Lam Ngọc

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 7

❊ ❊ ❊

Lần chạm trán với em trai Gideon và cuộc trò chuyện vội vàng với Leslie sau đó (nó hỏi cả chục lần “Cậu có chắc không?” tôi đáp lại chục lần “Hoàn toàn chắc chắn!” Rồi bọn tôi còn thốt lên cả trăm lần “Điên mất thôi!”, “Tớ không tưởng tượng được!” và “Cậu nhìn thấy đôi mắt của hắn chứ?”) khiến tôi tới chỗ chiếc Limousine đang đợi sau Charlotte một hồi lâu. Marley lại được cử tới đón bọn tôi. Trông anh ta còn bồn chồn hơn bao giờ hết. Xemerius ngồi phe phẩy đuôi trên nóc xe. Charlotte đã ngự sẵn ở ghế sau, cau có nhìn tôi: “Em ở chỗ chết tiệt nào mà lâu thế? Đừng bao giờ bắt một người như Giordano phải đợi. Tôi thấy hình như em vẫn chưa biết trân trọng việc được thụ giáo nơi ông ấy.”

Marley đỡ tôi vào xe với vẻ mặt gượng gạo rồi đóng cửa lại.

“Có chuyện gì à?” Tôi e là tôi đã lỡ mất chuyện gì đó quan trọng, vẻ mặt của Charlotte càng khiến tôi chắc chắn.

Khi xe chuyển bánh, Xemerius thả người lọt qua nóc vào trong, rơi bịch xuống ghế đối diện với tôi. Như lần trước, Marley ngồi cạnh lái xe.

“Hôm nay em làm ơn cố gắng nhiều hơn một chút,” Charlotte bảo. “Tôi thấy phát ngượng, dù gì thì em cũng là em họ tôi.”

Tôi buộc phải phá lên cười. “Thôi đi Charlotte! Chị không cần diễn với em làm gì. Nhìn em hậu đậu như thế, chắc hẳn chị phải sung sướng vô biên.”

“Không phải vậy!” Charlotte lắc đầu. “Em vẫn luôn có lối suy nghĩ rất đặc trưng cho thói suy bụng ta ra bụng người rất trẻ con của em. Mọi người chỉ muốn giúp em, để em… không vụng về làm hỏng mọi chuyện. Mặc dù, cũng có thể bây giờ em không còn cơ hội nào nữa. Tôi có thể hình dung là họ sẽ hủy bỏ mọi chuyện…”

“Nhưng, vì sao?”

Charlotte im lặng nhìn tôi hồi lâu, rồi chị ta nói gần như khoái trá: “Rồi em cũng sẽ sớm được biết. Nếu được biết.”

“Có chuyện gì à?” Tôi hỏi, nhưng không hỏi Charlotte mà là Xemerius. Tôi có ngu đâu. “Marley đã kể chuyện gì ban nãy?”

“Toàn những thứ mập mờ,” Xemerius nói, còn Charlotte mím chặt môi nhìn ra cửa sổ. “Hình như có sự cố trong cú vượt thời gian sáng nay của à… ờ… cục đá lấp lánh…” Nó dùng đuôi gãi lông mày.

“Đừng có đợi người ta móc họng rồi mới chịu nói!”

Charlotte, đương nhiên nghĩ tôi đang nói với chị ta, trả lời: “Nếu không tới muộn thì em đã biết rồi.”

“… Kim cương” Xemerius nói. “Ai đó đã… ái chà, tớ phải diễn đạt thế nào nhỉ? Hình như ai đó đã tẩn cho hắn một trận.”

Ruột tôi thắt lại. “Cái gì?”

“Bình tĩnh nào,” Xemerius nói. “Hắn vẫn sống. Theo như những gì tớ hiểu được từ mớ lảm nhảm của gã tóc đỏ. Ôi trời đất ơi! Mặt cậu bạc ra như vôi rồi kìa. Ôi, ôi, giờ cậu không định nôn ra xe đấy chứ? Làm ơn trấn tĩnh lại đi nào.”’

“Không thể,” Tôi thì thầm. Tôi thực sự choáng váng.

“Em không thể cái gì?” Charlotte nghiến răng. “Điều đầu tiên mà một người mang gien phải học đó là dẹp bỏ những nhu cầu riêng tư và cố gắng hết sức cho sự nghiệp chung. Còn em thì ngược lại.”

Tôi tưởng tượng ra cảnh Gideon máu me đầm đìa nằm trên nền nhà. Tôi gần như ngạt thở.

“Những người khác sẽ sẵn sàng xin chết để được Giordano chỉ giáo. Còn em thì cứ như bị tra tấn không bằng.”

“Charlotte, im đi!” Tôi thốt lên.

Charlotte lại quay mặt ra cửa sổ. Tôi run lẩy bẩy.

Xemerius xòe móng ra, đặt lên đầu gối tôi vỗ về. “Để xem tớ có thể tìm ra điều gì không. Tớ sẽ đi tìm cậu bạn trai ưa hôn hít của cậu rồi báo cáo lại tình hình, thế được chưa? Nhưng đừng khóc! Nếu không tớ sẽ còn căng thẳng hơn và phun nước ra cái ghế bọc da này. Cô chị họ của cậu sẽ nghĩ là cậu tè ra quần.”

Nó vù qua nóc xe bay mất. Phải hơn một tiếng rưỡi lê thê sau nó mới xuất hiện lại cạnh tôi.

Suốt một tiếng rưỡi, tôi vật vờ như cái xác không hồn khi hình dung ra không biết bao nhiêu thứ kinh khủng. Càng tệ hơn, khi chúng tôi đến Temple và gặp lão sư phụ khắc nghiệt đang rình sẵn. Tôi chẳng có bụng dạ nào để nghe những lời giảng giải của Giordano về chính sách thuộc địa hay bắt chước những bước nhảy của Charlotte. Nếu Gideon lại bị đám người có kiếm tấn công và lần này hắn không chống cự nổi thì sao? Hết vẽ ra cảnh hắn máu me đầy người nằm trên mặt đất, tôi lại tưởng tượng hắn đang nằm trong phòng cấp cứu, người nối nhằng nhịt ống truyền, mặt trắng bệch hơn tấm vải trải giường. Sao ở đây không có ai để tôi có thể hỏi thăm về tình hình của hắn?

