- Nhìn ngọn thủy triều nào đến thăm chúng ta này. - Frank Coombs nhe răng cười nhăn nhở. Hắn ngoe nguẩy một khẩu 38 ly ra trước mặt tôi. - Con gái của Marty Boxer đấy.

89

Coombs ghé sát mặt xuống chỗ tôi bị ngã, vẫn nhìn tôi bằng ánh nhìn ngạo mạn cùng với một nụ cười giả tạo mà tôi ghét thậm tệ. Chimera đang ở đây.

- Xem ra bây giờ chính mày mới là người phải nghiêng sang bên trái một chút đấy, - hắn nói.

Tôi đủ nhạy cảm để nhận ra rằng tôi đang rơi vào một tình thế hết sức phức tạp. Mọi chuyện dường như đã hỏng bét.

- Tôi đang điều tra một vụ giết người, - tôi quay sang nói với mấy gã kia. - Và Frank Coombs đang bị theo dõi vì nghi ngờ có liên quan tới bốn nạn nhân, trong đó có hai người là cảnh sát. Tốt nhất là các người không nên dính vào.

Coombs vẫn tiếp tục nhăn nhở.

- Mày đang bỏ phí thời gian đấy nếu như mày thực sự cho rằng chuyện nhảm nhí của mày sẽ có kết quả ở đây. Tao nghe nói mày đã tìm gặp Weiscz. Thằng cha đấy được lắm, phải không nào? Bạn tốt của tao đấy.

Tôi gắng gượng ngồi thẳng người dậy. Làm thế quái nào mà Coombs biết được tôi đã tới Vịnh Bồ Nông nhỉ?

- Này, nhiều người biết tôi đến đây lắm đấy.

Nhưng Coombs tỏ ra chẳng thèm đếm xỉa gì đến câu nói của tôi. Hắn giang tay đấm thẳng vào quai hàm của tôi một cú thật mạnh. Tôi cảm thấy một chất lỏng âm ấm tràn ra trong mồm, máu của chính tôi. Tôi nhìn quanh tìm đường bỏ chạy.

Coombs vẫn tiếp tục cười nhạo tôi.

- Tao sẽ làm đúng như những gì mà lũ chó đẻ chúng mày đã dùng để cư xử với tao. Cố gắng mà giữ những thứ quý giá của mày nhé. Mày hãy nhận lấy những gì mà sau này sẽ chẳng bao giờ mày có cơ hội nhận được nữa đâu. Mày chẳng hiểu cóc khô gì hết.

- Tôi hiểu, đủ để biết rằng ông đã giết những người vô tội.

Coombs phá lên cười ngặt nghẽo. Bàn tay dơ dáy của hắn vuốt dọc một bên má tôi. Có nọc độc trong cái nhìn của hắn và sự lạnh lùng nơi bàn tay thần chết khiến tôi chỉ muốn nôn ọe.

Bất chợt, tôi nghe có tiếng súng nổ, vang to ngay gần bên tôi. Coombs rú lên, bật người ra và giơ tay ôm chặt lấy vai.

Một vài tiếng nổ lẻ tẻ tiếp tục vang lên khiến cho đám người trong bóng tối trở nên hỗn loạn. Bản thân tôi cũng rất bối rối. Tiếng những viên đạn rít lên trong không trung tối tăm nghe thật đáng sợ.

Một gã côn đồ gầy giơ xương, xăm trổ đầy mình la toáng lên và ôm lấy đùi. Hai phát đạn nữa văng trúng bức tường ga-ra ô-tô.

- Chuyện đếch gì thế này? - Coombs kêu lên. - Thằng nào bắn đấy?

Chỉ có những tiếng súng đáp lại lời của hắn. Những thành viên của nhóm Chimera, không ai bảo ai, cùng nhau cuốn xéo thật nhanh về cuối lối đi. Tôi cũng nhỏm người dậy và chạy lao ra xa khỏi ngôi nhà cũ nát. Chẳng thấy ai hô hoán bắt tôi đứng lại cả.

- Đây, - tôi nghe thấy có tiếng người gọi tôi từ phía trước. Tôi loạng choạng đi về phía đó và trông thấy người bắn súng đang núp sau chiếc Bonneville màu vàng hạt cải.

- Chúng ta đi thôi, - ông ta reo lên

Tôi nhoài người ra và ngã vào giữa vòng tay của cha tôi.

90

Chúng tôi chạy ra xa khỏi ngôi nhà và lên đường trở về San Francisco mà không nói thêm lời nào với nhau nữa. Mãi sau, cha tôi mới dừng xe lại trong một bãi đỗ xe đông đúc phía trước cửa hiệu 7-Eleven. Tôi quay sang nhìn cha, tim vẫn đập thình thịch, mồm miệng thi nhau thở.

- Con bình tĩnh lại chưa? - ông hỏi bằng giọng nhẹ nhàng nhất mà tôi có thể tưởng tượng.

Tôi gật đầu, mặc dù không chắc chắn lắm rồi kiểm tra lại những chỗ bị đau. Quai hàm... Gáy... cả lòng tự trọng nữa.

Từ từ, những câu hỏi cần được giải đáp dần hiện lên sau khi cơn choáng váng qua đi.

- Cha, cha làm gì ở đó thế? - Tôi hỏi.

- Cha rất lo cho con, đặc biệt là sau khi có một người nào đó đã rình bắn cô bạn Claire của con.

