Người Đàn Ông Tầng Trên Và Những Truyện Ngắn Khác

Lượt đọc: 28 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đống Tiền Tất Bật

❊ ❊ ❊

OWEN BENTLEY đang cảm thấy vô cùng lúng túng. Anh nhìn ông Sheppherd, cố hết sức kiềm chế để không đứng lò cò một chân và táy máy ngón tay. Vào một giai đoạn trước đây trong cuộc đời, trước khi bị ảnh hưởng của người bác Henry đẩy vào Ngân hàng London and Suburban, Owen từng là một diễn viên. Nhờ vào thành tích đánh bóng trung bình ba mươi mốt phẩy linh bảy trận tại Middlesex, anh đã được một vị đạo diễn nhạc kịch khôn ngoan chiêu mộ — người lần đầu tiên nảy ra ý tưởng rằng, nếu bạn buộc phải có những thanh niên cất tiếng hát "Chúng ta vui tươi hớn hở, tra-la, vì đây là chốn Bohemia" trong cảnh Hội nghệ sĩ, thì bạn cứ việc dùng những thanh niên mà tên tuổi công chúng đã biết đến. Anh không làm diễn viên được bao lâu, bởi sự sa sút phong độ đã loại anh khỏi làng cricket hạng nhất, và vị đạo diễn đã nhường chỗ của anh trong vở diễn tiếp theo cho một tay ném bóng xoáy từng thể hiện rất tốt trong trận đấu Varsity gần nhất; nhưng quãng thời gian ấy đủ dài để anh nếm trải thứ cảm giác nao núng thắt ruột gan được gọi là nỗi sợ sân khấu. Và giờ đây, khi bắt đầu giãi bày với ông Sheppherd rằng anh mong muốn nhận được sự chấp thuận để kết hôn với Audrey, con gái ông, anh lại thấy mình mang những triệu chứng y hệt.

Ngay từ phút đầu tiên, từ khoảnh khắc anh tiết lộ sự thật rằng tổng thu nhập của mình, bao gồm cả lương và tài sản riêng, chưa đầy hai trăm bảng Anh, anh đã nhận ra đây sẽ là một trong những thất bại thảm hại của đời mình. Chính cái không khí đậm chất thời kỳ đầu Nữ hoàng Victoria gớm ghiếc ấy đã rút sạch can đảm trong anh. Ông Sheppherd vẫn luôn gợi cho anh hình ảnh một người cha nghiêm khắc trong một cuốn tiểu thuyết ba tập, nhưng so với thái độ lắng nghe lúc này của ông, những biểu hiện trước đây của ông lại trở nên nhẹ nhàng và kỳ quặc biết bao. Cho đến giây phút này, Owen vẫn không thể ngờ rằng những chuyện thế này lại có thể xảy ra ở thời hiện đại ngoài những trang báo hài. Chỉ đến cuối phút thứ hai, anh cũng sẽ chẳng lấy gì làm ngạc nhiên nếu thấy mình bay vút lên không trung dưới sự thúc giục từ cú đá của ông Sheppherd, với đường bay được đánh dấu bằng một nét đứt đoạn và vài ngôi sao chóng mặt.

Thái độ của ông Sheppherd có xu hướng lạnh lẽo.

Ông nói: "Thật là hết sức bất tiện. Hết sức bất tiện. Tôi còn phải cân nhắc hạnh phúc của con gái mình. Đó là bổn phận của một người cha." Ông ngừng lại một lát. "Cậu nói mình chẳng có tương lai gì chắc chắn sao? Lẽ ra tôi phải nghĩ rằng người bác của cậu —? Chắc chắn là với thế lực của ông ấy —?"

"Bác tôi đã dốc hết vốn liếng khi đưa tôi vào ngân hàng rồi. Chừng đó là hết cỡ đối với tôi xét về phía ông ấy. Cậu biết đấy, tôi đâu phải đứa cháu duy nhất của ông. Còn khoảng một trăm đứa khác, đứa nào cũng bám theo ông ấy như chó săn."

