Chuồn Chuồn Hổ Phách

Lượt đọc: 166 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
21
Sự hồi sinh không đúng lúc

❊ ❊ ❊

Tâm trí tôi vẫn nghĩ đến các ông chủ ngân hàng khi xe ngựa tiến vào tòa dinh thự do ngài Công tước thuê trên đường St. Anne. Ngôi nhà lớn, xinh đẹp có một hàng cây dương chạy dọc theo con đường dài uốn cong dẫn tới cửa chính, với nhiều khoảnh đất rộng rãi. Ngài Công tước là một người giàu có.

“Anh có nghĩ số tiền Charles đang đầu tư cùng St. Germain là khoản vay cậu ta nhận được từ Manzetti không?” Tôi hỏi.

“Chắc rồi,” Jamie đáp. Anh đeo đôi găng da lợn, phù hợp với một cuộc viếng thăm trang trọng và khẽ nhăn mặt trong lúc vuốt mềm lớp da chật cứng ôm lấy bốn ngón của bàn tay phải. “Ông bố nghĩ con mình sẽ dùng khoản tiền này để duy trì cuộc sống tại Paris.”

“Vậy Charles đang cố gắng thu gom tiền để lập một đội quân,” tôi nói, lòng miễn cưỡng cảm thấy ngưỡng mộ Charles Stuart. Chiếc xe dừng lại và người hầu nhảy xuống để mở cửa.

“Đúng thế, cậu ta đang cố gắng gom tiền, ít nhất là vậy,” Jamie sửa lời, đưa tay ra để đỡ tôi xuống xe. “Theo những gì anh biết thì cậu ta muốn bỏ trốn cùng cô tình nhân Louise de La Tour và đứa con hoang của mình.”

Tôi lắc đầu. “Em không nghĩ vậy. Nhất là sau những điều ông Raymond nói với em ngày hôm qua. Hơn nữa, Louise bảo cô ấy không gặp cậu ta, từ khi cô ấy và Jules… thế đấy...”

Jamie khịt mũi. “Ít ra, cô ấy còn có chút nhận thức về lòng tự trọng.”

“Em không biết nó đúng hay sai,” tôi nhận xét và nắm lấy cánh tay anh, cùng leo lên bậc thang dẫn tới cửa chính. “Cô ấy bảo Charles đã rất tức giận khi Louise ngủ cùng chồng mình và cậu ta bỏ đi, họ chưa gặp lại sau lần đó. Cậu ta viết nhiều bức thư tha thiết hết lần này tới lần khác, thề thốt sẽ tới mang cô ấy cùng đứa bé đi ngay khi cậu ta trở về đúng vị trí của mình trong thế giới này. Tuy nhiên, Louise sẽ không cho phép cậu ta tới gặp mình lần nữa, bởi cô ấy vô cùng lo sợ Jules sẽ phát hiện ra sự thật.”

Jamie phát ra một âm thanh bất bình kiểu Scotland.

“Chúa ơi, có gã đàn ông nào thoát khỏi tay một người chồng bị cắm sừng chứ?”

Tôi chạm nhẹ vào cánh tay anh. “Có thể ai đó may mắn hơn những kẻ khác.”

“Em nghĩ vậy sao?” Anh nói, nhưng mỉm cười với tôi.

Cánh cửa mở ra, một tay quản gia thấp lùn, béo mập xuất hiện với cái đầu hói, bộ đồng phục tinh tươm cùng thái độ trịnh trọng hơn người.

“Thưa ngài,” ông ta nói, cúi chào Jamie, “cùng phu nhân. Chủ nhân đang đợi ngài. Xin mời vào.”

•••

Công tước vô cùng vui vẻ khi đón tiếp chúng tôi tại phòng khách chính.

“Nhảm nhí, vớ vẩn,” ông ta nói, gạt bỏ lời xin lỗi của Jamie về sự bất trắc trong bữa tiệc tối. “Mấy tay người Pháp vô cùng nhạy cảm. Chuyện gì cũng ồn ào nhặng xị. Giờ thì chúng ta hãy xem xét tất cả các đề nghị hấp dẫn này, được chứ? Và phu nhân tốt bụng của cậu sẽ muốn… ừm, tiêu khiển bằng việc ngắm nhìn… ờm?” Ông ta hất tay lơ đãng về phía tường để ngỏ câu hỏi là tôi có thể tiêu khiển bằng cách ngắm nghía vài bức tranh lớn, cái giá sách tuyệt đẹp hay mấy hộp thủy tinh chứa bộ sưu tập vỏ đựng thuốc lá của ông ta hay không.

“Cảm ơn,” tôi lẩm bẩm kèm theo một nụ cười trang nhã, thơ thẩn tiến về phía bức tường và giả bộ bị cuốn hút bởi một bức tranh lớn của Boucher[1]. Hình ảnh nổi bật trong tranh là góc nhìn sau lưng của một phụ nữ khỏa thân, đẫy đà, đang ngồi trên phiến đá giữa khung cảnh hoang dã. Nếu bà ta phản ánh thị hiếu đương thời về cơ thể của người phụ nữ thì việc Jamie tỏ ra bị ám ảnh bởi phần dưới của tôi cũng không lấy gì làm lạ.

“Ha,” tôi nói. “Sáng tạo ra quần áo để làm cái quái gì nhỉ?”

“Hửm?” Jamie cùng ngài Công tước giật mình dời mắt khỏi cặp giấy tờ đầu tư, thứ mà bề ngoài đã tạo dựng lý do cho chuyến viếng thăm của chúng tôi.

“Đừng bận tâm,” tôi nói, xua tay lịch thiệp. “Chỉ là thưởng thức nghệ thuật thôi.”

“Ta vô cùng hài lòng, thưa phu nhân,” Công tước đáp một cách lịch sự và ngay lập tức tiếp tục đắm chìm trong đống giấy tờ. Jamie bắt đầu thực hiện mục đích chính vừa khó nhọc vừa mệt mỏi của chuyến viếng thăm: âm thầm khai thác thông tin, bất kỳ lúc nào ngài Công tước sẵn lòng bày tỏ sự đồng cảm của mình - hay nói cách khác - hướng về đại nghĩa của nhà Stuart.

Tôi cũng có chương trình riêng trong chuyến thăm này. Khi các quý ông mải mê thảo luận, tôi đi lảng về hướng cánh cửa và giả bộ ngó qua các giá kệ đẹp mắt. Ngay lúc không bị để ý, tôi sẽ lẻn vào hành lang, cố gắng tìm Alex Randall. Tôi đã hoàn thành việc chữa trị những thương tổn của Mary Hawkins trong khả năng của mình; chuyện sau đó tùy thuộc vào anh ta. Bởi các quy tắc giao tiếp xã hội, Alex không thể tới nhà chú của Mary để yêu cầu gặp cô, cũng như cô không thể liên lạc với anh ta. Tuy nhiên, tôi lại có thể tạo cơ hội để họ gặp nhau tại đường Tremoulins một cách dễ dàng.

Cuộc trao đổi ở phía sau đã hạ thấp tiếng thành một chuỗi thì thầm kín đáo. Tôi ngó vào sảnh, nhưng không thấy bóng dáng người hầu nào. Tuy nhiên, họ sẽ không ở xa đây, vì một ngôi nhà lớn thế này cần có khoảng vài tá người hầu. Cũng bởi nó rộng lớn nên tôi cần xác định hướng đi chính xác để tới chỗ Alexander Randall. Tôi tùy tiện chọn một hướng và đi dọc hành lang, tìm người hầu để hỏi thăm.

Tôi trông thấy bóng người lướt qua cuối đường, liền cất tiếng gọi lớn. Người đó không trả lời, nhưng tôi nghe thấy tiếng chân hối hả bước trên sàn gỗ ốp bóng loáng.

Lối hành xử này khá kỳ lạ đối với một người hầu. Tôi dừng ở cuối hành lang và nhìn quanh. Một phòng lớn đang mở cửa, nằm vuông góc với nơi tôi đứng, trong đó, một bên là hàng cửa ra vào, bên kia là dãy cửa sổ nhìn ra con đường dẫn vào nhà và khu vườn. Phần lớn các cửa đã đóng, nhưng cánh gần tôi nhất chỉ khép hờ.

Tôi di chuyển nhẹ nhàng, bước đến và áp tai sát vách nhưng không nghe thấy tiếng động, tôi liền cầm lấy tay nắm và liều lĩnh đẩy mạnh cánh cửa.

“Nhân danh Chúa, em đang làm gì ở đây?” Tôi kinh ngạc kêu lớn.

“Ôi, bà làm em hoảng quá! Chao ôi, em tưởng mình s-sắp chết.” Mary Hawkins chống hai tay lên thân người, khuôn mặt tái nhợt và đôi mắt đen mở to kinh hãi.

“Không đâu,” tôi nói. “Tới lúc chú của em phát hiện em ở đây, chắc chắn ông ta sẽ giết em. Hay ông ta biết chuyện này?”

Cô ấy lắc đầu. “Không. Em không n-nói với ai. Em bắt một chuyến xe công cộng để đến.”

“Tại sao, vì Chúa?”

Cô ấy liếc quanh giống như con thỏ hoảng hốt tìm chỗ trú, nhưng không kiếm được chỗ nào, nên thay vào đó cô đứng thẳng người lên và nghiến răng, nói:

“Em phải tìm Alex. Em phải n-nói chuyện với anh ấy. Để xem anh ấy - nếu anh ấy...” Hai bàn tay của Mary bấu chặt lấy nhau, tôi có thể thấy cô ấy đang cố gắng để nói nên lời.

“Đừng bận tâm,” tôi cắt ngang. “Tôi hiểu. Chú của em sẽ không cho phép và ngài Công tước cũng vậy. Đức ngài không biết em ở đây chứ?”

Cô ấy lắc đầu, câm lặng.

“Tốt,” tôi nói và ngẫm nghĩ. “Vậy thì việc đầu tiên chúng ta phải làm là…”

“Thưa bà! Tôi có thể giúp gì cho bà?”

Mary giật mình như một con thỏ rừng, còn tôi cảm thấy trái tim mình như nhảy vọt ra ngoài, thật khó thở. Tên người hầu trời đánh, chẳng bao giờ xuất hiện đúng lúc đúng chỗ.

Lúc này, ngoài trơ lì thì tôi không thể làm gì khác. Tôi quay sang gã hầu đang đứng thẳng đơ như que nhồi thuốc súng ở cửa, hắn trông nghiêm trang và có vẻ nghi ngờ.

“Có,” tôi nói bằng thái độ ngạo mạn nhất có thể để đưa ra một thông báo ngắn gọn. “Vui lòng báo với ông Alexander Randall rằng có khách tới gặp.”

“Tôi e rằng tôi không làm được, thưa bà,” gã hầu trịnh trọng và lãnh đạm đáp.

“Tại sao không?” Tôi gặng hỏi.

“Bởi vì, thưa bà,” gã đáp, “ông Alexander Randall không còn là nhân viên của Đức ngài. Ông ta đã bị đuổi việc.” Gã hầu liếc nhìn Mary, sau đó hạ thấp mũi xuống khoảng một phân, thả lỏng người và nói tiếp: “Theo tôi hiểu, ông Randall đã lên thuyền quay về Anh.”

“Không! Anh ấy không thể đi, anh ấy không thể!”

Mary lao về phía cửa, suýt va phải Jamie đang bước vào. Cô giật mình dừng lại, còn anh ngạc nhiên nhìn cô chằm chằm.