Cuối cùng thì Xemerius cũng xuyên thẳng qua tường vào Cổ yến phòng.

“Sao rồi?” Tôi không thèm ngó ngàng gì đêh Giordano và Charlotte. Họ đang dạy tôi cách vỗ tay hoan hô trong dạ tiệc ở thế kỷ 18. Đương nhiên là hoàn toàn khác so với những gì tôi làm.

“Đó là động tác nặn bột làm bánh,” Giordano nói. “Như đám con nít vỗ tay trong hố cát khi vui mừng thôi… Giờ nó lại hếch mắt đi đâu thế không biết? Ta phát điên mất!”

“Mọi chuyện ổn cả, cô bé đống rơm,” Xemerius mỉm cười vui vẻ. “Anh chàng chỉ bị táng một nhát vào đầu và bất tỉnh nhân sự mấy tiếng. Nhưng trông có vẻ đầu hắn đúng là bằng kim cương, hắn thậm chí còn không bị chấn thương sọ não. Riêng vết thương trên trán thì khiến hắn… à, ờ… thôi, đừng, đừng tái mét mặt nữa! Tớ đã bảo mọi chuyện ổn mà!”

Tôi hít một hơi thật sâu, mừng tới mức bải hoải cả người.

“Phải thế chứ,” Xemerius nói. “Chẳng có lý do gì để nhắng lên cả. Răng người yêu vẫn nguyên cả hàm trắng bóng. Hắn chửi rủa một mình nãy giờ, tớ cho đó là một dấu hiệu tốt.”

Tạ ơn Chúa. Tạ ơn Chúa. Tạ ơn Chúa.

Nhưng người sắp nhắng cả lên lại chính là Giordano. Kệ xác. Đột nhiên tôi chẳng để tâm đến những lời cằn nhằn của lão. Mà ngược lại. Nhìn gương mặt vằn vện đường râu của lão cứ đổi từ đỏ sang tím mới thú vị làm sao.

Ông George tới vừa vặn kịp ngăn Môi bánh cuốn vung tay định tát tôi vì tức giận.

“Tưởng là không thể, vậy mà hôm nay lại còn tệ hơn,” Giordano ngồi phịch xuống một cái ghế nhỏ xinh, lấy khăn tay thấm mồ hôi đọng trên màu da hiện thời của lão. “Suốt cả buổi nó cứ giương mắt ếch nhìn đi đâu ấy, nếu không biết rõ thì có lẽ tôi đã đoán nó ngáo đá.”

“Giordano, xin ông…” Ông George nói. “Ngày hôm nay không được tốt cho lắm…”

“Thế… anh ấy sao rồi?” Charlotte hỏi khẽ, mắt liếc xéo tôi.

“Tương thích với sự cố,” Ông George nghiêm nghị.

Một lần nữa Charlotte lại liếc tôi thăm dò. Tôi trừng mắt nhìn lại. Liệu chị ta có vui sướng một cách bệnh hoạn khi biết được điều gì đó mà chị cho rằng tôi đang nóng lòng muốn biết?

“Nói linh tinh,” Xemerius nói. “Hắn khỏe như voi, tin tớ đi, cưng à! Vừa nãy hắn còn ngốn hết cả tảng thịt bê rán to tướng với khoai tây rán và rau. Nghe thế có giống như tương thích với sự cố không?”

Giordano bực bội vì không ai thèm nghe lão. “Tôi chỉ không muốn cuối cùng mọi người lại đổ hết lên đầu tôi,” Lão rít lên rồi gạt ghế sang bên. “Tôi từng làm việc với rất nhiều tài năng ẩn danh và các vĩ nhân trên thế giới, nhưng chưa bao giờ vớ phải loại này.”

“Ông Giordano thân mến, ông thừa biết chúng tôi đánh giá ông cao đến mức nào. Và không có ai thích hợp hơn để chuẩn bị cho Gwendolyn…” Ông George im bặt, vì Giordano đã bĩu môi, hất cái đầu với mái tóc bê tông lên.

“Đừng có bảo là tôi không báo trước.” Lão cấm cảu. “Tôi chỉ đòi hỏi có vậy.”

“Được rồi,” ông George thở dài. “Tôi… à, thôi. Tôi sẽ chuyển lời lại. Đi thôi, Gwendolyn.”

Tôi đã tháo váy và cẩn thận để lên trên ghế dương cầm. “Tạm biệt,” tôi nói với Giordano.

Lão vẫn giữ nguyên bộ mặt dằn dỗi. “Tại sao không vĩnh biệt cho vui?”

Ông George kể cho tôi nghe chuyện xảy ra lúc sáng, trên đường đi tới phòng Giả kim thuật cũ. Con đường này giờ quen đến nỗi có bị bịt mắt tôi cũng lần ra được. Ông hơi ngạc nhiên khi biết Marley chưa cho tôi biết tin, còn tôi thì chẳng buồn giải thích vì sao.

Gideon được giao một nhiệm vụ nhỏ (ông George không muốn cho tôi biết cụ thể) và về quá khứ bằng máy đồng hồ (về năm nào thì ông George cũng không tiết lộ cho tôi). Hai tiếng đồng hồ sau, người ta tìm thấy hắn nằm bất tỉnh trên một lối đi gần phòng cất máy đồng hồ. Vết thương trên trán hắn trông như bị một vật tựa cây chùy gây ra. Gideon không còn nhớ được gì, kẻ tấn công chắc hẳn đã phục kích rồi ra tay.

“Nhưng ai…?”

“Chúng ta không biết. Thật là một tình huống gay go, nhất là trong tình hình hiện nay. Chúng ta đã kiểm tra kỹ cậu ấy, trên người không có bất cứ vết chích nào để có thể khẳng định rằng cậu ấy đã bị lấy máu…”

“Máu trên trán không phải cũng đủ rồi sao?” Tôi rùng mình hỏi khẽ.

“Cũng có thể,” Ông George công nhận. “Nhưng nếu… nếu muốn chắc ăn thì kẻ đó phải lấy máu bằng cách khác. Có vô số khả năng để giải thích việc này. Không ai biết tối qua Gideon sẽ xuất hiện tại đó, như vậy không thể có ai đó rình sẵn cậu ấy. Đây có lẽ là cuộc chạm mặt tình cờ. Có… ở một số năm nhất định có nhan nhản những kẻ mờ ám, lừa đảo, tội phạm và những phần tử bất hảo khác. Bản thân ta cho đây là sự tình cờ xui xẻo…” Ông đằng hắng. “Dù sao thì Gideon có vẻ đã vượt qua được cú hiểm hóc này, vì bác sĩ White không tìm thấy vết thương nguy hiểm nào. Thế nên hai đứa sẽ vẫn tham dự dạ tiệc tối vào trưa Chủ nhật như đã định.” Ông bật cười. “Buồn cười nhỉ, tiệc tối vào trưa Chủ nhật.”