Ý nghĩ tiếp theo mới thực sự khiến tôi bị sốc.

- Vậy ra cha đã đi theo con à?

Ông dùng mấy ngón tay chấm nhẹ lên khóe miệng của tôi nơi một vệt máu đang rỉ ra.

- Cha đã từng là cảnh sát trong suốt hai chục năm trời mà. Tối nay, cha đã đi theo con từ lúc con rời cơ quan. Được chưa nào?

Đầu tôi quay cuồng vì không thể tin nổi, nhưng dù sao vấn đề cũng không đến nỗi nghiêm trọng lắm. Rồi, khi tôi nhìn chăm chú vào mặt cha tôi thì một suy nghĩ khác lại chợt lóe lên. Có một điều gì đó mà tôi chưa thật hiểu. Tôi nhớ lại lúc Coombs ngó xuống mặt tôi.

- Hắn biết con là ai, cha ạ.

- Tất nhiên là hắn biết rồi. Con và hắn đã trực tiếp gặp nhau. Con đang phụ trách điều tra vụ án của hắn.

- Không phải con định nói đến chuyện vụ án, - tôi nói. - Hắn biết cả cha nữa.

Mắt cha tôi thoáng vẻ bốĩ rối.

- Nghĩa là thế nào?

- Hắn biết con là con gái của cha. Hắn đã gọi con là con gái của Marty Boxer.

Một ngọn đèn chợt lóe lên từ biển hiệu của quán 7- Eleven. Nó rọi sáng khuôn mặt của cha tôi.

- Cha đã nói với con rồi mà, - ông đáp. - Cha và Coombs quen biết nhau từ hồi còn làm cảnh sát.

- Ý của hắn không phải như vậy, - tôi lắc đầu. - Hắn đã gọi con là con gái của Marty Boxer. Hắn định ám chỉ đến cha.

Tôi chợt nhớ tới cuộc đối đầu với Coombs sáng hôm ấy tại khách sạn. Lúc đó tôi cũng có một cảm giác thoáng qua y như bây giờ. Rằng hắn biết tôi là ai. Rằng giữa tôi và hắn có một sự ràng buộc nào đó mà tôi chưa biết.

Tôi cố gắng nén lại, nhưng giọng nói vẫn rất căng thẳng.

- Tại sao cha lại đi theo con? Con muốn biết tất cả mọi chuyện.

- Để bảo vệ con, con gái ạ. Cha thề đấy. Ít nhất thì đó cũng là việc duy nhất mà cha có thể làm lúc này.

- Con bây giờ đã là một cảnh sát chứ đâu còn là Hoa Vàng nhỏ bé của cha nữa. Chắc chắn cha đang giấu con chuyện gì. Cha có liên quan đến hắn, phải không? Dù sao cũng phải có một lần cha làm chuyện đúng đắn chứ, và bây giờ chính là lúc để cha bắt đầu đấy, cha ạ.

Cha tôi ngả đầu ra sau, mắt đờ đẫn nhìn thẳng về phía trước. Rồi ông hít một hơi thật sâu và nặng nề.

- Coombs đã gọi điện thoại cho cha khi hắn vừa được phóng thích. Hắn đã truy tìm dấu vết của cha ở miền Nam.

- Coombs đã gọi cha à? - Tôi hỏi lại, mắt mở to, thực sự kinh ngạc. - Hắn gọi cho cha làm gì?

- Hắn muốn biết cha đã hướng thụ hai mươi năm vừa qua của cuộc đời mình như thế nào trong lúc hắn phải ngồi tù. Hắn muốn biết cha đã làm được gì cho bản thân cha. Hắn bảo đã đến lúc cha phải trả giá.

- Trả giá? Trả giá vì cái gì? - Khi câu hỏi vừa bật ra khỏi miệng tôi, thì cũng là lúc câu trả lời vụt lóe lên trong óc tôi. Tôi nhìn chăm chú vào cặp mắt lảng tránh của cha tôi.

- Cha cũng ở đó vào đêm hôm ấy, phải không ạ? Cha đã có mặt tại hiện trường vụ án hai mươi năm về trước.

91

Cha tôi ngoảnh mặt đi chỗ khác. Tôi lại trông thấy vẻ ngượng ngùng và tội lỗi mà khi còn là một đứa trẻ tôi đã phải nhìn quá nhiều lần ở ông.

Ông bắt đầu phân trần. Chúng ta bắt đầu chứ, cha?

- Tại hiện trường vụ án lúc đó có sáu người cả thảy, Lindsay ạ. Việc cha có mặt ở đó chỉ là tình cờ thôi. Cha trực thay cho một người bạn tên là Ed Dooley. Đội của cha đến đó sau khi mọi chuyện đã xảy ra, và hắn đã van nài mọi người giữ kín chuyện hộ hắn.

- Cha không ngờ hắn là Chimera đâu, Lindsay, - cha tôi nói. - Con phải tin điều đó. Cha chưa bao giờ nghe nói tới người cảnh sát tên là Chipman cho tới khi con kể với cha cách đây mấy hôm. Cha nghĩ hắn chỉ dọa cha mà thôi.

- Dọa cha ư, cha? - Tôi chớp mắt kinh ngạc, tim đau nhói. - Hắn dọa cha như thế nào? Con xin cha đấy, hãy kể cho con biết. Con thật sự muốn biết mọi chuyện.