“Chuyện…” Anh định nói, nhưng thấy tôi ở phía sau. “Ồ, em đây rồi, Sassenach. Anh đã xin phép đi vào tìm em - Đức ngài vừa bảo anh, Alex Randall...”

“Em biết,” tôi cắt ngang. “Anh ta đi rồi.”

“Không!” Mary rên rỉ. “Không!” Cô ấy xông tới và chạy ra ngoài, trước khi chúng tôi kịp ngăn lại, gót giày kêu lộp cộp trên sàn gỗ bóng loáng.

“Đồ ngốc chết tiệt!” Tôi đá văng đôi giày của mình, cầm váy và chạy vút theo. Với đôi chân trần, tôi sẽ chạy nhanh hơn cô gái đi guốc cao gót. Biết đâu tôi sẽ tóm được Mary trước khi cô ấy va phải người khác, để bị bắt cùng với vụ tai tiếng kia.

Tôi đuổi theo bóng chiếc váy của Mary, nó biến mất sau khúc quanh cuối hành lang. Sàn nhà ở đây được trải thảm nên nếu tôi không nhanh thì có thể sẽ mất dấu Mary tại nơi các hành lang giao nhau và không thể nghe thấy tiếng chân chỉ hướng đi của cô ấy. Tôi khom người, lao qua chỗ rẽ cuối đường và đâm sầm vào một người đàn ông tới từ lối khác.

Hắn ta giật mình, kêu lên “Ối!” khi bị tôi thúc vào giữa người. Trong lúc cả hai đang loạng choạng, người đàn ông giúp tôi đứng thẳng.

“Tôi xin lỗi,” tôi nói không ra hơi. “Ngài là - ôi, Chúa Jesus!”

Suy nghĩ ban đầu của tôi - mình vừa đụng phải Alexander Randall - không kéo dài hơn một khắc, bởi chừng đó thời gian đủ để nhìn vào đôi mắt phía trên khuôn miệng như được chạm trổ tuyệt đẹp kia. Nó rất giống khuôn miệng của Alex, bởi những đường kẻ đậm viền quanh. Tuy nhiên, đôi mắt lạnh lùng đó chỉ có thể thuộc về một người.

Cơn sốc quá mãnh liệt khiến trong chốc lát mọi thứ dường như bình thường một cách ngược đời; tôi rất muốn nói xin lỗi, phủi bụi cho hắn và tiếp tục cuộc truy đuổi của mình, bỏ quên hắn trên dãy hành lang như một cuộc chạm trán tình cờ. Tuyến thượng thận vội vàng cứu chữa bằng cách tung ra một liều adrenaline[2] vào trong máu, giữa lúc trái tim tôi co lại nhỏ như một cái nắm tay siết chặt.

Giờ thì hắn đã lấy lại nhịp thở cùng trạng thái điềm tĩnh vừa bị phá vỡ trong chốc lát.

“Tôi sẵn sàng chấp nhận tình cảm của bà, thưa phu nhân, ít nhất là cách biểu hiện của chúng.” Hắn ta vẫn giữ hai bên khuỷu tay tôi rồi đẩy tôi ra xa một chút, nheo mắt nhìn trong hành lang tối tăm. Khi khuôn mặt của tôi được đặt dưới ánh sáng, tôi trông thấy vẻ bàng hoàng làm hắn tái nhợt. “Chết tiệt, là cô!” Hắn la lớn.

“Tao nghĩ mày đã chết!” Tôi giật mạnh hai cánh tay và cố gắng giải phóng chúng khỏi cái nắm chặt như kìm sắt của Jonathan Randall.

Hắn thả một tay, xoa phần giữa ngực vừa bị thúc vào, trong lúc lạnh lùng quan sát khắp người tôi. Những nét mảnh khảnh như đường chạm khắc tinh xảo được phủ màu nâu đồng khỏe mạnh. Nhìn bề ngoài, hắn không có dấu hiệu gì chứng tỏ từng bị gần tám tấn gia súc giày xéo vào khoảng năm tháng trước. Không có gì ngoài một vết móng guốc trên trán.

“Một lần nữa, thưa phu nhân, tôi nhận thấy bản thân chia sẻ với bà sự đồng điệu về cảm xúc. Tôi từng có một lầm lẫn tương tự khi lo lắng cho tình trạng sức khỏe của bà. Có lẽ bà là một phù thủy - bà đã làm gì, hóa thân thành sói ư?” Vẻ căm ghét lẫn ngờ vực in rõ trên gương mặt của hắn, bị trộn lẫn với một chút kính sợ mê tín. Rốt cuộc, khi bạn ném ai đó vào giữa bầy sói trong đêm mùa đông giá lạnh, tốt hơn hết bạn nên mong chúng hợp tác bằng cách ăn thịt người đó ngay lập tức. Hai lòng bàn tay đầm đìa mồ hôi, trái tim đập như nhịp trống là bằng chứng của lo lắng, khi có một người bạn nghĩ đã yên nghỉ đột nhiên lại đứng trước mặt bạn. Tôi nghĩ hắn cũng cảm thấy nôn nao.

“Mày không muốn biết ư?” Mong muốn được chọc phá hắn - phá hủy thái độ bình thản lạnh lùng kia - là điều đầu tiên nổi lên giữa những xúc cảm sục sôi đang trào dâng trong tôi khi phải nhìn gương mặt hắn. Các ngón tay hắn siết chặt cánh tay tôi và đôi môi mím chặt. Tôi thấy đầu óc hắn đang hoạt động và bắt đầu đối chiếu các khả năng.

“Nếu không phải mày thì người của ngài Fletcher đã đưa xác ai ra khỏi địa lao?” Tôi gặng hỏi, cố gắng chiếm ưu thế bằng cách làm thái độ điềm tĩnh của hắn bị gián đoạn. Một người chứng kiến đã miêu tả việc dọn dẹp “một con búp bê vải cuộn tròn trong vũng máu” - có thể đoán đó là Randall - giữa cảnh đàn gia súc chạy tán loạn, che giấu vụ đào tẩu của Jamie khỏi cái địa lao đó.

Randall mỉm cười dù không có vẻ gì là hài hước. Nếu có bối rối như tôi thì hắn cũng không thể hiện ra. Dù hơi thở gấp gáp hơn thường lệ, đôi môi mím và đôi mắt nheo lại, nhưng hắn không thở hổn hển như cá mắc cạn. Tôi thì có. Tôi hít thật nhiều khí oxy trong khả năng của buồng phổi và cố gắng thở qua đường mũi.

“Đó là cấp dưới của ta, Marley. Nếu cô không trả lời câu hỏi của ta thì tại sao ta phải trả lời cô?” Hắn nhìn tôi từ trên xuống dưới, thận trọng đánh giá vẻ ngoài của tôi: váy dài bằng lụa, trang sức trên tóc, nữ trang và đôi chân đi bít tất dài.

“Kết hôn với một gã người Pháp hả?” Hắn hỏi. “Ta luôn nghĩ cô là một gián điệp người Pháp. Ta tin gã chồng mới có thể giữ cô biết thân biết phận hơn...”

Hắn ngước nhìn người vừa bước tới sau lưng tôi và từ ngữ bỗng chết tắc trong họng. Nếu tôi từng muốn làm hắn phải bối rối thì giờ đây mong muốn đó đã được đền đáp xứng đáng. Tôi chưa từng thấy Hamlet nào trên sân khấu phản ứng trước sự xuất hiện của một bóng ma bằng vẻ kinh hoàng đầy thuyết phục như gương mặt quý phái kia. Bàn tay của hắn bấu sâu vào da thịt tôi, cảm giác choáng váng đang dâng lên trong hắn như một cú sốc điện.

Tôi biết hắn thấy gì phía sau, nhưng tôi sợ phải quay lại. Một khoảng im lặng thăm thẳm bao trùm căn phòng, thậm chí tiếng tán cây bách cọ vào các khung cửa sổ ngoài kia chỉ là một phần của sự tĩnh lặng dưới đáy biển sâu, còn sự im lặng đó tạo nên những con sóng ầm ầm ập vào hai tai. Tôi gỡ đôi tay của hắn thật chậm rãi, chúng liền buông thõng xuống hai bên người. Dù có thể nghe tiếng động phát ra từ căn phòng cuối sảnh nhưng tôi không thấy một âm thanh nào vang lên sau lưng. Tôi cầu nguyện cho cánh cửa kia cứ im lìm như thế và tuyệt vọng nhớ lại tình trạng vũ trang của Jamie.

Tâm trí của tôi trở nên trống rỗng rồi bừng sáng bởi hình ảnh thanh kiếm nhỏ treo trên móc trong tủ quần áo, ánh mặt trời lấp lánh dọc phần cán tráng men. Tất nhiên, anh vẫn còn dao găm và dao nhỏ thường mang dưới tất. Tôi tin chắc rằng nếu cần thiết, anh sẽ nghĩ đến việc chiến đấu bằng tay không, để phù hợp với hoàn cảnh. Nếu bạn quan tâm tới tình trạng hiện tại của tôi đứng giữa hai người họ như một nhúm… Tôi nuốt nước bọt và chầm chậm quay người.

Anh đứng yên, cách tôi khoảng một mét. Một cánh cửa kính gần đó đang mở, cây bách lá kim đổ những khoảng bóng loang lổ rung rinh lên người anh, tựa như nước trên mặt đá chìm dưới đáy hồ. Và anh cũng không biểu hiện gì hơn y như một tảng đá. Mọi thứ tồn tại đằng sau đôi mắt kia đều không thể hiện ra, vì chúng mở lớn và trống rỗng như ô kính cửa sổ, như thể linh hồn mà chúng phản chiếu đã bay đi từ lâu.

Anh không nói gì nhưng sau một lát, anh đưa tay về phía tôi, cánh tay mở rộng, lơ lửng trong không trung. Cuối cùng, tôi tập trung tinh thần, nắm lấy nó như nắm lấy thanh gỗ cứu sinh vừa lạnh vừa cứng.

Anh kéo tôi vào gần người, nắm cánh tay tôi, xoay người đi không nói một lời, nét mặt không thay đổi. Khi chúng tôi đi đến chỗ rẽ cuối hành lang, Randall lên tiếng:

“Jamie,” hắn nói. Giọng khàn khàn, choáng váng, một âm sắc lơ lửng giữa hoài nghi và van xin.

Jamie liền dừng bước, quay người nhìn hắn. Khuôn mặt của Randall trắng bệch như xác chết, với một vết đỏ tím tái trên xương gò má. Hắn đã tháo bộ tóc giả, siết chặt nó trong tay, mồ hôi làm phần tóc đen bóng mượt ở hai bên thái dương bết lại.

“Không.” Giọng nói từ phía trên đầu tôi khẽ vang lên gần như vô cảm. Tôi ngước mắt và thấy anh vẫn giữ được khuôn mặt phù hợp với giọng nói, tuy nhiên mạch đập ở cần cổ đã trở nên nhanh hơn và nóng bỏng, cả vết sẹo hình tam giác bên trên cổ áo cũng đỏ ửng.

“Ta được gọi là Lãnh chúa Broch Tuarach, theo cách xưng hô trang trọng,” giọng Scotland khẽ cất lời. “Và ngoài những lễ nghi giao tiếp, ngươi sẽ không được nói với ta thêm lần nào nữa - đến khi ngươi van xin ta tha mạng dưới mũi kiếm của ta. Sau đó, ngươi có thể nhắc tới tên ta, bởi nó sẽ là từ cuối cùng ngươi được nói.”

Anh đột ngột quay người một cách thô bạo, làm chiếc váy kẻ sọc xòe rộng, chắn tầm nhìn của tôi về phía Randall khi chúng tôi rẽ ở cuối hành lang.

