Cơ Hội Thứ 2

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
49 - 50
Phần Hai

❊ ❊ ❊

CÔNG LÝ SẼ ĐƯỢC THỰC HIỆN

26

Tôi gõ nhẹ vào cánh cửa kính phòng làm việc của Stu Kirkwood, làm gián đoạn bữa điểm tâm sáng bằng cà phê và bánh ngọt của anh ta và liệng tấm ảnh chụp nhanh gã đi xe đạp mặc chiếc áo có hình thêu con sư tử đuôi rắn lên mặt bàn.

- Tôi cần biết đây là cái gì, Stu ạ.

Tiếp sau đó, tôi đưa ra hai bản copy với cùng một biểu tượng: tấm đề-can dán phía sau thanh chống va của chiếc xe chở hàng và hình chụp được dưới tầng hầm nơi Estelle Chipman bị treo cổ. Sư tử, dê, đuôi của một con rắn hay con thằn lằn gì đó.

- Tôi không biết, - anh ta ngước nhìn tôi và nói.

- Đây là tên giết người, Stu ạ. Vậy làm thế nào để chúng tôi có thể tìm ra hắn? Tôi nghĩ đây là chuyên môn của anh mà.

- Tôi đã nói với chị rồi, tôi chuyên về các vụ án hằn thù cá nhân nhiều hơn. Nhưng tôi có thể gửi bức ảnh này qua e-mail tới Quantico.

- Tốt lắm, - tôi gật đầu. - Vậy phải mất bao lâu?

Kirkwood ngồi thẳng người lên.

- Tôi có quen lãnh đạo ở đó, một nhà nghiên cứu tài giỏi mà tôi đã có dịp dự hội thảo chuyên đề cùng. Để tôi thử gọi điện tối nhờ xem sao.

- Vậy nhanh lên nhé, Stu. Làm trước đi rồi hãy ăn tiếp. Và hãy cho tôi biết ngay sau khi anh thu thập được điều gì.

Lên gác, tôi giục Jacobi và Cappy vào phòng làm việc của tôi ngay. Tôi nói qua nội dung tập hồ sơ về hội Templar của Stu và cho họ xem bản copy tấm ảnh của gã đi xe đạp.

- Nhận ra gì không, mấy anh?

Cappy săm soi tấm ảnh rồi liếc nhìn tôi.

- Chị cho rằng mấy phần tử cặn bã này có liên quan đến vụ của chúng ta à?

- Tôi muốn biết chúng ở đâu, - tôi đáp. - Và tôi cũng muốn các anh phải hết sức cẩn thận. Tụi này đã từng dính vào những vụ còn khủng khiếp hơn vụ nhà thờ La Salle Heights nhiều. Buôn lậu vũ khí, bạo lực tập thể, giết người thuê. Theo hồ sơ, bọn chúng thường tụ tập tại một quán bar tên là Vẹt Xanh ở Vallejo. Nhớ là đừng có ập vào để bắt chúng như các anh đã từng làm trong vụ theo dõi tên ma cô ở Geary đấy nhé. Vallejo không thuộc phạm vi thi hành công lý của chúng ta.

- Chúng tôi nhớ rồi, - Cappy gật đầu. - Không được làm ầm ĩ, chỉ quậy phá chút thôi. Dù sao được một ngày ra ngoài thành phố cũng tuyệt đấy chứ. - Anh ta cầm tập hồ sơ lên và vỗ nhẹ vào vai Jacobi. Lê la quán xá, tuyệt quá còn gì!

- Mấy anh, nhớ cẩn thận, - tôi nhắc nhở. - Kẻ giết người của chúng ta là một tên bắn tỉa siêu hạng đấy.

Sau khi họ đi rồi, tôi cúi xuống xem qua những lời nhắn và giở tờ Biên Niên sử buổi sáng trên bàn ra. Có một dòng tít, với lời quy kết của Cindy: “Cảnh sát đang mở rộng điều tra vụ bắn súng vào nhà thờ. Cái chết của một phụ nữ ở Oakland được coi là có liên quan.”

Bằng việc trích dẫn tới “những nguồn tin sát thực với cuộc điều tra” và “sự tiếp xúc trực tiếp với một cảnh sát giấu tên”, Cindy đã phác họa một khả năng rằng chúng tôi đang mở rộng điều tra sang cả vụ giết người ở Oakland nữa. Tôi sẽ bật đèn xanh cho cô ấy tiếp tục theo hướng này.

Tôi quay số của Cindy.

- Nguồn tin sát thực với cuộc điều tra đang gọi điện thoại cho cậu đây, - tôi nói.

- Không phải. Cậu là Cảnh sát giấu tên, còn Nguồn tin sát thực với cuộc điều tra là Jacobi cơ.

- Ôi, khỉ thật, - tôi bật cười khúc khích.

- Tớ rất mừng khi thấy cậu vui như vậy. Nghe này, tớ đang có chuyện rất quan trọng muốn nói với cậu. Cậu có định tới dự đám tang của Tasha Catching không?

Tôi nhìn xuống đồng hồ. Còn gần một tiếng nữa là tới giờ cử hành buổi lễ cầu nguyện.

- Có, tớ sẽ tới.

- Vậy hãy tìm gặp tớ ở đó nhé, - Cindy dặn.

27

Một cơn mưa bụi rét buốt chợt đổ xuống khi tôi vừa tới nhà thờ La Salle Heights.

Hàng trăm người mặc đồ đen tới tham dự lễ tang đang chen chúc nhau đi vào ngôi nhà thờ lỗ chỗ vết đạn. Một tấm vải bạt buông xuống che kín lỗ hổng toang hoác nơi trước kia đã từng là khung cửa kính màu đẹp tuyệt vời. Nó bay lật phật trong những cơn gió, nhẹ trông chẳng khác nào một ngọn cờ đang rũ xuống.

Thị trưởng Fernandez cũng đã ở đó cùng với một số nhân vật quan trọng khác mà tôi quen mặt trong chính quyền thành phố. Vernon Jones, nhà hoạt động xã hội, đứng cách gia đình người xấu số chỉ một sải tay. Cảnh sát trưởng Mercer cũng đã có mặt. Đám tang của cô bé trở thành đám tang lớn nhất thành phố trong nhiều năm qua. Điều này khiến cho cái chết của nó càng trở nên sầu thảm hơn.

Tôi thoáng trông thấy Cindy, trong bộ quần áo màu đen, đứng ở phía cuối nhà nguyện. Chúng tôi gật đầu với nhau.

Tôi đi tới bên Mercer và ngồi xuống giữa đoàn đại biểu của Sở cảnh sát. Ngay sau đó, dàn đồng ca nổi tiếng của nhà thờ La Salle Heights bắt đầu ngân nga một ca khúc buồn “Tôi sẽ bay xa”. Đúng là không gì có thể gây xúc động mạnh như một bài thánh ca êm đềm vang lên giữa một nhà thờ đầy chật người. Tôi cũng có những cảm xúc riêng của tôi, và nó không khác mấy so với những gì tôi cảm nhận được ngoài xã hội. Chẳng hề dễ dàng khi phải phân định một điều gì đó thành tốt hay xấu, thành sự phán quyết hay sự chuộc lại lỗi lầm. Nhưng khi tiếng hát trầm bổng vang lên khắp nhà thờ thì việc cầu xin lòng thương hại soi tỏ cho một linh hồn ngây thơ trong trắng xem ra chẳng hề có gì là sai trái cả.

Sau khi dàn đồng ca kết thúc, mục sư Aaron Winslow bước tới trước mi-crô. Trông ông thật tao nhã trong bộ áo choàng đen tuyền. Ông bắt đầu nói về Tasha Catching như đã biết cô bé trong suốt quãng đời ngắn ngủi của nó: một giọng cười ròn rã, một tư thế đĩnh đạc tuy là người nhỏ tuổi nhất trong dàn đồng ca, ước mong trở thành một nữ danh ca tiếng tăm lừng lẫy hoặc một kiến trúc sư tài năng để có thể xây dựng lại nhà cửa cho bà con xóm giềng. Vậy mà bây giờ, chỉ còn những thiên thần trên cao kia mới có thể nghe thấy giọng nói trong trẻo của cô bé.

Mục sư không nói như một giáo sĩ hiền lành chỉ biết khuyên bảo mọi người nên nhẫn nhịn, ông vẫn giữ một niềm hy vọng lớn lao, gây xúc động cho mọi người nhưng lại hết sức thực tế. Nhìn ông, tôi không khỏi nghĩ rằng chính vị mục sư đẹp trai kia là ngươi đã từng trải nghiệm cuộc sống trong những trận đánh của chiến dịch Bão Táp Sa Mạc, cũng chính ông mới vài ngày trước đây thôi, đã sẵn sàng mạo hiểm cả tính mạng để bảo vệ những đứa trẻ trong vùng.

Ông vẫn nói, giọng của ông nhẹ nhàng nhưng đầy sức mạnh, rằng ông không thể nào tha thứ, và ông muốn tội ác phải bị trừng phạt.

- Chỉ có thánh thần mới không xét đoán, và xin hãy tin tôi, tôi không phải là thánh. Tôi cũng giống như các bạn chỉ là một người đã quá mệt mỏi khi cứ phải dàn hòa với sự bất công. - Ông đưa mắt nhìn về phía cảnh sát trưởng Mercer. - Hãy tìm cho ra tên giết người. Hãy đưa hắn ra xét xử trước tòa án. Đừng làm chuyện này vì chính trị, vì lời cam kết, hay thậm chí vì một cuộc đua cho những mục đích nào đó. Hãy làm vì quyền được thoát khỏi sự hận thù của con người. Tôi tin tưởng rằng thế giới này sẽ không bao giờ bị hủy diệt bởi những hành động xấu xa đó. Chúng ta hãy tự cải thiện lại bản thân chúng ta!

Mọi người đứng dậy, họ vỗ tay và họ khóc. Tôi cũng đứng lên cùng họ. Mắt tôi đẫm lệ. Aaron Winslow đã đem lại giá trị đích thực cho một sự khởi đầu mới. Bài thuyết giảng của ông kéo dài gần một giờ đồng hồ, không nóng bỏng, không sáo rỗng, rất ít lời amen. Nhưng nỗi buồn rầu chứa đựng trong đó thì không một ai trong số chúng tôi có thể quên được.

Mẹ của Tasha trông có vẻ khỏe hơn khi bà đi theo chiếc quan tài nhỏ đưa con gái của bà về nơi an nghỉ cuối cùng.

Tôi bước ra khỏi nhà thờ trong tiếng hát du dương của dàn đồng ca. “Vòng tròn sẽ không bao giờ bị phá vỡ”. Người tôi tê cóng, trong lòng buồn bã và tuyệt vọng vô cùng.

Bên ngoài, trong lúc đứng đợi Cindy, tôi thoáng trông thấy Aaron Winslow hòa lẫn trong dòng người đưa tang và lũ trẻ con đang khóc thổn thức, ở ông toát lên vẻ ngoài mà tôi rất thích: ông là một con người chân thật, luôn say mê với công việc và với con người quanh ông.

- Bây giờ, tớ đã biết một người có thể đứng chung chiến hào với tớ rồi, - tiếng Cindy vang lên bên cạnh tôi.

- Cậu nói thế nghĩa là sao? - Tôi hỏi lại

- Tớ cũng không biết nữa... Tất cả những gì mà tớ có thể diễn đạt bây giờ là ngày hôm qua tớ đã tới đây và nói chuyện với mục sư. Kể từ lúc ấy, tóc tớ cứ dựng ngược hết cả lên, cứ như thể tớ vừa được phỏng vấn Denzel Washington hay một nhân vật cỡ bự nào đó vậy.

- Cậu cũng biết là các giáo sĩ Cơ đốc thì không giống với linh mục Thiên Chúa giáo rồi còn gì, - tôi nói.

- Thế nào cơ?

- Nghĩa là đứng chung một chiến hào với họ chẳng có gì đáng ngại cả. Chỉ để tránh đạn thôi mà.

- Tất nhiên rồi, - Cindy gật đầu tán thành, bắt chước tiếng nổ của một khẩu súng cối. - Pằng!

Mục sư Aaron Winslow quả là một con người rất gây ấn tượng. Bài diễn văn của ông ấy đã khiến tớ bật khóc. Nhưng đó có phải là thứ mà cậu muốn chỉ cho tớ xem hay không?

- Không, - cô ấy đáp rồi thở dài đánh sượt, quay trở lại ngay vấn đề. Cô ấy thò tay vào túi xách, khua khoắng một lúc rồi lôi ra một mẩu giấy gấp tư. - Tớ biết cậu sẽ bảo tớ là húc đầu vào đá... Nhưng tớ cho là tớ đã quen với việc giấu dốt hộ cậu rồi.

- Đúng vậy, - tôi cười xòa. - Cậu có gì cho tớ xem thế? Chúng ta là một hội cơ mà, phải không?

Tờ giấy được mở ra, nó khiến mắt tôi cứ phải trợn ngược. Tôi trông thấy hình một con sư tử, dê và rắn mà tôi đã đưa cho Kirkwood để nhận dạng. Sự tự chủ nghề nghiệp không làm cho cặp mắt mở tròn của tôi trở lại bình thường.

- Cậu kiếm đâu ra thế hả?

- Cậu có biết cậu đang được xem cái gì không Lindsay?

- Đây chắc chắn không phải là thứ đồ chơi đang rất thịnh hành trong thành phố.

Cindy không cười.

- Đây là biểu tượng của một nhóm phân biệt chủng tộc, nhóm của những người ủng hộ thuyết người da trắng là ưu việt. Một đồng nghiệp trong tòa báo của tớ đã nghiên cứu về nó kỹ lắm. Từ sau buổi tối chúng mình gặp nhau, tớ chỉ muốn tìm cho bằng được. Biểu tượng này được một nhóm ít người sử dụng, và đó là nguyên nhân tại sao lại khó tìm ra nó đến thế.

Tôi nhìn trừng trừng vào hình ảnh mà kể từ lúc Tasha Catching bị bắn chết tới nay, tôi đã trông thấy không biết bao nhiêu lần.

- Biểu tượng này có tên chứ? Tên nó là gì vậy?

- Chimera. Nó được tạo nên từ thần thoại Hy Lạp. Theo những gì mà tớ đã tìm hiểu được thì đầu sư tử tượng trưng cho lòng dũng cảm, mình dê tượng trưng cho ý chí và tính kiên cường, còn đuôi rắn thì tượng trưng cho những mưu mô xảo trá nhất. Xét tổng thể, nó có nghĩa là dù cậu có dùng bất cứ thứ gì nhằm tiêu diệt nó thì nó cũng sẽ đều đánh bại.

Tôi trợn mắt lên với cái gọi là Chimera, một cơn buồn nôn dâng lên trong ruột.

- Lần này thì không đâu.

- Tớ cũng tin là vậy, - Cindy trả lời. - Nhưng kẻ sát nhân vẫn còn tự do chạy nhảy ngoài kia. Tất cả mọi người đều nghĩ rằng có một mới liên hệ chặt chẽ đang tồn tại giữa hai vụ. Biểu tượng này chính là chìa khóa, phải không nào? Để mình cho cậu thêm một định nghĩa nữa nhé: một sản phẩm kỳ cục của trí tưởng tượng. Nghe hợp quá còn gì.

Tôi thấy mình gật đầu lia lịa. Những nhóm người hận thù. Thậm chí có thể chính là Templars. Một khi Mercer đồng ý, chúng tôi sẽ sẵn sàng xộc vào cửa sào huyệt của tất cả các nhóm khủng bố mà chúng tôi đã tìm được. Nhưng thế quái nào mà kẻ giết Estelle Chipman lại là người da đen nhỉ? Điều đó đối với tôi chẳng hề có nghĩa lý gì.

- Cậu không giận tớ đấy chứ? - Cindy hỏi lại.

Tôi lắc đầu.

- Tất nhiên là không rồi. Thế cái nguồn tìm hiểu của cậu... nó có nói làm cách nào để trừ khử được Chimera hay không?

- Nó bảo có một vị anh hùng cưỡi một con ngựa có cánh đã bay đến, chặt phăng đầu của Chimera. Nhưng giờ thì kiếm đâu ra vị anh hùng, hoặc là nữ anh hùng đó? - Cô ấy nhìn tôi nghiêm nghị. - Cậu có ngựa có cánh không, Lindsay?

- Không, - tôi lại lắc đầu. - Nhưng tớ có một con chó giống cô-li rất dễ thương.

29

Claire gặp tôi ở hành lang của tòa ngay khi tôi vừa trở về với một đĩa xa-lát giành cho bữa trưa.

- Chị đi đâu vậy? - Tôi hỏi, tò mò nhìn chị trong chiếc váy màu đỏ tía quyến rũ và chiếc cặp bằng da hiệu Tumi quàng trên vai.

- Thực ra, chị định đi tìm em đấy.

Khuôn mặt của Claire toát ra một vẻ mà tôi đã quá quen thuộc. Không thể gọi đó là tự mãn hay lên mặt ta đây được, nhưng đúng là có một ánh sáng lấp lánh như muốn nói: Chị đã tìm thấy. Thậm chí hơn thế: Đôi khi, chính chị cũng phải ngạc nhiên về bản thân chị.

- Chị ăn chưa?

Chị cười khúc khích.

- Ăn á? Làm gì có thời gian mà ăn. Suốt từ mười rưỡi đến giờ, chị đã phải dán mặt vào chiếc kính hiển vi bên kia vịnh theo lời đề nghị của em đấy. - Chị ngó vào túi xách của tôi và thoáng trông thấy món xa-lát trộn thịt gà cà-ri. - Trông ngon lành quá nhỉ!

Tôi kéo chiếc túi lại.

- Cái đó còn tùy. Để xem chị mang gì về cho em nào.

Claire kéo tôi vào trong thang máy.