- Hắn dọa sẽ cho cha nếm trải cái cảm giác mà hắn đã phải nếm trải suốt mấy chục năm qua. Xem hắn đã mất những gì. Hắn nói hắn sẽ đi theo con.

- À, hóa ra đó là nguyên nhân chính khiến cha quay lại tìm con, - tôi buông một tiếng thở dài, phải không ạ? Chứ không phải cha đã thực sự ân hận và muốn sửa đổi.

- Không, - cha tôi lắc đầu. - Cha đã thực sự mất quá nhiều thời gian. Cha đã thật lòng muốn sửa đổi, và cha cũng không muốn gã kia làm hại con gái của cha. Vì vậy cha đã ở đây, Lindsay. Lần này cha không nói dối đâu.

Đầu óc tôi quay cuồng. Tôi vừa để tuột mất kẻ tình nghi của vụ án khỏi tầm tay. Súng vừa nổ. Hiện tại, tôi không biết phải làm gì. Với cha tôi, ông thật sự biết được những gì? Tôi phải đốì phó với Coombs như thế nào? Với Chimera như thế nào?

- Cha đã nói thật hết với con chưa? Dù chỉ một lần thôi? Đây là vụ án lớn của con, nó đặc biệt có ý nghĩa. Vì vậy con muốn biết tất cả sự thật. Con xin cha, đừng nói dối con nhé!

- Cha thề, - ông trả lời, mắt đượm vẻ buồn bã và xấu hổ. - Con định sẽ làm gì tiếp theo?

Tôi nhìn cha chăm chú.

- Với ai? Với Coombs, hay với hai cha con chúng ta...?

- Với tất cả chuyện lộn xộn này. Với sự việc vừa xảy ra trong buổi tối hôm nay.

- Con không biết, - tôi thừa nhận. - Con chỉ biết một điều... Rằng nếu có thể, con sẽ bắt ngay thằng cha Coombs đểu cáng kia.

92

Cho tới mười giờ sáng ngày hôm sau thì tôi đã có trong tay một lệnh khám xét. Nó cho phép tôi vào căn phòng của Combs ở khách sạn William Simons. Gần chục người chúng tôi vội lao tới đó trên hai chiếc ô-tô.

Lúc này chúng tôi đã có có để còng tay hắn: có ý định giết một cảnh sát đang thi hành công vụ và kháng cự khi bị bắt. Nhưng Coombs không có trong khách sạn. Chúng tôi phân công nhau tỏa ra khắp tòa nhà để tìm kiếm.

Tôi đề nghị Jill tới gặp tôi và Jacobi ở khách sạn William Simons. Tôi đang ôm ấp một hy vọng hão huyền rằng chúng tôi sẽ tìm được một thứ gì đó trong phòng trọ của Coombs có thể buộc hắn vào một trong những vụ giết người. Nếu tìm ra, tôi sẽ yêu cầu lệnh bắt được thực hiện ngay lập tức.

Vẫn người nhân viên gốc Ấn Độ dẫn chúng tôi lên phòng. Căn phòng thật bừa bộn và nhếch nhác, một dãy vỏ chai bia và lon sô-đa đứng sắp hành trên bậu cửa sổ. Đồ đạc trong phòng chỉ là một chiếc giường khung sắt trải chăn mỏng và một chiếc tủ nhỏ nơi hắn để mấy thứ đồ vệ sinh cá nhân lặt vặt trên nóc. Ngoài ra còn có một chiếc bàn làm việc, một chiếc bàn ăn và hai cái ghế.

- Chị muốn gì ở đây thế? - Jacobi ngoác miệng ra cười. - ... Một kỳ nghỉ trong khách sạn à?

Mấy tờ báo Biên niên sử và Người thẩm tra vứt rải rác khắp phòng. Chẳng có gì là bất bình thường cả. Ở một bên giường, mắt tôi bắt gặp một chiếc cúp thiện xạ nhỏ - hình một nhà thiện xạ đang nghiêng người ngắm bắm với câu đề tặng Vô đỉch mục tiêu 50 mét thẳng và tên của Frank Coombs.

Nó khiến bụng tôi đau quặn.

Tôi lại gần bàn làm việc. Chặn bên dưới điện thoại là một lô hóa đơn bị vò nát và mấy số điện thoại mà tôi không nhận ra là thuộc vùng nào. Tôi cũng tìm thấy một bản đồ San Francisco và các vùng lân cận. Tôi giật phăng mấy ngăn kéo của bàn ra. Một cuốn niên giám những trang vàng cũ kỹ, vài tờ thực đơn của mấy cửa hàng bán đồ ăn mang về, một cuốn sách chỉ dẫn của thành phố đã trở nên lạc hậu.

Chẳng còn gì nữa...

Jill nhìn tôi. Cô ấy lắc đầu và nhăn mặt.

Tôi tiếp tục tìm kiếm. Có thứ gì đó ở đây. Coombs chính là Chimera...

Tôi giơ chân đá sập mấy cái ngăn kéo lại làm cho chiếc đèn trên bàn đổ lăn lông lốc xuống đất. Và vẫn bằng động tác chán nản và giận giữ đó, tôi vớ lấy tấm chăn trên giường và kéo phăng nó ra.

- Nó ở đây, chắc chắn phải có thứ gì đó.

Trước cặp mắt ngạc nhiên của tôi, một phong bì bằng giấy nhét giữa tấm chăn và đệm lò xo rơi vèo xuống sàn nhà. Tôi vội nhặt nó lên và dốc những thứ trong đó xuống giường của Coombs.