•••

Cỗ xe ngựa vẫn đợi ngoài cổng. Tôi sợ phải nhìn Jamie nên trèo ngay vào trong và chăm chú xếp nếp chiếc váy lụa vàng quanh chân. Tiếng cửa xe đóng lại làm tôi phải ngước nhìn, nhưng trước khi tôi kịp với tới tay nắm, chiếc xe đột ngột giật mạnh rồi di chuyển, quăng tôi trở về chỗ ngồi của mình.

Tôi vùng vẫy và chửi thề, vật lộn giữ thăng bằng và ngó qua cửa sổ đằng sau. Anh đã bỏ đi. Chẳng còn gì trên con đường ngoài những cái bóng đung đưa của cây bách, cây dương.

Tôi điên cuồng đập vào nóc xe, nhưng tay đánh xe chỉ quát lũ ngựa, thúc chúng chạy nhanh hơn. Vào giờ này, giao thông thưa thớt nên chúng tôi phóng ầm ầm qua các con phố chật hẹp, như thể ma quỷ đuổi theo đằng sau.

Khi chiếc xe dừng trên đường Tremoulins, tôi nhảy ra khỏi xe ngay lập tức, giận dữ và hoảng loạn.

“Tại sao anh không dừng xe?” Tôi yêu cầu tay đánh xe trả lời. Gã nhún vai, trơ trơ ngồi yên ổn trên chỗ của mình.

“Ông chủ yêu cầu tôi đưa bà về nhà không trì hoãn, thưa phu nhân!” Gã cầm chiếc roi da và chạm nhẹ vào mông con ngựa đang nghỉ.

“Đợi đã!” Tôi hét. “Tôi muốn quay lại!”

Tuy nhiên, gã chỉ khom người thu vai như con rùa, giả bộ không nghe thấy tôi nói và chiếc xe vội vã biến mất.

Tôi nổi giận bởi cảm thấy bất lực, liền quay về hướng cửa, đúng lúc bắt gặp cái dáng nhỏ bé của Fergus xuất hiện trên thềm nhà, đôi lông mày mảnh của cậu nhóc nhướng cao thắc mắc vì sự hiện diện của tôi.

“Murtagh đâu?” Tôi gắt. Người tộc viên nhỏ bé kia là người duy nhất tôi nghĩ tới: thứ nhất, ông có khả năng tìm thấy Jamie; và thứ hai, ông có thể ngăn cản anh.

“Cháu không biết, thưa phu nhân! Có thể ở dưới phố.” Cậu nhóc hất đầu về hướng đường Gamboge, ở đó có vài quán rượu, được sắp xếp trình tự dựa theo mức độ đứng đắn; từ những nơi mà một quý bà thích nay đây mai đó có thể tới ăn tối với chồng đến các khu ổ chuột gần bờ sông mà một người đàn ông có vũ khí cũng ngại tiến vào đó một mình.

Tôi đặt tay lên vai Fergus, thể hiện sự ủng hộ, ngang với một lời cổ vũ.

“Chạy đi tìm ông ấy đi, Fergus! Hãy nhanh nhất có thể!”

Cậu nhóc được âm điệu giọng nói của tôi báo động, liền nhảy xuống bậc cửa và biến mất trước khi tôi kịp nói thêm câu: “Cẩn thận!” Dù vậy, Fergus biết về cuộc sống của tầng lớp dưới đáy Paris nhiều hơn tôi; không người nào phù hợp để luồn lách qua một quán rượu đông nghịt người hơn một kẻ từng hành nghề móc túi. Ít nhất, tôi hy vọng cậu nhóc không còn là kẻ móc túi nữa.

Tuy nhiên, tôi không thể lo lắng hết mình khi nghĩ đến hình ảnh Fergus bị bắt và treo cổ, bởi cảnh tượng do những lời cuối cùng Jamie nói với Randall gợi lên.

Chắc chắn. Chắc chắn anh sẽ không quay trở vào nhà của Công tước! Không, tôi quả quyết với bản thân. Anh không có kiếm. Cho dù anh đang xúc động - mà mỗi lần nghĩ tới, tâm hồn tôi lại bị cuốn sâu vào trong những cảm xúc đó - thì anh cũng sẽ không hành xử bốc đồng. Tôi từng thấy anh chiến đấu trước kia, tâm trí hoạt động một cách điềm tĩnh, lạnh lùng, chia cắt hoàn toàn mối dây liên hệ với những cảm xúc có thể che khuất óc phán đoán. Lần này, trên hết thảy, chắc chắn anh sẽ tôn trọng tuyệt đối các lề thói. Anh sẽ tìm kiếm những quy định cứng nhắc, những cách thức thỏa mãn danh dự, như một nơi ẩn náu - một thứ để bấu víu, nhằm chống chọi lại con nước đang làm anh chao đảo, cùng khát khao chém giết và báo thù trào dâng tận trong xương tủy.

Tôi dừng lại ở sảnh, trút bỏ chiếc áo choàng một cách máy móc và đứng trước gương để chỉnh sửa mái tóc. Nghĩ đi, Beauchamp, tôi thầm thúc giục hình ảnh nhợt nhạt phản chiếu trong gương. Nếu anh ấy đấu tay đôi thì điều đầu tiên anh ấy cần là gì?

Một thanh kiếm? Không, không thể. Thanh kiếm của anh ở trên gác, treo trong tủ áo. Anh có thể dễ dàng mượn một thanh nhưng tôi không nghĩ anh sẽ bắt đầu cuộc đọ kiếm tay đôi quan trọng nhất trong cuộc đời bằng thứ vũ khí không phải của mình. Người cậu của anh, Dougal MacKenzie, đã tặng thanh kiếm ấy cho anh vào năm anh mười bảy tuổi và theo dõi việc rèn luyện, dạy anh các mánh khóe cũng như điểm mạnh của một kiếm sĩ tay trái bằng thanh kiếm này. Dougal đã bắt anh luyện tập, tay trái đối đầu với tay trái, trong nhiều giờ liên tục, cho tới lúc, như anh kể với tôi, anh cảm thấy thanh kiếm kim loại Tây Ban Nha ấy trở nên sống động như chính cánh tay anh được nối dài, như phần cán kiếm được hàn vào lòng bàn tay. Jamie đã nói anh cảm thấy mình trần trụi mỗi khi không có nó. Và đây không phải là trận đấu mà anh để mình khỏa thân bước vào.

Không, nếu anh cần một thanh kiếm ngay tức khắc, anh sẽ về nhà để lấy. Tôi nóng lòng luồn tay qua mái tóc, cố gắng suy nghĩ. Chết tiệt, nghi thức đấu tay đôi là gì? Trước khi cần tới kiếm thì chuyện gì sẽ diễn ra? Một lời thách đấu, hiển nhiên rồi. Những lời của Jamie trong hành lang đã đủ tạo thành lời thách đấu chưa? Tôi từng mơ hồ nghe nói về chuyện bị vỗ găng tay vào mặt, nhưng không biết hành động này là nghi thức thực sự hay chỉ đơn thuần là tác phẩm của ký ức, được tạo ra bởi trí tưởng tượng của nhà làm phim.

Và rồi tôi chợt nghĩ ra. Đầu tiên là thách đấu, kế đến là sắp đặt địa điểm - một nơi phù hợp, kín đáo, không bị cảnh sát hay đội Cảnh vệ Hoàng gia để ý. Để chuyển lời thách đấu và sắp đặt địa điểm, anh cần một trợ thủ. A! Đây là nơi tiếp theo anh tới, đi tìm trợ thủ của mình. Murtagh.

Dẫu cho Jamie có tìm thấy Murtagh trước Fergus thì vẫn còn nhiều nghi thức cần dàn xếp. Tôi bắt đầu dễ thở hơn, mặc cho trái tim vẫn đập mạnh, còn hàng dây nịt dường như vẫn thít chặt. Không có người hầu nào xuất hiện trong tầm mắt nên tôi giật mạnh dây nịt để nới lỏng và hít một hơi thật sâu căng tràn lồng ngực.

“Ta không biết cô đang tận hưởng thói quen cởi đồ trong hành lang, hay đáng lẽ ta nên ở yên trong phòng khách nhỏ?” Một giọng Scotland mỉa mai vang lên sau lưng.

Tôi quay phắt lại, tim giật thót. Người đàn ông đang đứng bên cửa phòng khách nhỏ, căng mình và mở rộng hai cánh tay neo chặt vào khung cửa, có thân hình cao lớn gần bằng Jamie, cùng vẻ duyên dáng tương tự thể hiện trong từng chuyển động và khí chất trầm tĩnh tương đồng. Tuy mái tóc đen huyền nhưng đôi mắt sâu màu lục đã mờ. Dougal MacKenzie đột ngột xuất hiện trong căn nhà, như được mời ra từ suy nghĩ của tôi. Thật linh nghiệm!

“Nhân danh Chúa, ông làm gì ở đây?” Dù trái tim của tôi vẫn đập thình thịch, nhưng cơn sốc vì trông thấy ông ta đã lắng xuống. Tôi chưa ăn gì từ sau bữa sáng, cơn buồn nôn lại bất ngờ ập tới. Ông ta bước đến và nắm lấy cánh tay tôi, kéo tôi tới chiếc ghế bành.

“Ngồi xuống, cô gái,” ông ta nói. “Cô sẽ không cảm thấy được chính xác tình trạng sức khỏe của mình đâu.”

“Ông thật tinh tường,” tôi đáp. Những đốm đen đang lơ lửng trong tầm nhìn của tôi và nhiều tia sáng chập chờn nhảy múa trước mắt. “Thứ lỗi cho tôi,” tôi lịch sự nói, rồi cúi gập người giữa hai đầu gối.

Jamie. Frank. Randall. Dougal. Các khuôn mặt chớp nhoáng hiện ra trong đầu tôi, những cái tên rung lên bên tai tôi. Lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi, tôi ép chúng xuống dưới hai bên cánh tay và ôm lấy bản thân nhằm ngăn cản cơn run rẩy vì bị sốc. Điều quan trọng là Jamie sẽ không đối đầu với Randall ngay lập tức. Tôi chỉ có rất ít thời gian suy nghĩ để ngăn cản chuyện này. Nhưng là chuyện gì? Tôi bỏ mặc tiềm thức đang vật lộn với câu hỏi hóc búa ấy và cố gắng hít thở thật chậm, tập trung vào vấn đề trong tầm tay.

“Tôi hỏi lại,” tôi nói, ngồi thẳng dậy, vuốt mái tóc ra sau, “ông tới đây để làm gì?”

Đôi lông mày đen nhướng cao.

“Ta cần có lý do để tới thăm họ hàng hay sao?”

Tuy vẫn nếm thấy vị đắng sâu trong họng, nhưng ít nhất hai bàn tay tôi đã ngừng run rẩy.

“Đúng, trong nhiều trường hợp,” tôi đáp rồi vươn mình, không để tâm tới đám dây nịt bị nới lỏng, với lấy bình đựng rượu brandy. Đoán trước được điều đó, Dougal cầm một cái ly từ khay và rót vào khoảng bằng một thìa cà phê đầy. Sau khi liếc mắt cân nhắc, ông ta đổ thêm gấp đôi chỗ đó.

“Cảm ơn,” tôi nói cộc lốc, nhận lấy cái ly.

“Nhiều trường hợp ư? Và chúng là những trường hợp nào?” Không đợi câu trả lời hay sự cho phép từ tôi, ông ta điềm nhiên rót rượu vào một ly khác cho chính mình, sau đó nâng ly chúc. “Vì Bệ hạ.”