- Chị đã phải hứa tặng Teitleman một cặp vé đặc biệt trong nhà hát để làm ông ta nguôi giận đấy, - Claire nói trong lúc hai chị em đi vào phòng làm việc của tôi. - Em cứ coi đây như là một điều ngạc nhiên giành cho Edmund đi. - Edmund là chồng của chị, vốn là một tay trống cừ khôi trong dàn nhạc giao hưởng San Francisco trong suốt sáu năm qua.

- Chị cũng phải cho em một cặp, nếu không em sẽ mách anh ấy cho mà xem, - tôi dọa dẫm và ngồi xuống, bày bữa trưa của mình ra bàn.

- Em dám à? - Chị trợn mắt, dứ chiếc dĩa nhựa lên trên đĩa xa-lát của tôi. - Chẳng lẽ em chưa đủ mệt với công việc của mình sao?

Tôi kéo chiếc đĩa ra xa khỏi tầm tay của Claire.

- Như em đã nói lúc nãy, còn tùy thuộc vào những gì chị mang về cho em từ bên kia vịnh.

Không chút lưỡng lự, Claire nhoài người ra xiên một miếng thịt gà.

- Sẽ rất vô lý khi một gã da đen lại giết người cùng màu da với mình do hận thù sắc tộc, phải không nào?

- Thôi được rồi, - tôi nhượng bộ, đẩy chiếc đĩa trở lại trước mặt chị. - Thế chị đã tìm thấy gì hả?

Claire gật đầu.

- Đa phần giống như những gì em đã nói với chị. Chỉ trầy da hay xây xát thông thường thôi thì rất khó thuyết phục được tòa. Nhưng dưới móng tay của đối tượng người ta đã tìm thấy những mẫu da khác lạ. Vì vậy chúng ta phải nhằm vào mục tiêu đó. Họ đã phát hiện ra đó là loại da sẫm màu, theo như bản báo cáo đã ghi lại thì “phù hợp với chủng người không phải da trắng”.

- Như vậy là sao? - Tôi hỏi dồn. - Kẻ giết bà Chipman là người da đen à?

Claire cúi xuống, xiên miếng thịt gà cuối cùng trên đĩa.

- Mới nhìn qua, chị có thể hiểu được tại sao người ta lại tưởng nhầm như vậy. Nếu không phải người Mỹ gốc Phi thì cũng là người Mỹ la-tinh hoặc người châu Á. Teitleman cũng nghiêng về kết luận này cho tới khi chị đề nghị ông ấy thực hiện lần thí nghiệm cuối cùng. - Mắt Claire chợt trở nên mơ màng. -Mà chị đã kể cho em nghe là chị đã có thời gian nghiên cứu về mô học ở Moffitt chưa nhỉ?

- Chưa đâu, Claire. - Tự dưng tôi thấy tôi vừa mỉm cười vừa lắc đầu quầy quậy. Chị ấy luôn giỏi trên mọi lĩnh vực mà.

Claire nhún vai.

- Chưa à? Tại sao chị lại có thể đãng trí tới vậy được nhỉ? Tuy nhiên, về cơ bản, cái mà một phòng thí nghiệm thường quan tâm tìm hiểu là nội bào, chẳng hạn như các tế bào biểu bì tạo sắc tố, ở chủng người không phải da trắng, các tế bào sẫm màu thường tập trung nhiều ở mô hơn là trên bề mặt của da.

- Nào nào... chị Claire. Chị hãy diễn đạt dễ hiểu hơn được không? Mẫu da đó là của người da đen hay người da trắng?

- Tế bào biểu bì tạo sắc tố sẫm màu, - Claire nói tiếp như không nghe thấy lời yêu cầu của tôi, - thường tập trung nhiều ở người da màu. Vấn đề là, mẫu da tìm được dưới móng tay của bà Chipman không thuộc loại này. Nó chỉ là gian bào mà thôi và có màu hơi xanh không phù hợp với sắc tố thông thường. Bất kỳ một nhà nghiên cứu mô học thận trọng nào cũng sẽ nhận ra được điều đó.

- Nhận ra được điều gì cơ Claire? - Tôi sốt ruột hỏi lại, mắt dán vào nụ cười tự mãn của người bạn thân.

- Nhận ra rằng kẻ sát nhân đáng kinh tởm kia không phải là người da đen, chị trả lời dứt khoát, - mà là một người da trắng có màu da đen cục bộ. Mực, Lindsay ạ. Cái mà người đàn bà tội nghiệp kia đã bấu móng tay vào là hình xăm trên ngực kẻ giết người.

30

Sau khi Claire đi khỏi, tôi cứ phấn chấn mãi về phát hiện mới này cho tới lúc Karen xuất hiện và đưa cho tôi một chiếc phong bì dày cộp.

- Simone Clark gửi cho chị. - Đó là hồ sơ cá nhân mà tôi đã hỏi mượn anh ta chiều qua. Edivard R. Chipman.

Tôi lôi nó ra khỏi phong bì và bắt đầu đọc.

Chipman đã từng là một cảnh sát tuần tra ở quận Trung tâm, về hưu năm 1994 với cấp bậc trung sĩ. Đã hai lần ông ta nhận được tuyên dương trước toàn đội về lòng dũng cảm của mình.

Tôi dừng lại ở tấm ảnh chân dung của Chipman. Một khuôn mặt gồ ghề, xương xẩu với bộ râu rậm kiểu Phi rất thịnh hành trong thập niên sáu mươi. Bức ảnh chắc hẳn đã được chụp vào ngày ông ta gia nhập lực lượng cảnh sát. Tôi tiếp tục đọc lướt qua phần còn lại của tập hồ sơ. Điều gì có thể khiến ai đó muốn giết bà vợ góa của người đàn ông này nhỉ? Cả tập hồ sơ không có lấy một lời khiển trách dù nhỏ nhất, và trong suốt sự nghiệp ba chục năm làm cảnh sát của mình, viên trung sĩ mẫn cán này chưa bao giờ nổ súng. Ông ta thuộc Đội cảnh sát mở rộng ở các khu trung cư thuộc Potrero Hill và là một thành viên của nhóm Sĩ quan phục vụ công lý, luôn vận động và thúc đẩy các mối quan tâm giành cho cảnh sát người da màu. Chipman, như đa số các cảnh sát khác, đã có một sự nghiệp thật đáng tự hào, không bao giờ gây rắc rối hoặc bị kỷ luật. Trong tập hồ sơ, tôi cũng không tìm thấy một sợi dây liên hệ nào có thể kết nối Chipman với chú của Tasha Catchings là Kevin Smith.

Nhưng liệu tôi đã đọc kỹ các thông tin trong tập hồ sơ chưa nhỉ? Có một mắt xích trong chuỗi dây xích nào đó mà tôi đã bỏ qua chăng? Mọi giác quan của tôi căng ra. Nào Lindsay, cố lên, chúng ta biết là trong này có một điều gì đó.

Đột nhiên, tiếng gõ cửa của Lorraine Stafford đã kéo tôi trở lại thực tại.

- Chị có rảnh không, trung úy?

Tôi gật đầu ra hiệu cho cô ấy bước vào.

- Chiếc xe chở hàng, Lorraine báo cáo, là của Ronald Static, giảng viên môn nhân loại học thuộc trường đại học cộng đồng ở Mountain View. Chiếc xe đã bị đánh cắp ở bãi đậu xe của nhà trường. Lý do khiến ông ta chậm khai báo mất cắp là do ông ta đã đến Seattle để tham gia một buổi phỏng vấn xin việc.

- Ai là người biết ông ta sẽ đi vắng?

Lorraine liếc nhìn xu ông mảnh giấy cô đang cầm trên tay.

- Vợ ông ta. Người quản lý trường đại học. Ông ta dạy hai lớp trong trường và là thầy hướng dẫn của rất nhiều sinh viên ở các trường khác nữa trong thành phố

- Có ai trong số các sinh viên của ông ta quan tâm tới chiếc xe chở hàng hay không?

Lorraine bật cười khúc khích.

- Ông ta nói sinh viên bây giờ quá nửa tới trường bằng xe BMW và Saabs. Họ quan tâm tới một chiếc xe chở hàng cũ kỹ đã dùng được sáu năm rồi làm gì?

- Thế còn miếng đề-can sau xe? - Tôi không cho rằng Static lại có liên quan đến vụ giết người, nhưng ở xe của ông ta có dán một biểu tượng giống hệt với biểu tượng mà tôi đã tìm thấy dưới tầng hầm ở Oakland.

Lorraine nhún vai.

- Ông ta bảo chưa bao giờ trông thấy nó cả. Tôi đã đề nghị ông ta cho tôi kiểm chứng lại những câu trả lời của ông bằng máy phát hiện nói dối, ông ta đồng ý ngay.

- Cô cũng nên kiểm tra xem trong số bạn bè và sinh viên của ông ta có người nào có khuynh hướng chính trị lệch lạc hay không nhé.

Lorraine gật đầu.

- Tôi sẽ làm, nhưng tôi thấy người đàn ông này hoàn toàn ngay thật, Lindsay ạ. Khi tôi đến gặp ông ta, ông ta đã nhảy dựng lên như bị dứt da dứt thịt vậy.

Cho tới lúc hoàng hôn bắt đầu buông xuống, tôi lại thấy trong mình dậy lên một tâm trạng hết sức dao động. Tôi đã có thể chắc chắn một điều rằng hai vụ giết người vừa xảy ra đều thuộc một chuỗi sự kiện, nhưng chúng tôi chỉ có trong tay duy nhất một đầu mối là gã đàn ông mặc áo khoác có thêu hình Chimera.

Chuông điện thoại reo vang khiến tôi giật nảy người. Đó là Jacobi.

- Tin xấu đây, trung úy ơi. Chúng tôi đã lảng vảng bên ngoài cái quán Vẹt Xanh chết tiệt kia suốt một ngày trời. Chẳng thấy gì cả. Vì vậy chúng tôi đã quyết định vào trong để hỏi chuyện thằng cha phục vụ quầy rượu. Hóa ra mấy gã mà chị muốn tìm đã lùi vào quá khứ rồi. Bọn chúng đã phắn đi từ năm, sáu tháng trước cơ. Gã dữ tợn mặc áo thêu là một lực sĩ cử tạ.

- Anh nói phắn nghĩa là sao hả Warren?

- À, thì là chuồn, là cút xéo... tới đâu đó ở mạn phía Nam. Theo lời người phục vụ quầy rượu thì còn một, hai gã thỉnh thoảng vẫn lui tới. Một gã tóc đỏ. Còn lại, phần lớn bọn chúng lang thang ngoài đường. Thường xuyên...

- Tiếp tục đi nhé. Hãy tìm gã tóc đỏ hộ tôi. - Bây giờ, việc tiếp tục lần theo dấu vết chiếc xe chở hàng đã không còn tác dụng nữa trong khi tôi vẫn chưa có một chứng cớ nào để kết nối hai vụ giết người lại với nhau trừ biểu tượng con sư tử đuôi rắn.

- Tiếp tục á? - Jacobi rền rĩ. - Bao lâu nữa đây? Chúng tôi không thể cứ vật vờ ngoài đường mãi thế này được.

- Tôi sẽ gửi quần áo tới cho các anh thay. - Tôi nói và đặt máy xuống.

Tôi ngồi thõng người trên ghế một lúc lâu với một cảm giác khiếp sợ cứ ngày một lớn dần. Đã ba ngày trôi qua kể từ lúc Tasha Catchings bị giết, và ba ngày trước đó là Estelle Chipman.

Tôi không có gì. Không một manh mối đáng kể. Chỉ duy nhất một thứ do chính tên giết người để lại cho chúng tôi. Con Chimera quái gở kia.

Tôi chợt bàng hoàng với một suy nghĩ... Chuỗi vụ án giết người. Mà đã là chuỗi thì nó sẽ không kết thúc cho đến khi nào chúng tôi tìm ra thủ phạm.

31

Trung sĩ cảnh sát tuần tra Art Davidson trả lời số 1-6-0 ngay khi anh vừa nghe thấy tín hiệu. "Có rắc rối đây, bạo lực gia đình. Nhà 303 Đại lộ Sô 7, trên gác. Tổ trực ban nào đang ở gần đó, trả lời đi!"

Davidson và đồng nghiệp của anh, Gil Herrera, đang ở Bryant cách địa chỉ trên có bốn khu nhà. Đã gần tám giờ và ca trực của họ sẽ kết thúc trong vòng mười phút nữa.

- Cậu có định quay lại đó không Gil? - Davidson vừa hỏi vừa liếc nhìn đồng hồ đeo tay.

Đồng nghiệp của anh nhún vai.

- Đang ca trực của mình mà, Art. Chắc lại có một nhóm lang thang du thủ du thực nào đó.

Nhóm lang thang nào đó. Hôm nay là sinh nhật lần thứ bảy của Audra, con gái anh. Trong giờ nghỉ, anh đã gọi điện thoại về nhà và Carol bảo nếu anh trở về trước chín rưỡi thì cô ấy sẽ giữ không cho con bé ngủ vội, chờ anh về tặng cho nó chiếc gương trang điểm có in hình Britney Spears. Davidson có năm đứa con cả thảy, và chúng là toàn bộ cuộc sống của anh.

- Khỉ thật. - Davidson cũng nhún vai. - Chúng ta được trả lương cao để làm nhiệm vụ này mà, đúng không?

Họ bật còi hiệu và chưa đầy một phút sau đã phanh chiếc Mobile 2-4 phía trước lối vào của ngôi nhà 303 tối tăm đổ nát trên đại lộ Sô 7, cạnh tấm biển xiêu vẹo với dòng chữ Khách sạn Driscoll.

- Một nơi hoang phế như thế này mà vẫn có người đến nhỉ? - Herrera thở dài. - Không hiểu là loại người gì?

Hai viên cảnh sát tóm lấy gậy tuần đêm và đèn pin rồi bước tới bên cửa ra vào. Davidson mở toang cánh cửa. Từ bên trong bốc ra một mùi hôi hám, tổng hợp của phân, nước tiểu và chuột cống.

- Này, có ai ở đây không? - Davidson gọi to. - cảnh sát đây.

Đột nhiên, từ trên gác, họ nghe thấy tiếng ai đó đang kêu la. Hình như người ta đang cãi nhau.

- Vào thôi, - Herrera ra hiệu và lao nhanh lên bậc cầu thang đầu tiên. Davidson vội vã chạy theo.

Trên tầng hai, Gil Herrera sải bước dọc dãy hành lang tối tăm và dùng đèn pin gõ mạnh lên từng cánh cửa đóng kín.

- Cảnh sát đây, cảnh sát đây...

Lại có tiếng kêu la - những tiếng kêu thất thanh sợ hãi. Một tiếng gãy răng rắc, tựa hồ như tiếng của vật gì đó bị đập vỡ vụn. Davidson ngước mắt nhìn lên. Căn hộ số 42.

- Đồ khốn - một ai đó rít lên, tiếp theo là bát đĩa rơi vỡ loảng xoảng. Tiếng một phụ nữ van nài. - Có ai ngăn hắn lại không, hắn sắp giết tôi đấy. Ngăn hắn lại, tôi xin... Cứu tôi với!

- Cảnh sát đây, - Art Davidson đáp lại và rút súng ra. Anh kêu to. - Herrera, lại đây ngay!

Dùng hết sức bình sinh, anh lao mạnh người vào cánh cửa. Nó bật mở. Bên trong, căn phòng tối lờ mờ, nhưng phòng ngủ thì có đèn sáng hơn và tiếng cãi nhau... dường như vọng ra từ đó.

Art Davidson mở chốt an toàn khẩu súng của anh rồi lao nhanh qua khung cửa mở rộng vào trong phòng ngủ. Quá đỗi kinh ngạc, anh phát hiện ra trong phòng không hề có người.

Chỉ có luồng ánh sáng vàng vọt hắt ra từ một ngọn đèn trần. Một chiếc ghế sắt với một chiếc máy ghi âm khá to trên đó. Những tiếng nói phát ra từ chiếc máy.

Vẫn những câu nói mà khi nãy anh đã nghe thấy.

"Có ai ngăn hắn lại không, hắn sắp giết tôi đấy...!

- Chuyện quái quỉ gì thế này? Davidson nheo mắt lại, không tin vào khung cảnh trước mặt mình. Anh bước tới bên chiếc loa, quỳ xuống và ngắt điện. Tiếng cãi vã huyên náo tắt ngấm. - Đồ quỷ nào bày ra trò này thế nhỉ? - Anh lẩm bẩm. - Hình như có ai đó đang định rỡn cảnh sát thì phải.

Anh đưa mắt nhìn quanh. Căn phòng tồi tàn rõ ràng là đã lâu không có người ở. Ánh mắt của anh lướt tới bên khung cửa sổ bằng kính, rồi qua đó, qua một khoảng không, sang tòa nhà đối diện bên kia phố. Anh cho rằng anh đã nhìn thấy một vật đang động đậy. Nhưng nó là gì?

Pằng...

Một chấm sáng màu vàng nhỏ xíu xuyên qua bóng tối lao nhanh tới. Khung cửa sổ vỡ toang và một lực cực mạnh xuyên thẳng vào mắt phải của Art Davidson. Anh chết ngay lập tức, trước khi xác của anh đổ vật xuống sàn nhà.

32

Tôi đã gần về tới nhà khi tín hiệu đầy tai họa vang lên trong máy bộ đàm. “Các tổ sẵn sàng, tới ngay nhà 303 Đại lộ Số 7, gần Townsend.”

1-0-6... lại có vụ rồi.

Tôi phanh gấp chiếc Explorer. Nghe tiếp thông báo. Tổ điều tra hiện trường tới ngay, cảnh sát tuần tra khu vực đang gọi. Tiếng tổng đài thật khẩn cấp, hối thúc. Tôi biết đây là một tình huống nghiêm trọng.