Ông Sheppherd hắng giọng bằng một tiếng hắng nhỏ đầy vẻ không hài lòng. Ông đang cảm thấy vô cùng bất bình.

Ông gặp Owen lần đầu tiên trong một bữa tối tại nhà người bác Henry của anh, một nhân vật có gia thế không phải bàn cãi, người có thói quen mời mười một người cháu của mình đến ăn tối mỗi năm một lần. Nhưng ông Sheppherd nào có biết điều này. Đối với ông, Owen có thể thường xuyên lui tới với nhân vật lớn ấy mỗi tối. Dù không thể nói chính xác rằng việc Owen nhận lời mời ghé thăm nhà mình là một hành vi khôn lỏi, và sau khi ghé thăm lại tiếp tục đến thường xuyên đến mức làm nảy sinh tình cảnh đáng tiếc hiện tại; nhưng ông cảm thấy sẽ khôn ngoan hơn nếu chàng trai trẻ biết tự khiêm nhường, cư xử giống một nhân viên ngân hàng hơn là một kẻ thừa kế.

Ông nói: "Tôi vô cùng tiếc vì chuyện này, anh Bentley, nhưng cậu cũng hiểu rằng tôi không thể... Đương nhiên, điều đó là hoàn toàn không thể chấp nhận được. Tốt nhất trong hoàn cảnh này, tôi nghĩ, là cậu không nên gặp lại con gái tôi nữa —"

"Cô ấy đang đợi ở hành lang bên ngoài kia mà," Owen đáp một cách đơn giản.

"— sau ngày hôm nay. Chào anh."

Owen bước ra khỏi phòng. Audrey đang lảng vảng gần khu vực cửa. Cô nhanh chóng tiến lại gần anh, và tâm trạng anh phấn chấn hẳn lên, như mọi khi, mỗi lần nhìn thấy cô.

"Thế nào rồi anh?" cô hỏi.

Anh lắc đầu.

"Không ổn rồi," anh đáp.

Audrey ngẫm nghĩ về vấn đề này trong giây lát và được đền đáp bằng một ý tưởng.

"Em có nên vào trong và khóc lóc không?"

"Chẳng ích gì đâu."

"Hãy kể cho em nghe chuyện gì đã xảy ra đi."

"Ông ấy bảo anh không được gặp em nữa."

"Ông ấy chỉ nói thế thôi."

"Ông ấy nghĩ thế thật đấy."

Audrey trầm ngâm.

"Thế thì chúng ta cứ việc tiếp tục viết thư cho nhau. Rồi chúng ta có thể trò chuyện qua điện thoại. Như thế đâu tính là gặp mặt. Ngân hàng của anh có điện thoại chứ?"

"Có. Nhưng mà —"

"Thế thì ổn rồi. Ngày nào em cũng sẽ gọi cho anh."

"Ước gì anh kiếm được ít tiền," Owen trầm ngâm nói. "Nhưng hình như anh là kiểu người chẳng thể kiếm nổi đồng nào. Chẳng có việc gì anh thử mà thành công cả. Anh chưa bao giờ trúng thứ gì ngoài một vé trắng trong mấy đợt xổ số. Anh đã tốn khoảng hai bảng mua mấy tấm bưu chuyển tiền sáu xu thời phong trào Limerick rộ lên, mà chẳng trúng lấy một xu. Có bận đi lưu diễn, anh đã làm việc đến kiệt sức để chuyển thể một cuốn tiểu thuyết thành kịch bản. Cuối cùng cũng chẳng đi đến đâu."

"Tiểu thuyết nào thế anh?"

"Một cuốn tên là Những Bông Hồng Trắng, của một phụ nữ tên là Edith Butler."

Audrey ngẩng phắt lên nhìn anh.

"Chắc là anh quen cô ta rất rõ nhỉ? Hai người là bạn thân lắm sao?"

