Thuyền trưởng quyết định cho tàu neo đợi ở ngoài khơi Sài Gòn. Các thủy thủ ở lại trên sân tàu trong đêm tối đầy sao, đoán này đoán nọ về vùng đất mà họ từng đã ước mơ.
Buổi sáng, người ta cố tìm mà không gặp những nữ tu và những giáo sĩ đâu. Thì ra, họ đã đổ bộ lên đất Việt Nam. Từ xa người ta thấy thầy Dominique giữa một đám trẻ con vây quanh thầy đang khúc khích cười với nhau và chỉ vào bộ râu và cái bụng bự của thầy. Người ta rứt những cái lông con của thầy. Dì Catherine cũng vậy; người ta vây xung quanh dì, toàn những người đàn bà nhỏ nhắn; họ sờ mái tóc hoe và rất ngạc nhiên trước vóc dáng người to lớn của dì. Mọi người đến sung sướng; họ cũng cười về những phát hiện mới của họ. Không khí có về hòa bình.
Những cánh đồng chằng chịt những con kênh ngang dọc trải dài xa tắp, bát ngát mênh mông. Màu xanh lá cây lấp lánh sáng ấy hòa hợp với bầu trời xanh đậm, sắp sửa trắng dần ra.
Trời còn sớm, nắng gắt gao và gió đã tắt. Từ trên sân tàu, người ta chỉ thấy những ngôi nhà bằng gỗ và bằng đá nhô lên phía chân trời. Một ngôi đền mái dài cong cong, màu đất son, ở cuối thị trấn. Các nhánh sông, kênh rạch, lẫn vào giữa những đám lau lách và những cây lúa đang vươn lên, ngoằn ngoèo xa mãi để rồi mất hút. Những con trâu đen trùi trũi đầu cúi xuống đất; cưỡi trên lưng trâu là những đứa trẻ đầu đội mũ rơm. Qua chiếc ống nhòm bằng đồng, thuyền trưởng nhận rõ, xa xa, những rặng núi xanh um bóng mát lẫn khuất trong sương mù. Người Việt Nam rất đông. Tại bãi biển, họ nô đùa trên chiếc thuyền con của các thầy dòng và các dì phước bỏ lại. Họ huơ tay về phía các thủy thủ.
Ðến lượt mình, các binh lính cũng ghé thuyền lên bờ. Một bé gái, vừa được thầy Dominique bày cho vài tiếng Pháp reo lên vui mừng. Bọn trẻ con muốn khám phá và học hỏi. Nhưng thuyền trưởng thì có về tư lự; hắn tới cạnh thầy Dominique.
- Thưa thầy, đã đến lúc phải tỏ rõ sức mạnh của nước Pháp.
- Hãy bỏ vũ khí của anh lại đi, vị tu sĩ đáp. Chúng ta tới đây để dạy Phúc Âm của Chúa. Bình an dưới thế cho người thiện tâm. Súng ống của anh vừa vô ích vừa xấu xí.
Người ta cãi cọ nhau. Viên thuyền trưởng và người tu sĩ Dominicain đã quen nhau lâu ngày. Họ chỉ tranh cãi bằng lời nói. Thầy Dominique không muốn chiến tranh như ở châu Mỹ. Thầy được các tu sĩ và bạn bè ủng hộ. Thuyền trưởng chỉ có một mình thôi. Các thủy thủ cũng vậy, chỉ mong muốn hòa bình.
Cái nóng không tài nào chịu nổi: phải tìm chỗ nấp tránh nắng. Người Việt Nam mời họ uống nước dừa, nó vừa chát vừa mát. Họ uống ừng ực rồi cười với nhau tuy không hiểu nhau. Thầy Dominique bảo các tu sĩ của mình ở lại làng: thầy muốn sống giữa những người nông dân Việt Nam. Ai nấy đồng ý. Thuyền trưởng để mặc họ tự do lựa chọn. Còn hắn với bọn thủy thủ đi Sài Gòn. Số này đông khoảng 100 người, trang bị súng mousqueton và hai đại bác bằng đồng. Ở cách xa nước Pháp như vậy, không còn vấn đề quyền lực nữa. Quyền lợi khác biệt nhau.
Và cuộc viễn chinh vũ trang đầu tiên của Pháp tại Việt Nam kết thúc như vậy đó.
Louis XVI không tán thành sự tách đôi ấy. Người ta không thể rao giảng Phúc Âm mà không có vũ khí và quyền lực đi kèm. Nhà vua bèn triệu tập vị Giáo trưởng đất Gaules tới Versailles; vị Giáo trưởng đến và mím môi nghe những lời chỉ trích của nhà vua. Ông chẳng nói gì. Sự im lặng đó làm nhà vua hết sức bất bình; vua bèn hỏi đột ngột:
- Ngài nói gì để tự bào chữa cho mình đây?