Tóc tai tôi dựng ngược cả lên. Đó là một vụ nổ súng mai phục từ xa. Giống như vụ ở nhà thờ La Salle Heights. Tôi gài số và thực hiện một cú quay đầu hình chữ U hết sức thiện nghệ, lao nhanh xe dọc Đại lộ Số 3 và hướng thẳng tới vị trí đang được đề cập đến.

Khi tôi dừng xe cách Townsend và Đại lộ Số 7 bốn tòa nhà, tôi trông thấy một khung cảnh hỗn loạn đang ngự trị. Những dải băng xanh trắng của cảnh sát, ánh đèn pin và những bộ sắc phục nhan nhản khắp nơi, tiếng ra-đi-ô liên tục vang lên xé rách màn đêm u ám.

Tôi len lên, giơ tấm thẻ cảnh sát ra ngoài cửa xe cho tới khi không thể đi tiếp được nữa. Tôi xuống xe và chạy thẳng tới tâm điểm của cảnh hỗn loạn. Tôi tóm lấy tay áo của người cảnh sát tuần tra đầu tiên mà tôi bắt gặp.

- Ai vậy? Anh có biết là ai không?

- Một cảnh sát tuần tra, - anh ta trả lời. - Tên là Davidson.

- Ôi Trời... - Tim tôi chùng xuống. Tôi cảm thấy buồn nôn. Tôi biết Art Davidson. Chúng tôi đã học cùng nhau trong trường đại học. Anh ấy là một cảnh sát mẫn cán, một người tốt.

Cơn buồn nôn thứ hai lại dâng lên kèm theo một nỗi khiếp sợ. Art Davidson là người da đen.

Tôi rẽ đám đông để đi về phía khu nhà đổ nát, nơi có một hàng xe của tổ điều tra hiện trường đang đỗ. Tôi chạy lại gần chánh thanh tra Sam Ryan, người vừa từ trong tòa nhà bước ta, máy bộ đàm vẫn đang áp sát bên tai.

Tôi kéo ông ta lại.

- Sam, tôi thấy bảo đó là Art Davidson... Có phải là rủi ro...?

Sam Ryan lắc đầu.

- Rủi ro ư? Cậu ấy đã bị nhử đến đây, Lindsay ạ. Bị bắn tỉa trúng giữa mắt phải. Chỉ một phát duy nhất, chúng tôi nghĩ vậy. Cậu ấy đã bị nhắm bắn.

Tôi đứng dẹp sang bên, một bức tường kêu ong ong ngày một lớn dần trong hộp sọ của tôi. Tôi biết đó là hắn. Chimera. Vụ giết người thứ ba. Lần này hắn chỉ cần một phát đạn.

Tôi khua tấm thẻ của mình ra trước mặt một viên cảnh sát mặc đồng phục đang đứng chặn ở lối đi rồi chạy nhanh vào trong tòa nhà đổ nát. Mấy nhân viên trong tổ điều tra hiện trường đang vội vã chạy xuống cầu thang. Tôi bỏ qua họ và leo tiếp. Chân tôi nặng như đeo đá, và tôi gần như không thể thở nổi.

Trên tầng ba, một cảnh sát béo tròn mặc đồng phục chạy nhanh qua tôi, vừa chạy anh ta vừa kêu to.

- Tránh ra, mọi người tránh hết ra nào!

Hai nhân viên pháp y xuất hiện - sau đó tới hai cảnh sát khiêng một túi đựng xác. Tôi không thể quay đầu đi.

- Chờ đã, - tôi nói to.

Đó đúng là Davidson. Mắt anh vẫn mở trừng trừng. Một lỗ nhỏ, kích thước bằng một đồng xu, màu đỏ thẫm ở chính giữa mắt phải. Từng sợi dây thần kinh trong tôi dường như nhão ra. Tôi nhớ anh ấy đã có con. Những kẻ sát nhân có con không nhỉ?

- Ôi Chúa ơi, - tôi thì thầm, cố gắng xem qua xác Davidson, xem qua vết đạn. Cuối cùng, tôi chạm tay vào trán của anh.

- Các anh có thể mang anh ấy đi được rồi, - tôi nói khẽ.

Tôi thẫn thờ đi tiếp lên trên. Một đám đông cảnh sát mặc thường phục đang giận giữ tập trung bên ngoài khung cửa mở rộng của một căn hộ. Tôi nhìn thấy Pete Starcher, một cựu điều tra viên trong Đội Homicide của tôi từ trong đó bước ra.

Tôi đến gần ông ta và hỏi

- Chuyện gì thế Pete?

Starcher vốn không ưa gì tôi, ông ta là một người hết sức bảo thủ, hay hoài nghi và giễu cợt.

- Chị có việc ở đây à, trung úy?

- Tôi quen Art Davidson. Chúng tôi đã học cùng nhau trong trường đại học. - Tôi không muốn tiết lộ cho ông ta biết nguyên nhân chính khiến tôi có mặt tại hiện trường.

Starcher khịt mũi, nhưng ông ta vẫn nói qua sự việc với tôi. Hai cảnh sát tuần tra đã bị nhử tới tòa nhà này. Chỉ có mỗi một chiếc máy ghi âm trong phòng ngủ. Có ai đó đã sắp đặt kịch bản. Davidson đúng là một gã khờ. Kẻ sát nhân chó chết kia muốn giết một cảnh sát.

Người tôi lạnh cứng. Tôi biết đó chính là hắn.

- Tôi sẽ xem qua bên trong căn hộ.

Đúng như Starcher đã mô tả, phòng khách trống trơn bao trùm bầu không khí kỳ lạ, bất bình thường. Những bức tường tróc lở, vôi vữa rơi lả tả xuống sàn nhà. Tôi đi tiếp sang phòng bên cạnh, đờ người ra vì hoảng sợ. Một vũng máu loang rộng trên sàn, bắn tung tóe lên cả bức tường gần đó. Tội nghiệp Davidson. Giữa phòng là một chiếc máy ghi âm xách tay đặt trên ghế gấp.

Tôi nhìn lên cửa sổ, tấm kính vỡ toác lởm chởm trông thật khiếp.

Đột nhiên, mọi việc như được sáng tỏ. Ngực tôi tức nghẹn.

Tôi bước tới bên cửa sổ, ngó đầu xuống dưới phố. Không có hình Chimera, nhưng tôi biết... Tôi biết bởi hắn đã nói cho tôi - qua nạn nhân, qua phát súng.

Hắn muốn chúng tôi nhận ra đó chính là hắn.

33

- Lại là hắn, phải không Lindsay?

Tiếng Cindy vang lên trong điện thoại. Lúc này đã hơn mười một giờ, và tôi đang cố tìm cách để kết thúc một buổi tối khiếp đảm. Tôi vừa dắt Martha đi dạo về và đang muốn tắm nước nóng để gạt hình ảnh cái xác của Art Davidson ra khỏi trí óc.

- Lẽ ra cậu phải gọi điện báo cho tớ biết chứ. Vẫn là hắn, Chimera, phải không?

Tôi nằm vật xuống giường.

- Chưa biết được, chẳng tìm thấy gì tại hiện trường cả.

- Cậu biết thừa, Lindsay, cả hai chúng ta đều biết.

Tôi chỉ muốn Cindy bỏ điện thoại xuống để tôi có thể nằm cuộn người trên giường.

- Tớ không biết, - giọng tôi run run. - Có thể là hắn thôi.

- Khẩu súng thuộc loại gì? Có giống với khẩu trong vụ Catchings không?

- Tớ xin cậu đấy, đừng quay tớ nữa. Tớ quen người cảnh sát này. Bạn anh ấy bảo hôm nay là sinh nhật lần thứ bảy của con gái anh ấy. Anh ấy có năm đứa con nhỏ.

- Tớ xin lỗi, Lindsay, - cuối cùng Cindy cũng hạ giọng. - Chỉ có điều tớ thấy nó giống với vụ trước quá, cũng một phát đạn cực kỳ chính xác.

Chúng tôi ngồi một lúc bên cạnh điện thoại mà không nói năng gì. Cindy nói đúng. Tôi biết cô ấy đúng. Một lát sau Cindy mới lên tiếng.

- Vậy là cậu lại có thêm một vụ, Lindsay nhỉ?

Tôi không trả lời, nhưng tôi hiểu rõ điều mà cô ấy muốn ám chỉ.

- Một vụ giết người cùng dạng. Một tên thiện xạ máu lạnh. Hắn ta tiếp tục nhằm tới những người da đen.

- Không chỉ người da đen thôi đâu. - Tôi thở dài.

- Vậy à? - Cindy lưỡng lự, sau đó cô ấy vội vàng nói tiếp. - Tớ thấy cánh nhà báo Oakland đang kháo nhau về tin tức lọt ra từ Đội Homicide ở đó. Bà quả phụ Chipman... chồng bà ta cũng là một cảnh sát. Đầu tiên là chú của Tasha Catchings, sau đó đến chồng bà Chipman, và bây giờ Davidson là người thứ ba. Ôi Trời ơi, Lindsay!

- Chuyện đâu còn có đó mà Cindy, - tôi nài nỉ. - Bây giờ, tớ buồn ngủ lắm rồi. Cậu không hình dung ra chúng tớ đã vất vả như thế nào đâu.

- Hãy để tớ giúp cậu, Lindsay ạ. Cả nhóm chúng ta. Chúng tớ thực lòng muốn giúp cậu mà.

- Được rồi, Cindy. Tớ sẽ nhờ tới các cậu. Tớ cần được tất cả mọi người giúp đỡ.

34

Trong đêm, tôi đã nghĩ ra được một điều. Kẻ giết người đã gọi 911.

Sáng sớm hôm sau, tôi gọi đúng số đó. Lila McKendree là người phụ trách bộ phận tiếp nhận thông tin, chính cô là người trực tổng đài khi Davidson gọi đến.

Lila có khổ người đậm, cặp má hồng hào và rất dễ cười nhưng không ai thành thục với công việc như cô. Cô có thể sắp xếp một loạt các sự kiện một cách bình tĩnh chẳng kém gì người kiểm soát giao thông của thành phố. Cô bật lại đoạn băng cuộc gọi 911 trong phòng làm việc của bộ phận. Cappy và Jacobi cũng đến nghe trước khi quay trở lại Vallejo.

- Nó nằm ở cuộn này, - Lila giải thích và nhấn vào nút tua lại.

Trong vài giây nữa, chúng tôi sẽ được nghe giọng nói của tên giết người.

- Cảnh sát San Francisco, đường dây nóng 911, - giọng người trực tổng đài vang lên.

Cả căn phòng lặng ngắt như tờ.

Tiếng một gã đàn ông kích động đáp lại.

- Tôi gọi đến để báo cáo vụ mất trật tự... Một tên khùng nào đó đang đánh vợ hắn.

- Được rồi..., người trực tổng đài trả lời. - Tôi cần bắt đầu từ vị trí của ông. Vụ mất trật tự xảy ra tại đâu vậy?

Từ trong loa phát ra một chuỗi tiếng động ầm ĩ như tiếng tivi hoặc tiếng ồn ào của xe cộ khiến cho giọng gã đàn ông trở nên khó nghe hơn.

- 303 Đại lộ Số 7. Tầng bốn. Hãy cử người đến càng nhanh càng tốt. Sự việc nghe có vẻ trở nên tồi tệ hơn rồi.

- Ông nói địa chỉ là 303 Đại lộ Sô Bảy phải không?

- Chính xác - tên giết người trả lời.

- Ông có thể cho tôi biết tên được không? - Người trực tổng đài đề nghị.

- Tên tôi là Billy, Billy Reffon. Tôi sống ngay tầng dưới. Nhanh lên nhé!

Chúng tôi nhìn nhau, ngạc nhiên. Tên giết người đã nói ra tên của hắn? Ôi Chúa ơi.

- Thưa ông, - người trực tổng đài tiếp tục, - ông vẫn nghe thấy diễn biến của sự việc trong lúc chúng ta nói chuyện đấy chứ?

- Cái mà tôi đang nghe được bây giờ, - hắn nói, - là người phụ nữ đang rất hoảng sợ.

Người trực tổng đài lưỡng lự.

- Vâng. Nhưng ông có thể xác định được xem liệu có xảy ra thương tích gì trầm trọng không ạ?

- Tôi không phải bác sĩ, thưa cô. Tôi chỉ biết báo cáo vậy thôi. Hãy cử ngay cảnh sát tuần tra đến!

- Được rồi, ông Reffon, tôi sẽ gọi ngay. Điều mà tôi cần ông giúp đỡ bây giờ là ông hãy ra khỏi tòa nhà và đợi cho tới khi nào cảnh sát đến. Và hãy chỉ đường cho họ.

- Nhanh lên đi, - tên giết người thúc giục. - Nghe như có người đã bị thương rồi đấy.

Cuộc đối thoại kết thúc ở đó.

- Cuộc gọi được thực hiện bằng điện thoại di động, - Lila nói và nhún cặp vai khá rộng của mình rồi đưa tay bật lại đoạn băng. Lần này, tôi cố lắng nghe kỹ hơn để xem có thể phát hiện ra được điều gì qua giọng nói kia hay không.

Tôi gọi đến để báo cáo vụ mất trật tự... giọng nói nghe có vẻ hoảng sợ và lo lắng, nhưng cũng thật lạnh lùng.

- Thằng cha đóng kịch giỏi thật, - Jacobi cáu kỉnh.

Tên tôi là Billy. Billy Reffon...

Tay tôi siết chặt vào gờ chiếc ghế gỗ mà tôi đang ngồi khi nghe lời hướng dẫn ân cần của người trực tổng đài: “Hãy ra khỏi tòa nhà và đợi cho tới khi nào cảnh sát đến. Và hãy chỉ đường cho họ”. Trong suốt thời gian này, hắn ngồi đằng sau ống ngắm của một khẩu súng, chờ cho con mồi của hắn lộ diện.

- Nhanh lên đi. Nghe như có người đã bị thương rồi đấy.

Chúng tôi nghe lại đoạn băng lần thứ ba.

Lần này, tôi nhận ra vẻ khinh thường trong giọng nói của tên giết người. Không hề có lấy một chút do dự dù nhỏ nhất dành cho hành động mà hắn sắp sửa thực hiện.

Trong lời giục giã cuối cùng, tôi thậm chí còn phát hiện ra lờ mờ có tiếng cười khẽ: Nhanh lên đi. Nghe như có người đã bị thương rồi đấy.

- Đó là tất cả những gì tôi có, - Lila McKendree thở dài. - Giọng nói của kẻ giết người.

35

Vụ sát hại Davidson đã làm đảo lộn mọi thứ.

Một dòng tít in đậm đăng trên trang nhất của tờ Biên Niên Sử. “Người cảnh sát bị giết tôi qua được cho là nạn nhân thứ ba trong một cuộc chơi điên rồ.” Bài báo viện dẫn tới những phát đạn bắn tỉa từ xa nhưng tuyệt đối chính xác và biểu tượng kỳ lạ của những nhóm phân biệt chủng tộc được tìm thấy tại hiện trường.

Tôi đi xuống phòng thí nghiệm và bắt gặp Charlie Clapper, vẫn mặc nguyên bộ quần áo bảo hộ, đang cúi gập người bên một chiếc bàn sắt, trệu trạo nhai bữa sáng là món khoai tây rán Doritos. Mái tóc muối tiêu của ông rối bù và bết dính, còn cặp mắt thì trĩu xuống như hai chiếc túi đựng rất nhiều đồ.

- Trong tuần tôi đã phải ngủ trên chiếc bàn sắt này hai lần rồi đấy. - Ông cau có. - Vừa thêm người nào bị giết nữa à?

- Nếu như ông không nhận ra, thì tôi xin nói cho ông biết rằng suốt tuần vừa rồi tôi cũng chẳng được yên thân lúc nào. - Tôi nhún vai. - Nào Charlie, tôi cần ông cho biết các chi tiết của vụ Davidson. Anh ấy đã bị chính gã sát thủ mà chúng tôi đang truy lùng giết hại.

- Tôi biết. - Người đàn ông của phòng thí nghiệm thở dài. Ông nhấc người lên khỏi ghế và lê chân tới bên bàn phẫu thuật, lôi từ trong chiếc túi nhỏ kéo khóa ở giữa ra một viên đạn dẹt và sẫm màu. - Đây là viên đạn, Lindsay ạ. Nó được lấy ra từ bức tường đằng sau chỗ Art Davidson ngã xuống. Cô có thể nhờ Claire kiểm tra nếu cô thích. Tên khốn đó bắn chắc tay lắm.

Tôi cầm vỏ đạn lên và cố tìm xem nó có điều gì khác biệt hay không, - - Đường kính bốn mươi, - Clapper nói. - Điều đầu tiên

mà tôi đọc được ở nó là nó được bắn ra từ một khẩu PSG-1.

Tôi cau mày.

- Ông có chắc không, Clapper? - Tasha Catchings bị giết bởi một viên đạn từ khẩu M16 cơ mà.

Clapper chỉ tay về phía viên đạn.

- Tin hay không tùy cô thôi, trung úy ạ. Nhưng tôi cho rằng đạn đạo học là môn mà cô cần phải tiếp tục nghiên cứu cho đến hết đời.

- Tôi không có ý như thế, Clapper. Tôi chỉ hy vọng nó giống với viên trong vụ của cô bé Catchings thôi.

- Reese vẫn còn làm việc đấy, - ông dằn dỗi, vồ lấy túi khoai tây rán và tiếp tục ăn. - Gặp anh ta mà hỏi. Nhưng đừng có cá cược gì vì lão già này dám chắc vào điều mà lão vừa nói. Không một dấu vết, không có gì bị bỏ lại. Chiếc máy cassette thuộc loại thông thường, có thể mua được ở bất cứ nơi nào trong thành phố, được bật bằng điều khiển từ xa. Thậm chí chúng tôi còn lần theo cái mà chúng tôi nghĩ là lộ trình của hắn trong tòa nhà đối diện, rắc bột lên mọi vật từ lan can tới ổ khóa cửa sổ để tìm dấu vết. Chúng tôi đã phát hiện ra được một thứ...