"Anh có quen biết gì cô ta đâu. Chưa từng gặp bao giờ. Anh tình cờ mua cuốn sách đó ở một sạp báo, và nghĩ rằng nó sẽ thành một vở kịch hay. Anh đoán chắc nó dở tệ. Dù sao đi nữa, cô ta chẳng thèm nhọc công gửi trả lại hay thậm chí xác nhận đã nhận được."

"Biết đâu cô ta có nhận được đâu?"

"Anh đã gửi bảo đảm mà."

"Đúng là một con mèo đanh đá," Audrey kiên quyết nói. "Dù sao thì em cũng thấy mừng. Nếu có một người phụ nữ khác giúp anh kiếm được nhiều tiền, chắc em đã chết vì ghen tuông rồi."

Thói quen sinh hoạt chính là kẻ thù giấu mặt của mọi chí khí anh hùng. Trong vài ngày đầu tiên sau cuộc chia tay với ông Sheppherd, Owen sống trong tâm trạng của một người hùng, tràn ngập những kế hoạch táo bạo mơ hồ, nhìn thế giới như thể một con hàu trong tầm tay, và vô cùng khao khát được dấn thân, tay cầm kiếm gươm. Nhưng rồi guồng quay thường nhật với những cuốn sổ cái, mực sao chép và khách hàng lại ập đến như một đám mây xám xịt chắn ngang chân trời của anh, xóa nhòa đi những ảo ảnh cầu vồng về sự giàu có bất ngờ thu được nhờ kỳ tích. Ngày qua ngày, ánh hào quang phai nhạt dần và sự tuyệt vọng lớn dần lên.

Nếu như ánh hào quang ấy không hoàn toàn vụt tắt thì đó là nhờ Audrey, người đã vượt hơn cả lời hứa gọi điện cho anh. Ngày nào cô cũng gọi cho anh ít nhất một lần, thường là vài lần, một thực tế đã bị người đứng đầu bộ phận của anh — một kẻ vô cảm và cực kỳ khó chịu khi phải làm thay việc cho cấp dưới — để ý và châm chọc bằng giọng điệu vô cùng cay nghiệt.

Thông thường, các cuộc trò chuyện của cô, dẫu dễ chịu, nhưng lại lan man và thiếu đi trọng tâm, nhưng có một buổi sáng cô mang đến những tin tức thực sự.

"Owen" — giọng cô đầy phấn khích — "anh đã đọc báo hôm nay chưa? Nghe đây nhé. Em sẽ đọc cho anh nghe. Anh đang nghe chứ? Báo viết thế này: 'Nhà hát Piccadilly sẽ sớm mở cửa trở lại với phiên bản kịch chuyển thể từ cuốn tiểu thuyết ăn khách Những Bông Hồng Trắng của nữ nhà văn Edith Butler, do chính tác giả chấp bút. Một dàn diễn viên hùng hậu đang được tuyển chọn, bao gồm...' Và sau đó là một loạt tên tuổi. Anh định tính sao đây, Owen?"

"Anh định tính sao á?"

"Anh không thấy chuyện gì đã xảy ra sao? Người phụ nữ kinh khủng đó đã ăn cắp vở kịch của anh. Cô ta đã chờ đợi từng ấy năm trời, hy vọng anh sẽ quên mất. Sao anh lại cười?"

"Anh có cười đâu."

"Có chứ, anh vừa cười đấy. Làm em nhột cả tai. Em sẽ cúp máy nếu anh còn làm thế. Anh không tin em chứ gì. Cứ chờ mà xem em nói có đúng không —"

"Edith Butler không đời nào làm ra chuyện như thế."

Có một khoảng lặng ngắn ở đầu dây bên kia.

"Em tưởng anh bảo không quen cô ta cơ mà," Audrey nói với giọng ghen tuông.

"Anh không — anh nào có quen," Owen vội vã nói. "Nhưng anh đã đọc sách của cô ta. Toàn là những tràng văn sướt mướt ngập mỡ. Cô ta kiểu như một củ hành văn chương vậy. Chuyên moi nước mắt thiên hạ. Một người phụ nữ như thế có muốn ăn cắp vở kịch cũng chẳng tài nào làm nổi."