Đó không phải là một khẩu súng hoặc một vật gì đó lấy được từ người các nạn nhân... mà là những thứ có liên quan đến vụ án Chimera. Các bài báo và tạp chí, một vài bài trong số đó có đề cập đến phiên tòa xét xử hai mươi năm về trước, một bài được cắt ra từ tạp chí TIME mô tả cặn kẽ các tình tiết của vụ án. Một bài có dòng tít “Nhóm cảnh sát hoạt động chính trị ngoài hành lang đề nghị thi hành lệnh bắt Coombs”, có đăng ảnh của nhóm OFJ đang tụ tập trên quảng trường Tòa Thị chính. Nhìn lướt qua nó, mắt tôi chợt chú ý tới một vòng tròn được Coombs khoanh một cách dữ dội bằng mực đỏ nhằm làm nổi bật tên người phát ngôn của nhóm: Trung sĩ cảnh sát tuần tra Edward Chipman.

- Ái chà, - Jacobi huýt sáo.

Chúng tôi đọc tiếp sang các bài báo khác nói về phiên tòa và những bản phô tô các bức thư mà Coombs gửi cho POA yêu cầu một phiên tòa khác. Một bản phô tô mờ nhạt các báo cáo gốc của cảnh sát điều tra về sự việc rắc rối ở Bay View với rất nhiều lời bình phẩm giận giữ của Coombs viết ở ngoài lề. “Nói dối”, gạch đậm dưới chân, và “Kẻ hèn nhát”. Một dấu ngoặc đơn đậm nét bằng mực đỏ khoanh lời chứng của trung úy Earl Mercer.

Tiếp đó là một loạt các số báo mới phát hành, theo sát quá trình điều tra những vụ giết người mới xảy ra trong thành phố: Tasha Catchings, Davidson, Mercer... một lời giới thiệu ngắn gọn về Estelle Chipman trên tờ Thời báo Oakland với dòng chữ nguệch ngoạc bên cạnh. “Một người không có danh dự sẽ làm ô danh tất cả mọi thứ”.

Tôi nhìn sang Jill. Nó không thực sự hoàn hảo và không phải căn cứ để chúng tôi có thể buộc Coombs vào một vụ án giết người. Nhưng nó đủ để xóa tan mọi ngờ vực mà chúng tôi đang có xung quanh gã đàn ông xấu xa này.

- Nó đây, - tôi nói. - ít nhất thì chúng ta cũng đã có một thứ để chứng minh Coombs có liên quan tới Chipman và Mercer.

Jill cau mày nghĩ ngợi một lúc rồi cuối cùng bặm môi lại và gật đầu với tôi.

Tôi hớn hở cúi xuống bó lại đống giấy tờ cho ngay ngắn, xem chiếu lệ qua loa những thứ còn lại. Và rồi mắt tôi lại bắt gặp một thứ, nó khiến quai hàm của tôi cứng đơ.

Đó là một bài báo rút gọn từ cuộc họp báo đầu tiên sau khi vụ giết Tasha Catching vừa xảy ra, kèm theo nó là bức ảnh chụp cảnh sát trưởng Mercer đang đứng đằng sau rất nhiều mi-crô của các nhà báo.

Jill nhận ngay ra sự thay đổi trên vẻ mặt của tôi. Cô ấy giằng lấy bài báo và thốt lên.

- Ôi Chúa ơi, Lindsay...

Trên nền của bức ảnh, phía sau Mercer, là những người đặc biệt quan tâm đến việc điều tra vụ án. Thị trưởng, chánh thanh tra Ryan, Gabe Carr.

Coombs đã khoanh một vòng mực đỏ rất đậm vào một khuôn mặt.

Khuôn mặt của tôi.

93

Tới cuối ngày hôm đó, bản mô tả nhận dạng của Frank Coombs đã được phát tới tay của từng cảnh sát trong thành phố. Tất cả chúng tôi đều rất nóng lòng muốn hắn bị tóm cổ.

Coombs không mang theo đồ dùng cá nhân, không có tiền bạc. Chúng tôi hy vọng sẽ sớm bắt được hắn.

Tôi đề nghị mấy cô bạn gái tụ tập nhau lại trong phòng làm việc của Jill sau giờ làm việc. Khi tôi bước vào, họ chào đón tôi bằng những khuôn mặt tươi cười như muốn chúc mừng. Báo chí đã đăng ảnh của Coombs trên trang nhất. Trông hắn đúng là một kẻ giết người.

Tôi ngồi phịch xuống chiếc đi-văng bọc da bên cạnh Claire.

- Có gì không ổn à? - Chị hỏi. - Mọi người không muốn nghe đâu đấy.

Tôi gật đầu.

- Em cần nói với mọi người một chuyện.

Và tôi bắt đầu kể lại chuyện đã xảy ra với tôi trong buổi tối hôm trước. Câu chuyện thật sự. Việc tôi đã mạo hiểm bám đuôi Coombs trong cơn bốc đồng như thế nào vì tôi không còn sự lựa chọn nào khác. Và tôi đã lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan ra sao. Và khi tôi dường như đã mất hết hy vọng thì cha tôi đã xuất hiện và cứu tôi thoát chết.

- Lạy Chúa, Lindsay. - Miệng Jill há hốc vì kinh ngạc. - Chúng tớ xin cậu đấy, lần sau phải cẩn thận hơn nhé...