- Cái gì vậy? - Tôi nôn nóng hỏi lại.

Clapper dẫn tôi tới bên bàn thí nghiệm.

- Một phần của dấu giày đế mềm. In hằn vào lốp nhựa đường trên mái nhà, điểm xuất phát của viên đạn. Trông nó cũng bình thường như những đôi giày khác thôi, và chúng tôi đã tìm thấy ở đó một ít bột trắng. Nhưng không ai dám đảm bảo rằng đó là vết giày của kẻ giết người.

- Bột à?

- Bột phấn, - Clapper gật đầu. - Nó giúp chúng ta thu hẹp hướng điều tra lại chỉ còn năm chục triệu khả năng thôi mà. Nếu như hắn để lại dấu hiệu...

- Hắn đã để lại dấu hiệu, Clapper ạ, - tôi khẳng định. - Dấu hiệu đó chính là phát súng.

- Chúng tôi sẽ gửi đoạn băng 911 tới bộ phận phân tích giọng nói. Tôi sẽ báo cho cô biết khi nào chúng tôi có kết quả.

Tôi cảm kích vỗ vào vai ông.

- Ông hãy chợp mắt lấy một lúc.

Clapper đưa chiếc túi đựng khoai tây rán Doritos lên ngang miệng.

- Chắc chắn rồi, ngay sau bữa sáng này.

36

Tôi quay trở lại phòng làm việc và thất vọng gieo người xuống bàn. Tôi phải tìm hiểu kỹ hơn về Chimera. Khi tôi vừa giơ tay lên định nhấc điện thoại gọi cho Stu Kirkwood ở tổ đặc nhiệm điều tra các tội ác do hận thù thì trông thấy một nhóm ba người đàn ông ăn mặc lịch sự bước vào phòng.

Tôi chẳng ngạc nhiên khi một trong số đó là Mercer. Sáng nay ông đã xuất hiện trưóc công chúng, kêu gọi mọi người giữ bình tĩnh. Tôi biết ông không thích phải đối diện với những vấn đề phức tạp mà không có những kết quả cụ thể.

Nhưng còn nhân vật kia, được hộ tống bởi người đại diện báo chí của ông ta, thì tôi chưa thấy xuất hiện, trong tòa nhà này lần nào trong suốt bảy năm làm việc ở Đội Homicide.

Đó là thị trưởng San Francisco.

- Tôi không muốn có một chút rắc rối nào dù là nhỏ nhất, - Art Fernandez, ngài thị trưởng đã được bổ nhiệm hai nhiệm kỳ của San Francisco, lên tiếng. - Tôi không muốn bất kỳ phản ứng nhằm kiểm soát tình hình nào được đưa ra một cách sai lầm trong lúc này. Ông đưa mắt nhìn xuống khoảng trống giữa tôi và cảnh sát trưởng Mercer. - Điều tôi mong muốn bây giờ là một câu trả lời hết sức thành thật, cảnh sát đã tìm ra manh mối nào chưa?

Chúng tôi đang đứng chen chúc trong căn phòng làm việc nhỏ xíu được bao quanh bằng kính của tôi. Bên ngoài, tôi có thể trông thấy cánh báo chí đứng xúm xít, đang quan sát chúng tôi như quan sát một tiết mục xiếc.

Tôi dò dẫm xỏ chân vào giày dưới gầm bàn rồi đứng dậy.

- Vẫn chưa ạ, - tôi thú nhận.

- Vậy là Vernon Jones đã nói đúng. - Ngài thị trưởng thốt lên, thả phịch người xuống chiếc ghế phía bên kia bàn làm việc của tôi. - Vậy là có một cuộc chơi điên rồ mà cảnh sát không xử lý nổi đang diễn ra trong thành phố của chúng ta. Có lẽ phải để FBI vào cuộc mới được.

- Không phải vậy đâu, - tôi trả lời.

- Không phải vậy à? - Thị trưởng nhướn mày. Ông đưa mắt nhìn cảnh sát trưởng Mercer và cau mặt. - Tôi hiểu sai chỗ nào? Các bạn đã có một biểu tượng để nhận diện là thuộc về một nhóm phân biệt chủng tộc, Chimera thì phải, ở hiện trường của hai hoặc ba vụ án. Các bạn tin rằng cô bé Catchings chính là mục tiêu nhắm bắn của một thằng điên. Đúng không nào?

- Điều mà chị trung úy đây muốn nói, - Mercer cắt ngang, - là có thể không chỉ đơn thuần chuyện phân biệt chủng tộc đâu.

Miệng tôi cứng đơ như bị nhồi bông, tôi cố gắng nuốt trôi cục nghẹn nơi cổ họng.

- Tôi cho rằng vấn đề còn nghiêm trọng hơn chuyện phân biệt chủng tộc nhiều.

- Nghiêm trọng hơn à, trung úy Boxer? Chị nói rõ cho tôi nghe xem nào.

Tôi nhìn thẳng vào mắt thị trưởng Fernandez.

- Điều mà tôi đang nghĩ bây giờ là chúng ta đang phải đối đầu với một mới hận thù cá nhân truyền kiếp. Có khả năng kẻ tấn công không phải là một nhóm mà chỉ là một người. Hắn đang cố che đậy tội ác của hắn bằng chiêu bài phân biệt chủng tộc.

- Một mối thù truyền kiếp, chị nói vậy đúng không? - Carr, người đại diện của thị trưởng, nói xen vào. - Một mối thù truyền kiếp chống lại người da đen chứ không phải vấn đề phân biệt chủng tộc. Chống lại những đứa trẻ da đen và những bà quả phụ da đen... nhưng không phải phân biệt chủng tộc sao?

- Chống lại những người cảnh sát da đen, - tôi nói rành rọt từng từ một.

Mắt của ngài thị trưởng nheo lại.

- Nói tiếp đi!

Tôi giải thích cho ông hiểu rằng Tasha Catchings và Estelle Chipman đều có quan hệ thân thuộc với cảnh sát.

- Vẫn còn những mối quan hệ khác nữa mà chúng tôi vẫn chưa tìm ra. Kẻ giết người đã sắp đặt mọi chuyện, hắn tỏ ra hết sức ngạo mạn bằng cách để lại dấu hiệu riêng của hắn. Tôi không tin một kẻ giết người vì phân biệt chủng tộc lại có lý do để làm điều này. Chiếc xe hàng bỏ chạy, nét vẽ thô sơ dưới tầng hầm khu chung cư của bà Chipman, cuộc gọi tự phụ tới 911. Tôi không cho rằng đây là cuộc chơi của một kẻ phân biệt chủng tộc điên rồ nào đó. Đây được coi là một mối thù truyền kiếp, mối thù cá nhân.

Ngài thị trưởng đưa mắt nhìn Mercer.

- Anh tán thành ý kiến của chị trung úy này chứ, Earl?

- Và sẽ cố gắng bảo vệ đội quân của mình... Cảnh sát trưởng mỉm cười căng thẳng. - Vâng, tôi tán thành.

- Còn tôi thì không, - Carr khẳng định. - Mọi chứng cớ đều chỉ ra rằng đây là tội ác phân biệt chủng tộc.

Một sự im lặng nặng nề bao trùm lên căn phòng tù túng, nhiệt độ đột ngột như tăng lên tới 120 độ.

- Nghe có vẻ như tôi đang có hai sự lựa chọn đây, - ngài thị trưởng trầm ngâm. - Căn cứ theo Luật Hình sự Mục Tội ác phân biệt chủng tộc, Điều 4, thì tôi đã có thể triệu tập FBI, cơ quan chịu trách nhiệm giám sát các nhóm hoạt động trong lĩnh vực này...

- Họ đâu có biết điều tra các vụ giết người, - cảnh sát trưởng Mercer phản đối.

- Hoặc... Tôi cũng có thể để cho chị trung úy trẻ tuổi này thực thi nhiệm vụ của chị ta. Hãy bảo với Cục điều tra liên bang rằng chúng ta có thể tự xoay sở được.

Ánh mắt của tôi và của ngài thị trưởng gặp nhau.

- Tôi đã học chung trường đại học với Art Davidson, vì thế ông đừng nghĩ rằng tôi không nôn nóng tìm cho ra thủ phạm bằng ông, thị trưởng ạ.

- Vậy thì hãy bắt hắn, - ngài thị trưởng nói và đứng dậy. - Chỉ có cách đấy chúng ta mới thoát khỏi mối đe dọa.

Tôi ủ ê gật đầu đúng lúc Lorraine xô cửa nhảy bổ vào giữa phòng tôi.

- Xin lỗi vì đã làm phiền, trung úy, nhưng có tin khẩn đây ạ. Jacobi vừa từ Vallejo gọi về dặn hãy chuẩn bị chỗ thật tươm tất đàng hoàng để đón một vị khách quan trọng.

Họ đã tìm thấy gã đi xe đạp ở quán Vẹt Xanh. Họ đã tìm thấy gã tóc đỏ.

37

Khoảng một giờ đồng hồ sau đó, Jacobi và Cappy bước vào phòng. Hai người bọn họ đẩy theo một gã tóc đỏ có dáng dấp của một cua-rơ xe đạp, tay gã bị trói quặt ra sau lưng.

- Nhìn xem ai ghé thăm chúng ta này, - Jacobi nhìn tôi nở một nụ cười tự mãn.

Gã tóc đỏ bướng bỉnh giật tay ra khỏi sự kìm giữ của Cappy khi anh ta đẩy gã vào phòng hỏi cung số, làm gã vấp chân vào một chiếc ghế gỗ và ngã sõng soài xuống đất.

- Xin lỗi đại ca nhé, - Cappy nhún vai. - Nhưng tôi nhớ là đã nhắc anh cẩn thận từ lúc nãy rồi cơ mà.

- Richard Earl Evans, - Jacobi thông báo. -! Hay còn gọi là AKA Tóc Đỏ, Căng-gu-ru, Công tước. Chị đừng phiền lòng nếu hắn không đứng dậy bắt tay chị nhé.

- Tôi chẳng thèm để ý đâu, - tôi trả lời, bề ngoài cố tỏ ra thản nhiên nhưng trong lòng lại rất vui mừng vì họ đã đem được gã trong diện nghi vấn về cho tôi.

- Vị khách đặc biệt này có một bản sơ yếu lí lịch khá dài, bắt đầu bằng câu: “Hãy gọi tôi là Ishmael”. - Jacobi cười nhăn nhở: Ăn trộm này, có ý định giết người này, hai lần bị kết án vì tội buôn bán vũ khí trái phép... Nói tóm lại là một mối nguy hiểm trầm trọng.

- Chị xem đây, - Cappy kêu lên, lôi từ trong chiếc túi mua hàng hiệu Nordstrom ra một cái bao rẻ tiền đựng đầy cần sa, một lưỡi dao thợ săn dài chừng năm inch và một khẩu súng lục Beretta 22 ly có kích thước gọn trong lòng bàn tay.

- Anh ta có biết tại sao anh ta bị bắt đến đây không? - Tôi hỏi.

- Không đâu, - Cappy gầm gừ. Chúng tôi bắt hắn vì tội tàng trữ vũ khí trái phép. Cứ để hắn ngồi thở một lúc đã, chị ạ.

Ba chúng tôi ngồi cụm lại trong phòng hỏi cung, quay mặt về phía Richard Earl Evans. Gã bất lương liếc nhìn chúng tôi kèm với một nụ cười khinh khỉnh, hai cánh tay của hắn phủ đầy những hình xăm kỳ quái. Hắn đang mặc một chiếc áo phông ngắn tay màu đen với dòng chữ: “Nếu bạn có thể đọc được cái này... thì đồ khốn kia sẽ phải chết!” in ở sau lưng.

Tôi gật đầu ra hiệu cho Cappy mở còng tay của hắn.

- Anh có biết tại sao anh bị bắt tới đây không, Evans?

- Tôi chỉ biết có mỗi một điều là lũ cớm các người thật ngốc nếu tưởng tôi sẽ trả lời các câu hỏi cung. - Evans xịt mũi và một dòng nước nhầy lẫn máu bay vọt ra ngoài. - Ở Vallejo các người làm gì có răng.

Tôi cầm chiếc túi đựng ma túy lên.

- Xem ra ông già Nô-en đã đem đến cho anh quá nhiều thứ đồ chơi nguy hiểm. Hai trọng tội liền một lúc nhé... và nên nhớ anh vẫn còn đang trong thời gian bị quản lý vì buôn bán vũ khí trái phép đấy. Ở Folsom, Quentin. Trực giác mách bảo cho tôi biết là anh nên thích nghi với nơi đó đi bởi vì lần này mà bị kết án thì anh đã có đủ tiêu chuẩn để lãnh ba mươi năm tù rồi.

- Tôi cũng biết thêm một điều nữa, - Mắt Evans đảo đi đảo lại, - là các người không lôi tôi suốt một quãng đường dài như vậy đến đây chỉ để buộc tôi cái tội vớ vẩn ấy đâu.

Tôi nhìn thấy tấm biển Đội Homicide ở ngoài kia rồi.

- Đúng vậy, đại ca thông minh lắm, - Cappy cục cằn ngắt lời. - Ném một gã như đại ca vào tù vì tội tàng trữ vũ khí trái phép chỉ là chuyện chúng tôi thích hay không thích. Còn thì phụ thuộc rất nhiều vào việc đại ca trả lời các câu hỏi của chúng tôi như thế nào nếu đại ca không muốn sử dụng ba mươi năm tiếp theo của cuộc đời để ngồi tù.

- Cứt thật, - gã đi xe đạp gầm gừ, cụp cặp mắt lạnh lùng ngang ngạnh của gã xuống. - Chỉ vì muốn hỏi chuyện tôi thôi mà phải cần tới ba con lừa à?

Cappy nhún vai, cầm một lon sô-đa chưa mở nắp đập mạnh vào tay gã đi xe đạp.

Evans hét toáng lên vì đau.

- Khỉ thật, tôi cứ tưởng anh đang khát nước cơ đấy, - Cappy tỏ vẻ ân hận.

Gã tóc đỏ liếc xéo Cappy một cái, rõ ràng là đang rất muốn dùng chiếc xe đạp của gã cán ngang qua mặt anh ta.

- Anh nói đúng, Evans à, - tôi bảo gã. - Chúng tôi không yêu cầu anh về đây chỉ để hỏi những thứ mà anh đang có trong túi, mặc dù giao cả chúng lẫn chủ nhân của chúng cho cảnh sát Vallejo đối với chúng tôi chẳng khó khăn gì. Nhưng hôm nay, chúng tôi muốn cho anh một cơ hội. Cappy, hãy hỏi quý ngài Evans đây xem anh ta có muốn uống thêm một lon nữa hay không đi!

Cappy làm động tác giả khiến Evans phải vội vàng giật ngay tay xuống khỏi mặt bàn. Tới lúc đó, anh chàng cảnh sát nghịch ngợm kia mới bật một lon sô-đa ra, đặt xuống trước mặt gã và nhe răng cười nhăn nhở.

- Như thế này được chưa, hay anh cần uống bằng cốc?

- Chú ý này, - tôi hứa hẹn, chúng tôi có thể sẽ cư xử rất đẹp, chỉ cần anh trả lời cho chúng tôi một số câu hỏi thôi mà. Sau đó chúng tôi sẽ để anh về nhà và không bao giờ tìm gặp anh nữa. Nhưng cũng có thể chúng tôi sẽ nhốt anh lên tầng mười của tòa nhà này trong vài hôm cho tới khi chúng tôi nhớ ra anh đang ở trên đó và báo cho cảnh sát Vallejo biết. Đến lúc đó anh sẽ thấy chúng tôi có răng hay không có răng.

Evans đưa tay xoa dọc sống mũi, chùi vết máu.

- Tôi sẽ làm thêm một ngụm sô-đa nữa nếu các người có lòng tốt muốn mời.

- Chúc mừng, - Jacobi tươi cười. - Đó là câu nói tử tế nhất của anh kể từ lúc chúng tôi để mắt tới anh đấy.

Tôi chìa bức ảnh đen trắng chụp nhóm Templars ra trước cặp mắt sửng sốt của gã tóc đỏ.

- Điều đầu tiên mà chúng tôi cần biết là chúng tôi có thể tìm thấy mấy cậu bạn thân này của anh ở đâu?

Evans ngước nhìn tôi, cười nhăn nhở.

- Chỉ có thế thôi à? - Nào, nào, - Jacobi lừ mắt, - trung úy đang hỏi anh đấy.

Lần lượt, tôi bày thêm ba bức ảnh nữa ra bàn.

Evans lắc đầu.

- Tôi chưa bao giờ gặp họ cả.

Bức ảnh cuối cùng chụp chính gã.

Cappy nhổm cơ thể nặng 250 pound của mình lên, tóm lấy cổ áo của gã tóc đỏ và nhấc bổng gã ra khỏi chỗ ngồi.

- Nghe này, đồ con lừa, chúng tôi không thèm quan tâm xem nhóm người xấu xa các anh đã làm gì đâu. Cố mà thông minh lên nếu muốn sớm được ra khỏi chỗ này.

Evans nhún vai.

- Quả thực tôi cũng có giao du chút ít với bọn chúng. Nhưng bây giờ thì hết rồi. Câu lạc bộ đã giải tán. Gặp nhiều áp lực quá mà. Đã mấy tháng nay tôi không còn gặp lại mấy thằng này nữa. Chúng chuồn rồi. Nếu các người muốn tìm chúng thì hãy bắt đầu từ Five South.

Tôi đưa mắt nhìn sang hai người bạn đồng nghiệp. Tôi tin gã ta nói thật.

- Một câu hỏi nữa, rất quan trọng. - Tôi nói tiếp và liệng bức ảnh chụp gã đi xe đạp mặc áo khoác thêu hình Chimera xuống. - Cái này có ý nghĩa gì với các anh?

Evans khịt mũi.

- Sao cơ, khiếu thẩm mỹ của nó có vấn đề à?