Audrey đáp: "Anh không thể đánh giá tác giả qua sách của họ đâu. Tới lúc vở kịch công chiếu, anh phải đến xem đấy. Lúc đó anh sẽ thấy em nói đúng. Em hoàn toàn chắc chắn rằng người phụ nữ đó đang cố lừa đảo anh. Đừng có cười cái kiểu khó chịu ấy chứ. Thôi được rồi, em đã bảo là em sẽ cúp máy cơ mà, và bây giờ em cúp thật đấy."

Vào đầu tháng tiếp theo, kỳ nghỉ thường niên của Owen đã đến. Ban giám đốc Ngân hàng London and Suburban không hề keo kiệt. Họ thừa nhận rằng con người không phải là cỗ máy. Họ cho nhân viên mười ngày trong năm để phục hồi thể trạng cho mười hai tháng làm việc tiếp theo.

Owen đã trải qua thời thơ ấu tại ngôi làng Shropshire nơi cha anh từng làm mục sư, và khi kỳ nghỉ đến, anh đã quay về đó, trọ tại trang trại của một người tên là Dorman. Anh rất vui vì có cơ hội trở lại Shropshire. Phong cảnh chốn đồng quê nơi đây, với những cánh đồng xanh ngắt và những dòng sông nhỏ xíu, có một sức hút kỳ lạ xoa dịu tâm hồn đang tổn thương và tạo nên một phông nền tuyệt vời cho những ngẫm nghĩ đầy hoài niệm.

Ở trang trại rất thoải mái. Hộ gia đình gồm có ông Dorman, một người quen cũ, đứa con trai mười tuổi tên George, và mẹ của ông Dorman — một cụ bà cao tuổi có tiếng tăm lừng lẫy trong vùng như một thầy bói tài giỏi. Lời đồn đại rằng tương lai không có gì là bí mật đối với cụ, và ai cũng biết cụ có thể chữa mụn cóc, ngón tay bầm dập, thậm chí cả bệnh sán ngựa bằng những câu thần chú.

Ngoại trừ những người này, Owen cứ nginh ngẩm tưởng rằng mình ở một mình trong nhà. Tuy nhiên, có vẻ không phải vậy. Có một cây đàn piano cổ lỗ sĩ trong phòng khách của anh, và vào buổi sáng thứ hai, tâm trạng anh hứng khởi nên đã ngồi vào đàn và hát bài "Asthore", thứ âm điệu sướt mướt đầy chất trữ tình của bản ballad đó đã thu hút mạnh mẽ anh vào thời điểm này, vừa hát vừa tự đệm bằng một tổ hợp ba hợp âm đầy khéo léo. Tuy nhiên, anh vừa mới bắt đầu thì ông Dorman đã xuất hiện, có phần hơi bối rối.

"Nếu anh không phiền, thưa anh Owen," ông nói. "Tôi quên không bảo anh. Có một tay văn sĩ đang trọ ở căn phòng phía trên tôi, và ngài ấy không chịu được tiếng ồn."

Tiếng dậm chân thình thịch phát ra từ trần nhà đã chứng minh cho lời ông nói.

Ông Dorman tiếp tục: "Đang viết sách đấy. Hôm qua ngài ấy vừa cho cu George một cú giáng vào vành tai vì tội thổi kèn trên cầu thang. Sau đó còn cho nó sáu xu và bảo sẽ lột da nếu nó còn dám tái phạm. Thế nên, nếu anh không phiền —"

"À, được rồi," Owen nói. "Ông ấy là ai thế?"

"Một quý ông tên là Prosser."

Owen không thể nhớ ra mình từng bắt gặp bất kỳ tác phẩm nào của ai mang cái tên đó; nhưng anh không phải là người đọc rộng; và dù gác xép phía trên có là người nổi tiếng hay không thì người ta cũng có quyền được yên tĩnh.

Anh nói: "Tôi chưa từng nghe danh ông ta bao giờ, nhưng đó chẳng phải là lý do để tôi làm phiền ông ấy. Cứ để mặc ông ta đi. Từ nay tôi sẽ dẹp luôn mấy màn biểu diễn âm nhạc."