Tôi cảm thấy miệng mình méo xệch. “Tôi đoán là Vua James?” Tôi hớp một ngụm nhỏ từ ly của mình, cảm nhận hơi nóng thơm tho hun đốt những lớp màng sau mắt. “Và phải chăng sự kiện tới Paris lần này đồng nghĩa với việc ông đã thuyết phục được Colum nghe theo chính kiến của mình?” Tuy Dougal MacKenzie là một người theo phái Jacobite nhưng anh trai Colum của ông ta mới là người lãnh đạo thị tộc MacKenzie của xứ Leoch. Vì đôi chân tàn tật và bị cong queo bởi một căn bệnh gây dị dạng nên Colum không còn khả năng dẫn quân ra trận, do đó Dougal trở thành thủ lĩnh quân sự. Nhưng cho dù Dougal cầm đầu quân lính trên chiến trường thì Colum vẫn là người giữ quyền quyết định trận chiến mà họ sẽ tham gia.

Dougal phớt lờ câu hỏi của tôi, uống cạn chỗ rượu rồi rót đầy một ly khác ngay lập tức. Ông ta thưởng thức ngụm rượu đầu, đảo quanh vòm miệng và khi nuốt xuống còn liếm giọt cuối cùng trên môi.

“Không tồi,” ông ta nói. “Ta phải đem một ít về cho Colum. Anh ấy cần thứ mạnh hơn rượu vang một chút để yên giác mỗi đêm.”

Đây là câu trả lời gián tiếp cho câu hỏi của tôi. Tình trạng của Colum đang trầm trọng hơn. Cơ thể của ông ta luôn bị những cơn đau bệnh tật hành hạ, Colum phải dùng rượu vang pha rượu mạnh vào mỗi tối để ngủ được. Giờ ông ta cần rượu brandy loại mạnh. Tôi tự hỏi còn bao lâu nữa thì ông ta buộc phải dùng đến thuốc phiện để giảm đau.

Và khi ngày đó tới, thời kỳ lãnh đạo thị tộc của ông ta cũng kết thúc. Tuy bị tước mất sức mạnh thể chất nhưng ông ta vẫn có thể điều khiển mọi người nhờ vào nghị lực phi thường. Nếu ngay cả sức mạnh lý trí của Colum cũng bị mất đi, bởi cơn đau và thuốc phiện, thì thị tộc sẽ có một chỉ huy mới - Dougal.

Tôi chăm chú quan sát Dougal qua thành ly rượu. Ông ta không hề ngần ngại đáp trả ánh mắt của tôi bằng một nụ cười mỉm trên khuôn miệng rộng của nhà MacKenzie. Gương mặt kia có nhiều nét giống người anh trai - cũng như cháu trai của ông ta - mạnh mẽ, đẹp như tạc, với hai gò má cao và rộng, cùng chiếc mũi dài thẳng tắp tựa lưỡi dao.

Từ khi còn là một chàng trai mười tám tuổi, ông ta đã thề sẽ ủng hộ vị trí trưởng tộc của anh trai và đã giữ lời thề gần ba mươi năm ròng. Tôi biết rằng ông ta sẽ giữ vững nó cho tới ngày Colum qua đời, hoặc không thể lãnh đạo thêm nữa. Nhưng một khi chiếc áo choàng của vị thủ lĩnh được đặt lên vai ông ta thì những chiến binh của thị tộc MacKenzie sẽ được Dougal chỉ huy, đi theo huy hiệu của xứ Scotland, theo lá cờ của Vua James, trong đội quân tiên phong của Hoàng tử Charlie Xinh đẹp.

“Những trường hợp nào ư?” Tôi quay trở về câu hỏi ban đầu. “Đúng thế, tôi không nghĩ một người tinh tế bậc nhất lại cân nhắc đến việc đi thăm đôi vợ chồng mà một kẻ từng bị mình bỏ mặc cho chết, còn một kẻ từng bị mình gạ gẫm đâu.”

Dougal MacKenzie chỉ bật cười. Tôi tự hỏi, không biết chuyện gì có thể khiến ông ta mất bình tĩnh, nhưng chắc chắn nếu có một ngày nó xảy ra thì tôi hy vọng mình cũng có mặt để chứng kiến.

“Gạ gẫm ư?” Ông ta cong môi thích thú. “Ta đề nghị cô chuyện kết hôn.”

“Theo như tôi nhớ thì ông đề nghị chuyện cưỡng hiếp,” tôi bật lại. Thực ra, ông ta đã đề nghị chuyện kết hôn, đúng hơn là cưỡng ép, sau khi từ chối giúp tôi giải cứu Jamie khỏi nhà ngục Wentworth hồi mùa đông năm ngoái. Tuy động cơ chính là quyền sở hữu Lallybroch của Jamie, thứ sẽ thuộc về tôi sau khi Jamie qua đời, nhưng ông ta cũng hoàn toàn cảm thấy thoải mái khi nghĩ tới những phần thưởng nhỏ kèm theo cuộc hôn nhân, ví dụ như thường xuyên được hưởng khoái lạc trên thân thể tôi.

“Về chuyện bỏ mặc Jamie trong tù,” ông ta tiếp lời, phớt lờ tôi như thường lệ, “thời điểm đó, không có cách nào để đưa nó ra khỏi ngục, cũng thật vô lý nếu đẩy những người tốt dấn thân vào một cuộc tấn công vô ích. Nó là người hiểu điều này đầu tiên. Và với tư cách họ hàng, bổn phận của ta là đề nghị bảo vệ vợ của nó, nếu trường hợp xấu nhất xảy ra. Ta là cha nuôi của chàng trai này, phải không nào?” Ông ta ngửa cổ ra sau, uống cạn ly rượu.

Tôi vội uống một ngụm lớn để không bị tức nghẹn. Dòng rượu hừng hực đang trôi xuống cổ họng và thực quản cũng dâng hơi nóng lên hai gò má của tôi. Ông ta nói đúng; Jamie đã không trách cứ thái độ miễn cưỡng của ông ta lúc tấn công nhà ngục Wentworth - anh cũng không muốn tôi làm vậy, chỉ là nhờ một phép mầu nhiệm mà tôi mới thành công. Thế nhưng khi tóm tắt lại ý định kết hôn của Dougal với Jamie, tôi đã cố gắng tránh đề cập tới khía cạnh xác thịt trong đó. Xét cho cùng, tôi chẳng bao giờ muốn gặp lại Dougal MacKenzie.

Từ kinh nghiệm trong quá khứ, tôi biết ông ta là kẻ cơ hội. Khi có lệnh treo cổ Jamie, ông ta thậm chí không đợi tới lúc thi hành án đã cố gắng giữ chặt lấy tôi cùng khối tài sản được thừa kế. Nếu - không, tôi tự sửa lại lời mình - khi Colum qua đời hoặc trở nên vô dụng, Dougal sẽ tiếp nhận toàn bộ quyền điều khiển thị tộc MacKenzie trong vòng một tuần. Và nếu Charles Stuart tìm thấy sự ủng hộ hằng mong mỏi thì đó chính là từ chỗ Dougal. Sau cùng, ông ta có khá nhiều kinh nghiệm trong việc trở thành một sức mạnh đứng phía sau vương quyền.

Tôi lật úp chiếc ly và đánh giá tình hình. Colum có nhiều mối làm ăn tại Pháp, phần lớn là ngành rượu và ngành gỗ. Vậy lý do cho chuyến viếng thăm Paris của Dougal không có gì lạ, dù đây chỉ là cái cớ bên ngoài. Tôi tin rằng ông ta còn nhiều lý do khác. Và sự xuất hiện của Hoàng tử Charles Edward Stuart ở thành phố này chắc chắn là một trong số đó.

Nếu phải nói một điều về Dougal MacKenzie thì đó là việc chạm trán ông ta có thể gây kích thích quá trình tư duy, bởi nhu cầu cấp thiết được đặt ra lúc này là thấu hiểu những điều ông ta thực sự ám chỉ, ở mỗi giây mỗi phút. Trước nguồn cảm hứng từ sự hiện diện của Dougal, cũng như từ ngụm lớn rượu brandy Bồ Đào Nha, tiềm thức của tôi nảy ra một ý tưởng.

“Được rồi, cứ cho là vậy đi, tôi mừng vì bây giờ ông ở đây,” tôi lên tiếng, đặt cái ly rỗng lên khay.

“Thật sao?” Đôi lông mày đen rậm nhướng cao.

“Phải.” Tôi đứng dậy, ra hiệu về phía sảnh. “Mang cái áo khoác lại đây, tôi phải sửa lại đám dây nịt này trước đã. Tôi cần ông đi cùng đến commissariat de police.”

Chỉ cần quan sát ông ta há hốc miệng vì ngạc nhiên cũng đủ khiến tia hy vọng đầu tiên lóe lên trong tôi. Nếu tôi có thể gây bất ngờ cho Dougal Mackenzie thì chắc chắn tôi cũng ngăn cản được trận đấu tay đôi này chứ?

•••

“Cô có muốn nói cho ta biết cô định làm gì không?” Dougal thắc mắc khi chiếc xe ngựa nẩy tưng tưng trên con đường gần Cirque du Mireille. Chúng tôi vừa kịp thời tránh khỏi một chiếc xe bốn bánh đang lao tới và một chiếc xe bò chất đầy rau củ.

“Không,” tôi trả lời ngay, “nhưng tôi nghĩ mình nên nói. Ông có biết Jack Randall vẫn còn sống không?”

“Ta chưa từng nghe tin gã này chết,” Dougal trả lời thật hợp lý.

Tôi sững người một lát. Tất nhiên ông ta nói đúng, chúng tôi nghĩ rằng Randall đã chết chỉ vì lúc giải cứu Jamie khỏi ngục Wentworth, ngài Marcus MacRannoch đã nhận nhầm cái xác bị giẫm nát của tên lính là hắn. Đương nhiên sẽ chẳng có tin tức nào về cái chết của Randall lan truyền khắp vùng cao nguyên Scotland bởi chuyện đó chưa từng xảy ra. Tôi cố gắng tập hợp các tính toán tản mát của mình.

“Hắn không chết,” tôi bổ sung. “Nhưng hắn đang ở Paris.”

“Tại Paris?” Điều này đã thu hút sự chú ý của ông ta; hai hàng lông mày nhướng cao cùng đôi mắt mở lớn bởi ý nghĩ tiếp theo.

“Jamie đâu rồi?” Ông ta hỏi gọn lỏn.

Tôi mừng vì ông ta nắm bắt được vấn đề chính ngay lập tức. Dù không biết chuyện gì đã xảy ra giữa Jamie và Randall trong nhà ngục Wentworth - thực tế thì không ai được phép biết, ngoại trừ Jamie, Randall, và ở một mức độ nào đó, cả tôi nữa - nhưng ông ta biết những hành động trước kia của Randall đủ để hiểu chính xác điều đầu tiên Jamie muốn làm khi chạm trán hắn tại đây, ở nơi cách xa sự bảo hộ của nước Anh.

“Tôi không biết,” tôi đáp và ngó ra ngoài cửa sổ. Chiếc xe đang băng qua Les Halles[3]. Mùi cá hôi tanh từ bên ngoài xộc vào trong buồng xe khiến tôi phải lấy chiếc khăn tay tẩm nước hoa che mũi và miệng. Mùi hương nồng và gắt của quả cây lộc đề chẳng ăn nhập chút nào với không gian hôi thối của cả tá sạp cá chình ngoài kia, tuy vậy cũng giúp tôi đôi chút. Tôi nói qua các nếp vải nhiều mùi vị.