Cappy lại nhoài người ra phía trước.

Evans chùn lại.

- Đó là một biểu tượng, trung úy ạ. Có nghĩa là hắn đang hoạt động. Một nhà ái quốc.

- Nhà ái quốc? - Tôi hỏi lại. - Thế nghĩa là sao?

- Người ủng hộ thuyết cho rằng người da trắng là ưu việt, muốn đấu tranh cho quyền tự quyết của một xã hội tự do và có trật tự. - Hắn mỉm cười với Cappy. - Hiện nhóm này đang bị cấm hoạt động, và tất nhiên nó chẳng nhất thiết phản ánh quan điểm của cá nhân tôi.

- Gã này cũng đi Sun Belt rồi à? - Jacobi hỏi.

- Hắn á? Tại sao? Các người nghĩ hắn đã làm gì?

- Lại thế nữa rồi, - Cappy đứng hẳn lên. - Tại sao cứ phải trả lời câu hỏi của cảnh sát bằng một câu hỏi khác?

- Hừm... - Evans nín nhịn. - Thằng này chỉ quanh quẩn với chúng tôi trong một thời gian ngắn. Thậm chí tôi còn không biết tên thật của nó nữa cơ. Mac... McMillan, McArthur gì đó. Thế hắn đã làm gì?

Tôi thấy chẳng có cớ gì phải giấu không cho gã tóc đỏ biết sự thực cả.

- Nếu tôi nói hắn có liên quan đến vụ nổ súng vào nhà thờ La Salle Heights thì anh nghĩ sao?

Mãi cho tới lúc này, gã tóc đỏ mới tỏ ra nao núng. Đồng tử của hắn mở rộng hết cỡ. Hình như câu hỏi của tôi đã đánh trúng điểm yếu của hắn.

- Trung úy nghi thằng bạn cũ của tôi đã bắn súng vào nhà thờ à? Thằng này á... Mac á?

- Anh có biết làm thế nào để chúng tôi nói chuyện được với hắn không? - Tôi hỏi Evans.

Gã lập tức nhe răng ra cười.

- Hơi khó đấy, kể cả khi chị là cảnh sát.

- Anh cứ nói, - tôi động viên. - Chúng tôi là những người có tài xoay sở mà.

- Tôi biết các người giỏi xoay sở lắm, nhưng thằng này chết rồi thì làm sao mà nói chuyện với hắn được? Chết từ hồi tháng 6, đánh nhau với một thằng nữa ở Oregon. Hay là cảnh sát có tài biến cứt bò thành bom?

39

Trong bãi đỗ xe nhỏ trải nhựa đường phẳng lì sát cạnh nhà thờ La Salle Heights, Cindy Thomas bước xuống từ trong chiếc Mazda của cô. Bụng cô réo ầm ĩ, nhắc cô nhớ rằng cô chẳng có việc gì để làm ở đây cả.

Cô hít một hơi thật sâu rồi mở cánh cửa lớn bằng gỗ sồi bước vào nhà nguyện chính. Mới hôm qua thôi, ở đây còn đầy chật người với những âm thanh vang dội vọng xuống từ dàn đồng ca nhà thờ. Bây giờ nó vắng lặng đến kỳ quái với những hàng ghế dài trống trơn. Cô bước dọc nhà nguyện để đi sang tòa nhà nối liền.

Một dãy hành lang trải thảm dẫn tới một dãy phòng. Một phụ nữ da đen, ngước lên từ máy photocopy, hỏi Cindy.

- Tôi có thể giúp gì cho cô không? Cô cần gì?

- Tôi tới đây để gặp mục sư Winslow.

- Giờ này mục sư không tiếp khách đâu, cô ạ - người phụ nữ trả lời.

Tiếng Winslow vang lên từ căn phòng gần đó.

- Cứ để cô ấy vào, Carol.

Cindy được dẫn tới phòng làm việc của mục sư. Đó là một căn phòng nhỏ nhưng đầy chặt những sách là sách. Ông đang mặc một chiếc áo phông màu đen và một chiếc quần bằng vải ka-ki, trông chẳng giống với vị mục sư mà cô từng biết.

- Vậy là cuối cùng cô cũng quay trở lại, - ông nói thay lời chào và nhoẻn miệng cười.

Ông mời cô ngồi xuống chiếc đi-văng nhỏ, còn ông ngồi xuống một chiếc ghế bọc da sờn cũ. Một cặp kính đặt ngay ngắn bên trên cuốn sách gần đó và Cindy, theo bản năng, vội liếc nhìn trộm. Kiệt tác đau buồn của một thiên tài xuất chúng. Không phải là thứ mà cô hy vọng trông thấy.

- Trông cha có vẻ khá hơn rồi đấy nhỉ? - Cô hỏi.

- Tôi đang cố. Tôi đã đọc bài báo ra ngày hôm nay của cô. Chuyện về người cảnh sát... thật kinh khủng quá. Có đúng là vụ giết Tasha liên quan đến hai vụ giết người khác không cô?

- Cảnh sát đang nghĩ như vậy, - Cindy trả lời. - Đội điều tra tin rằng cô bé là mục tiêu bị nhắm bắn.

Winslow nhăn mặt rồi lắc mạnh đầu.

- Tôi thật không hiểu nổi. Tasha chỉ là một đứa bé, nó liên quan gì đến ai nào?

- Vấn đề không phải là cá nhân Tasha, - Cindy nhìn thẳng vào mắt Aaron Winslow. - cả ba nạn nhân rõ ràng là có liên quan đến lực lượng cảnh sát San Francisco.

Mắt Winslow nheo lại.

- Vậy hãy nói cho tôi biết, điều gì đã khiến cô quay trở lai đây sớm thế? Tâm hồn của cô đang bị thương tổn à? Tại sao cô đến đây?

Cindy cúi mặt xuống.

- Chính buổi lễ ngày hôm qua đã khiến tôi vô cùng xúc động. Tôi đã cảm thấy ớn lạnh và quá sức chịu đựng của tôi. Quả thực tôi thấy tâm hồn mình đang bị thương tổn, nhưng tôi đã không để ý.

Ánh nhìn của Winslow dịu xuống. Cô ấy mới chỉ nói với ông một phần nhỏ sự thật mà thôi, nhưng như vậy cũng đủ làm ông mủi lòng rồi.

- Tốt lắm, tôi rất mừng khi thấy cô xúc động tới vậy.

Cindy mỉm cười. Thật kỳ lạ, mục sư đã khiến cô cảm thấy thoải mái hơn. Ông tỏ ra rất ân cần, thành thật, và cô chưa hề nghe ai nói điều gì không tốt về ông. Vì vậy cô muốn viết một câu chuyện thật dài về vị mục sư của nhà thờ La Salle Heights này, và cô tin chắc rằng đó sẽ là một câu chuyện cao cả.

- Tôi đánh cuộc rằng tôi biết cô đang nghĩ gì, - Aaron Winslow lên tiếng, cắt ngang dòng suy nghĩ của cô.

- Thế à? Vậy cha hãy nói xem nào. - Cô đề nghị.

- Cô đang nghĩ... người đàn ông này cũng khá thông minh, không hoàn toàn khó hiểu hay bí ẩn. Trông ông ta chẳng giống mục sư tẹo nào. Vậy điều gì đã khiến ông ta theo đuổi sự nghiệp này nhỉ?

Cindy thoáng nở một nụ cười bối rối.

- Tôi công nhận, đúng là đã có những ý nghĩ như vậy lướt qua trong đầu tôi. Tôi muốn viết một câu chuyện về cha và về khu Bay View này.

Vẻ mặt của mục sư chợt trở nên đăm chiêu, nhưng rồi ông đổi đề tài ngay.

- Cô thích làm gì nhất, hả Cindy?

-Làm...?

- Trong cái thành phố San Francisco rộng lớn và xô bồ này, cô quan sát và cô viết. Nhưng ngoài công việc của cô ở tờ Biên niên sử thì cô đam mê điều gì nhất?

Cindy chợt mỉm cười.

- Này này, tôi đang là người hỏi cơ mà. Tôi muốn viết một câu chuyện về cha, vậy nên cha đừng cô gắng lái câu chuyện sang một hướng khác như thế. - Cô đáp. - Nhưng thôi, được rồi, tôi thích yoga. Mỗi tuần hai lần, tôi tham dự một lớp tập luyện ở phố Hạt Dẻ. Cha đã bao giờ luyện yoga chưa ạ?

- Chưa, nhưng ngày nào tôi cũng ngồi thiền.

Cindy lại mỉm cười. Thậm chí cô chẳng biết vì sao mình cười nữa.

- Ngoài ra, tôi còn tham gia một câu lạc bộ sách của phụ nữ. Hai câu lạc bộ nữ thì đúng hơn. Tôi cũng thích nhạc jazz.

Mắt Winslow sáng lên.

- Thể loại jazz nào? Bản thân tôi cũng rất thích nhạc jazz.

Cindy cười to.

- A, bây giờ chúng ta đã tìm được điểm chung rồi đấy. Thế cha thích thể loại jazz nào?

- Bất cứ thể loại nào, miễn là được trình diễn có nghệ thuật. Từ Pinetop Petkinds tới Coltrane.

- Cha có biết quán Cánh cửa Xanh ở Geary không? - Cô hỏi.

- Tất nhiên là tôi biết rồi. Tôi hay đến đó vào các tối tứ bảy, mỗi khi có Carlos Reyes biểu diễn. Lúc nào rỗi, chúng ta đi xem cùng nhau nhé. Chúng ta sẽ nói chuyện nhiều để cô có thể hiểu rõ hơn về giáo xứ của tôi mà viết. Cô không cần phải trả lời tôi ngay lúc này đâu.

- Như vậy có nghĩa là cha đồng ý để tôi viết về cha? - Mặt Cindy hớn hở.

- Tôi đồng ý... để cô viết về giáo xứ của tôi thôi. Tôi sẽ giúp cô một tay.

Nửa giờ sau, trong xe ô tô của mình, Cindy ngồi yên trong lúc vẫn để máy nổ vì cô đang quá đỗi ngạc nhiên nên không thể vào số được. Mình không thể nào tin nổi điều mà mình vừa làm. Lindsay mà biết chắc sẽ gõ cho mình sưng đầu lên, và hỏi xem đầu óc của mình có còn tỉnh táo hay không.

Nhưng rõ ràng là đầu óc mình vẫn đang tỉnh táo mà. Thậm chí nó còn ngân nga những khúc nhạc vui nữa kia. Tóc tai của cô vẫn còn đang dựng đứng, chưa kịp xẹp xuống.

Cô đang bắt đầu hình dung ra những gì sẽ viết trong câu chuyện sắp tới của mình. Cô tin rằng đó sẽ là một câu chuyện rất hay và có thể còn giành được giải thưởng văn học.

Cô cũng vừa mới nhận lời hẹn gặp của người cha tinh thần của cô bé Tasha Catchings, và cô đang rất nóng lòng mong cho chóng tới ngày hẹn đó.

Có lẽ tâm hồn của mình đang bị tổn thương thật Cindy nghĩ thầm rồi lái xe đi khỏi nhà thờ.

40

Lúc đó đã gần bảy giờ tối ngày thứ bảy, thời điểm kết thúc một tuần làm việc dài dằng dặc và căng thẳng đến mức khó tin. Ba người đã bị giết. Những đầu mối hiếm hoi thì cứ đến rồi đi.

Tôi cần có người để trò chuyện, vì vậy tôi đi lên tầng tám, nơi Văn phòng ủy viên công tố đóng trụ sở. Cách đại bản doanh của người đàn ông quyền uy nhất văn phòng này hai cánh cửa là phòng làm việc của Jill.

Góc hành pháp thật tối tăm, trống trải vì nhân viên đã lần lượt ra về để nghỉ cuối tuần. Nhưng vì đang có những bức xúc cần được giải tỏa nên tôi hy vọng là Jill - cô Jill mới - vẫn có trong phòng, đang mải mê xem những cuốn sưu tập mẫu vải để trang trí cho phòng trẻ.

Nhưng khi đến gần thì tôi nghe thấy có tiếng nhạc cổ điển từ trong đó vọng ra. Cửa phòng Jill hé mở.

Tôi gõ nhẹ lên cánh cửa rồi đẩy nó ra. Jill đang ngồi đó, trong chiếc ghế bành êm ái ưa thích của cô, hai đầu gối co cao tối tận ngực và trên đó đặt một tập hồ sơ pháp luật màu vàng. Mặt bàn làm việc la liệt những bản tóm tắt hồ sơ của luật sư bào chữa.

- Cậu vẫn chưa về à? - Tôi hỏi.

- Ừ, tớ vẫn còn đang bù đầu lên đây này. - Jill thở dài, đưa tay lên cao làm bộ đầu hàng. - Chỉ vì cái vụ Perrone chết tiệt. Sáng thứ hai đã phải kết thúc luận tội rồi. Tôi biết cô ấy đang trong giai đoạn cuối của một vụ án phức tạp trong đó một người chủ nhà vô trách nhiệm đã bị buộc tội ngộ sát sau khi mảng trần nhà bị hỏng của ông ta đổ sụp xuống đầu một đứa bé tám tuổi.

- Cậu đang có bầu cơ mà, Jill. Mà lúc này đã hơn bảy giờ tối rồi.

- Vụ Connie Sperling cũng vậy, thật khó biện hộ. Người ta gọi nó là trận đánh căng thẳng đấy.

- Mặc kệ người ta gọi nó là gì, nhưng như vậy cũng là quá sức đối với một người sắp sửa làm mẹ.

Jill vói tay tắt nhạc rồi duỗi thẳng cặp chân dài của mình.

- Dù sao thì tối nay Steve cũng không về nhà vì phải đi công tác. Tớ mà có về thì cũng chỉ biết tiếp tục làm việc thôi. - Cô vênh mặt lên và nhoẻn miệng cười. - Mà này, cậu đến đây để kiểm tra tớ đấy hả?

- Không đâu, tớ giành việc đó cho người khác.

- Trời đất ơi, Lindsay! Cậu trở thành người tuyên truyền cho việc giữ gìn nếp sống từ khi nào vậy?

- Thôi được, thôi được... Tớ thua cậu rồi. - Tôi đành phải ngừng việc thuyết trình lại.

Bước hẳn vào trong phòng, tôi đưa mắt nhìn tấm ảnh chụp Jill trong trận chung kết giải bóng đá nữ ở Stanford, những tấm chứng chỉ đóng khung treo ngay ngắn trên tường và cả những bức hình của cô và Steve đang leo núi hay đang chạy bộ cùng với Lab và Mắt Rắn - hai con vật yêu quý của họ.

- Tớ vẫn còn bia ở trong tủ lạnh đấy, cậu lấy mà uống, - Jill nói, liệng tập hồ sơ lên bàn. - Tiện thể lấy luôn hộ tớ một lon Buckler.

Tôi làm theo lời Jill bảo, sau đó cởi chiếc áo khoác hiệu Max Mara màu đen ra ném xuống ghế và ngồi phịch xuống chiếc đi-văng bọc da. Uống xong vài ngụm, cả hai chúng tôi cùng thốt lên, hỏi nhau.

- Thế nào... Vụ của cậu đến đâu rồi?

Jill cười to

- Cậu nói trước đi vậy.

Tôi giơ ngón tay cái lên biểu thị sự quyết tâm của tôi rồi dẫn Jill lòng vòng trong một mê cung của những đầu mới bế tắc: chiếc xe chở hàng, hình Chimera, bức ảnh chụp nhanh nhóm Templars, đội khám nghiệm hiện trường chẳng thu được điều gì tại nơi Davidson bị mai phục.

Jill đi lại gần và ngồi xuống cạnh tôi trên chiếc đi-văng.

- Cậu muốn giãi bày tâm sự, phải không Linds? Đúng như tớ đã nghĩ, cậu đến đây không chỉ để khuyên bảo tớ nên giữ gìn sức khỏe.

Tôi nhoẻn miệng cười với vẻ biết tội, sau đó đặt lon bia xuống mặt bàn.

- Có lẽ tớ phải thay đổi cách điều tra, Jill ạ.

- Được thôi, - Jill đáp. - Tớ đang nghe cậu nói đây... Chuyện này chỉ hai chúng ta biết với nhau thôi mà.

Từng đoạn từng đoạn một, tôi trình bày giả thuyết của tôi rằng tên giết người không phải là một thằng điên liều lĩnh nào đó mà rõ ràng là một kẻ sát thủ gan lì, biết vạch ra những kế hoạch để thực hiện mối hận thù truyền kiếp của hắn.

- Tớ nghĩ cậu quá xúc động đấy thôi, - Jill đáp. - Cái mà cậu đang phải đối mặt có lẽ chỉ là ba tội ác giết người đáng ghê tởm nhằm vào những người Mỹ gốc Phi trong thành phố này.

- Nhưng tại sao lại là ba người đó? Một đứa trẻ mới có mười một tuổi? Một cảnh sát gương mẫu đã từng được gắn huy chương? Và một bà quả phụ có chồng bị chết cách đây đã năm năm trời?

- Tớ không biết, bạn thân ạ. Tớ chỉ muốn ghim họ vào tường vì cậu cứ lật qua lật lại làm họ chóng hết cả mặt.

Tôi mỉm cười rồi ngả người ra phía trước.

- Jill này, tớ cần cậu giúp đỡ. Tớ phải tìm cho ra mối liên hệ giữa ba nạn nhân này. Tớ biết là có mà. Tớ muốn cậu kiểm tra những vụ án trong quá khứ xem có vụ nào mà nguyên đơn là một người da trắng, nạn nhân của một cảnh sát da đen nào đó hay không. Tớ nghĩ đó là nơi mà động cơ giết người được hình thành. Tớ nghĩ tới một sự báo thù khủng khiếp.

- Chuyện gì sẽ xảy ra nếu như nạn nhân tiếp theo không có chút dính dáng nào đến lực lượng cảnh sát? Lúc đó cậu sẽ nghĩ gì?