Lúc này mà cười được thì lạ thật. “Gideon đang ở đâu ạ?” Tôi sốt ruột hỏi. “Trong bệnh viện?”

“Không. Cậu ấy đang nghỉ ngơi, ta hy vọng thế. Cậu ấy chỉ tới bệnh viện để chụp cắt lớp. May quá, người ta không tìm thấy gì nên cậu ấy đã tự cho phép mình xuất viện. Bởi vì tối qua em trai cậu ấy bất ngờ tới thăm…”

“Cháu biết,” Tôi nói. “Hôm nay thầy Whitman đã đăng ký cho Raphael ở trường Saint Lennox.” Ông George thở dài não nuột. “Thằng nhóc ấy bỏ nhà ra đi sau khi cùng đám bạn bè làm trò ngu ngốc gì đấy. Việc ông Falk giữ Raphael ở Anh thật là ngớ ngẩn. Trong thời buổi loạn lạc này, tất cả chúng ta, nhất là Gideon, thiếu gì việc quan trọng hơn là trông coi bọn trẻ cứng đầu… Nhưng ông Falk chưa từng từ chối bất cứ yêu cầu nào của Selina. Đối với Raphael thì đây có lẽ là cơ hội cuối cùng để tốt nghiệp trung học, cách xa lũ bạn làm hư hỏng nó.”

“Selina… là mẹ của Gideon và Raphael phải không ạ?”

“Đúng,” Ông George bảo. “Là người cho hai đứa thừa hưởng đôi mắt xanh tuyệt đẹp đó. Đến nơi rồi. Cháu tháo khăn ra.”

Lần này chỉ có tôi và ông trong phòng cất máy đồng hồ.

“Charlotte quả quyết là những dự định đến thế kỷ 18 có thể sẽ bị hủy vì chuyện này,” Tôi tràn trề hy vọng. “Hoặc bị hoãn? Chỉ để Gideon có thời gian nghỉ ngơi và cháu cũng có thể tập luyện thêm một chút…”

Ông George lắc đầu. “Không. Chúng ta sẽ không làm vậy. Chúng ta sẽ tiến hành tất cả những biện pháp phòng bị an toàn như có thể, nhưng bá tước đòi hỏi một tiến trình thời gian chặt chẽ. Gideon và cháu sẽ vẫn có mặt trong buổi dạ tiệc ngày kia, chắc chắn thế. Hôm nay cháu có muốn trở về năm đặc biệt nào không?”

“Không ạ,” Tôi ra vẻ thật thờ ơ. “Bị nhốt dưới hầm ngầm thì năm nào chả thế, phải không ạ?”

Ông George cẩn thận cởi chiếc khăn nhung bọc máy đồng hồ. “Chính xác. Thường thì chúng ta hay để Gideon về năm 1953. Đó là một năm khá bình yên. Chúng ta chỉ cần không để cậu ấy chạm mặt chính mình.” Ông cười nụ. “Hình dung ra cảnh bị nhốt đâu đó với chính mình, ta thấy khá rùng rợn.” Ông xoa xoa cái bụng tròn và đăm chiêu nhìn vào khoảng không. “Cháu thấy năm 1956 thế nào? Đó cũng là một năm rất bình yên.”

“Vâng, nghe rất tuyệt,” Tôi nói.

Ông George đưa đèn pin cho tôi và tháo nhẫn khỏi ngón tay. “Chỉ phòng trường hợp… nhưng đừng sợ, tầm hai rưỡi sáng thì bảo đảm không có ai tới đâu.”

“Hai rưỡi sáng?” Tôi thất kinh lặp lại. Làm sao tôi đi tìm ông ngoại được vào lúc nửa đêm? Chẳng ai lại tin chuyện tôi bị lạc dưới tầng hầm vào lúc hai rưỡi sáng. Có thể trong nhà còn chẳng có ai. Thế thì tất cả đều công cốc! “Ôi, ông George, xin đừng! Ông đừng bắt cháu một mình về cái hầm mộ rùng rợn kia giữa lúc đêm hôm…!”

“Nhưng mà Gwendolyn, có gì đâu, sâu dưới lòng đất, trong căn hầm khóa kín…”

“Cháu sợ… ban đêm lắm! Xin ông, dù gì cũng đừng bắt cháu một mình…” Tôi tuyệt vọng đến nỗi ứa nước mắt nhòa lệ mà không cần phải giả vờ.

“Thôi được,” Đôi mắt bé tí của ông George nhìn tôi thông cảm. “Ta quên mất là cháu… Vậy ta chọn một thời điểm khác. Ba giờ chiều, được không?”

“Thế tốt hơn ạ,” Tôi nói. “Cảm ơn ông.”

“Không có gì.” Ông George rời mắt khỏi máy đồng hồ, mỉm cười nhìn tôi. “Thực ra chúng ta đã đòi hỏi ở cháu quá nhiều, nếu là ta thì ta cũng thấy bất an khi phải ở một mình trong hầm. Hơn nữa, đôi khi cháu lại còn nhìn thấy những thứ mà người khác không nhìn được…”

“Vâng, cảm ơn ông đã nhắc cháu nhớ tới điều này,” Tôi nói. Nếu Xemerius có mặt ở đây, chắc chắn nó sẽ bực mình lắm về từ “những thứ” kia. “Thế còn vụ hầm mộ chứa đầy đầu lâu, xương xẩu ở ngay bên cạnh thì sao ạ?”

“Ô,” Ông George thốt lên. “Ta không muốn làm cháu sợ thêm.”

“Ông đừng lo,” Tôi nói. “Cháu không sợ người chết. Ngược lại, khác với người đang sống, theo kinh nghiệm của cháu, họ chẳng làm gì mình.” Nhận thấy ông George nhướng mày, tôi vội bồi thêm: “Đương nhiên là dù vậy cháu vẫn sợ họ và cháu không muốn ngồi một mình ban đêm bên cạnh hầm mộ đâu…” Tôi chìa một tay ra, tay kia áp chặt cặp vào người. “Ông làm ơn lần này lấy ngón thứ tư, ngón đó chưa tới lượt bao giờ.”