- Tớ biết rồi, - tôi mỉm cười gật đầu.

Claire thì lại lắc đầu.

- Hôm nọ em vừa bảo, tớ không biết sẽ phải làm gì nếu thiếu các cậu, vậy mà em lại liều lĩnh đến thế. Chúng ta như những người chị em gái cơ mà. Em đừng nên hành động theo kiểu anh hùng rơm như vậy nữa nhé!

- Theo kiểu cao bồi chứ, - Jill nói đùa.

- Cao bồi nữ, - Cindy hùa theo một cách máy móc.

Cả nhóm ngồi im, nhìn tôi ủ dột và nghiêm nghị. Rồi một chuỗi cười khúc khích lan tỏa khắp căn phòng. Ý nghĩ bị mất đi những người bạn thân, hoặc để họ bị mất tôi khiến tôi cảm thấy như phát điên. Nhưng tôi cũng bật cười theo họ.

- Chúa phù hộ cho ông Marty, - Jill kêu lên.

- Đúng thế, ông già Marty tốt bụng. - Tôi thở dài. - Cha của tớ.

Cảm nhận được tình cảm giằng xé giữa yêu và ghét trong tôi lúc này, Jill nghiêng người ra phía trước.

- Ông ấy có bắn trúng ai không?

Tôi hít một hơi thật sâu.

- Coombs. Có lẽ một vài người nữa.

- Có vết máu tại hiện trường không vậy? - Claire hỏi.

- Chúng em đã lục soát kỹ khắp nhà. Nó được một gã vô danh tiểu tốt nào đó thuê và bây giờ gã đã biến mất. Có một vài vết máu dọc theo lối đi.

Họ nhìn tôi, im lặng và chăm chú. Rồi Jill nói.

- Bây giờ cậu định thế nào hả Lindsay? Với Sở Cảnh sát ấy?

Tôi lắc đầu.

- Tớ sẽ không tố giác cha tớ đâu.

- Nhưng mà Lindsay, - Jill phản đối. - Cha của cậu có thể đã bắn trúng ai đó. Ông ấy lại còn nhúng mũi vào việc điều tra của cảnh sát và nổ súng bừa bãi.

Tôi nghiêm mặt nhìn Jill.

- Jill ạ, ông ấy đã cứu mạng sống của tớ. Vì thế tớ không thể tố giác ông ấy.

- Như vậy đâu phải tố giác. Súng của ông ấy có thể đã được đăng ký sử dụng, ông ấy là cha cậu và ông ấy đã đi theo để bảo vệ cậu. Chẳng có tội lỗi gì trong những việc làm đó cả.

- Sự thực là, - tôi nói một cách khó nhọc, - tớ không dám chắc có phải ông ấy đã đi theo tớ hay không.

Jill nhìn tôi bằng ánh măt sắc lạnh. Cô ấy kéo ghế lại gần tôi hơn.

- Cậu nói lại cho tớ nghe xem nào.

- Tớ không dám chắc có phải ông ấy đi theo tớ hay không nữa, - tôi đáp.

- Vậy thì ông ấy làm cái quái gì ở đó? - Cindy nhướn mày ngạc nhiên.

Mọi con mắt đổ dồn lại phía tôi.

Từ từ từng đoạn một, tôi bắt đầu kể lại cho mấy người bạn thân của mình cuộc trò chuyện giữa tôi và cha trên xe sau khi cuộc nổ súng vừa mới xảy ra. Cha tôi đã thừa nhận việc ông trở thành nhân chứng bất đắc dĩ ở Bay View hai mươi năm về trước.

- Cha tớ đã có mặt ở đó cùng với Coombs.

- Ôi khỉ thật, - Jill kêu lên vói cặp mắt trống rỗng. - Ôi Chúa ơi, Lindsay.

- Chính vì thế nên cha tớ đã quay về tìm tớ, - tôi nói. - Chính vì câu chuyện rắc rối đó mà cha tớ mới nghĩ đến việc nối lại quan hệ với con gái của ông ấy... với Hoa Vàng của ông ấy. Coombs đã đe dọa cha tớ. Hắn bảo hắn trở lại đây sau hai chục năm để trả thù.

- Có lẽ vậy, - Claire thở dài, vươn tay ra nắm chặt lấy cánh tay của tôi. - Nhưng dù sao cha em cũng đã quay về để bảo vệ em.

Jill quay sang, nhìn tôi qua cặp mắt nheo lại thành hai vạch.

- Lindsay này, vấn đề bây giờ không phải là việc bảo vệ cha cậu khỏi bị liên lụy. Nếu đúng Coombs đã giết người thì hắn sẽ không chỉ dừng lại ở đó đâu.

Tôi nhìn thẳng vào mắt cô ấy.

- Suốt mấy tuần vừa qua, từ khi cha tớ quay về một cách đột ngột, có vẻ như tớ đã có thể bỏ qua mọi chuyện tồi tệ mà ông ấy đã làm, mọi nỗi đau khổ mà ông ấy đã gây ra. Tớ đã nghĩ ông ấy chỉ là một con người đã phạm sai lầm trong quá khứ và bây giờ đang hạnh phúc khi được ở bên con gái của mình. Lúc còn bé, trong thâm tâm tớ vẫn luôn mơ tới ngày hôm nay khi cha tớ trở về nhà với tớ.

- Em không nên bỏ rơi cha em, - Claire nới khẽ.

Cindy lại hỏi.