“Hôm nay chúng tôi đã chạm trán Randall tại nhà của Công tước Sandringham. Jamie bảo tay xà ích đưa tôi về trước, từ lúc đó tôi chưa gặp lại anh ấy.”

Cả mùi cá tanh lẫn tiếng rao khàn khàn của mụ hàng cá đều không khiến Dougal bận tâm. Ông ta cau mày nhìn tôi.

“Có chắc nó sẽ xử lý tên kia không?”

Tôi lắc đầu và nói ra suy nghĩ của mình về chuyện thanh kiếm.

“Tôi không thể để mặc cho trận đấu này diễn ra,” tôi buông chiếc khăn tay để tuyên bố rõ ràng. “Không bao giờ!”

Dougal gật đầu lơ đãng.

“Đúng, thật là nguy hiểm! Anh chàng này sẽ chiến thắng Randall một cách dễ dàng vì ta dạy nó mà,” ông ta khoe, “nhưng bản án cho việc đấu tay đôi thì...”

“Chính xác,” tôi nói.

“Được,” ông ta từ tốn hỏi. “Nhưng tại sao lại tới đồn cảnh sát? Đừng nói cô định bắt nhốt chàng trai này trước đây! Nó là chồng của cô mà!”

“Không phải Jamie,” tôi đáp, “là Randall.”

Ông ta cười, không chút hoài nghi.

“Ồ, vậy sao? Cô định làm thế nào?”

“Tôi cùng một cô bạn… bị tấn công trên phố vào đêm hôm trước,” tôi nén lòng nhớ lại những ký ức kia để trình bày với ông ta. “Bọn chúng mang mặt nạ nên tôi không thể nhận diện. Tuy nhiên, một tên trong số chúng có vóc dáng và chiều cao tương tự Jonathan Randall. Tôi sẽ nói mình đã gặp Randall hôm nay và nhận ra hắn ta là một trong số những kẻ tấn công.”

Đôi lông mày của Dougal nhướng lên rồi nhíu lại. Ánh mắt điềm tĩnh quan sát tôi chăm chú. Đột nhiên, từ đánh giá ban đầu, ông ta nảy ra một suy xét mới.

“Lạy Chúa, cô quả là có gan hùm. Một vụ cướp sao?” Ông ta nhẹ nhàng hỏi. Trái với mong chờ của mình, tôi cảm thấy cơn thịnh nộ dâng lên hai má.

“Không,” tôi rít qua kẽ răng.

“À.” Ông ta ngả lưng ra sau, vẫn nhìn tôi chằm chằm. “Nhưng cô không bị tổn hại chứ?” Tôi đã phải liếc mắt sang bên để quan sát con phố đang lướt qua bên ngoài, vậy mà vẫn cảm nhận được ánh mắt của ông ta săm soi trên cổ áo rồi men theo đường cong bên hông tôi.

“Không,” tôi đáp, “Nhưng bạn tôi thì…”

“Ta hiểu.” Ông ta im lặng trong chốc lát, sau đó trầm ngâm lên tiếng. “Cô đã từng nghe nói về “Les Disciples[4]” rồi phải không?”

Tôi quay phắt đầu nhìn ông ta. Dougal đang uể oải tựa người vào góc buồng xe, giống như một con mèo thu mình quan sát tôi qua đôi mắt nheo lại dưới ánh mặt trời.

“Không. Là gì vậy?” Tôi hỏi.

Ông ta nhún vai, ngồi thẳng dậy, ngắm nhìn kích thước đồ sộ của Quai des Ortèvres[5] đang dần tiến tới gần phía sau tôi, tòa kiến trúc màu xám ảm đạm như đang lững lờ trôi trên bề mặt sông Seine lấp lánh ánh vàng.

“Một hội nhóm, hoặc tương tự. Các chàng trai trẻ, con nhà dòng dõi, cùng có sở thích với những điều… không lành mạnh, vậy đấy!”

“Nói đi,” tôi giục. “Ông biết gì về Les Disciples?”

“Ta nghe được vài điều ở một quán trọ trong thành phố,” ông ta nói tiếp. “Nhóm người này yêu cầu rất nhiều từ các thành viên và cái giá cho lễ kết nạp khá cao… vì có những tiêu chuẩn.”

“Đó là gì?” Tôi dùng ánh mắt để thách thức, nhưng ông ta chỉ mỉm cười trước khi trả lời.

“Một thứ là trinh tiết. Thứ nữa là đôi núm vú của phụ nữ đã kết hôn.” Ông ta liếc nhanh xuống ngực tôi. “Bạn của cô vẫn còn trinh, phải không? Hay là đã từng?”

Cơ thể tôi thay đổi liên tục, lúc nóng, lúc lạnh. Tôi lấy chiếc khăn ra lau mặt nhưng phải đến lần thứ hai mới nhét được nó trở vào túi áo khoác, bởi bàn tay đang run lẩy bẩy.

“Đã từng. Ông còn nghe được gì nữa? Ông có biết người nào liên quan tới hội Les Disciples này không?”

Dougal lắc đầu. Một vài sợi bạc ở chỗ tóc mai màu nâu nhạt sáng lên dưới ánh nắng chiều.

“Chỉ có tin đồn thôi. Tử tước de Busca, công tử út nhà Charmisse - có lẽ cả Bá tước St. Germain. Ấy! Cô ổn không vậy, cô gái?”

Ông ta hoảng hốt nghiêng người tới trước, quan sát tôi thật kĩ.

“Ổn,” tôi cố gắng hít thở thật sâu bằng mũi. “Hết sức ổn.” Tôi lôi chiếc khăn tay ra để lau mồ hôi lạnh trên lông mày.

“Chúng tôi không có ý làm hại bà, thưa phu nhân!” Giọng nói mỉa mai đó vẫn còn vang vọng giữa bóng tối của miền ký ức trong tôi. Gã mặc áo xanh có chiều cao vừa phải, nước da ngăm đen, cùng dáng người mảnh khảnh và đôi vai hẹp. Nếu lời miêu tả trên trùng khớp với nhân dạng của Jonathan Randall thì nó cũng phù hợp với Bá tước St. Germain. Thế nhưng tôi phải nhận ra giọng của hắn chứ? Người thường sao có thể điềm nhiên ngồi đối diện với tôi, ăn món kem trứng cá hồi và trò chuyện kiểu cách như vậy suốt bữa tối mà chỉ cách vụ xô xát trên đường du Faubourg St.-Honoré có hai tiếng đồng hồ?

Nếu nghĩ một cách logic, tại sao lại không nhỉ? Rốt cuộc, chính tôi đã làm được. Nếu tin đồn là thực thì dựa trên các quy chuẩn cá nhân, tôi cũng không có lý do đặc biệt nào để coi gã Bá tước như một người bình thường.

Chiếc xe ngựa đã dừng, tôi chỉ có rất ít thời gian để suy tính; Tuy sẽ đảm bảo được sự an toàn cho kẻ thù bất đắc dĩ của Jamie nhưng liệu tôi có để sổng kẻ đáng phải chịu trách nhiệm cho vụ hãm hiếp Mary không? Tôi run run hít một hơi thật sâu và thầm nghĩ, ôi, sự lựa chọn chết tiệt. Sự sống là quan trọng nhất, còn công bằng có thể đợi tới lượt sau.

Xà ích vừa bước xuống đất, liền với lấy tay nắm cửa. Tôi vẫn ngồi cắn môi và liếc nhìn Dougal MacKenzie. Ông ta đáp lại bằng cách khẽ nhún vai. Tôi muốn gì từ ông ta nhỉ?

“Ông sẽ hỗ trợ câu chuyện của tôi chứ?” Tôi đột ngột cất lời.

Ông ta ngước nhìn tòa trụ sở Quai des Ortèvres. Ánh mặt trời chói lọi của buổi chiều tà đang tỏa sáng rực rỡ bên kia những khung cửa mở.

“Cô chắc chứ?” Ông ta hỏi.

“Vâng.” Tôi cảm thấy miệng mình khô khốc.

Dougal chuyển sang băng ghế đối diện và đưa tay cho tôi.

“Vậy thì cầu Chúa phù hộ cho chúng ta không phải kết thúc đời mình trong ngục,” ông ta nói.

•••

Một tiếng sau, hai chúng tôi bước xuống con phố vắng người bên ngoài commissariat de police. Tay xà ích được sai về nhà trước vì tôi không muốn người quen thấy chiếc xe bên ngoài Quai des Ortèvres. Dougal đưa cánh tay ra để tôi khoác. Đất dưới chân quá lầy lội và đám sỏi trên mặt đường không đủ chắc chắn cho một đôi guốc cao gót.

“Les Disciples,” tôi lên tiếng khi cả hai chầm chậm bước dọc theo bờ sông Seine, hướng về phía các tòa tháp của nhà thờ Đức Bà. “Ông có nghĩ Bá tước St. Germain là một trong số những kẻ… chặn đường chúng tôi trên phố du Faubourg St.-Honoré không?” Cơ thể tôi bắt đầu run rẩy vì phản ứng lại suy nghĩ đó, vì mỏi mệt và cả cơn đói; từ sau bữa sáng tới giờ, tôi chưa ăn thêm, nên cảm giác trống rỗng trong dạ dày dần hiện ra rõ rệt. Chính ý chí đã giúp tôi vượt qua buổi thẩm vấn của cảnh sát, nhưng giờ đây, khi nhu cầu suy nghĩ chấm dứt thì cùng với nó, trí thông minh cũng nghỉ ngơi.

Cánh tay cứng cáp của Dougal nằm bên dưới bàn tay tôi, nhưng tôi không thể ngước nhìn ông ta, vì phải tập trung toàn bộ vào từng bước đi. Chúng tôi rẽ sang đường Elise, đám sỏi ở đây sáng lấp lánh bởi hơi ẩm và có đôi chỗ lấm bẩn. Một tay cửu vạn đang kéo lê cái sọt đựng hàng hóa, bỗng dừng lại trên lối đi, húng hắng giọng rồi khạc nhổ xuống nền đường ngay dưới chân tôi. Cục đờm màu xanh dính vào bề mặt cong cong của một viên sỏi, sau đó trượt xuống, nổi lềnh phềnh trên vũng nước bùn nằm trong lỗ trống của một viên sỏi bị mất.

“Ừm.” Dougal nhìn xuôi ngược cả con phố để tìm một chiếc xe ngựa, nhăn trán suy nghĩ. “Không thể nói trước được, ta từng nghe nhiều chuyện tồi tệ hơn về hắn, nhưng lại chưa có vinh dự gặp mặt.” Ông ta liếc tôi.

“Cô có tầm nhìn xa đấy,” ông ta nói. “Nội trong giờ này, họ sẽ bắt Jack Randall vào ngục Bastille. Nhưng sớm muộn gì họ cũng thả hắn ra mà ta thì không mong chờ vào khả năng Jamie sẽ nguôi cơn thịnh nộ trong khoảng thời gian đó. Cô có muốn ta nói chuyện để thuyết phục Jamie thôi làm chuyện dại dột không?”

“Đừng! Vì Chúa, ông hãy tránh xa ra!” Dù những tiếng bánh xe nghiến sỏi vẫn ầm ầm vang lên xung quanh, tiếng thét của tôi vẫn đủ lớn, khiến Dougal nhướng mày ngạc nhiên.