Khi lấy chìa khóa và mở mảnh giấy ông Lucas giấu sau viên gạch ra, tim tôi đập như trống trận. Trên giấy chỉ ghi chữ Latin, không có lời nhắn riêng. Mật khẩu của ngày dài quá nên tôi không cố học thuộc làm gì. Tôi lấy bút bi trong cặp chép lại vào lòng bàn tay. Ông Lucas cũng vẽ cả một tấm bản đồ tầng hầm. Từ đây tôi chỉ cần ra cửa rồi rẽ phải, sau đó rẽ trái ba lần là đến chỗ cầu thang lớn có lính gác đầu tiên. Cửa mở toang khi tôi xoay chìa. Tôi cân nhắc trong giây lát nhưng rồi quyết định không khóa lại, phòng trường hợp tôi vội quay về đây. Không khí dưới này có mùi ẩm mốc và nhìn những bức tường sẽ dễ dàng nhận ra tuổi thọ của tầng hầm. Trần thấp và các lối đi rất hẹp. Cứ vài bước lại rẽ sang lối khác hoặc có cửa xuyên tường. Nếu không có đèn pin và tấm bản đồ của ông ngoại thì chắc tôi đã lạc, mặc dù tôi vẫn thấy dưới này quen thuộc một cách khó hiểu. Đến đoạn cuối rẽ trái tới cầu thang, tôi nghe thấy tiếng người và lấy hơi thật sâu.

Lúc này quan trọng là phải có một lý do chính đáng để thuyết phục toán lính canh cho tôi qua. Khác với thế kỷ 18, trông hai người này chẳng có gì nguy hiểm. Họ đang ngồi chơi bài dưới chân cầu thang. Tôi ngang nhiên bước tới. Trông thấy tôi, một người buông rơi lá bài còn người kia bật dậy, cuống quýt chụp lấy thanh kiếm dựng bên tường.

“Xin chào,” Tôi mạnh dạn nói. “Tôi không làm phiền các cậu đâu.”

“Làm sao… làm… làm sao?” Người thứ nhất lắp bắp, còn người thứ hai nắm chuôi kiếm và lưỡng lự nhìn tôi.

“Kiếm không phải là thứ vũ khí cổ lỗ ở thế kỷ 20 sao?” Tôi ngạc nhiên hỏi. “Các anh sẽ làm gì nếu người ta cầm lựu đạn qua đây? Hoặc súng máy?”

“Ở đây ít khi có người qua lại,” Người cầm kiếm mỉm cười ngượng nghịu. “Đây chẳng qua là thứ vũ khí truyền thống để…” Anh lắc đầu như muốn tập trung tinh thần, rồi hắn đứng thẳng lên. “Mật khẩu?”

Tôi liếc lên lòng bàn tay. “Nam quod in iuventus non discitur, in matura aetate nescitur.”

“Chính xác,” Người vẫn ngồi trên bậc thang đáp. “Nhưng cho phép tôi hỏi cô từ đâu tới?”

“Từ Bộ Tư pháp,” Tôi nói. “Một lối đi tắt cực hay. Nếu có dịp tôi sẽ chỉ cho các anh. Nhưng hiện giờ tôi đang có một cuộc hẹn vô cùng quan trọng với Lucas Montrose.”

“Ngài Montrose? Tôi không biết hôm nay ngài ấy có ở đây không,” Người cầm kiếm nói, còn người kia bảo: “Chúng tôi sẽ đưa cô lên, nhưng trước đó cô phải xưng tên để chúng tôi ghi lại.”

Tôi nói ra cái tên tôi nghĩ tới đầu tiên. Có lẽ hơi hấp tấp.

“Violet Mận Hồng?” Người cầm kiếm lặp lại kinh ngạc, trong khi người kia ngắm nghía chân tôi. Có lẽ độ dài của chiếc váy đồng phục trường tôi không hợp với thời trang năm 1956 lắm. Mặc kệ, hắn phải cố mà chịu.

“Vâng,” Tôi đáp hơi cáu kỉnh, vì tôi đang bực chính mình. “Có lý do gì để cười nhỉ? Đâu phải ai cũng tên là Smith hay Miller. Ta đi được chưa?”

Hai người nọ tranh cãi một lúc xem ai được dẫn tôi lên. Rồi người cầm kiếm nhượng bộ và lại ung dung ngồi xuống bậc cầu thang. Trên đường đi lên, người kia muốn biết tôi đã từng tới đây chưa. Tôi đáp đương nhiên, nhiều lần là đằng khác, Long điện thật quá đẹp, phải không, một nửa gia đình tôi là thành viên của Đội Cận vệ đấy. Thế là người kia đột nhiên nhớ ra chắc như đinh đóng cột rằng hắn đã từng gặp tôi trong buổi tiệc vườn lần trước.

“Cô chính là người đi rót nước chanh phải không? Cùng với quý bà Gainsley.”

“À, ờ, đúng thế,” Tôi đáp. Ngay lập tức chúng tôi hào hứng tán gẫu về không khí tuyệt hảo của buổi tiệc vườn, về những khóm hồng và đám quan khách mà tôi chẳng hề quen biết. (Nhưng điều này cũng không ngăn được tôi bình phẩm về cái mũ kỳ dị của bà Lamotte và về việc chính ông Mason tình tang với cô thư ký, thật là xấu mặt!)

Khi đi qua những ô cửa sổ đầu tiên, tôi tò mò nhìn ra bên ngoài, mọi thứ đều rất quen mắt. Thật kỳ lạ khi biết thành phố phía bên ngoài những bức tường tôn nghiêm của Temple khác hẳn so với thời của tôi. Kỳ lạ đến nỗi tôi chỉ muốn nhào ra đó ngắm nghía để có thể tin vào mắt mình.

Tới lầu một, người lính canh gõ cửa một văn phòng. Tôi đọc tên ông ngoại trên biển và cảm thấy tự hào vô cùng. Tôi đúng là đã làm được!

“Có cô Mận Hồng muốn gặp ngài Montrose,” Người lính nói qưa khe cửa.