- Nếu cậu không nghĩ cha cậu đã trở về nhà vì cậu, Lindsay ạ, thì cậu nghĩ ông ấy trở về để bảo vệ cái gì?

- Tớ không biết, - tôi nhìn quanh phòng, mắt tôi dừng lại trên từng khuôn mặt quen thuộc. - Đó là một câu hỏi lớn.

Jill đứng dậy, đi tới bên giá sách đằng sau bàn làm việc của mình và nhấc ra một chiếc hộp đựng hồ sơ bằng bìa các-tông khá lớn. ở mặt trước có đề, “Hồ sơ vụ án 237654A, Chính quyền bang California chống lại Francis. Coombs.” - Tớ cũng không biết, - cô ấy nói, vỗ nhẹ tay vào chiếc hộp. - Nhưng tớ dám cuộc rằng câu trả lời nằm đâu đó ở trong này.

94

Ngay khi trở lại văn phòng vào buổi sáng hôm sau, Jill mở chiếc thùng đựng hồ sơ ra và hăng hái bắt tay vào việc. Cô dặn thư ký của mình không được nối bất kỳ cú điện thoại nào và hủy bỏ mọi cuộc hẹn mà mới chỉ hôm qua thôi còn rất khẩn cấp để có thể tập trung vào nghiên cứu bộ hồ sơ.

Với một cốc cà-phê to tướng đặt trên mặt bàn và chiếc áo khoác sang trọng vắt trên lưng ghế, Jill giở tập hồ sơ đầu tiên ra. Đó là tập nhật ký dày cộp của phiên tòa - những trang ghi cụ thể các lời khai, lời đề nghị và các quyết định của tòa. Jill hy vọng rằng cô sẽ không tìm ra cái gì cả, rằng Marty Boxer cuối cùng vẫn chỉ là một người cha quay về để bảo vệ con gái của ông mà thôi. Nhưng người ủy viên công tố trong cô lại không dám tin vào điều đó.

Cô rên rỉ và bắt đầu đọc.

Phiên tòa đã diễn ra trong vòng chín ngày, và phải mất cả buổi sáng hôm đó cô mới đọc xong được diễn biến của nó. Cô phân tích kỹ càng những thông tin trước phiên tòa, sự lựa chọn hội đồng xét xử, những lời tuyên bố lúc khai mạc. Lý lịch của Coombs cũng được nêu lên. Vô số những trích dẫn mô tả sự ngược đãi người da màu trên phố. Coombs được biết đến với những trò đùa thiếu tư cách và những lời nhận xét miệt thị. Rồi tới các tình tiết cụ thể đã xảy ra trong cái đêm được nhắc đến tại

Phiên tòa. Coombs và người đồng sự của ông ta, Stan Dragula đang trên đường đi tuần quanh Bay View. Họ bắt gặp một trận đấu bóng rổ, và Coombs đã trông thấy Gerald Sikes. Sikes vốn là một cậu bé khá ngoan - bản luận tội đã nói như vậy, chỉ có điều đã vô tình xuất hiện trong một cuộc vây ráp cách đó hai tháng, khi cảnh sát mở một cuộc truy quét các khu chung cư trong vùng để tìm bắt những kẻ buôn bán ma túy.

Jill đọc tiếp.

Lúc đó, Coombs đã nhảy bổ vào giữa trận đấu và lớn tiếng mắng nhiếc Sikes. Cảnh tượng trở nên vô cùng căng thẳng và khó chịu. Hai chiếc xe tuần tra khác cũng đến. Sikes vùng vằng phản đối Coombs, sau đó bỏ đi. Coombs đã đi theo cậu bé. Jill cũng xem rất kỹ những biểu đồ vẽ bằng tay mô tả cảnh tượng. Sau khi đám đông đã giải tán, có thêm hai cảnh sát nữa đi tới. Sĩ quan tuần tra Tom Fallone là người tới hiện trường đầu tiên. Gerald Sikes đã chết.

Trình tự phiên tòa và những bản báo cáo trải dài trên ba trăm trang giấy... ba mươi bảy nhân chứng. Một mớ bòng bong thật sự. Nó khiến Jill vô cùng phấn khích. Nhưng cô chẳng thấy chi tiết nào đề cập đến Marty Boxer cả.

Nếu như ông ấy có mặt ở hiện trường trong đêm đó, thì ông ấy cũng đã không bị gọi ra làm chứng trước tòa.

Tối gần trưa thì Jill đọc tới đoạn ghi lại lời khai của các nhân chứng. Vụ giết Sikes xảy ra trên lối đi chung giữa Nhà A và Nhà B của khu chung cư. Cư dân của hai tòa nhà đều cam đoan đã nghe được tiếng ẩu đả và tiếng cậu bé kêu cứu. Chỉ cần đọc tới đó thôi là bụng Jill đã cồn cào. Coombs đúng là Chimera, chắc chắn.

Cô bắt đầu cảm thấy nản lòng và vô cùng mệt mỏi. Cô đã dành ra cả một buổi chỉ để cày xới một tập hồ sơ. Khi cô đọc gần xong tập hồ sơ, cô đã phát hiện ra một điều gì đó khá lạ lùng.

Một người tuyên bố là đã chứng kiến vụ giết người từ cửa sổ của một căn hộ trên tầng bốn. Kenneth Charles.