Những ngày tháng trôi qua thật êm đềm. Tay nhà văn vẫn ẩn khuất bóng dáng, dẫu thỉnh thoảng vẫn phát ra tiếng động cộp cộp đi lại quanh phòng trong cơn cuồng phong sáng tác. Và mãi cho đến ngày cuối cùng của chuyến thăm, Owen mới gặp cụ bà Dorman.

Tuy nhiên, việc cụ không hề hay biết sự hiện diện của anh trong nhà đã được thể hiện vào buổi sáng hôm cuối cùng. Anh đang đứng hút tẩu thuốc sau bữa ăn sáng bên cửa sổ mở tung để chờ chiếc xe ngựa đến đón ra ga thì George, con trai chủ nhà, bước vào.

George đứng ở ngưỡng cửa, nhe răng cười toe toét và nói:

"Farsezjerligranmatellyerforchbythecards?"

"Hả?" Owen ngạc nhiên hỏi.

Cậu nhóc lặp lại từ đó.

"Nói lại lần nữa xem nào."

Đến lần lặp lại thứ hai thì ánh sáng bắt đầu xuất hiện trong đầu anh. Tuổi thơ gắn bó với chốn này, cộng thêm mười ngày lưu lại đây, đã luyện cho Owen ít nhiều tài nghệ ngoại ngữ.

"Ý bố là muốn bà xem cái gì cơ?"

"Xem bói bài."

"Bà đâu rồi?"

"Đằng sau nhà."

Owen liền bước theo cậu bé vào nhà bếp, nơi anh nhìn thấy bác nông dân Dorman, và ngồi bên chiếc bàn, đang loay hoay với một cỗ bài là một cụ bà mà anh nhớ rất rõ.

Ông Dorman thì thầm nói lớn tiếng: "Mẹ tôi muốn xem bói cho anh đấy. Cụ lúc nào cũng thích xem bói cho khách khứa. Cụ vừa xem cho cậu Prosser xong, và cậu ấy chẳng lấy làm thích thú gì cho lắm, vì cụ phán rằng cậu ấy sẽ đính hôn trong hai tháng nữa và kết hôn ngay trong năm. Cậu ấy bảo có dùng ngựa hoang lôi kéo cũng đừng hòng ép được mình làm thế."

"Cụ cứ phán thế với tôi cũng được. Tôi chẳng phản đối đâu."

"Mẹ ơi, anh Owen đây này."

Cụ bà nhanh nhảu đáp: "Tao thấy tồ tồ ra đấy từ nãy rồi. Xáo bài đi, rồi cắt làm ba phần."

Sau đó cụ thực hiện những thao tác đầy vẻ huyền bí với những lá bài.

Bà đồng tuyên bố: "Tao thấy cả đống tiền."

Con trai cụ liền tiếp lời: "Bà đã phán thế thì chắc chắn là có thật rồi."

Owen nói: "Chắc ý cụ là tiền thưởng của tôi. Nhưng mà chỉ có mười bảng thôi. Mà tôi sẽ mất toi nếu đến muộn thêm hai lần nữa trước Giáng sinh."

"Rồi nó sẽ đến chắc chắn thôi."

"Đống tiền," cụ bà lẩm bẩm, và cụ vẫn còn đang lải nhải từ ngữ đầy khích lệ đó khi Owen rời khỏi nhà bếp để quay trở lại phòng khách.

Anh cười méo mó. Vào khoảnh khắc ấy, anh rất cần một đống tiền thực sự.

Anh bước đến bên cửa sổ và nhìn ra ngoài. Đó là một buổi sáng rực rỡ tuyệt đẹp. Lớp sương mù do sức nóng đang nhảy múa trên bãi cỏ phía bên kia con lạch, và từ góc sân trang trại vang lên những tiếng cục tác vô tư lự của đám gà. Thật là tội lỗi khi phải rời bỏ chốn bình yên này để trở về London vào một ngày như thế.