“Được rồi, được rồi,” ông ta ôn tồn nói. “Ta sẽ để cô quản lý nó dù chàng trai này cứng đầu như đá tảng… nhưng ta nghĩ cô có cách riêng của mình, phải vậy không?” Kèm theo lời nói ấy là một cái liếc xéo và nụ cười tự mãn tỏ vẻ thấu hiểu.

“Tôi sẽ xoay xở được.” Phải, tôi sẽ làm được. Bởi mọi điều tôi kể với Dougal là sự thật. Tất cả đều thật. Hay trong chừng mực của sự thật. Và tôi sẽ vui mừng gửi Charles Stuart cùng căn nguyên tội lỗi của cha cậu ta tới chỗ quỷ dữ, hiến tế mọi hy vọng nhằm ngăn cản hành động liều lĩnh, lao đầu vào việc làm dại dột của cậu ta, thậm chí mạo hiểm cả khả năng Jamie có thể bị cầm tù, tất cả để nhằm mục đích khỏa lấp lỗ hổng mà sự hồi sinh của Randall đã khoét sâu trong tâm trí Jamie. Tôi sẽ giúp anh giết chết Randall và cảm nhận niềm hân hoan được thực hiện nó, nhưng chỉ ngoại trừ một điều duy nhất. Một mối bận tâm còn lớn hơn cả niềm kiêu hãnh của Jamie, quan trọng hơn ý nghĩa nhân phẩm của anh và sự bình yên trong tâm hồn bị hăm dọa. Frank.

Chỉ riêng ý nghĩ này đã chèo lái tôi qua ngày hôm nay, chống đỡ cho tôi vượt qua những thời điểm tưởng chừng sẽ gục ngã. Nhiều tháng trời qua, với niềm tin rằng Randall đã chết mà không để lại con cái, tôi cảm thấy lo lắng cho sự tồn tại của Frank. Nhưng cũng chính trong mấy tháng này, chiếc nhẫn vàng giản dị trên ngón áp út của bàn tay trái đã an ủi tôi rất nhiều.

Nó làm thành một cặp với chiếc nhẫn bạc của Jamie nằm trên bàn tay phải. Nó như một thứ bùa may của tôi, trong thời khắc đen tối đêm khuya, khi nỗi hoài nghi theo gót chân những giấc mơ ập tới. Nếu chiếc nhẫn của Frank vẫn ở đây thì người trao nó cho tôi vẫn còn sống. Tôi đã tự nhủ lòng như vậy cả ngàn lần, dẫu chẳng thể hiểu làm cách nào mà một người đàn ông không con cái chết đi lại có thể sinh sôi dòng giống để dẫn đến sự tồn tại của Frank. Nhưng chiếc nhẫn còn ở đây thì Frank vẫn sống.

Bây giờ, tôi biết tại sao chiếc nhẫn vẫn lấp lánh trên tay mình, chất kim loại lạnh lẽo như chính ngón tay băng giá của tôi. Randall còn sống, vẫn sẽ kết hôn, vẫn sẽ làm cha của đứa trẻ duy trì dòng giống tới đời Frank. Trừ phi Jamie giết chết hắn.

Tuy tôi đã thực hiện những bước đi trong khả năng của mình nhưng sự thật hiện diện trên hành lang tại nhà ngài Công tước vẫn còn nguyên đó. Cái giá cho sự sống của Frank là linh hồn của Jamie, làm sao tôi có thể lựa chọn giữa hai người?

Chiếc xe ngựa bốn bánh đang lao tới đã phớt lờ dấu hiệu gọi xe của Dougal mà phóng qua không dừng lại, những bánh xe lăn gần chúng tôi, làm bắn tung tóe thứ nước bùn bẩn lên đôi tất lụa của Dougal và viền váy dài của tôi.

Sau một tràng những lời chửi thề bằng tiếng Gaelic, Dougal dứ nắm đấm về phía đuôi chiếc xe đang tháo chạy.

“Chà, giờ thì sao?” Ông ta hùng hồn hỏi.

Cục đờm ban nãy đang nổi lềnh phềnh trên bề mặt của vũng nước xám xịt. Tôi có thể cảm nhận nó trên đầu lưỡi của mình, nhầy nhụa và lạnh ngắt. Bàn tay tôi liền tóm lấy cánh tay của Dougal, nó cứng cáp như một cành sung dâu trơn nhẵn. Cứng nhưng lại đung đưa đến chóng mặt và cánh tay đó đưa tôi tránh xa thứ đờm dãi lạnh ngắt và tanh hôi mùi cá kia. Vài đốm đen xuất hiện chập chờn trước mắt.

“Giờ thì,” tôi lên tiếng, “tôi sắp ốm rồi.”

•••

Tôi về tới đường Tremoulins khi hoàng hôn bắt đầu buông xuống. Hai đầu gối run rẩy phải nỗ lực hết sức để đặt chân này trước chân kia, từng bước tiến lên cầu thang. Tôi đi thẳng về phòng ngủ, cởi bỏ chiếc áo choàng và tự hỏi liệu Jamie đã trở lại hay chưa.

Anh đã về. Tôi đứng chết trân nơi ngưỡng cửa và đưa mắt rà soát toàn bộ căn phòng. Cái hộp thuốc bị mở tung trên bàn, chiếc kéo dùng để cắt băng gạc nằm hờ hững ở bàn trang điểm. Tôi từng được một người làm dao, thi thoảng tới giúp việc tại nhà thương Des Anges, tặng thứ kỳ quặc đó. Phần tay cầm mạ vàng được uốn theo hình đầu con cò, trong khi hai lưỡi kéo bạc được tạo dáng giống như hai cái liềm dài. Chúng đang phản chiếu những tia sáng lấp lánh từ buổi chiều tà giữa một mớ tóc màu hung đỏ óng ánh nắng vàng.

Tôi tiến thêm vài bước về phía bàn trang điểm, đám tóc lấp lánh khẽ bồng bềnh lơ lửng sau mỗi cử động làm xáo trộn không khí của tôi, lãng đãng trôi sang bên kia bàn.

“Ôi, lạy Chúa Jesus!” Tôi thở hổn hển. Anh đã về, ngay ở đây, rồi lại đi mất. Mang cả thanh kiếm theo cùng.

Những món tóc dày óng ánh nằm vương vãi khắp nơi, trên bàn trang điểm, trên ghế đẩu và cả dưới sàn nhà. Tôi túm lấy một nắm trên bàn, cảm nhận từng lọn tóc bóng mượt cọ giữa các ngón tay mình, tựa như những sợi chỉ tơ mềm mại. Cơn hoảng loạn đã khơi dậy trong tôi một đợt sóng buốt giá đến gai người, bắt đầu từ hai xương bả vai, chạy dọc theo sống lưng xuống dưới. Tôi nhớ Jamie, tôi nhớ lúc cả hai ngồi bên đài phun nước trước cửa nhà Rohan và anh kể về trận đấu tay đôi đầu tiên của mình tại Paris.

“Dải ruy băng buộc tóc bị tung ra và cơn gió cuốn nó quất ngang mặt anh nên anh còn chẳng trông thấy động tác của mình.”

Giờ thì anh không cho phép tai nạn đó tái diễn một lần nữa. Từ dấu vết còn sót lại, từ món tóc vẫn mềm mượt và sống động y nguyên trong tay, tôi có thể hình dung ra thái độ cẩn trọng, dứt khoát khi anh hành động; kề hai lưỡi kéo kim loại sát bên đầu, cắt phăng toàn bộ đuôi tóc mềm mại này, vì chúng ảnh hưởng đến tầm nhìn của anh. Chẳng điều gì có thể ngăn giữa anh và việc hạ gục Jonathan Randall nữa.

Chẳng điều gì, ngoại trừ tôi. Tôi giữ chặt món tóc trong tay, bước tới bên cửa sổ để ngóng ra ngoài, hy vọng trông thấy dáng anh trên phố. Nhưng phố Tremoulins vẫn vắng lặng như tờ, chỉ có bóng những cây dương đung đưa bên hàng cổng sắt và dáng hình nhỏ bé của một người hầu đang đứng trò chuyện với viên bảo vệ phía trước ngôi nhà bên trái. Tay gác cửa này đương khua khua cái tẩu thuốc để nhấn mạnh từng lời từng chữ của mình.

Ngôi nhà bao bọc lấy tôi bằng chuỗi âm thanh vo vo của sự tĩnh mịch cùng tiếng động phát ra khi chuẩn bị bữa ăn ở tầng dưới. Tối nay không có khách đến thăm nên sự hối hả thường lệ cũng ngơi đi phần nào; vì khi ở một mình, chúng tôi chỉ dùng bữa đơn giản.

Tôi ngồi xuống giường và nhắm nghiền mắt lại, hai bàn tay vắt ngang cái dạ dày đang nổi sóng cồn cào, nhưng món tóc vẫn nằm trong tay, bởi chừng nào còn giữ được nó, tôi nghĩ chừng đó mình vẫn giữ được anh an toàn.

Liệu tôi có hành động kịp thời không? Liệu cảnh vệ có tìm thấy Jack Randall trước Jamie không? Nếu hai bên tới cùng lúc, hoặc ngay khi Jamie thách đấu tay đôi với Randall thì sao? Tôi mân mê nắm tóc bằng ngón cái cùng ngón trỏ, phần đầu tóc vừa cắt xòe ra thành nhiều chấm li ti màu lang và hổ phách. Chà, nếu trường hợp đó xảy ra thì ít nhất cả hai vẫn an toàn, có lẽ là trong ngục, nhưng ít lo ngại hơn so với trường hợp ngược lại.

Vậy nếu Jamie tìm thấy Randall trước thì sao? Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, ánh sáng nhanh chóng lụi tàn. Theo truyền thống, những trận đấu tay đôi thường diễn ra vào lúc bình minh, nhưng tôi không biết liệu Jamie có đợi tới sáng ngày mai không. Hay chính lúc này đây, cả hai đang đứng đối mặt với nhau ở một nơi khuất nẻo, để chuỗi âm thanh va chạm leng keng hoặc tiếng thét thất trận có vang lên cũng chẳng ai hay biết.

Đây sẽ là một trận đấu sống còn. Bởi chỉ có cái chết nằm giữa hai người đàn ông này. Và đó là cái chết của ai? Jamie ư? Hay của Randall - rồi kéo theo cái chết của Frank? Tuy Jamie thành thục hơn trong việc dùng kiếm, nhưng là người được thách đấu, Randall có quyền lựa chọn vũ khí. Mà chiến thắng trong việc sử dụng súng phụ thuộc nhiều vào vận may hơn là kỹ năng của người dùng, chỉ có những khẩu súng tốt nhất là ngắm chuẩn, mà ngay cả chúng cũng có thể bị tịt ngòi hay gặp trục trặc nào đó. Tôi bỗng thấy hình ảnh Jamie chập chờn trong tâm trí, anh nằm thõng thượt và lặng im trên thảm cỏ, máu tuôn thành dòng từ một con mắt rỗng không và mùi thuốc súng nồng nặc lẫn trong những làn hương mùa xuân thơm ngát của rừng Boulogne.

“Em đang làm cái quái gì vậy, Claire?”

Tôi ngóc đầu dậy, suýt tự cắn vào lưỡi mình. Cả hai con mắt của anh vẫn còn nguyên và đang nhìn vào tôi từ hai bên sống mũi thẳng tắp như lưỡi dao. Tôi chưa từng được ngắm nhìn Jamie với hình ảnh mái tóc cắt sát gọn gàng, nên giờ đây trông anh thật lạ lẫm. Khung xương mặt rắn chắc hiện rõ toàn bộ từ bên dưới làn da, cùng phần sọ tròn trông thấy rõ dưới lớp tóc ngắn và dày.