“Cảm ơn anh đã đưa tôi lên đây,” Tôi nói khi len qua anh ta vào trong phòng. “Hẹn gặp anh vào tiệc vườn lần tới.”

“Vâng, tôi cũng rất mong thế,” Anh ta đáp nhưng tôi đã sập nhanh cửa. Tôi đắc thắng quay người lại. “Giờ ông sẽ nói gì nào?”

“Tiểu thư… à, ờ… Mận Hồng?” Người đàn ông phía sau bàn giấy trợn mắt nhìn tôi. Chắc chắn đây không phải là ông ngoại. Tôi kinh ngạc nhìn kỹ. Anh ta rất trẻ, gần như một thiếu niên. Khuôn mặt tròn trịa nhẵn nhụi với ánh mắt sáng thân thiện, tôi thấy quá đỗi thân quen.

“Ông George?” Tôi kinh ngạc hỏi.

“Chúng ta biết nhau?” Ông George thời trẻ nhỏm đứng lên.

“Vâng, tất nhiên. Trong buổi tiệc vườn lần trước,” Tôi lắp bắp trong khi quay cuồng trong đầu. “Tôi chính là người đi rót nước chanh… thế ông ngoại… à ngài Lucas đâu? Ngài ấy không nói là hôm nay có hẹn với tôi?”

“Tôi là thư ký của ngài và mới làm việc ở đây ít lâu,” Ông George lúng búng ngượng ngùng. “Mà không, ngài không dặn gì. Nhưng ngài sẽ quay lại ngay. Mời cô ngồi đợi được không, cô…?”

“Mận Hồng!”

“Đúng rồi. Tôi gọi cà phê cho cô nhé?” George đi vòng qua bàn và lấy cho tôi chiếc ghế mà tôi đang cần gấp. Đôi chân tôi run lẩy bẩy. “Không, xin cảm ơn, không cần cà phê đâu.”

George lưỡng lự quan sát tôi. Tôi lặng thinh nhìn lại.

“Cô có thuộc… nhóm hướng đạo sinh?”

“Gì cơ ạ?”

“Ý tôi chỉ là, vì bộ đồng phục.”

“Không.” Tôi chẳng thể làm gì khác ngoài việc tiếp tục nhìn George. Đúng là ông ấy, không thể nhầm lẫn! Ông George của năm mươi lăm năm sau giống ông ấy hiện giờ tới kinh ngạc, chỉ khác ở chỗ George sau này không còn tí tóc nào, đeo kính và có chiều cao tương đương bề ngang.

Ngược lại, ông George thời trẻ có khá nhiều tóc, đầu rẽ ngôi chỉn chu, xịt gôm bóng loáng, vóc dáng mảnh khảnh. Có lẽ cảm thấy bất tiện khi bị nhìn chằm chằm, ông George đỏ mặt quay trở lại bàn và lật giở đống giấy tờ. Tôi tưởng tượng ông sẽ nói gì nếu giờ tôi lấy chiếc nhẫn triện của ông từ túi ra.

Tôi và ông ngồi im lặng như thế ít nhất mười lăm phút. Rồi cửa phòng bật mở và ông ngoại bước vào. Trông thấy tôi, ông trố mắt một thoáng, trước khi kịp trấn tĩnh lại và thốt lên: “Ôi, xem kìa, cô em họ bé nhỏ yêu quý của ta!”

Tôi đứng bật dậy. Kể từ lần gặp cuối cùng, ông Lucas Montrose đã trưởng thành hơn hẳn. Ông mặc bộ complet trang nhã, đeo nơ và để kiểu ria mép không hợp cho lắm. Bộ ria cù nhột khi ông hôn lên má tôi.

“Ta thật vui quá, Hazel thân yêu! Em định ở trong thành phố bao lâu? Thế bố mẹ có lên cùng không?”

“Không ạ,” Tôi lắp bắp. Không ngờ tôi lại phải đóng vai cái cô Hazel kinh khủng kia! “Bố mẹ ở nhà, với lũ mèo…”

“À, còn đây là anh Thomas George, thư ký mới của ta, Thomas, đây là Hazel Montrose từ Glousceshire. Ta đã kể với anh là con bé sẽ sớm tới thăm ta.”

“Tôi cứ tưởng cô ấy tên là Mận Hồng!” Ông George nói.

“Vâng,” Tôi đáp. “Đúng là thế thật. Tên đệm thứ hai của tôi. Hazel Violet Montrose Mận Hồng, nhưng ai mà nhớ nổi cái tên như thế?”

Ông ngoại nhíu mày nhìn tôi. “Bây giờ ta sẽ đi dạo một chút với Hazel,” Ông quay sang nói với ông George. “Được chứ? Nếu có ai hỏi thì anh cứ bảo ta đang bận tiếp thân chủ.”

“Vâng, thưa ngài Montrose,” George cố làm vẻ mặt tình bơ.

“Tạm biệt,” Tôi nói.

Ông Lucas nắm tay tôi kéo ra khỏi phòng. Cả hai cố gượng cười. Mãi đến khi đóng cánh cửa nặng nề của ngôi nhà sau lưng và ra đến con đường nhỏ rực nắng, hai ông cháu mới lên tiếng.

“Cháu không muốn làm bà Hazel kinh dị ấy đâu,” Tôi trách rồi tò mò nhìn quanh. Có vẻ như Temple không mấy thay đổi trong sau năm mươi lăm năm, nếu không tính đến những chiếc ô tô. “Trông cháu giống người túm đuôi mèo quay tít trên đầu sao?”

“Mận Hồng!” Ông Lucas cũng lên tiếng trách móc y hệt. “Không gây chú ý mới là lạ!” Rồi ông ôm lấy vai tôi và ngắm kỹ tôi. “Để ta xem nào, cháu gái! Trông cháu vẫn hệt như tám năm về trước.”

“Vâng, thì mới hôm kia chứ đâu,” Tôi đáp.

“Không thể tin nổi,” Ông Lucas nói. “Trong suốt những năm qua ta cứ nghĩ có lẽ đó chỉ là một giấc mơ…”

“Hôm qua cháu có về năm 1953, nhưng cháu không chỉ đi có một mình.”

“Hôm nay chúng ta có bao nhiêu thời gian?”

“Cháu tới đây lúc ba giờ theo múi giờ hiện tại, đúng sáu rưỡi cháu phải quay về.”