Tôi nhìn Jill nài nỉ.

- Cậu giúp tớ nhé?

- Tất nhiên là tớ sẽ giúp cậu rồi. - Jill nhìn tôi lắc đầu. - Nhưng cậu có gì để tớ thu hẹp phạm vi tra cứu không?

Tôi gật đầu.

- Nam giới, người da trắng. Có thể có một vài hình xăm trên người.

- Được rồi. - Mắt Jill đảo qua đảo lại.

Tôi vươn ngươi ra nắm chặt lấy tay cô bạn. Tôi biết là tôi có thể tin cậy ở cô. Tôi nhìn xuống đồng hồ. Đã bảy giờ ba mươi phút.

- Tốt hơn hết là tớ nên để cậu yên cho cậu hoàn thành với những vụ án hóc búa của mình.

- Đừng đi, Lindsay ạ. - Jill níu cánh tay tôi xuống. - Cậu ngồi thêm với tớ một lúc nữa đi!

Trên khuôn mặt của Jill có một vẻ gì đó rất lạ. Cảm xúc mãnh liệt của một nữ luật sư yêu nghề đã biến mất nhường chỗ cho vẻ yếu đuối, mong manh.

- Chuyện gì thế Jill? Bác sĩ nói gì với cậu à?

Trong chiếc áo gi-lê, với những lọn tóc đen nhánh buông rủ xuống hai bên tai, trông Jill đúng là vị luật sư quyền lực thứ hai trong thành phố này. Nhưng hơi thở của cô lại đượm vẻ run rẩy.

- Tớ khỏe mà, thật đấy. Tớ cũng đang hạnh phúc vì sắp được làm mẹ. Tớ có cảm giác như đang ở trên chín tầng mây.

- Cậu cứ việc ở yên trên đó, Jill ạ. - Tôi nắm chặt tay cô.

Jill thẫn thờ gật đầu. Rồi cô lại co hai đầu gối lên áp sát vào ngực.

- Hồi tớ còn bé, đôi khi tớ chợt tỉnh dậy trong đêm. Những lúc như vậy, trong lòng tớ chợt dâng lên một nỗi sợ hãi mơ hồ nào đó: cả thế giới này đang chìm trong giấc ngủ say, không gian ngoài kia to lớn và choáng ngợp lắm, và tớ là người duy nhất còn thức. Nhiều hôm, cha tớ lên, dỗ dành cho tớ ngủ. Ông thường làm việc rất khuya ở dưới gác, chuẩn bị hồ sơ vụ án, và trước khi đi ngủ bao giờ ông cũng ngó vào phòng tớ để kiểm tra. Ông gọi tớ là chiếc ghế thứ hai của ông. Nhưng ngay cả khi cha đang ngồi đó, tớ vẫn cảm thấy rất cô độc.

Jill nhìn tôi, lắc đầu, những giọt lệ dâng đầy trong khóe mắt.

- Cậu hãy nhìn tớ đây. Steve thì đi vắng hai đêm nữa mới về, trong khi tớ có cảm giác như tớ đang biến thành một con ngốc.

- Tớ không nghĩ cậu là một con ngốc đâu, - tôi vuốt nhẹ vào khuôn mặt xinh xắn của Jill, an ủi.

- Tớ không thể để mất đứa bé, Lindsay ạ. Tớ biết nghe có vẻ ngốc nghếch quá, nhưng tớ đang mang một sự sống. Nó ở đây, luôn bên cạnh tớ. Thế mà tớ lại thấy cô độc.

Tôi siết mạnh vai Jill. Cha tôi chẳng bao giờ dỗ cho tôi ngủ cả, ngay cả khi ông chưa rời bỏ chúng tôi. Ông thường trực ca ba, sau đó lại la cà ở quán McGoey uống bia uống rượu. Nhiều khi tôi tự hỏi mình, không hiểu sao nhịp đập trái tim của người lẽ ra phải gần gũi tôi nhất lại hóa ra nhịp đập trái tim của một kẻ nhẫn tâm và lạnh lùng.

- Tớ hiểu cậu muốn nói gì, tôi nghe thấy tiếng mình thì thầm trong hơi thở. - Đôi khi tớ cũng cảm thấy đúng như vậy đấy, Jill ạ.

41

Ở góc đường Ocean và Victoria, một gã đàn ông mặc bộ quần áo tránh gió màu xanh đang đứng co ro, trệu trạo nhai đồ ăn trong khi chiếc Lincoln đen từ từ rẽ vòng qua một tòa nhà. Hắn đã đợi ở đây hàng chục đêm rồi, rình rập con mồi kế tiếp của hắn.

Người đàn ông mà hắn theo dõi đã sông rất lâu trong căn nhà đầy đủ tiện nghi ở Ingleside Heights, cách chỗ hắn đang đứng chỉ vài bước chân. Ông ta có một gia đình nhỏ, hai cô con gái đang học trong trường Công giáo, vợ ông ta là một y tá hành nghề hợp pháp. Ông ta có một con chó giống Lab màu đen, đôi khi nó nhảy chồm ra ngoài chào chủ nhân của nó khi ông từ trên xe bước xuống. Con chó tên là Bullitt, giống như trong một bộ phim cũ.

Thường thì chiếc xe về đến nơi vào lúc bảy giờ ba mươi phút. Một tuần vài lần, người đàn ông xuống xe và đi bộ hết sức thong dong. Chỗ ông ta bước xuống luôn là một điểm trên phố Victoria. Ông ta có vẻ thích dừng lại bên quầy hàng Hàn Quốc, trò chuyện dăm ba câu với người chủ cửa hàng và chọn mua một quả dưa bở hoặc một cái bắp cải. Làm ra vẻ một nhân vật quan trọng biết hòa đồng với mọi người chung quanh.

Sau đó, ông ta sẽ la cà tới sạp báo Tiny News, chọn mua một vài tờ tạp chí: Ô tô và người lái xe, Thế giới Vi tính, Thể thao. Một lần, ông ta còn đứng ngay sau lưng hắn chờ tới lượt trả tiền.

Hắn đã có thể xóa sổ ông ta. Nhiều lần. Chỉ với một phát súng bắn tỉa bất ngờ từ xa.

Nhưng không, lần này phải thật gần. Mắt đối mắt. Vụ giết người này sẽ phải bắn văng đi tất cả mọi thứ, cả thành phố San Francisco. Hắn sẽ trở nên nổi tiếng khắp thế giới, và chẳng có vụ án nào có thể đọ được với vụ của hắn về tầm vĩ đại.

Tim hắn đập rộn lên trong lúc hắn thu người lại dưới làn mưa bụi ẩm ướt, nhưng lần này chiếc Lincoln màu đen chỉ lướt qua.

- Tối nay không được rồi. Hắn thốt lên. Thôi, mi hãy cứ về nhà với mụ vợ và con chó của mi... Nhưng chẳng bao lâu nữa... Mi thực mau quên, hắn nghĩ, vo tròn gói thức ăn lại và ném vào sọt rác gần đó. Chẳng nhớ chút gì về những chuyện xảy ra trong quá khứ. Nhưng quá khứ thì luôn tìm mi đấy.

- Mình sẽ chỉ sống với quá khứ hàng ngày.

Hắn dõi theo chiếc Lincoln màu đen với những ô cửa kính tối thẫm đang rẽ trái như thường lệ ở Cerritos và mất hút vào Ingleside Heights.

- Mi đã đánh cắp cuộc đời của ta. Bây giờ tới lượt ta lấy đi cuộc đời chó chết của mi.

42

Tôi dành buổi sáng chủ nhật rảnh rỗi để cùng Martha chạy bên bờ vịnh và mua sắm lặt vặt ở Marina Green. Cho đến giữa trưa, tôi mặc quần jeans và áo lạnh, quay trở lại bàn làm việc. Sang ngày thứ hai, bản liệt kê quá trình điều tra của tôi vẫn dài dằng dặc những đầu mối bế tắc. Chúng tôi đành phải đưa ra những thông tin chung chung hòng cắt đuôi cánh nhà báo bám dai như đỉa, trong lòng lấp đầy lo lắng về chuyện Chimera sẽ tiếp tục ra tay.

Tôi đang định đi lên chỗ Jill thì cánh cửa thang máy bật mở và Mercer xuất hiện. Ông có vẻ ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi nhưng không tỏ ra khó chịu.

- Đi ra chỗ này với tôi một lát đi, - ông nói.

Xe của Mercer đang đợi ở lối vào trên Đại lộ Số Tám. Khi người cảnh sát lái xe cúi xuống, Mercer bảo anh ta.

- Đến West Portal nhé, Sam.

West Portal là khu phố của tầng lớp trung lưu bên ngoài trung tâm thành phố. Tôi không hiểu tại sao Mercer lại lôi tôi tới đây vào thời điểm này trong ngày. Suốt đoạn đường, Mercer chỉ hỏi tôi rất ít câu hỏi, còn thì phần lớn

thời gian ông chỉ lặng im. Một cơn rùng mình sợ hãi chạy doc sổng lưng tôi. Hay là sếp định tước tôi ra khỏi vụ án.

Chiếc xe rẽ vào một dãy phố tôi chưa từng đặt chân tới bao giờ. Người tài xế đỗ lại phía trước một căn nhà nhỏ màu xanh xây theo kiểu Victoria, đối diện sân chơi của một trường trung học. Một trận bóng rổ đang diễn ra trong đó.

Tôi chớp mắt.

- Sếp có chuyện muốn nói à, sếp?

Mercer quay lại nhìn tôi.

- Cô có thần tượng của riêng mình không hả Lindsay?

- Ý ông muốn nói như Amelia Earhart hay Margaret Thatcher hả? - Tôi lắc đầu. Tôi chưa bao giờ coi ai là thần tượng cả. - Cũng có thể là Claire Washburn chăng. - Tôi nhe răng cười rõ tươi.

Mereer gật đầu.

- Còn tôi, tôi có Arthur Ashe là thần tượng. Có ai đó đã hỏi anh ta rằng, phải đương đầu với căn bệnh AIDS quái ác anh ta có gặp khó khăn nhiều không thì anh ta đã trả lời: Cũng chỉ như khi phải đương đầu với việc lớn lên là người da đen ở Hợp chủng quốc mà thôi.

Vẻ mặt của cảnh sát trưởng chợt trở nên đăm chiêu.

- Vernon Jones nói với ngài thị trưởng rằng tôi đã mất khả năng đánh giá mức độ nghiêm trọng đối với vụ này. - Ông trỏ tay về phía ngôi nhà kiểu Victoria. - Cô có trông thấy ngôi nhà kia không? Nhà của cha mẹ tôi đấy. Tôi đã lớn lên ở đó. Cha tôi là thợ máy, làm việc trong một bến tàu quá cảnh, còn mẹ tôi thì giữ sổ sách cho một nhà thầu khoán điện lực. Hai người đã làm việc chăm chỉ để chu cấp cho tôi và em gái tôi ăn học đàng hoàng. Em gái tôi hiện là luật sư ở Atlanta. Nhưng chúng tôi vẫn luôn nhớ về nơi mình đã trưởng thành.

- Cha tôi cũng làm việc cho thành phố, - Tôi gật đầu.

- Tôi biết tôi không nên nói ra, nhưng Lindsay ạ, tôi có quen cha cô đấy.

- Ông quen cha tôi?

- Đúng vậy, chúng tôi đã khởi đầu sự nghiệp cùng nhau, là cảnh sát tuần tra của quận Trung Tâm. Vài lần chúng tôi còn trực vói nhau nữa cơ. Marty Boxer... Cha cô quả là một truyền thuyết, Lindsay ạ, tất nhiên không phải là một truyền thuyết đáng được nêu gương.

- Ông hãy kể cho tôi nghe những gì mà tôi chưa biết đi.

- Được thôi... - Mercer dừng lại. - Ông ấy là một cảnh sát cừ, rất cừ nữa là đằng khác. Nhiều người trong số chúng tôi ngưỡng mộ ông ấy...

- Trước khi ông ấy bị sa thải.

Mercer nhìn tôi.

- Đã đến lúc cô phải hiểu một điều, rằng những chuyện xảy ra trong cuộc đời một người cảnh sát thường không dễ gì bộc bạch cho mọi người thông cảm đâu.

Tôi lắc đầu.

- Tôi đã không nói chuyện với cha tôi trong suốt hai mươi hai năm trời.

Mercer gật đầu.

- Tôi không thể nói hộ ông ấy với tư cách là một người cha hoặc một người chồng, nhưng tôi có thể nói hộ ông ấy với tư cách là một người đàn ông, hoặc chí ít cũng là một cảnh sát. Cô đã kết tội ông ấy khi cô chưa hiểu rõ mọi vấn đề.

- Ông ấy có bao giờ ở gần tôi để nói cho tôi hiểu vấn đề đâu. - Tôi sưng sỉa đáp lại.

- Tôi xin lỗi, - Mercer đáp. - Tôi sẽ kể cho cô nghe về Marty Boxer kỹ hơn, nhưng để lúc khác nhé.

- Kể chuyện gì? Khi nào?

Cảnh sát trưởng lại quay trở về với phong thái kín đáo. Ông bảo lái xe đưa chúng tôi về tòa.

- Khi nào cô tìm ra Chimera.

43

Đêm hôm đó, khi chiếc xe công từ từ chạy đến gần nhà ông, cảnh sát trưởng Mercer lên tiếng từ ghế sau.

- Sam, anh để tôi xuống chỗ này nhé.

Người lái xe, Sam Mendez, liếc nhìn về phía sau. Nhiệm vụ của anh ta là tránh những rủi ro không đáng có.

Nhưng Mercer có vẻ rất cương quyết.

- Sam ạ, trong bán kính năm khu nhà quanh đây có nhiều cảnh sát tuần tra hơn cả ở tòa đấy.

- Thường thì hay có một hoặc hai chiếc xe tuần tiễu chạy dọc phố Ocean và một chiếc đỗ ngay đối diện nhà ông.

Chiếc xe dừng lại hẳn. Mercer mở cửa và nhấc tấm thân nặng nề của mình bước xuống phố.

- Mai anh lại đến đón tôi, Sam nhé. Bây giờ thì chúc anh ngủ ngon.

Nhìn theo chiếc xe lăn bánh đi khỏi, Mercer xách chiếc cặp da nặng trĩu của mình ở một bên tay, còn tay kia ông cầm chiếc áo mưa màu nâu vàng vắt lên vai, trong lòng rộn lên một đợt sóng thoải mái và nhẹ nhõm. Những cuộc tản bộ sau giờ làm việc luôn là khoảng thời gian mà ông mong chờ nhất trong ngày.

Ông dừng lại bên quầy hàng của Kim, chọn mua một giỏ quả dâu trông có vẻ rất ngọt và một ít mận. Sau đó ông băng ngang qua phố tới cửa hàng rượu vang Ingleside. Ông quyết định sẽ mua một chai Beaujolais mà ông cho là sẽ rất hợp với món thịt cừu hầm mà Eunice đang làm ở nhà.

Đứng trên vỉa hè, ông liếc nhìn xuống đồng hồ đeo tay và bước thẳng về phía căn nhà nhỏ. Ở Cerritos có hai hàng cột đá ngăn cách vùng đất yên tĩnh Ingleside Heights ra khỏi cảnh ồn ào tấp nập ngoài phố. Dòng xe cộ qua lại như mắc cửi biến mất sau lưng ông.

Ông đi ngang qua ngôi nhà thấp lè tè bằng đá của gia đình nhà Taylor. Đột nhiên, một tiếng gọi nhỏ vang lên từ dãy hàng rào.

- Này, này, ông cảnh sát trưởng...

Mercer dừng lại. Tim ông bắt đầu đập thình thình.

- Ông đừng sợ, - tiếng nói lại vang lên. - Đã nhiều năm rồi chúng ta không gặp nhau, chắc ông chẳng còn nhớ tôi đâu nhỉ.

- Chuyện quái gì đang xảy ra thế này?

Một gã đàn ông cao lớn, vạm vỡ từ sau dãy hàng rào bước ra. Hắn quấn quanh người một chiếc áo gió màu xanh, nụ cười ngạo nghễ hiện ra trên mặt.

Mercer mơ hồ nhận ra một điều gì đó, nhưng nét quen quen trên khuôn mặt kia ông không thể nhớ ra ngay được. Phải mất mấy giây sau, hình ảnh đó mới bất chợt ùa về trong trí nhớ của ông. Đột nhiên, mọi thứ trở nên rõ ràng. Nó khiến ông ngạt thở.

- Đây quả là một niềm vinh hạnh rất lớn, - gã đàn ông nói tiếp. - Giành cho ông đấy.

Trong tay của hắn là một khẩu súng nặng và có ánh bạc. Nó đang được chĩa thẳng về phía ngực ông. Mercer biết ông phải làm ngay một điều gì đó. Thuyết phục hắn, đánh ngã hắn, rút súng của mình ra... ông cần phải hành động như một cảnh sát trên phố.

- Tao muốn mày nhìn thấy mặt tao. Tao muốn mày biết tại sao mày phải chết.

- Đừng làm thế! Quanh đây có nhiều cảnh sát lắm đấy.

- Tốt thôi, như thế đối với tao lại còn hay hơn cơ đấy. Đừng sợ, Sếp ạ. Sắp tới, nơi này sẽ có nhiều bạn cũ cho mày gặp mặt lắm đấy.

Phát súng đầu tiên nhằm trúng ngực cảnh sát trưởng, một tiếng uỵch dữ dằn nghe như tiếng xé vải khiến ông phải khuỵu chân xuống. Suy nghĩ đầu tiên của Mercer lúc này là phải kêu to. Liệu Parks hay Vasquez có đang đỗ xe ở trước cửa nhà ông không nhỉ? Chỉ một vài thước nữa thôi. Nhưng tiếng kêu của ông tắc nghẹn trong ngực. Lạy Chúa, xin Người hãy cứu con!