“Em đang làm gì à?” Tôi lặp lại, nuốt nước miếng để làm ẩm cái miệng khô khốc của mình. “Em đang làm gì sao? Em đang ngồi đây với món tóc của anh trong tay và tự hỏi liệu anh đã chết hay chưa! Đó! Đó chính là điều em đang làm!”

“Anh không chết.” Anh đi ngang qua phòng và mở tủ quần áo. Anh đã về để mang thanh kiếm theo, nhưng quần áo thì chưa thay từ lúc viếng thăm nhà Công tước Sandringham. Giờ thì anh khoác lên người chiếc áo cũ để có thể thoải mái cử động hai cánh tay.

“Vâng, em có thấy,” tôi đáp. “Anh còn chu đáo về nói cho em biết.”

“Anh về để lấy quần áo.” Anh lấy ra hai cái sơ mi cùng chiếc áo choàng dài, vắt chúng lên ghế đẩu, tiếp tục tìm tấm chăn sạch trong tủ com mốt.

“Quần áo? Anh định đi đâu?” Dẫu không biết mình mong chờ điều gì khi gặp lại anh, nhưng chắc chắn tôi không muốn điều này xảy ra.

“Tới quán trọ.” Jamie liếc mắt. Và có lẽ anh nghĩ tôi xứng đáng được giải thích nhiều hơn ba từ cụt lủn, nên anh quay người lại, nhìn thẳng vào tôi bằng đôi mắt xanh u tối như màu đá lam đồng[6].

“Sau khi sai xà ích đưa em về, anh có đi dạo một chút để lấy lại bình tĩnh. Tiếp đó, anh về để lấy kiếm và quay trở lại nhà Công tước, thách đấu tay đôi với Randall. Nhưng viên quản gia thông báo với anh rằng Randall đã bị bắt giữ.”

Ánh mắt anh nhìn tôi vừa kiên định vừa thăm thẳm tựa như vực sâu không đáy dưới lòng đại dương. Tôi phải nuốt nước miếng thêm lần nữa.

“Anh tới ngục Bastille. Họ nói em đã buộc tội Randall tấn công em và Mary Hawkins đêm hôm trước. Tại sao hả, Claire?”

Đôi tay tôi run lên và món tóc đỏ mềm mại chuội xuống, rơi vương vãi trên lòng.

“Jamie,” tôi run run, đáp, “Jamie, anh không thể giết Jack Randall được.”

Một bên khóe miệng của anh nhếch lên, rất khẽ.

“Anh không biết liệu em bận tâm về sự an nguy của anh hay em thiếu lòng tin ở anh. Nhưng dù là trường hợp nào thì em cũng đừng lo lắng. Anh có thể giết chết hắn. Một cách dễ dàng.” Từ cuối cùng tuy lướt qua rất nhanh nhưng âm điệu thì nham hiểm và đầy thỏa mãn.

“Đó không phải là ý của em! Jamie…”

“May thay,” anh tiếp tục, như thể không nghe thấy tôi nói gì, “Randall có bằng chứng ngoại phạm, bởi suốt buổi tối vụ cưỡng hiếp xảy ra, hắn ta ở tại dinh thự của ngài Công tước. Cảnh sát sẽ sớm kết thúc việc thẩm vấn các vị khách có mặt đêm đó và kết luận rằng hắn vô tội - tất nhiên, đối với lời cáo buộc này - tiếp theo hắn sẽ được thả. Còn anh sẽ ở tại quán trọ cho tới khi hắn được trả tự do. Rồi anh sẽ tìm hắn.” Đôi mắt anh dán chặt vào tủ quần áo, nhưng dường như đang nhìn một thứ gì đó rất xa xôi. “Hắn sẽ đợi anh,” anh nói khẽ.

Anh xếp chỗ sơ mi cùng tấm chăn vào túi cá nhân, vắt áo choàng lên cánh tay. Anh toan quay người để bước ra cửa thì tôi bật dậy khỏi giường và túm lấy ống tay áo anh.

“Jamie! Vì Chúa lòng lành, Jamie, hãy nghe em nói! Anh không thể giết Jack Randall được, vì em sẽ không để anh thực hiện việc đó đâu!”

Anh chăm chú nhìn tôi vẻ ngạc nhiên.

“Bởi vì Frank,” tôi nói, buông tay ra và lùi bước.

“Frank,” anh lặp lại, khẽ lắc đầu như muốn xua tan chuỗi âm thanh vo vo trong tai. “Frank.”

“Phải,” tôi đáp. “Nếu bây giờ anh giết Jack Randall thì Frank… anh ấy sẽ không tồn tại. Anh ấy sẽ không được sinh ra. Jamie ơi, anh không thể giết một người vô tội!”

Gương mặt màu đồng nhạt hồng hào của anh từng tái nhợt đi khi nghe tôi nói. Nhưng giờ, sắc đỏ lại trỗi dậy lần nữa, đốt nóng rực hai chỏm tai và hừng hực trên đôi gò má.

“Một người vô tội sao?”

“Frank là một người vô tội! Em không quan tâm Jack Randall…”

“Được, nhưng anh thì có!” Anh chộp lấy cái túi và sải bước tới cửa, chiếc áo choàng phấp phới trên cánh tay. “Trời ơi, Claire! Em đang cố gắng ngăn cản anh trả thù gã đàn ông đã buộc anh phải diễn trò đĩ thõa với hắn ư? Chết tiệt, Claire!” Anh mở rầm cánh cửa và bước ra hành lang, tôi kịp tóm lấy anh ở đó.

Lúc này, bóng tối đã bao trùm không gian, nhưng nhờ những cây nến do người hầu thắp lên mà hành lang mang một thứ ánh sáng đỏ dìu dịu. Tôi nắm chặt cánh tay anh và giật mạnh.

“Jamie! Làm ơn!”

Anh nôn nóng giằng khỏi tay tôi, khiến tôi gần như phát khóc, nhưng phải cố kìm nén nước mắt lại. Tôi chộp cái túi và kéo khỏi tay anh.

“Làm ơn đi mà, Jamie! Hãy đợi, chỉ một năm thôi! Đứa bé - của Randall - nó sẽ thành hình vào tháng Mười hai tới. Sau đó thì chẳng còn vấn đề nào nữa. Nhưng làm ơn - vì em, Jamie - hãy đợi thêm một thời gian!”

Cây nến lớn trên chiếc bàn có viền mạ vàng hắt bóng anh lên bức tường đằng xa, vừa to lớn, vừa rung rinh. Anh đứng nhìn chằm chằm vào nó, hai bàn tay nắm chặt tựa như đang đối mặt với một gã khổng lồ mặt đen đầy hăm dọa cao hơn hẳn mình.

“Ôi,” anh thì thầm, như tự nhủ với bản thân. “Anh là một gã to con. To con và khỏe mạnh. Anh có thể chịu đựng nhiều thứ. Phải, anh có thể chịu đựng chuyện đó.” Bỗng anh quay phắt về phía tôi rồi quát lớn.

“Anh có thể chịu đựng rất nhiều! Nhưng chỉ vì anh có thể mà anh phải làm sao? Chẳng lẽ anh phải mang trên mình sự yếu đuối của những kẻ khác? Anh không được phép yếu đuối ư?”

Anh bắt đầu rảo bước xuôi theo hành lang, còn cái bóng chỉ im lặng lao theo.

“Em không thể đòi hỏi điều đó ở anh! Em, em, hơn hết thảy mọi người! Em là người biết điều… điều…” Anh nghẹn ngào, không nói nên lời bởi tức giận.

Vừa đi anh vừa đấm lên bức tường đá, cứ lặp đi lặp lại, thụi nắm tay một cách dữ dội. Bức tường câm lặng nuốt lấy từng cú đánh thô bạo vào lòng.

Anh quay người và bước tới đối diện tôi, hơi thở nặng nhọc. Tôi đứng chết trân, không dám cử động, cũng không dám nói. Anh gật đầu một, hai lần, rất nhanh, tựa như đang lấy tinh thần làm điều gì, sau đó rút xoẹt con dao găm ra khỏi thắt lưng và giơ lên ngay trước mũi tôi. Bằng một nỗ lực trông thấy, anh điềm tĩnh cất lời.

“Em phải chọn, Claire. Hắn ta, hoặc anh.” Những ánh lửa nhảy múa trên bề mặt kim loại bóng loáng của lưỡi dao khi anh chầm chậm quay nó. “Anh không thể sống khi hắn ta còn sống. Nếu em không để anh giết hắn thì hãy giết anh đi, chính tay em!” Anh cầm tay tôi và ép các ngón tay nắm lấy cán dao. Sau đó, xé toạc chiếc cổ áo viền đăng ten, phơi bày phần cuống họng, anh ghìm chặt tay tôi rồi kéo mạnh lên.

Tôi rút tay lại bằng tất cả sức lực nhưng anh đã ép được mũi dao kề vào chỗ hõm mềm mại trên xương đòn, ngay bên dưới vết sẹo thâm tím mà con dao của Randall đã gây nên nhiều năm trước.

“Jamie! Dừng lại! Dừng lại ngay!” Tôi dùng bàn tay còn lại để ghì cổ tay anh xuống hết mức, rồi cạy nắm tay anh để gỡ các ngón tay của tôi ra. Con dao rơi lạch cạch trên sàn, nẩy khỏi mặt đá và nằm yên ở một góc tấm thảm Aubusson dày dặn. Ôi, dù chỉ là những tiểu tiết nhưng hình ảnh rõ ràng của chúng cũng đủ giày vò con người ta trong những giây phút đớn đau nhất của cuộc đời. Tại kia, ngay trên mặt thảm, tôi trông thấy lưỡi dao vừa rơi xuống, nằm vắt ngang phần cuống cong cong của chùm nho chín mọng, tựa như sắp cắt rời cái cuống để nó bật tung khỏi những sợi thảm đang cuộn tròn dưới chân chúng tôi.

Anh đứng sững, khuôn mặt trắng bệch như bộ xương, đôi mắt rực lửa. Tôi siết cánh tay anh, nó cứng như gỗ bên dưới các ngón tay tôi.

“Làm ơn hãy tin em, làm ơn! Em sẽ chẳng làm vậy nếu có cách khác.” Tôi run run hít một hơi thật sâu nhằm xoa dịu những nhịp đập dồn dập bên trong lồng ngực.

“Anh nợ em mạng sống của mình, Jamie ạ! Không chỉ một mà là hai lần. Em đã cứu anh khỏi bị treo cổ tại Wentworth và cả khi anh bị sốt cao ở tu viện. Anh nợ em một mạng, Jamie!”

Anh nhìn chằm chằm xuống tôi một lúc lâu rồi trả lời, bằng giọng êm ái nhưng đầy chua chát.

“Anh biết. Và giờ thì em đòi nợ sao?” Đôi mắt của anh hừng hực một màu xanh trong thăm thẳm như màu xanh nằm ở tâm ngọn lửa.

“Em phải làm thế! Em không có cách nào khác để anh nhìn nhận lý do này!”

“Lý do. À, lý do. Không, anh có thể nói ngay bây giờ rằng, anh thấy lý do này chẳng là cái thá gì.” Sau đó, anh bắt tréo cánh tay ra sau lưng, những ngón tay trái khum lại ôm lấy nắm tay phải, rồi chầm chậm bước xa dần xuôi theo hành lang với mái đầu cúi thấp.