“Ít ra chúng ta còn có chút thời gian để nói chuyện. Đi nào, ở góc phố kia có một quán cà phê nhỏ, chúng ta có thể tới đó uống trà.” Ông Lucas khoác tay tôi rồi hai ông cháu đi về hướng Strand. “Có lẽ cháu không tin, nhưng ta mới lên chức bố được ba tháng,” Ông vừa đi vừa kể. “Phải công nhận đó là cảm giác rất tưyệt. Và ta nghĩ, chọn Arista là quyết định đúng dắn. Ngược lại nếu là Claudine Seymore thì hỏng hẳn. Ngoài ra người ta còn đồn bà ấy thích nhậu nhẹt. Nhậu từ lúc sáng sớm.” Hai ông cháu dọc theo con đường nhỏ, bước qua cổng vòm rồi rẽ ra phố chính. Tại đó, tôi sững sờ dừng bước. Giao thông trên Strand vẫn tấp nập hệt như thế, nhưng chủ yếu là xe cổ. Những chiếc xe buýt đỏ hai tầng trông hệt như trong viện bảo tàng, gầm rú đinh tai. Đa số người đi bộ trên phố đều đội mũ, đàn ông, đàn bà, thậm chí trẻ con! Trên tường nhà đối diện treo một tấm áp phích quảng cáo cho phim High Society, in hình nữ tài tử Grace Kelly xinh như mộng và Frank Sinatra xấu như cú. Tôi há hốc miệng nhìn từ trái sang phải, gần như không thể tiến thêm nổi một bước. Tất cả trông như tấm bưu thiếp theo phong cách hoài cổ, chỉ sặc sỡ hơn.

Ông Lucas dẫn tôi tới một quán cà phê nhỏ bên góc phố, gọi trà với bánh nướng giòn. “Lần trước cháu đói,” Ông nhớ lại. “Ở đây họ cũng có sandwich ngon lắm.”

“Không ạ, cảm ơn ông,” Tôi nói. “Ông à, về ông George! Ở năm 2011, ông ấy làm như chưa từng gặp cháu bao giờ.”

Ông ngoại nhún vai. “À, cháu không cần lo về anh chàng này. Năm mươi lăm năm nữa hai người mới gặp lại mà. Có lẽ anh ta sẽ quên mất cháu.”

“Vâng, có lẽ thế,” Tôi ngơ ngác nhìn những người hút thuốc phì phèo. Ngay bên cạnh hai ông cháu, một vị khách béo mập ngậm xì gà ngồi trước cái bàn hình bầu dục có gạt tàn thuỷ tinh to cỡ sọ người. Không khí đặc quánh như có thể xắt thành miếng. Hồi 1956 người ta chưa từng nghe tới ung thư phổi bao giờ thì phải? “Đến giờ ông đã tìm ra được kỵ sĩ xanh là ai chưa?”

“Chưa, nhưng ta tìm ra thứ khác quan trọng hơn nhiều. Giờ ta đã biết vì sao Lucy và Paul sẽ lấy cắp máy đồng hồ.” Ông Lucas ngó nghiêng và xịch ghế lại gần tôi hơn. “Sau hôm cháu tới, Paul và Lucy còn phân nhánh hồi khứ tới chỗ ta vài lần mà không có bất cứ chuyện gì đặc biệt xảy ra. Bọn ta cùng uống trà, ta truy bài những động từ tiếng Pháp với hai đứa và ngồi cho hết bốn tiếng đồng hồ tẻ nhạt. Họ không được phép ra khỏi nhà, đó là quy tắc. Chính lão Kenneth de Villiers ưa hớt lẻo canh chừng để bọn ta phải tuân thủ những quy tắc này. Có một lần ta lén đưa Paul và Lucy ra ngoài để hai đứa đi xem phim và tham quan đây đó, nhưng không may bị người ta túm được. À, sao lại người ta? Chính là bị lão Kenneth bắt quả tang. Quả là ngang với động đất. Ta bị phạt kỷ luật. Suốt nửa năm sau đó luôn có lính canh trước Long điện trong thời gian Paul và Lucy ở đây. Mãi tới khi ta lên tới bậc môn sinh tam phẩm thì chuyện này mới thay đổi. Ô, xin cảm ơn.” Câu cuối dành cho cô hầu bàn nom hệt như Doris Day trong phim The Man Who Knew Too Much. Mái tóc nhuộm vàng cắt ngắn, váy mỏng xòe rộng, miệng cười tươi rói, cô đặt những món đã gọi lên bàn. Chắc tôi sẽ chẳng ngạc nhiên nếu giờ cô ấy cất tiếng hát Que sera, sera.

Ông Lucas đợi cho tới khi cô hầu bàn đi khuất rồi mới nói tiếp. “Đương nhiên ta cố hỏi dò một cách ý tứ để tìm ra lý do vì sao họ đem máy đồng hồ đi trốn. Không ăn thua. Vấn đề duy nhất của hai đứa là chúng nó si mê nhau kinh khủng. Có vẻ hồi ấy, mối quan hệ này không được hoan nghênh, thế nên hai đứa phải giữ bí mật. Có rất ít người biết chuyện, như ta chẳng hạn, và mẹ cháu, Grace.”

“Vậy là họ trốn về quá khứ chỉ để được ở bên nhau! Như Romeo và Juliet?” Ôi trời, lãng mạn kinh!

“Không,” Ông Lucas đáp. “Không, đó không phải là lý do.” Ông khuấy ly trà còn tôi thì nuốt nước bọt ngắm cái giỏ xinh xinh đậy giấy ăn, đựng đầy bánh nướng giòn nóng hổi và tỏa mùi ngào ngạt quyến rũ.

“Lý do chính là ta,” Ông Lucas nói tiếp.

“Cái gì ạ? Là ông?”

“Hừm, không hẳn là ta. Nhưng do lỗi của ta. Một ngày nọ, ta nảy ra ý tưởng điên rồ là cho Paul và Lucy về quá khứ xa thêm một quãng.”