Charles chỉ là một cậu thiếu niên. Rất có thể đây chỉ là một trò đùa tinh quái mà khinh suất, cảnh sát cho rằng có nhiều lý do để cậu ta dựng chuyện gây rối. Và có một ai đó đã đứng phía sau xúi bẩy cậu ta khai như vậy.

Đọc đến lời khai này, tai Jill chợt ù đi. Cuối cùng, vấn đề cũng đã rõ ràng. Cô với tay nhấc điện thoại gọi xuống cho thư ký của mình.

- April này, tôi muốn cô tìm cho tôi tập hồ sơ cá nhân của một cảnh sát. Một người cũ trong ngành của chúng ta. Cách đây hai mươi năm.

- Chị nói tên người đó đi. Tôi sẽ tìm.

- Marty Boxer, - Jill trả lời hết sức ngắn gọn.

95

Một cơn gió lạnh buốt từ vịnh thổi vào xuyên qua bóng tối trong lúc Jill thu mình đứng co ro trên bến đỗ bên ngoài trạm xe buýt cuối cùng của hãng BART.

Lúc này đã hơn sáu giờ. Những người đàn ông trong bộ đồng phục màu xanh và đội mũ lưỡi trai vành hẹp đang nối đuôi nhau vội vã bước ra ngoài sân. Ca trực của họ đã kết thúc. Jill săm soi tìm kiếm một khuôn mặt giữa nhóm người đang rời ca trực đó. Hai mươi năm về trước, anh ta vẫn còn là một cậu thiếu niên. Nhưng thời gian trôi qua, anh ta đã từng được khen thưởng, đã lấy vợ và hiện đang làm nghề lái xe buýt trong hãng BART. Chỉ mất có vài tiếng đồng hồ để April tìm ra tung tích của anh ta.

Một người đàn ông da đen, khổ người thấp đậm và chắc nịch, đội mũ da màu đen và mặc áo chắn gió, đang vẫy tay chào tạm biệt những người bạn đồng nghiệp của mình và đi về phía Jill. Anh ta nhìn cô bằng cặp mắt dè chừng.

Người quản đốc bảo chị đang đợi tôi ở đây. Có chuyện gì thế?

- Anh là Kenneth Charles phải không? - Jill hỏi lại.

Người đàn ông gật đầu.

Jill tự giới thiệu về mình và đưa cho anh ta một tấm các. Mắt Charles mở to.

- Nói thật nhé, đã từ lâu lắm rồi chẳng có ai ở nơi gọi là Tòa Công Lý lại tỏ thái độ quan tâm đến tôi như thế này đâu, chị ạ.

- Không phải tôi quan tâm đến anh, anh Charles, - Jill nhẹ nhàng trả lời, cố gắng làm anh ta yên lòng. - Đây là về một chuyện mà anh đã từng được chứng kiến từ nhiều năm trước. Anh có phiền lòng nếu chúng ta nói chuyện một lúc với nhau không?

Charles nhún vai.

- Thế chị có phiền lòng khi phải đi bộ hay không? Xe tôi đỗ đằng kia. - Anh ta dẫn Jill qua cánh cổng mắt cáo tới bãi đỗ cạnh trạm xe buýt.

- Chúng tôi đang xem xét lại một vài vụ án cũ, - Jill giải thích. - Tôi có đọc đến lời chứng mà anh đã đưa ra trong vụ kiện Frank Coombs.

Nghe đến tên người đàn ông đó, Charles dừng lại.

- Tôi đã đọc lời chứng của anh, - Jill tiếp tục. - Anh đã nói là anh trông thấy. Tôi muốn anh kể lại tường tận.

Kenneth Charles lắc đầu, tỏ vẻ mất hết can đảm.

- Sau vụ đó, chẳng có ai tin lời tôi nói cả. Họ không cho tôi ra tòa. Họ gọi tôi là đồ rác rưới. Chị quan tâm tới chuyện đó làm gì?

- Dù sao anh cũng đã từng là một thiếu niên có tới hai tiền án tiền sự mà, - Jill thẳng thắn trả lời.

- Đúng như vậy, - Kenneth Charles nói, - nhưng khi đó tôi chỉ nói ra những gì tôi đã trông thấy mà thôi, vả lại, từ bấy đến nay thời gian trôi qua cũng nhiều rồi. Tôi đi làm đã được mười hai năm. Nếu tôi không lầm thì người đàn ông đó cũng đã phải trả giá hai mươi năm cuộc đời của mình trong tù vì những gì ông ta đã làm đêm hôm đó.

Jill nhìn thẳng vào mắt Kenneth Charles.

- Tôi đang muốn xem lại cho chắc chắn ông ta có bị kết tội oan hay không thôi mà. Tôi đảm bảo phiên tòa sẽ không được mở lại. Tôi sẽ không ra bất kỳ một lệnh triệu tập nào hết. Nhưng tôi muốn biết sự thật, anh Charles ạ.

Charles bắt đầu kể lại mọi chuyện. Anh ta nói lúc đó anh ta đang xem ti-vi và hút cần sa thì nghe có tiếng ẩu đả bên ngoài cửa sổ. Tiếng ai đó la hét, sau đó tiếng kêu bị bóp nghẹt đi. Anh ta ló đầu ra ngoài và trông thấy một đứa trẻ con đang bị bóp cổ dưới lối đi.

Jill nghe xong liền hít một hơi thật sâu, cảm thấy mọi thứ đã thay đổi.

- Có hai người đàn ông mặc sắc phục cảnh sát. Hai người đàn ông đang giữ chặt Gerald Sikes, - Charles bảo cô.