Một nỗi sầu muộn da diết bủa vây lấy anh. Trong cơn thẫn thờ, anh ngồi xuống bên đàn phím piano. Những thành kiến của nhà văn Prosser đã bay biến khỏi tâm trí anh. Ban đầu thì dịu dàng, sau đó âm thanh dâng trào khi linh hồn của bài hát chiếm trọn lấy anh, anh bắt đầu cất tiếng hát bài "Asthore". Anh hoàn toàn đắm chìm vào đó.

Anh vừa mới, lần thứ sáu, hát đến đoạn "Iyam-ah waiting for-er theeee-yass-thorre," và đang thực hiện vài động tác phối ba hợp âm phức tạp để chuẩn bị hát lại từ đầu thì một ổ bánh mì vùn vụt bay sượt qua tai anh. Nó suýt trúng anh trong gang tấc và đâmầm vào bức tượng thạch cao hình Chúa hài đồng Samuel đặt trên nóc đàn piano.

Đó là một ổ bánh mì tiêu chuẩn, chứa tám mươi phần trăm bột semolina, và nó đã thực sự xóa sổ bức tượng Chúa hài đồng Samuel khỏi cõi đời này. Cùng lúc đó, ngay phía sau lưng anh vang lên một tiếng khịt mũi giận dữ và đầy uy lực.

Anh quay phắt người lại. Cửa đang mở, và bên kia chiếc bàn là một người đàn ông lực lưỡng, râu đen sì, tay áo xắn cao, trong tư thế gợi nhớ đến vị tướng Ajax thách thức sấm sét. Đôi bàn tay ông ta run rẩy. Bộ râu dựng đứng cả lên. Đôi mắt sắc lẹm ánh lên vẻ dữ tợn bên dưới đôi lông mày rậm rì. Khi Owen vừa quay lại, ông ta gầm lên một tiếng giống như phát đại bác khai hỏa.

"Dừng lại ngay!"

Tâm trí Owen, bị giật lùi quá đột ngột từ tương lai mộng mơ về hiện tại sống động, vẫn chưa hoàn toàn lấy lại sự kiểm soát. Anh há hốc mồm.

Gã đàn ông gầm lên: "Dừng — cái — thứ — âm — thanh — chết — tiệt — đó — lại!"

Ông ta lao vút qua cửa, đập rầm một cái và nện bước chân nặng nhọc lên cầu thang.

Owen cảm thấy bực mình. Tính khí nghệ sĩ thì cũng hay đấy, nhưng phải có giới hạn chứ. Thật vô lý khi những tác giả vô danh lại đi hành xử theo kiểu này. Prosser! Quái quỷ nào là Prosser chứ? Đã có ai từng nghe danh hắn chưa? Chưa hề! Thế mà hắn lại đi khắp các vùng quê đánh vào vành tai mấy đứa trẻ con, ném ổ bánh mì vào các nhân viên ngân hàng như thể hắn là Henry James hay Marie Corelli vậy. Owen tự trách mình cay đắng vì sự thiếu bình tĩnh trong phút chốc. Giá như lúc đó anh giữ được cái đầu lạnh, anh đã có thể ném trả lại gã đó lọ mứt cam. Nó vốn nằm trong tầm với dễ dàng. Thay vào đó, anh lại chỉ đứng há hốc mồm ra. Trong muôn vàn lời cay đắng của lưỡi hay ngòi bút, buồn thảm nhất là câu: "Giá như thế này."

Sự hối tiếc đầy nam tính của anh bị ngắt quãng bởi sự xuất hiện của ông Dorman cùng thông tin rằng chiếc xe ngựa đã đợi sẵn ở cửa.

Audrey không có mặt ở thị trấn khi Owen trở lại London, nhưng cô đã về sau đó một tuần. Âm thanh giọng nói của cô qua điện thoại đã góp phần xoa dịu phần lớn sự bồn chồn mà anh phải chịu đựng kể từ khi kết thúc kỳ nghỉ. Nhưng ý nghĩ rằng cô ở rất gần mà lại không thể với tới đã tạo cho anh một nỗi sầu muộn trầm ngâm bao trùm lấy anh như một đám mây không chịu tan đi. Thái độ của anh trở nên lơ đãng. Anh sụt cân hẳn.