Phát thứ hai xé rách cổ họng của ông. Ông không còn nhận ra người mình đang nảy lên hay rơi xuống nữa. Ông muốn buộc tội tên giết người. Ông muốn tóm cổ hắn. Thế nhưng hai chân ông đã tê liệt mất rồi. Ông không thể làm gì được.

Tên giết người với khẩu súng của hắn lúc này đang ở phía trên cao. Hắn vẫn đang lải nhải nói những chuyện gì đó nhưng ông không nghe thấy gì nữa. Khuôn mặt của hắn nhòa đi trước mắt ông. Một cái tên lóe sáng trong đầu Mercer. Ông không muốn tin nhưng vẫn gọi hắn hai lần như để khẳng định, hơi thở của ông vang lên nặng nề bên tai ông.

- Đúng vậy, - tên giết người gật đầu, hạ thấp khẩu súng màu bạc của hắn xuống. - Mày phụ trách vụ này phải không? Mày đã tìm ra Chimera rồi đấy. Chúc mừng nhé!

Mercer nghĩ ông nên nhắm chặt mắt lại trước khi ánh lửa màu cam chói lòa tiếp theo bùng thẳng vào mặt ông.

44

Tôi sẽ không bao giờ quên thời điểm tôi nhận được tin dữ đó. Lúc ấy tôi đang ở nhà, chuẩn bị đặt nồi lên bếp lò.

Từ trong đài, khúc nhạc “Adia” do ca sĩ Sarah McLachlan trình bày đang vang lên rộn rã.

Claire hẹn sẽ đến. Tôi đã phải dụ dỗ chị bằng một bữa tối với món mì sợi hầm măng tây và nước sốt chanh. Thực ra không phải dụ dỗ... mà là van nài mới đúng. Tôi đang muốn có người để nói những câu chuyện không liên quan đến vụ án mà tôi đang phải điều tra, về con cái của chị, về môn yoga, về cuộc đua vào Nghị viện California... Bất cứ chuyện gì ngoài chuyện điều tra vụ án.

Tôi sẽ không bao giờ quên được... Martha đang đùa nghịch với một con gấu không đầu mà nó đã chiếm làm vật sở hữu riêng của nó. Tôi thì đang thái rau húng quế và luôn để mắt tới nồi mì. Cả Tasha Catchings lẫn Art Davidson đều đã bị tôi cho ra khỏi trí nhớ. Cám ơn Chúa.

Điện thoại reo vang. Một suy nghĩ ích kỷ chợt lóe lên trong đầu óc vô tư của tôi lúc đó. Tôi hy vọng không phải Claire gọi đến vào phút cuối để hủy bỏ cuộc hẹn.

Tôi kẹp ống nghe vào cổ rồi trả lời.

- Chị...

Nhưng hóa ra đó là Sam Ryan, chánh thanh tra sở của chúng tôi. Ryan là cấp trên của tôi xét về mặt cấp bậc hành chính. Qua giọng nói của ông, tôi biết đã xảy ra chuyện cực kỳ nghiêm trọng.

- Lindsay, có một chuyện kinh khủng đã xảy ra...

Người tôi tê cứng. Tôi có cảm giác như một ai đó đã thò được tay vào trong ngực tôi, bóp chặt tim tôi bằng những ngón tay độc địa. Tôi nghe Ryan nói tiếp. Ba phát súng bắn thẳng từ trước mặt ở khoảng cách rất gần... chỉ cách cổng nhà ông có vài thước. Ôi Chúa ơi... Mercer...

- Bây giờ ông ấy đang ở đâu, hả Sam?

- Moffitt. Phòng cấp cứu. Ông ấy đang trong cơn nguy kịch.

- Tôi sẽ tới đó ngay.

- Lindsay, cô không có việc gì làm ở đó đâu. Cô hãy đến ngay hiện trường.

- Chin và Lorraine sẽ xem xét hiện trường. Qua bệnh viện xong là tôi sẽ đến đó ngay.

Chuông cửa reo vang. Như bị thôi miên, tôi lao ra phía đó.

- Chào em, - Claire tươi cười hiện ra.

Thấy tôi không nói năng gì, chị lập tức nhận ra vẻ xanh xao tái nhợt trên mặt tôi.

- Có chuyện gì thế?

Mắt tôi ướt đầm.

- Claire... Hắn đã bắn cảnh sát trưởng Mercer.

45

Chúng tôi vội vã chạy xuống mấy bậc thang, chui vào chiếc Pathfinder của Claire và lao nhanh khỏi Potrero tới Trung tâm Y tế California ở Parnassus Heights. Suốt đường đi, tim tôi đập một cách điên loạn và hy vọng. Phố xá nhòa đi bên ngoài - Đại lộ Hai Tư, Guerrero, sau đó là Castro và Đại lộ Mười Bảy tới tòa nhà sừng sững trên đỉnh Mt. Sutro.

Chỉ mất có mười phút kể từ khi tôi nhận điện thoại, Claire đã lái chiếc Pathíĩnder của chị vào bãi đỗ xe bên lôi vào bệnh viện.

Claire giơ tấm thẻ căn cước của mình ra trước mặt người y tá đang ngồi ở bàn đón tiếp, hỏi những thông tin mới nhất về cảnh sát trưởng Mercer. Trông chị lo lắng như thể sinh mạng chính người thân của chị đang nằm đằng sau cánh cửa phòng mổ. Tôi chạy đi tìm Sam Ryan.

- Thế nào rồi ạ?

Ông ta lắc đầu.

- Sếp vẫn còn nằm trên bàn phẫu thuật. Nếu như có ai đó cầm cự được lâu tới vậy sau khi nhận ba phát đạn thì người đó chính là sếp của chúng ta.

Tôi lập cập mở điện thoại và gọi cho Lorraine Stafford đang ở ngoài hiện trường.

- Mọi việc ở đây đang rối tung cả lên, - cô ấy nói. - Có mấy người của Ban Giải quyết các vụ việc nội bộ và cả người của thành phố cũng đến. Ngoài ra còn rất nhiều phóng viên, nhà báo. Tôi không tài nào đến gần viên cảnh sát tuần tra, người đầu tiên phát hiện ra vụ việc.

- Đừng để bất cứ ai ngoài cô và Chin đến gần hiện trường nhé, - tôi dặn. - Tôi sẽ đến đó ngay khi nào có thể.

Claire quay về từ phòng cấp cứu. Mặt chị co rúm lại.

- Họ phẫu thuật xong rồi, nhưng tình hình có vẻ xấu lắm Lindsay ạ. Vỏ não của sếp đã bị bắn thủng, ngoài ra còn mất khá nhiều máu. Thật đúng là một phép màu khi Sếp mình cầm cự được lâu tới vậy.

- Claire, em phải vào trong đó để gặp sếp.

Claire lắc đầu.

- Sự sống của ông ấy vẫn còn ngàn cân treo sợi tóc mà Lindsay. Với lại, người ta đang gây mê.

Càng ngày tôi càng cảm thấy mình mắc nợ Mercer nhiều lắm, mắc nợ cả những cái chết chưa được đưa ra ánh sáng. Tôi cũng cảm thấy ông biết mọi chuyện, và nếu ông chết thì sự thật cũng sẽ chết theo ông.

- Em phải đến đó.

Tôi đẩy cánh cửa dẫn vào phòng cấp cứu, nhưng Claire vẫn chạy theo ngăn tôi lại. Nhìn thẳng vào mắt chị, tia hy vọng cuối cùng của tôi chợt tắt ngấm. Tôi đã luôn gây gổ với Mercer, luôn tranh cãi với ông ấy. Chính ông là người mà tôi luôn muốn chứng tỏ bản thân mình. Nhưng cuối cùng ông đã tin tưởng tôi. Đột nhiên tôi có cảm giác thật kỳ lạ, rằng một lần nữa tôi lại mất cha.

Chưa đầy một phút sau, một bác sĩ trong chiếc áo blu màu xanh bước ra, cởi bỏ đôi găng tay cao su. Ông ta nói vài lời với mấy người ở chỗ ngài thị trưởng rồi quay sang trợ lý của Mercer là Anthony Tracchio.

- Cảnh sát trưởng mất rồi, - Tracchio nặng nhọc thốt lên.

Tất cả mọi người đứng đờ người ra, những cặp mắt trống rỗng đờ đẫn nhìn thẳng về phía trước. Claire vòng tay ôm choàng lấy tôi.

- Em không biết em có thể làm được gì nữa, - tôi bật khóc nức nở, ôm chặt lấy vai chị.

- Có mà, em thân mến, em làm được. - Chị an ủi tôi.

Tôi trông thấy bác sĩ của Mercer khi ông này từ phòng cấp cứu bước ra ngoài. Tôi tiến lại gần và tự giới thiệu.

- Cảnh sát trưởng có nói được điều gì khi người ta mang ông ấy đến đây không ạ?

Vị bác sĩ nhún vai.

- Ông ấy có tỉnh lại một lát, nhưng những gì ông ấy nói thì rời rạc lắm, chẳng mạch lạc chút nào. Chỉ toàn là những đại từ phản thân thôi. Lúc đến đây, ông ấy còn đang phải hô hấp nhân tạo nữa kia.

- Trí óc của ông ấy vẫn tỉnh táo, phải không bác sĩ? - Cảnh sát trưởng đã đối diện trực tiếp với kẻ giết người. Bị bắn tới ba phát đạn nhưng vẫn cố cầm cự, chắc chắn sếp muốn nói với mọi người một điều gì đó. - Tôi xin ông hãy kể lại bất cứ câu nói nào của cảnh sát trưởng mà ông còn nhớ được.

Cặp mắt mệt mỏi của bác sĩ nhìn ra xung quanh.

- Tôi xin lỗi, trung úy. Chúng tôi chỉ biết cố gắng giành giật sự sống lại cho ông ấy mà thôi. Có lẽ cô nên hỏi viên cảnh sát đã đưa ông ấy vào đây cấp cứu.

Nói rồi, ông quay lưng trở vào trong phòng. Qua cửa kính, tôi thoáng trông thấy Eunice Mercer và một trong mấy cô con gái của cảnh sát trưởng đang ôm nhau khóc nức nở ngoài hành lang.

Lòng tôi đau như xé, một cơn buồn nôn dâng lên khiến tôi xây xẩm cả mặt mày.

Tôi chạy bố vào phòng vệ sinh nữ, cúi gập người trên

bồn rửa và vã nước lạnh lên khắp mặt.

- Ôi trời, ôi trời!

Khi đã bình tĩnh trở lại, tôi nhìn vào gương. Tôi thấy hai mắt tôi tối sầm, trống rỗng; rất nhiều tiếng nói cứ vang lên ong ong trong đầu tôi.

Bốn vụ giết người, những tiếng nói như những hồi chuông báo tử, bốn cảnh sát da đen...

46

Lorraine Staford rời cánh cổng bằng sắt ở Cerritos và tiến lại phía tôi.

- Sếp đang trên đường về nhà, - Cô cắn môi, rơm rớm nước mắt. - Nhà sếp cách đây chỉ vài bước chân. Không có ai nhìn thấy, nhưng lái xe của sếp thì vẫn còn ở kia.

Tôi đi tới chỗ xác của cảnh sát trưởng được tìm thấy. Đội của Charlie Clapper đang lùng sục khắp xung quanh. Đây là một khu dân cư khá yên tĩnh, vỉa hè được ngăn cách với dãy phố bên ngoài bởi một dãy hàng dào khá cao, vì thế chẳng có gì khó hiểu khi không một ai chứng kiến được vụ giết người.

Khoảng đất đầy vết phấn vẽ. Máu loang ra khắp vỉa hè. Những thứ còn lại của cảnh sát trưởng trong giây phút cuối cùng gồm mấy chiếc túi bằng nhựa đựng đầy tạp chí, hoa quả và một chai rượu vang, văng tung tóe khắp nơi.

- Lúc đó không có chiếc xe nào đỗ trước cửa nhà sếp à? - Tôi hỏi.

Lorraine hất đầu về phía một viên cảnh sát trẻ tuổi mặc đồng phục đang đứng tựa người bên một chiếc xe tuần tra màu xanh trắng.

- Đúng lúc anh ta vừa đi tới thì anh ta thấy tên giết người đang bỏ chạy thục mạng, còn cảnh sát trưởng thì nằm sõng soài, máu chảy đầm đìa.

Rõ ràng là tên giết người đã nằm phục ở đây. Hắn chắc hẳn đã nấp sau những bụi cây chờ cho tới lúc cảnh sát trưởng đi làm về. Hắn biết rõ quy luật của sếp. Cũng giống hệt như trường hợp của Davidson.

Từ phía đường Ocean, tôi trông thấy Jacobi và Cappy đi đến. Trông thấy họ, tôi thở phào nhẹ nhõm.

- Cám ơn các bạn đã đến, - tôi nói nhỏ.

Đột nhiên, tôi thấy Jacobi làm một việc thật không bình thường. Anh ta nắm lấy vai tôi và nhìn tôi chăm chú.

- Vụ này lớn đấy, Lindsay ạ. Cục điều tra liên bang sẽ cử người tới đây. Bất cứ điều gì chúng ta làm, bất cứ thứ gì chúng ta cần, bất cứ câu gì chúng ta nói... Nhưng chị yên tâm, chúng tôi luôn ở bên cạnh chị.

Tôi quay về phía Lorraine và Chin.

- Các bạn còn phải làm gì nữa để có thể kết thúc việc khám nghiệm hiện trường?

- Tôi muốn kiểm tra dọc theo đường mà tên giết người tẩu thoát, - Chin đáp. - Nếu hắn đỗ xe gần đây, chắc chắn phải có người trông thấy. Nếu không thì cũng phải có ai đó nhìn thấy hắn đi ra đường Ocean này chứ.

- Tội nghiệp Sếp, - Jacobi thở dài. - Vậy mà tôi luôn cho rằng ông ấy sẽ tổ chức một cuộc họp báo ngay trong đám tang của ông ấy cơ.

- Chúng ta vẫn liệt vụ này vào hạng giết người do phân biệt chủng tộc à, trung úy? - Cappy khịt mũi.

- Tôi không biết anh nghĩ thế nào, - tôi thẫn thờ trả lời, - còn tôi, tôi ghét thằng này thậm tệ.

47

Jacobi đã nói đúng một điều. Sáng hôm sau, mọi thứ đều thay đổi. Tất cả các báo lớn ở khắp đất nước đều cử phóng viên đến đứng chật ngoài sân của tòa án, nào là dựng máy quay, nào là cào cấu nhau để giành quyền phỏng vấn. Anthony Tracchio được chỉ định thay vào vị trí của cảnh sát trưởng. Mặc dù là cánh tay phải của Mercer, nhưng ông ta chỉ chuyên lo các công việc hành chính chứ chưa bao giờ chịu đào sâu nghiệp vụ cảnh sát của mình. Bây giờ, trong vụ Chimera, tôi lại phải báo cáo vói ông ta mọi chuyện.

- Không được tiết lộ thông tin, - Tracchio cục cằn ra lệnh. - Không được liên hệ với giới báo chí. Mọi cuộc trả lời phỏng vấn đều phải thông qua tôi, nhớ chưa?

Một tổ công tác chung đã được thiết lập để nghiên cứu vụ cảnh sát trưởng Mercer bị giết. Mãi cho tới lúc lên hết cầu thang, tôi mới hiểu chính xác “tổ công tác chung” nghĩa là thế nào.

Khi tôi quay trở lại phòng làm việc, tôi thấy hai nhân viên FBI trong bộ đồng phục màu nâu vàng đang đứng đợi ở ngoài. Một người da đen, đầu tóc bóng mượt tên là Ruddy, mặc áo sơ-mi rộng thùng thình, đeo cà-vạt vàng chóe, trông có vẻ là người phụ trách. Người kia tên là Hull.

Câu đầu tiên mà Ruddy nói với tôi là bày tỏ sự cảm kích khi được làm việc cùng người điều tra viên đã xử lý vụ án cô dâu chú rể. Câu thứ hai ông ta đề nghị được xem hồ sơ của vụ Chimera. Toàn bộ. cả Tasha lẫn Davidson. Và những gì mà chúng tôi đã thu thập được ở hiện trường vụ án cảnh sát trưởng.

Mười giây sau khi họ rời đi, tôi gọi điện thoại cho sếp mới.

- Tôi đã hiểu “tổ công tác chung” nghĩa là thế nào rồi, - tôi bảo ông ta.

- Mọi tội ác chống lại các nhân viên thi hành công vụ đều bị coi là tội phạm liên bang, thưa trung úy. Tôi chẳng thể nào làm khác được, - Tracchio trả lời.

- Mercer đã bảo đây là vụ của thành phố chúng ta, vì vậy các công chức thành phố phải có trách nhiệm thực hiện tới cùng.

Tracchio dội ngay vào đầu tôi một gáo nước lạnh toát.

- Tôi xin lỗi. Không bàn thêm nữa.

48

Chiều muộn hôm đó, tôi lái xe tới Ingleside Heights để nói chuyện với vợ của cảnh sát trưởng Mercer. Tôi có cảm giác là mình phải làm như vậy. Một dãy xe dài đỗ dọc theo mấy con phố xung quanh nhà sếp. Một người bà con của gia đình mở cửa cho tôi vào và bảo với tôi rằng bà Mercer đang ở trên gác.

Tôi đứng quanh quẩn trong phòng khách, nhận ra nhiều gương mặt quen thuộc đang tập trung ở đây. Mấy phút sau, Eunice Mercer từ trên gác bước xuống, theo sau là một người đàn bà trung niên có khuôn mặt dễ coi. Hóa ra đó là em gái của bà. Trông thấy tôi, bà đi thẳng tới chỗ tôi đang đứng.

- Tôi rất tiếc. Tôi không thể tin được chuyện đó đã xảy ra, - tôi nói, siết chặt tay bà, sau đó ôm bà thật chặt.

- Tôi hiểu, - bà lẩm bẩm. - Tôi biết cô cũng đang rất buồn.