- Tại sao anh không làm gì? - Jill hỏi lại.

- Chị phải tìm hiểu lại tình hình xã hội thời bấy giờ đi. Nếu chị được mặc sắc phục cảnh sát, chị là Chúa. Còn tôi lúc ấy chỉ là một kẻ bỏ đi thôi, đúng không?

Jill nhìn sâu vào mắt anh ta.

- Anh có nhớ người cảnh sát thứ hai đó không?

- Chị vừa bảo chị sẽ không ra bất cứ một lệnh triệu tập nào.

- Đúng thế, đây chỉ là chuyện cá nhân thôi. Nếu tôi cho anh xem một bức ảnh, liệu anh có thể chỉ người đó ra cho tôi được không?

Hai người đi tiếp tới bên một chiếc Toyota mới cứng. Jill mở cặp tài liệu và lấy ra một bức ảnh. Cô chìa ra trước mặt Kenneth Charles.

- Đây có phải là người cảnh sát mà anh đã nhìn thấy không, anh Charles?

Anh ta nhìn bức ảnh một lúc lâu, hết sức chăm chú. Rồi anh ta trả lời.

- Chính đây là người mà tôi đã trông thấy.

96

Tôi đã dành cả ngày hôm đó ngồi tại tòa, giám sát việc truy lùng Frank Coombs qua điện thoại và trước bản đồ mạng lưới của thành phố.

Tôi đã ra lệnh theo dõi sát sao những người quen của hắn ta và cả những nơi hắn thường lui tới, bao gồm cả Tom Keating. Tôi cũng dò tìm kỹ lưỡng cuốn niên giám Những Trang Vàng tìm thấy trong phòng trọ của hắn ta và mấy số điện thoại hắn bỏ lại trên mặt bàn nhưng chẳng giúp ích gì được. Tới bốn giờ chiều, gã đàn ông thuê ngôi nhà ở Nam San Francisco đã ra đầu thú - gã một mực khai rằng đó là lần đầu tiên gã gặp Frank Coombs.

Coombs không có tiền bạc, không đồ dùng cá nhân, không phương tiện đi lại. Tất cả cảnh sát trong thành phố đều đã có chân dung của hắn. Hắn đã biến vào chỗ quái nào thế nhỉ?

Chimera đâu rồi? Hắn sẽ làm gì tiếp theo?

Tôi vẫn ngồi bên bàn làm việc lúc bảy rưỡi tới khi Jill bước vào. Cô ấy vừa mới ra viện được có mấy ngày, trên người mặc một chiếc áo mưa màu nâu, cặp đựng tài liệu vắt vẻo một bên vai.

- Cậu còn làm gì ở đây vậy? - Tôi lắc đầu nhìn Jill bằng ánh mắt phê phán. - về nhà nghỉ ngơi đi thôi!

- Cậu có rỗi không, cho tớ gặp mấy phút nhé. - Jill nói.

- Ừ, cậu kéo ghế ngồi đi. Nhưng tớ e rằng tớ chẳng còn một ít bia nào cả.

- Cậu đừng lo, - Jill mỉm cười, lôi từ trong túi ra hai lon Sam Adams. - Tớ có mang theo đây. - Cô ấy chìa một lon về phía tôi.

- Chuyện gì thế? - Tôi thở dài. Chúng tôi vẫn chưa lần ra dấu vết của Coombs, trong khi đó vẻ mặt của Jill cho thấy cô ấy đang rất phiền lòng. Tôi cho rằng Steve lại vừa mới vác lên vai một gánh nặng mới nên đã bỏ mặc cô ấy ở nhà một mình.

Nhưng khi Jill vừa mở cặp tài liệu ra thì tôi trông thấy ngay một tập hồ sơ cá nhân với một cái tên quen thuộc, Boxer, Martin.

- Tớ phải nói với cậu, - Jill bật nắp lon bia của mình ra, ngồi xuống trước mặt tôi và bắt đầu, rằng cha tớ là một luật sư bào chữa ở Highland Park.

- Cậu mói chỉ nói điều đó có một trăm lần thôi mà, - tôi nhìn Jill, thoáng mỉm cười.

- Sự thực là cha tớ là luật sư giỏi nhất mà tớ từng biết. Ông làm việc rất chỉn chu, không bao giờ bị lung lạc bởi bất cứ thế lực hoặc mức thù lao nào cả. Cha tớ đúng là một con người chính trực. Có lần, tớ đã chứng kiến ông mải mê làm việc cả đêm trong suốt sáu tháng trời để bác bỏ việc buộc tội một người nông dân trồng rau diếp lưu động đã bị kết án oan sai rằng ông ta đã hiếp dâm. Rất nhiều người sau đó đã khuyến khích cha tớ ứng cử vào Quốc hội Hoa Kỳ. Tớ rất yêu cha tớ.

Tôi ngồi im lặng, nhìn mắt Jill bắt đầu rưng rưng. Cô ấy nhấp một ngụm bia to rồi tiếp tục.

- Cho mãi tới năm tớ vào đại học thì tớ mới nhận ra ông ấy đã cư xử vói mẹ tớ như thế nào trong suốt hai mươi năm trời. Người đàn ông trung thực của tớ... thần tượng của tớ...

Tôi nở một nụ cười yếu ớt.

- Từ đầu đến cuối Marty Boxer đã nói dối tớ phải không?

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.