Hai bức tường chạy dài được treo rất nhiều tranh trang trí, có những bức sáng lên từ bên dưới bởi chân nến hoặc trụ đèn, có những bức được chiếu sáng từ bên trên bởi chùm giá nến mạ vàng; và một vài bức ít ỏi khác được che giấu trong bóng tối giữa những khoảng sáng kia. Jamie từ tốn bước giữa chúng, thi thoảng lại ngước nhìn như thể đang đối thoại với các chân dung mang tóc giả quanh mình.

Hành lang chạy dài suốt tầng hai tòa nhà, được trải và treo thảm cả trên tường lẫn dưới sàn, cùng với hệ thống khung cửa sổ kính khổng lồ đặt chìm bên trong các bức tường ở mỗi đầu. Anh tiến tới cuối lối đi thì quay trở lại, vẫn nhịp bước từ tốn và trịnh trọng. Xuôi rồi ngược, lại xuôi rồi ngược, cứ thế lặp đi lặp lại.

Hai gối đã run lên lẩy bẩy, tôi ngồi thụp xuống chiếc ghế bành đặt ở đầu bên này. Và chỉ có một lần duy nhất, một kẻ trong đám gia nhân đang chứng kiến dám khúm núm tiến tới gần, hỏi xem phu nhân có muốn dùng rượu hay bánh quy không? Tôi cố gắng xua tay đuổi hắn đi bằng cử chỉ đúng mực, tiếp tục chờ đợi.

Cuối cùng, anh tới và dừng lại trước mặt tôi, hai bàn chân chôn chặt trong đôi giày da cài khóa bạc, còn đôi cánh tay vẫn bắt tréo ở sau lưng. Anh đợi tôi ngước nhìn lên trước khi mở lời. Gương mặt đanh thép không hề co giật bởi sự lo lắng, chỉ có trạng thái căng thẳng tạo ra những nếp nhăn hằn sâu gần hai khóe mắt.

“Một năm thôi” là tất cả những gì Jamie nói. Sau đó, anh lập tức quay người bỏ đi, trong khi tôi chật vật rời khỏi chiếc ghế bành sâu lòng được bọc vải nhung màu xanh lục. Tôi vừa đứng vững trên hai chân thì anh trở lại, rồi chỉ với ba sải bước đã tiến tới khung kính màu đồ sộ sau lưng tôi, bàn tay phải nắm chặt và đấm xuyên qua nó.

Tấm kính vỡ ra thành nghìn mảnh nhỏ xíu li ti nhưng vẫn giữ nguyên vị trí nhờ vào hệ thống đường viền bằng chì nung chảy. Toàn bộ khung cửa sổ tái hiện tích thần thoại Sự phán xét của chàng Paris[7] rung lên và bất chấp những tiếng răng rắc cùng lách cách liên hồi, phần đầu của bức tranh vẫn còn nguyên, chỉ duy một lỗ hổng lởm chởm dưới chân nàng Aphrodite là mở ra cho gió xuân tràn vào.

Jamie đứng yên, ép chặt hai bàn tay lên cơ hoành. Một vệt máu đỏ sẫm thấm vào phần cổ tay áo đăng ten được xếp nếp như lễ phục đám cưới. Anh quay người và im lặng sải bước đi, bỏ mặc tôi chới với nhìn theo.

•••

Tôi lại ngồi thụp xuống chiếc ghế bành, lớp bụi mỏng trên bề mặt vải bị thổi tung lên không trung. Rồi tôi lịm người đi, hai mắt khép hờ để cảm nhận luồng khí trời mát lạnh đang lùa qua mình. Mái tóc đẫm mồ hôi bị dính bết vào hai bên thái dương, trong khi nhịp tim dồn dập như của loài chim đang đập liên hồi nơi đáy sâu cổ họng.

Liệu anh có tha thứ cho tôi? Trái tim của tôi bị bóp nghẹt khi nhớ đến ánh mắt của anh. Ánh mắt khi anh nhận ra mình bị phản bội. Anh đã hỏi: “Sao em có thể?” “Chính em cũng biết mà…” Phải, tôi biết và tôi hiểu điều mình biết có thể chia tách tôi khỏi Jamie giống như tôi đã từng phải rời xa Frank.

Dù Jamie có thể tha thứ cho tôi hay không thì tôi cũng không bao giờ tha thứ cho bản thân mình nếu tôi để anh kết án một người vô tội, một người mà tôi từng hết lòng yêu thương.

“Không thể vì tổ tiên lầm lỗi,” tôi tự nhủ. “Không thể vì tổ tiên lầm lỗi mà đời con cháu phải gánh chịu hình phạt.”

“Thưa phu nhân?”

Tôi bật dậy và mở to hai mắt. Ngay lập tức, tôi trông thấy một cô hầu gái, người ngả ra sau, nét mặt lộ vẻ hốt hoảng chẳng kém gì tôi. Tôi đặt tay lên trái tim đang đập thình thịch, miệng thở hổn hển.

“Phu nhân, phu nhân không khỏe sao? Tôi mang…”

“Không,” tôi nói chắc như đinh đóng cột. “Tôi khỏe mà. Tôi muốn ngồi đây một lúc. Cô đi đi!”

Dường như cô gái này chỉ sợ phải làm công việc phục vụ. “Vâng, thưa phu nhân!” Cô ta đáp và nhanh chóng biến mất ở cuối hành lang. Mình tôi ngồi đó, nhìn chăm chú khung cảnh tình yêu say đắm trong khu vườn được khắc họa trên bức tường đối diện. Gió lạnh đột ngột ùa tới, tôi vội kéo chiếc áo choàng mà mình chưa kịp cởi và nhắm mắt thêm lần nữa.

•••

Khi tôi bước vào phòng ngủ thì đã quá nửa đêm. Jamie ở đó, ngồi trước chiếc bàn nhỏ. Nhìn bề ngoài, có vẻ anh đang quan sát một đôi thiêu thân bay chập chờn xung quanh cây nến đơn, thứ duy nhất tỏa ra ánh sáng trong phòng. Tôi thả rơi chiếc áo choàng xuống sàn nhà và đi tới chỗ anh.

“Đừng chạm vào anh,” Jamie nói. “Ngủ đi!” Anh nói bâng quơ khiến tôi khựng lại.

“Nhưng tay của anh…” Tôi cất lời.

“Không sao đâu. Ngủ đi!” Anh lặp lại.

Máu vẫn thấm qua lớp băng quấn quanh khớp ngón trên bàn tay phải của anh, cũng như đã hồ cứng phần cổ tay của chiếc áo. Tôi không dám chạm vào anh, sau khi anh đã có đủ ấm ách khó chịu trong lòng. Tôi để anh ngồi lại với đám thiêu thân đang nhảy múa và lên giường chợp mắt.

Lúc tôi tỉnh dậy thì bình minh đã gần kề. Những tia sáng đầu tiên của ngày mới đã phác lên vài đường nét mờ ảo của đồ đạc trong phòng. Qua khung cửa đôi, tôi trông thấy Jamie vẫn ngồi bên cạnh bàn như lúc tôi để anh ở lại. Giờ thì nến đã cháy hết và đám thiêu thân cũng bay đi mất, chỉ còn anh ngồi đó với hai bàn tay ôm lấy đầu, những ngón tay cày sâu vào mái tóc cắt ngắn. Ánh sáng đã trộm đi toàn bộ màu sắc trong căn phòng, thậm chí mái tóc dựng cao tựa như chùm lửa của anh cũng bị dập tắt thành màu xám tro tàn.

Tôi trượt xuống giường, cơn lạnh khẽ lùa vào chiếc váy ngủ thêu hoa mỏng manh. Anh không quay đầu lại dù tôi đã bước tới sau lưng, nhưng anh biết tôi ở đó. Khi tôi chạm vào bàn tay, anh liền buông rơi chúng rồi để đầu mình ngả ra sau, đến khi tựa hoàn toàn lên ngực tôi. Anh thở dài đánh thượt trong lúc tôi vuốt ve nó và trạng thái căng thẳng dần biến mất. Đôi tay tôi cứ thế xoa bóp xuống cổ, hai vai và cảm nhận hơi lạnh từ làn da của anh thấm qua lớp vải mỏng. Sau cùng, tôi bước tới trước mặt anh. Anh đưa tay, ôm chầm quanh eo tôi, kéo tôi lại gần. Anh vùi đầu vào bộ đồ ngủ, ngay phía trên vòm bụng tròn, nơi đứa con chưa chào đời cuộn mình.

“Em lạnh,” tôi khẽ nói. “Anh sẽ tới để sưởi ấm em chứ?”

Một lúc sau, anh gật đầu, loạng choạng đứng dậy, chân này vướng phải chân kia. Tôi dẫn anh tới bên giường, giúp anh cởi bỏ quần áo trong lúc anh ngồi yên không cưỡng lại, rồi ủ anh vào giữa những lớp chăn. Tôi nằm trong vòng tay của Jamie và ép mình sát lại, đến khi hơi lạnh trên da thịt anh dần tan biến và chúng tôi nằm gọn lỏn trong một cái bọc ấm áp.

Tôi ngập ngừng, đặt bàn tay lên ngực anh, nhẹ nhàng mân mê đến khi đầu ngực anh dựng đứng. Đó là một biểu hiện thiết yếu của sự ham muốn. Anh cũng đặt bàn tay lên ngực tôi, nhưng lại giữ nó nằm nguyên. Tôi sợ rằng anh sẽ đẩy mình ra và anh làm thế thật, nhưng chỉ để anh có thể cuộn người ôm lấy tôi.

Ánh sáng dần lan tỏa mạnh mẽ. Anh nhìn ngắm khuôn mặt tôi rất lâu, rồi đưa tay vuốt từ thái dương xuống đến cằm, sau đó kéo ngón tay cái chạy xuôi theo cuống họng và mở rộng ra đường cong của xương đòn.

“Chúa ơi, anh thực sự yêu em,” Jamie thì thầm như thể tự nhủ với chính mình. Anh hôn tôi, chặn lại lời đáp trả chưa kịp thốt ra và vo tròn một bên bầu ngực tôi bằng bàn tay phải bị thương, người đàn ông này đã sẵn sàng.

“Nhưng tay của anh…” Tôi nhắc lại lời này lần thứ hai trong đêm nay.

“Không sao đâu,” anh đáp, lần thứ hai trong đêm nay.

[1] François Boucher (29/9/1703 - 30/5/1770): là một họa sĩ người Pháp theo phong cách Rococo. Boucher được biết đến với những bức tranh bình dị và đầy gợi cảm của mình về chủ đề cổ điển, biểu tượng trang trí và những cảnh đồng quê.

[2] Một loại hormone tác động lên thần kinh giao cảm.

[3] Khu chợ bán các mặt hàng thực phẩm tươi tại trung tâm của Paris.

[4] Tiếng Pháp, có nghĩa: các môn đệ.

[5] Cách gọi khác của Sở chỉ huy cảnh vệ Paris dựa trên vị trí của trụ sở bên bờ sông.

[6] Azurite: một dạng đá hiếm gặp hình thành trong các quặng đồng, có màu xanh sâu và trong khác thường, được dùng nhiều làm trang sức.

[7] Một tích trong thần thoại Hy Lạp. Theo đó, chàng Paris trẻ tuổi được giao nhiệm vụ chọn ra người đẹp nhất trong số ba vị nữ thần Hera, Athena và Aphrodite và trao cho người đó quả táo vàng. Chàng chọn nữ thần Aphrodite bởi Người hứa sẽ giúp chàng có được nàng Helen xinh đẹp. Sự kiện này đã dẫn tới cuộc chiến thành Troy.

Dịch giả: Diệu Hằng
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 21 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Diana Gabaldon

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.