“Bằng máy đồng hồ? Nhưng làm thế nào…”

“Khổ quá, ừ, thì ta đã bảo là điên rồ mà lại.” Ông Lucas vuốt tóc. “Nhưng ngày nào bọn ta cũng bị nhốt bốn tiếng với cái máy đồng hồ trong cái phòng chết tiệt, không nghĩ ra mấy chuyện dở hơi mới là lạ. Ta nghiên cứu kỹ các bản đồ cũ, những loại chữ cổ và biên niên sử. Sau đó ta tìm trang phục trong kho, dùng máy đồng hồ nhận dạng Paul và Lucy rồi thử gửi họ về năm 1590 khoảng hai tiếng. Suôn sẻ. Hai tiếng sau, họ trở lại chỗ ta vào năm 1948 mà không ai hay họ đã đi đâu. Nửa tiếng sau, họ lại từ đây quay về năm 1992. Trôi chảy.”

Tôi đút một miếng bánh mì nướng phết dày váng bơ vào miệng. Cứ khi nào nhai thì tôi tư duy tốt hơn. Hàng đống câu hỏi lộn xộn trong đầu, tôi cứ hỏi câu mà tôi nghĩ tới trước tiên. “Nhưng 1590, hồi đó làm gì đã có Đội Cận vệ?”

“Chính xác,” Ông Lucas nói. “Hồi đó thậm chí còn chưa có tòa nhà này. Đó chính là điều may cho bọn ta. Hoặc rủi, tùy cách nhìn nhận.” Ông nhấp một ngụm trà. Ông vẫn chưa ăn gì, và tôi bắt đầu tự hỏi, không rõ sau này ông tăng chừng ấy cân bằng cách nào. “Dựa trên những tấm bản đồ cũ, ta đã phát hiện được ngôi nhà có Long điện được xây đúng ở một bãi đất nhỏ có giếng nước vào cuối thế kỷ 16 cho tới cuối thế kỷ 17.”

“Cháu không hiểu lắm…”

“Cứ đợi đã. Phát hiện này chính là tấm vé thông hành đối với bọn ta. Paul và Lucy có thể từ Long điện trở về chỗ này trong quá khứ. Họ chỉ cần có mặt ở đó đúng giờ, và sẽ tự động quay trở lại Long điện. Cháu hiểu chứ?”

“Nhưng nếu họ hạ cánh xuống đó ngay giữa ban ngày? Họ không bị bắt và bị thiêu ngay lập tức vì tội phù thủy?”

“Đó chỉ là một bãi đất nhỏ và yên tĩnh, chẳng ai để ý. Nếu có thì người ta chỉ dụi mắt kinh ngạc và nghĩ họ đã mất tập trung một chút. Tất nhiên việc này vẫn vô cùng nguy hiểm, nhưng đối với bọn ta thì đây cũng là ý cực hay. Bọn ta mừng húm khi nghĩ ra được mẹo này và đánh lừa được tất cả mọi người. Lucy và Paul rất vui. Cả ta cũng vậy, ngay cả khi cứ phải nhấp nhổm như ngồi trên đống lửa đợi Paul và Lucy trở về Long điện. Chưa nói đến chuyện lỡ có ai vào…”

“Liều thật.” Tôi nói.

“Ừ,” Ông Lucas thú nhận và trông hơi có vẻ hối lỗi. “Người ta chỉ làm mấy trò đó khi còn trẻ. Nếu là bây giờ thì ta sẽ không làm vậy, chắc chắn là không. Nhưng ta nghĩ nếu chuyện này thực sự nguy hiểm thì cái Tôi già cả, thông thái của ta trong tương lai đã can thiệp, cháu hiểu không?”

“Cái Tôi thông thái nào trong tương lai cơ?” Tôi mỉm cười hỏi.

“Thì ta chứ ai,” Ông ngoại thốt lên rồi ngay lập tức hạ giọng, “Ở năm 1992 ta vẫn còn biết ta đã từng làm gì với Paul và Lucy vào năm 1948. Nếu chuyện này hỏng bét thì ta đã cảnh báo hai đứa về cái Tôi điên rồ thời trẻ của ta… ta nghĩ thế.”

“Vâââng,” Tôi dài giọng và lấy thêm một miếng bánh nướng giòn, làm thực phẩm nuôi não. “Nhưng ông đã không làm thế?”

Ông Lucas lắc đầu. “Rõ ràng là không, ta ngu thật. Và vì thế, bọn ta ngày càng nông nổi hơn. Khi Lucy học Hamlet ở trường, ta cho hai đứa về năm 1602. Trong ba ngày liên tiếp, hai đứa có thể tới xem buổi biểu diễn chính thức của đoàn kịch Lord Chamberlain’c Men tại nhà hát Globe Theatre.”

“Ở Southwark?”

Ông Lucas gật đầu. “Ừ, khá kỳ công. Hai đứa phải đi qua cây cầu London sang bên kia sông Thames, xem Hamlet lâu như có thể rồi trở lại ngay để còn kịp quay về. Hai hôm đầu thì không sao, nhưng tới hôm thứ ba đã xảy ra một vụ án mạng trên cầu London mà Paul và Lucy trở thành nhân chứng. Họ không về kịp để vượt thời gian ở bờ bên này mà hạ cánh xuống Southwark ở năm 1948, gần giữa sông Thames, trong khi ta lo sắp phát điên.” Có vẻ như những hồi ức này rất sâu đậm, khiến mặt ông ngoại nhợt đi. “Trong bộ đồ ướt nhoẹt của thế kỷ 17, họ về tới Temple sát nút trước khi quay trở lại năm 1992. Mãi khi hai đứa quay lại lần sau, ta mới được biết mọi chuyện…”

Đầu tôi lại loạn cả lên vì những con số năm tháng khác nhau. “Vụ án mạng mà họ chứng kiến là vụ nào?”

Ông Lucas lại kéo ghế ngồi gần tôi hơn chút nữa. Đôi mắt sau cặp kính trở nên sẫm hơn vì nghiêm trang. “Đây chính là điểm mấu chốt! Lucy và Paul chính mắt trông thấy bá tước Saint Germain giết người.”

“Bá tước?”

“Cho tới thời điểm đó, Lucy và Paul mới chỉ thấy mặt bá tước hai lần. Mặc dù vậy, họ vẫn chắc chắn đó chính là ông ta. Sau cú vượt thời gian đầu tiên, họ được giới thiệu tới gặp bá tước vào năm 1784. Tự bá tước quyết định chuyện này. Ông ấy muốn đợi tới cuối đời mới gặp những người vượt thời gian sinh sau mình. Ta sẽ lấy làm ngạc nhiên nếu trường hợp của cháu lại khác.” Ông hắng giọng. “Dù sao thì chỉ vì thế mà Đội Cận vệ cũng cùng Lucy và Paul đem theo máy đồng hồ tới miền Bắc Đức, nơi bá tước sống những năm cuối đời. Chính ta cũng đã có mặt. Sẽ có mặt. Với tư cách Trưởng hội, cháu có tin nổi không?”