- Tôi biết phải chịu đựng chuyện này đối với bà là rất khó khăn, nhưng tôi cần hỏi bà một vài câu hỏi, - mãi sau tôi mới dám nói tiếp.

Bà Mercer gật đầu và dẫn tôi vào phòng làm việc. Em gái bà quay trở lại với mọi người trong phòng khách.

Tôi hỏi bà rất nhiều câu hỏi giống với những gì tôi đã từng đặt ra cho người thân của những nạn nhân khác. Gần đây có ai đe dọa chồng bà không? Gọi điện thoại đến nhà chẳng hạn? Có ai đó khả nghi lởn vởn quanh đây hay không?

Nhưng bà chỉ lắc đầu.

- Earl luôn nói với tôi rằng, chỉ trong ngôi nhà này ông ấy mới có một cuộc sống thực sự đời thường như mọi người khác trong thành phố, không là cảnh sát, cũng không phải chỉ huy ai cả.

Tôi bèn đổi hướng.

- Tuần vừa rồi, bà có tình cờ nghe đến tên Art Davidson hay không?

Vẻ mặt Eunice Mercer trở nên trổng trải.

- Cô nghĩ Earl bị giết bởi chính kẻ đã sát hại những người khác trong thời gian vừa qua à?

Tôi nắm lấy tay bà.

- Tôi cho rằng những vụ giết người dã man này đều có cùng một thủ phạm.

Vợ của cảnh sát trưởng đưa tay lên bóp trán.

- Lindsay à, ngay lúc này đây tôi chẳng nghĩ ra điều gì cả. Earl vừa bị giết. Cuốn sách đó...

- Cuốn sách ạ? - Tôi thắc mắc.

- Đúng rồi, Earl luôn đọc. tạp chí ô tô. Ông ấy luôn mơ ước khi nào về hưu sẽ tới làm việc trong ga-ra của cậu em họ... Vậy mà ông ấy lại nhét vào túi áo khoác của ông ấy cuốn sách đó.

- Cuốn sách nào cơ? - Tôi nheo mắt nhìn bà thật chăm chú.

- Một bác sĩ trẻ ở bệnh viện đã trả lại cuốn sách đó cho tôi cùng với ví tiền và chìa khóa. Tôi chưa thấy nhà tôi quan tâm tới loại sách này bao giờ. Những câu chuyện thần thoại cũ rích...

Đột nhiên, mạch đập của tôi tăng nhanh.

- Bà có thể cho tôi xem cái mà bà đang nói tới được không ạ?

- Tất nhiên rồi, - Eunice Mercer đáp. - Nó ở đây. - Bà rời phòng làm việc và chỉ một phút sau đã quay trở lại đưa cho tôi bản copy đóng bìa mềm của một cuốn sách mà lũ trẻ con vẫn thường đọc. Thần thoại, tác giả là Edith Hamilton.

Đó là một tập sách cũ mèm, quăn góc, trông như thể đã được đọc tới hàng nghìn lần. Tôi giở lướt qua nhưng chẳng trông thấy gì cả.

Tôi lật tới trang mục lục. Đột nhiên tôi trông thấy nó. Ở giữa trang 141, gạch chân. Bellerophon giết Chimera.

Bellerophon... Billy Reffon.

Tim tôi thắt lại. Đó chính là cái tên mà hắn đã dùng khi gọi tới 911 trong vụ Art Davidson. Hắn đã tự xưng là

Tôi giở nhanh đến trang 141, và tôi trông thấy nó. Bức minh họa vẽ hình một con sư tử đang chồm người lên, mình nó là của con dê, còn đuôi thì là đuôi rắn.

Chimera.

Tên khốn đã báo cho chúng tôi biết rằng chính hắn đã giết Sếp Mercer.

Một đợt sóng cồn dâng trào khắp người tôi. Ngoài bức tranh minh họa, trên trang giấy còn có thêm mấy chữ, tuy được viết nghuệch ngoạc nhưng lại rất sắc nét.

Sẽ còn nữa... Công lý sẽ được thực hiện.

49

Rời khỏi nhà cảnh sát trưởng Mercer, tôi lái xe lòng vòng trong một tâm trạng lo lắng hoảng sợ. Như vậy bản năng đã mách bảo tôi rất đúng. Đây rõ ràng không phải là sự ngông cuồng của những kẻ phân biệt chủng tộc. Đây là một tên giết người lạnh lùng, tính toán. Thậm chí hắn còn muốn trêu chọc cảnh sát, giống như cách hắn sử dụng chiếc xe chở hàng màu trắng. Cuộc gọi ngạo mạn tới 911. Billy Reffon.

Cuối cùng, tôi buột miệng thốt lên, đồ khốn. Tôi gọi điện cho mấy cô bạn. Đến lúc này thì tôi cảm thấy không thể không chia sẻ với họ. Họ là những bộ óc thi hành pháp luật sắc sảo nhất thành phố. Trong khi đó, tên giết người lại đang đe dọa sẽ còn nhiều vụ án mạng nữa. Chúng tôi hẹn gặp nhau ở quán Susie.

- Tớ cần các cậu giúp, - tôi nói, nhìn một lượt quanh những khuôn mặt thân thương trong góc ngồi quen thuộc.

- Chính vì thế mà chúng ta gặp nhau ở đây, - Claire trìu mến nhìn tôi. - Em vừa gọi là mọi người tới ngay mà.

- Cuối cùng, - Cindy cười khúc khích, - thì cô ấy đã nhận ra cô ấy chẳng là gì hết nếu thiếu những người trong nhóm.

Bản nhạc “Nụ hôn này” của Faith Hill nổi lên, át cả tiếng ồn ào của một trận bóng rổ trên truyền hình, nhưng trong một góc, cả bốn người chúng tôi cùng chụm đầu lại chăm chú với thế giới riêng đầy mục đích của mình. Chúa ơi, cảm giác có bạn bè ở bên trong những lúc khó khăn mới dễ chịu làm sao.

- Tình hình trở nên xấu khi vụ án của cảnh sát trưởng Mercer xảy ra. FBI đã vào cuộc. Bây giờ, tớ chẳng còn hiểu ai là người nắm quyền chỉ huy cuộc điều tra nữa. Tất cả những gì tớ biết bây giờ là càng để lâu, càng có thêm nhiều người bị giết.

- Lần này chúng ta phải làm việc theo nguyên tắc, - Jill vừa nói vừa uống một ngụm bia Buckler không chứa cồn khá to. - Đây không còn là trò chơi nữa rồi. Chuyện xảy ra với cảnh sát trưởng đã khiến tớ nghĩ tới việc vi phạm lời tuyên thệ vào nghề của tớ: Không được tiết lộ chứng cớ, không được sử dụng tư liệu và tài sản của văn phòng ủy viên công tố vào các mục đích cá nhân. Nếu bị lộ, tớ sẽ phải ngồi trên tầng mười để nghiên cứu hồ sơ vụ án.

Cả bọn phá lên cười thật to. Tầng mười trong tòa vốn được dùng để làm nơi tạm giam những kẻ tội phạm.

- Được đấy, - tôi đồng ý. Đối với tôi cũng chẳng khác gì. - Bất cứ điều gì mà chúng ta tìm ra, chúng ta sẽ cung cấp cho lực lượng đặc nhiệm.

- Thôi nào, đừng đi lạc đề nữa, - Cindy nói với một nụ cười láu lỉnh. - Chúng tớ ở đây là để giúp cậu chứ đâu phải để gây dựng sự nghiệp cho mấy thằng cha quan liêu, cứng nhắc đó.

- Ôi Trời, thật không thể tin nổi là chúng ta lại được họp mặt. - Jill thốt lên.

- Em đừng bao giờ nghi ngờ điều đó, - Claire nói.

Tôi đưa mắt nhìn quanh những cô bạn gái của tôi. Câu lạc bộ nữ điều tra các vụ án giết người. Toàn thân tôi căng ra, chuẩn bị tiếp nhận các ý kiến sắc sảo của họ. Bốn người đã bị giết, trong đó có cả người đứng đầu sở cảnh sát của thành phố. Tên giết người đang tỏ ra hắn có thể tấn công vào bất cứ đâu mà hắn muốn.

- Càng nhiều người bị giết, hồ sơ vụ án càng dày thêm, các bạn ạ, - tôi nói và bắt đầu cung cấp cho họ những thông tin mới nhất kể cả cuốn sách tìm thấy trong túi áo của cảnh sát trưởng Mercer.

Claire kể cho chúng tôi nghe những gì chị đã tìm được qua việc khám nghiệm tử thi của cảnh sát trưởng mà chị vừa hoàn thành trong buổi chiều, ông đã bị bắn ba phát ở khoảng cách rất gần bằng một khẩu súng 38 ly.

- Chị có cảm giác là giữa ba phát đạn này có những quãng nghỉ. Nhìn cách vết thương chảy máu là chị biết. Phát đạn cuối cùng là nhằm thẳng vào mặt. Lúc đó Mercer đã ngã xuống đất. Điều đó khiến chị nghĩ rằng họ đã đương đầu trực tiếp với nhau, rằng tên sát nhân đã muốn giết Mercer một cách từ từ. Thậm chí họ còn nói chuyện với nhau nữa. Chị cho rằng Mercer biết kẻ giết người là ai.

- Cậu đã kiểm tra tới khả năng tất cả các cảnh sát này, bằng cách nào đó, có liên quan đến nhau chưa? - Jill ngắt lời. - Chắc là rồi. Cậu là Lindsay Boxer mà.

- Đúng là tớ đã kiểm tra, nhưng tớ chẳng thấy có bản báo cáo nào ghi lại việc họ đã từng gặp nhau cả. Chú của Tasha Catching còn ít hơn những người kia tới hai mươi tuổi. Tớ chẳng tìm thấy gì có thể gắn kết họ với nhau.

- Một kẻ nào đó căm ghét cảnh sát. Tất nhiên, có rất nhiều người ghét cảnh sát, - Cindy nhận xét.

- Chỉ tại tớ chưa tìm ra mới liên hệ thôi. Vụ án được bắt đầu dưới chiêu bài phân biệt chủng tộc. Tên giết người muốn cảnh sát điều tra theo hướng đó. Hắn muốn chúng ta tìm ra dòng tư tướng của hắn, tìm ra Chimera, biểu tượng ngớ ngẩn của riêng hắn.

- Nếu đây là một mối thù cá nhân truyền kiếp, - Jill trầm ngâm, - thì sẽ chẳng có ý nghĩa gì khi ta cứ gán các vụ giết người cho một nhóm hoạt động có tổ chức nào đó.

- Trừ phỉ chính hắn là người thành lập ra nhóm, - tôi nói thêm.

- Hoặc trừ phi, - Cindy cắn môi, - Chimera chẳng hề liên quan đến một nhóm quá khích nào cả. Có lẽ tên giết người muốn dùng cuốn sách kia để chuyển tới chúng ta một thông điệp.

Tôi nhìn Cindy chăm chú. Tất cả nhóm đều nhìn cô ấy.

- Chúng tớ đang chờ cậu đây, nhà bác học.

Cindy chớp mắt mơ màng, sau đó khẽ lắc đầu.

- Tớ mới chỉ nói lên những suy nghĩ của tớ thôi mà.

Jill hứa sẽ nghiên cứu thật kỹ những hồ sơ vụ án bất hòa giữa một cảnh sát da đen với một người da trắng. Bất cứ một động cơ báo thù cá nhân nào cũng đều có thể giúp chúng tôi phá được vụ án này. Cindy cũng sẽ làm như vậy ở tờ Biên niên sử.

Đó quả là một ngày dài và tôi cảm thấy mình bị kiệt sức. Sáng hôm sau, vào lúc bảy giờ ba mươi tôi sẽ có một cuộc họp với đội đặc nhiệm. Tôi đưa mắt nhìn các bạn một lượt.

- Cám ơn mọi người, cám ơn mọi người.

- Chúng tớ sẽ cùng cậu giải quyết mọi chuyện, - Jill đáp. - Chúng ta sẽ tìm ra Chimera.

- Đúng thế, - Claire hùa theo, - với điều kiện em phải thanh toán hóa đơn ngày hôm nay.

Từ đó cho tới lúc ra về, chúng tôi chỉ tán gẫu những chuyện vô thưởng vô phạt. Jill và Claire đỗ xe trong bãi. Tôi hỏi Cindy có cần đi nhờ tôi không (nhà cô ấy ở Castro, chẳng xa nhà tôi là mấy).

- Thực ra, - cô ấy đáp với một nụ cười e lệ, - tớ sắp có hẹn.

- Hay quá nhỉ! Ai là nạn nhân tiếp theo của em thế? - Claire reo lên. - Khi nào sẽ ra mắt đây?

- Nếu một phụ nữ chín chắn và thông minh như chị lại muốn liếc mắt đưa tình như bọn nữ sinh thì em cho là đã đến lúc rồi đấy. Anh ấy sắp tới đây để đón em.

- Chị cũng giỏi cái khoản liếc mắt đưa tình lắm đấy, - Claire vừa cười vừa nói.

Tôi bật cười khanh khách.

- Dù cậu có gặp Mel Gibson hay Russel Crowe thì con thuyền tớ đang ngồi cũng chẳng tròng trành đâu.

Khi chúng tôi đẩy cửa bước ra, Cindy liền tóm lấy khuỷu tay của tôi.

- Cậu cô mà giữ cho chắc mái chèo con thuyền của cậu, cô bạn thân mến ạ!

Ngay lúc đó tôi nhìn thấy người đàn ông của Cindy. Tất cả chúng tôi không liếc mắt đưa tình mà lại liếc mắt nhìn nhau, con thuyền của tôi thì tròng trành thật.

Đứng đợi bên ngoài, trông thật đẹp trai và gợi cảm là mục sư Aaron Winslow, mặc một bộ lễ phục màu đen cực kỳ lịch sự.

50

Tôi không thể tin nổi, cứ đứng nghệt mặt ra, lúng túng vụng về. Tôi hết nhìn Cindy lại nhìn Winslow, vẻ ngạc nhiên của tôi chuyển dần thành một nụ cười bẽn lẽn.

- Trung úy, - Winslow gật đầu, cố gắng xóa tan không khí gượng gạo. - Khi Cindy nói cô ấy có một cuộc hẹn với các bạn, tôi đã không ngờ có cô trong số đó.

- Tôi cũng không ngờ, - tôi lắp bắp.

- Chúng mình sắp đi xem biểu diễn ở quán Cánh cửa Xanh, - Cindy giải thích với cả nhóm. - Có Pinetop Perkins đấy.

- Tuyệt quá! - Claire gật đầu.

- Cực kỳ hạnh phúc! - Jill hùa theo nghe thật ngớ ngẩn.

- Các bạn có muốn đi cùng không? - Aaron Winslow hỏi. - Tôi đảm bảo là rất hay đấy.

- Nhưng ngày mai tôi phải có mặt ở cơ quan lúc sáu giờ, - Claire lắc đầu. - Hai người cứ đi đi vậy.

Tôi ghé vào tai Cindy, thì thào.

- Cậu biết không, hôm ở nhà thờ, khi tớ nói với cậu về chuyện chung một chiến hào thì tớ chỉ đùa thôi mà.

- Tớ biết cậu đùa, - Cindy đáp, vòng tay ôm chặt lấy người tôi. - Nhưng tớ thì không.

Claire, Jill và tôi đứng ngẩn người, miệng há hốc dõi theo hai người biến mất ở chỗ rẽ nơi góc phố. Sự thực là mặc dù họ rất đẹp đôi nhưng đây mới chỉ là buổi hẹn nhau cùng đi nghe nhạc thôi mà.

- Này, - Jill lên tiếng trước, - hãy nói với tớ là tớ không nằm mơ đi!

- Em không mơ đâu, cô gái ạ, - Claire đáp. - Chị thì đang hy vọng rằng Cindy sẽ sớm nhận ra cô ấy mơ mộng quá.

- Em ngược lại chị, - tôi lắc đầu. - Em hy vọng chính mục sư mới là người nhận ra ông ta đang mơ mộng hão huyền.

Chui vào trong xe, tôi tự mình thư giãn với cầu chuyện tình chớm nở của Cindy và Aaron Winslow. Nó gần như đẩy bật nguyên nhân chính khiến chúng tôi có mặt ở đó trong buổi tối ngày hôm nay ra khỏi trí nhớ của tôi.

Tôi lái chiếc Explorer của mình về phía Brannan, không quên quay lại vẫy tay chào tạm biệt Claire. Chính khi đó, tôi thoáng trông thấy một chiếc Toyota màu trắng đang theo sát tôi chỉ cách có một đoạn.

Nhưng đầu óc tôi đang mải mê nghĩ đến việc mà tôi vừa mới làm. Tôi đã lôi các bạn gái của tôi vào một vụ việc hết sức rắc rối và nguy hiểm. Tôi đã từ chối lời đề nghị của ngài thị trưởng và của người chỉ huy của tôi. Lần này, tôi không có Roth, không có Mercer hậu thuẫn.

Một chiếc Mazda có hai cô gái tuổi teen chạy vượt lên trước xe tôi. Chúng tôi cùng dừng lại trước đèn giao thông ở Đại lộ Số 7. Cô gái lái xe thì mải mê nói chuyện điện thoại, còn cô bạn ngồi bên rõ ràng đang lẩm nhẩm hát theo tiếng nhạc phát ra từ máy stereo. Đèn xanh hiện lên. Chúng tôi đi tiếp. Tôi đưa mắt nhìn theo hai cô gái tươi trẻ đó cho tới khi họ rẽ sang hướng Đại lộ Sô 9. Một chiếc xe chở hàng loại nhỏ màu xanh thay thế vào đường chạy của chiếc Mazda.

Xe của tôi đã tới Potrero và chui vào đường hầm 101, tiếp tục chạy xuôi về hướng nam. Chiếc xe chở hàng màu xanh lại rẽ sang ngả khác.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.