Vị hồng y biết rõ những khó khăn của Vương quốc. Ông đã rất yêu mến Pierre Pigneau de Béhaine, sự thẳng thắn trung thực và lòng dũng cảm của ông ta. Vị hồng y bèn đáp:
- Tâu Bệ hạ, thời gian trôi đi đối với con người, còn nước Chúa thì vĩnh cửu.
Louis XVI không phản ứng. Lặng lẽ, Nhà Vua chăm chú nhìn xa xa cái sân đá cẩm thạch, những chuồng ngựa mấp mô những viên đá lát đã bong ra, những hàng cây cân đối. Tất cả đến mong manh.
Vị hồng y cáo từ, lui bước.
Ít lâu sau, người ta được tin viên thuyền trưởng chỉ huy cuộc viễn chính đã chết. Quân của hắn hoặc bị thương, hoặc bị giết hay mất tích trong các khu rừng Việt Nam. Lật đổ ách đô hộ Trung Hoa, người Việt Nam đã phải mất một ngàn năm; đối với người Pháp, họ chỉ cần không đầy hai tháng. Người Pháp can đảm và có vũ trang; nhưng bệnh tật đã đánh ngã họ. Khí hậu nóng nực đã ảnh hưởng đến sức khỏe của họ. Họ ngủ ngoài đồng, giữa những đàn muỗi và những con ếch ộp mà tiếng kêu oang oang làm cho giấc ngủ không yên. Họ vừa mệt mỏi vừa lo lắng. Cái thảm cỏ cây lặng lẽ ấy thù địch với họ. Nước độc làm cho họ chết dần. Họ bẩn thỉu và trống rỗng như những cái thùng rượu của họ. Sáng sáng, người ta lại tìm thấy một người trong bọn họ bị giết trong lúc ngủ. Thuốc súng bắt đầu rữa ra vì độ ẩm quá cao. Các khẩu đại bác ngập sâu xuống bùn trong một ruộng lúa. Trước Sài Gòn, vô số những người nông dân vũ trang bằng cái chĩa đang chờ đợi họ. Quân Pháp đã bị tàn sát đã man. Họ đã chết cô đơn, xa Tổ quốc và xa chiến tranh.
Những người nông dân đã đuổi Hoàng đế của họ đi ấy đang sống yên lành.
Bọn lính đã không tìm hiểu nước Việt Nam: đó là cái điều không thể tha thứ cho họ.
Các tu sĩ bắt đầu sống trong làng này cạnh những đồng lúa. Làng ấy gọi là Bà Ðiểm. Người Việt Nam nghèo mà hạnh phúc. Họ trồng lúa. Dì Catherine không ngại những cánh đồng ngập nước luôn luôn đổi thay màu sắc này. Buổi sáng, đám mạ xanh đỏ lên dưới bầu trời mới rạng; rồi nắng lên, cái phong cảnh phẳng lặng ấy trở nên trong suốt lạ thường. Tuy nhiên đàn bà vẫn tiếp tục cấy lúa. Chiều về, mặt nước loang loáng những mảnh xanh đậm nét âu sầu. Nước Pháp mới xa xôi làm sao! Tất cả ở bên ấy dường như là phù du, không thực. Tại Việt Nam, giữa những người nông dân mà mình chưa hiểu bao nhiêu, trước cảnh thiên nhiên man rợ, dì Catherine giữ mình khiêm tốn. Lời cầu nguyện của dì đi thẳng vào điều cốt yếu. Sự cám dỗ với dì không còn tồn tại nữa. Thế giới là một cái vỏ ốc, rỗng không.
Với sự giúp đỡ của các nông dân nữ, các tu sĩ dựng lên được một ngôi nhà, đơn sơ, ngay mặt đất. Ngôi nhà làm bằng tre; nó tỏa ra một mùi hôi thối dễ sợ, vì những cây tre ấy người ta đã ngâm lâu trong bùn. Cuối cùng, thầy Dominique và các giáo sĩ của thầy đã có thể ở được trong ngôi nhà này. Ở đây, khí hậu rất nóng bức; tường nhà đổ mồ hôi dưới mặt trời ban trưa. Nhưng nó là ngôi nhà của Chúa.
Người Việt Nam yêu mến người Pháp. Lúc đầu, người ta thấy họ nói tiếng nói kỳ lạ và thân hình họ lớn quá; về sau, người ta cũng quen đi và trở thành thân thiết. Tiếng đầu tiên mà thầy Michel học được là “cảm ơn” có nghĩa là “merci”.