Tôi nhíu mày. “Liệu chúng ta có thể…?”

“À, ta lại đang lẫn lộn rồi hả? Có nhiều chuyện sẽ còn xảy ra mặc dù chúng đã xảy ra từ lâu, điều này luôn vượt quá khả năng tư duy của ta. Chúng ta đang nói tới đâu nhỉ?”

“Sao bá tước lại có thể giết người vào năm 1602… ô, cháu hiểu rồi! Ông ấy đã làm thế vào một trong số các cuộc vượt thời gian của mình!”

“Chính xác. Hồi đó ông ta còn trẻ hơn nhiều. Việc Lucy và Paul có mặt cùng thời điểm và cùng địa điểm quả là điều trùng hợp khó tin, nếu trong mối quan hệ này còn có thể gọi đó là sự tình cờ. Bản thân bá tước cũng viết trong rất nhiều ghi chép của mình: “Ai tin vào sự tình cờ, người đó không hiểu được quyền lực của định mệnh.”

“Ông ấy đã giết ai? Và vì sao?”

Ông Lucas lại nhìn quanh trong quán. “Chuyện này, cháu gái yêu quý, lúc đầu bọn ta cũng không rõ lắm. Phải mất nhiều tuần sau, bọn ta mới lần ra dấu vết. Nạn nhân của ông ấy không ai khác ngoài Lancelot de Villiers, người vượt thời gian đầu tiên của hội: Hổ phách!”

“Ông ấy ám sát chính tổ tiên của mình? Nhưng vì sao?”

“Lancelot de Villiers là một nam tước người Bỉ, cùng gia đình di cư sang Anh năm 1602. Trong biên niên sử và mật ký của bá tước Saint Germain để lại cho Đội Cận vệ có ghi năm mất của Lancelot là 1607, vì thế thoạt tiên bọn ta không để ý đến ông ta. Nhưng trên thực tế, bây giờ ta miễn cho cháu những chi tiết điều nghiên cụ thể, nam tước đã bị cắt cổ ngay trong cỗ xe ngựa của mình vào năm 1602…”

“Cháu không hiểu,” Tôi lẩm bẩm.

“Đến ta cũng còn chưa thu thập hết những mảnh ghép của chuyện này,” Ông Lucas rút bao thuốc từ trong túi áo và châm một điếu. “Thêm vào đó, từ 24 tháng Chín năm 1949 tới giờ ta không còn gặp lại Lucy và Paul. Ta đồ rằng họ đã cùng máy đồng hồ trở về thời còn trước cả thời của ta, nếu không có lẽ họ đã tới tìm ta. Ô… chết tiệtl Cháu đừng nhìn ra đấy!”

“Có chuyện gì thế? Và ông bắt đầu hút thuốc từ khi nào?”

“Cái lão Benneth de Villiers cùng cô em gái khủng khiếp của lão.” Ông Lucas cố giấu mặt sau tờ thực đơn.

“Thì ông cứ bảo là chúng ta muốn nói chuyện riêng,” Tôi thì thầm.

“Không được, lão là sếp của ta: Trong hội cũng như ngoài đời. Văn phòng luật sư chết tiệt kia là của hắn… May ra thì họ không nhìn thấy chúng ta.”

Nhưng may mắn đã không đến. Một người đàn ông cao lớn, trên tứ tuần, và một phụ nữ đội mũ xanh lơ tiến thẳng tới bàn của hai ông cháu và ngồi xuống hai chiếc ghế còn trống, không đợi ai mời.

“Xem ra chiều nay hai chúng ta đều trốn việc, phải không Lucas?” Kenneth de Villiers thân mật vỗ vai ông ngoại. “Không phải là tôi không nhắm mắt làm ngơ, sau khi anh đã giải quyết vụ Parker hôm qua cực hay. Xin chúc mừng lần nữa. Tôi đã nghe nói anh có người dưới quê lên thăm.” Đôi mắt màu hổ phách của ông ta dò xét tôi kỹ lưỡng. Tôi cố tỉnh bơ nhìn lại. Thật kỳ lạ, qua nhiều thế hệ nhưng người nhà Villiers trông vẫn giống nhau, đều gò má cao và sống mũi thẳng. Diện mạo người này cũng rất ấn tượng, dù ông ấy không được bảnh như ông Falk de Villiers ở thời của tôi.

“Hazel Montrose, em họ tôi,” Ông Lucas giới thiệu. “Hazel, đây là ông bà Villiers.”

“Nhưng tôi là em gái ông ấy,” Bà Villiers cười khúc khích. “Ồ, tốt quá, anh có thuốc à, tôi phải cuỗm của anh một điếu ngay mới được.”

“Tiếc là chúng tôi phải đi,” Ông Lucas lịch sự đưa thuốc và châm lửa cho bà ta. “Tôi còn phải xử lý nốt một số hồ sơ…”

“Nhưng không phải hôm nay, anh bạn, không phải hôm nay.” Sếp của ông nháy mắt thân thiện.

“Nói chuyện với mỗi mình anh Kenneth thì chán lắm,” Bà Villiers thở khói thuốc ra đằng mũi. “Anh ấy chỉ biết mỗi chính trị. Anh Kenneth, làm ơn gọi trà cho mọi người. Cô tới từ vùng nào ấy nhỉ?”

“Gloucestershire,” Tôi húng hắng ho.

Ông Lucas thở dài quỵ lụy. “Ông chú tôi, cha của Hazel, có một nông trang và nhiều gia súc.”

“Ôi, tôi yêu cuộc sống thôn dã. Và tôi rất yêu súc vật!” Bà Villiers hào hứng thốt lên.

“Tôi cũng vậy,” Tôi nói. “Nhất là mèo.”

inh nữ hôm qua lên bàn. “Tôi nghĩ là em rất muốn lấy lại bộ sưu tầm giấy tờ… cực kỳ thú vị này,” Thầy mỉa mai. “Vâng, cảm ơn thầy,” Leslie hơi đỏ mặt. Bộ sưu tầm giấy tờ chính là tập tài liệu nghiên cứu hiện tượng vượt thời gian. Trong đó c
Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.