Các giáo sĩ quyết định giúp đỡ người Việt Nam trong công việc thường ngày. Các nữ tu thay đổi cách ăn mặc, tự khâu lấy những chiếc nón lá hình chóp và ra đồng. Họ làm việc nặng nhọc nhưng vui vẻ; lưng mỏi mệt, mắt đỏ hoe vì ánh nắng chói chang. Các thầy dòng thì giúp bọn đàn ông dân làng: họ đắp đập, làm bè để qua những con kênh rạch, rất nhiều, của con sông Mê Kông. Họ biết làm điều có ích. Buổi chiều khi không còn làm việc được nữa, thầy Dominique dạy tiếng Pháp cho những ai muốn học. Lúc đầu chỉ có một mình người lớn tuổi nhất đến. Sau đó, những người đàn ông và đàn bà khác cũng đến, vì họ yêu quí các tu sĩ. Các tu sĩ đến lượt mình cũng học tiếng Việt Nam. Đây là một ngôn ngữ rất khó.
Cuối cùng, người ta vẫn nói chuyện được với nhau, người Pháp hiểu rằng chiến tranh đã chấm dứt rồi.
Nguyễn Ánh vẫn ẩn náu tại Xiêm. Một Hoàng Ðế[1] mới đang trị vì, được Trung Hoa ủng hộ: nước Việt Nam đã tìm thấy lại hòa bình.
Sau nhiều tháng, người Pháp bắt đầu làm quen với khí hậu. Họ sống yên vui. Họ đã bắt đầu dạy giáo lý, nhưng chẳng có ai tới học cả.
Một buổi sáng, thầy Dominique làm lễ dưới một trận mưa như trút nước. Thầy mặc áo trắng, hai tay giơ lên trời. Các tu sĩ hát lễ bằng tiếng latin; tất cả cầu nguyện.
Mấy hôm sau, đã có nhiều người đến học giáo lý hơn, người ta không rõ vì sao. Vì người Việt Nam yêu mến nụ cười hạnh phúc của các tu sĩ chăng?
Các giáo sĩ hiểu biết nhau lắm. Có năm thầy dòng và ba bà xơ.
Một buổi sáng tháng 3 năm 1790, người ta thấy ngoài xa thấp thoáng bóng một con tàu. Nó treo cờ Pháp. Nó chỉ ghé lại một thời gian rất ngắn. Tin tức nước Pháp rất xấu: một cuộc Cách mạng đã xảy ra. Các đặc lợi đặc quyền đã bị hủy bỏ. Các Vương quốc châu Âu càng lo sợ hơn nhiều. Những người Pháp tự thấy mình cô độc ở Việt Nam: đất nước họ không chăm sóc đến họ nữa. Người ta dâng một lễ cầu nguyện cho nhà vua, cho Nhà Thờ và cho nhân dân Pháp. Sự buồn rầu lộ rõ trên khuôn mặt mọi người. Phải giải thích cho người Việt Nam hiểu vì sao. Ngay chiều hôm đó, người Việt Nam mời các tu sĩ ăn cơm với họ. Chiếc tàu lại ra đi về phía biển Ấn Độ. Một lần nữa, nước Pháp lại trở thành xa xôi.
Các giáo sĩ hoạt động rất tích cực. Họ đã bỏ dần đi cái nét cứng cỏi của những con người (đàn ông và đàn bà) của Giáo Hội. Các xơ đã lấy nhẫn đeo tay của mình đúc lại thành vàng. Còn các thầy không đeo thánh giá ở cổ nữa. Họ thường cầu nguyện vào buổi tối. Họ nói chuyện nhiều. Cuộc sống của họ là cuộc sống chung, họ tìm hiểu nhau, là bạn của nhau. Họ đến ngủ chung trong một gian nhà rộng, không nghĩ đến giới tính của mỗi người. Mùa đông, trời rét và mưa hoài. Nhà cửa của họ lép nhép những bùn. Dì Catherine bị bệnh, cổ đầy nhọt rất đau. Chẳng có ai rõ bệnh gì.
Những người Việt Nam làm cho dì một thang thuốc đắp. Dì khóc, sợ chết. Thầy Dominique cởi chiếc áo trong bằng vải bông của dì ra; lần đầu tiên, thầy trông thấy cặp vú đàn bà. Một cặp vú nguyên trinh, trắng và nhẵn. Người tu sĩ dán lên cổ dì miếng vải thấm nước lá cây giã nhỏ, thầy chờ. Nét mặt của dì dịu lại. Bộ ngực đẫy đà của dì lấm tấm mồ hôi. Thầy Dominique làm dấu thánh giá và đi ra.
❀ ❀ ❀
[1] Vua Quang Trung