Nếu khách hàng không cảm thấy bận lòng một cách mơ hồ trước gương mặt buồn bã, tái nhợt của anh thì đó chỉ là vì nhịp sống thương mại hiện đại hối hả đến mức chẳng chừa cho một doanh nhân chút thời gian nhàn rỗi nào để quan sát vẻ xanh xao của các nhân viên ngân hàng. Điều khiến họ bận lòng chính là vẻ mơ màng dịu dàng mà anh dùng để thực hiện công việc của mình. Anh thuộc Bộ phận Hóa đơn Nhận, nơi có đặc trưng là sự ập vào bất ngờ lúc xế chiều của những thanh niên đội mũ phớt, tràn đầy năng lượng với những chiếc túi da đeo chặt vào tay trái, đòi hỏi những xấp tài liệu lách tách bí ẩn được kẹp ghim cẩn thận. Owen chưa bao giờ hiểu rõ đám thanh niên này thực sự muốn gì, và giờ đây tâm trí tách rời của anh lại càng kiên quyết từ chối giải quyết vấn đề đó. Anh phân phát các tài liệu một cách ngẫu nhiên với dáng vẻ của một vị vua đang bận tâm ban phát bổng lộc cho đám đông, và sự hỗn loạn sau đó đành phải do chính tay vị trưởng phòng đang nổi giận đứng ra giải quyết.

Sức chịu đựng của con người có giới hạn. Đến cuối tuần thứ hai, vị trưởng phòng kiệt sức đã tha thiết cầu cứu, và Owen được điều chuyển sang Bộ phận Giao dịch Bưu chính, nơi anh ghi địa chỉ các lá thư vào một cuốn sổ lớn và đem đi gửi mỗi khi rảnh rỗi không phải trả lời các cuộc gọi điện thoại của Audrey. Lẽ ra anh cũng phải đóng dấu thư nữa, nhưng một kẻ đang yêu thì chẳng thể nghĩ được điều gì khác, và đôi khi anh hay phớt lờ thủ tục này.

Một buổi sáng, nhận được thông báo quen thuộc từ một nhân viên đưa thư của ngân hàng rằng có một quý cô muốn nói chuyện với anh qua điện thoại, anh bước vào bốt điện thoại và nhấc ống nghe lên.

"Anh đấy phải không, Owen? Owen, tối qua em đã đi xem vở Những Bông Hồng Trắng rồi đấy. Anh đã xem chưa?"

"Chưa."

"Thế thì tối nay anh phải đi xem ngay. Owen, em chắc chắn là anh đã viết nó đấy. Hay tuyệt cú mèo luôn. Em khóc sưng cả mắt. Nếu tối nay anh không đi xem, em sẽ không thèm nói chuyện với anh nữa đâu, kể cả qua điện thoại. Hứa đi."

"Anh bắt buộc phải đi sao?"

"Vâng, bắt buộc đấy. Trời ạ, nhỡ đâu đó là kịch bản của anh thì sao! Nó có thể mang lại cả một gia tài đấy. Ghế hạng sang đông nghìn nghịt khán giả. Bây giờ em sẽ gọi điện cho nhà hát đặt chỗ cho anh, và em sẽ tự trả tiền."

"Không — này em —" Owen phản đối.

"Vâng, em sẽ làm thế. Em không thể tin tưởng anh tự đi được đâu. Rồi sáng mai em sẽ gọi sớm để nghe anh kể mọi chuyện nhé. Tạm biệt anh."

Owen bước ra khỏi bốt điện thoại với tâm trạng khá chán nản. Cuộc sống vốn dĩ đã đủ ảm đạm rồi, việc gì phải tự chuốc lấy rắc rối rồi ngồi khóc sưng cả mắt vì mấy vở kịch sướt mướt chứ.

Nỗi chán nản của anh càng tăng lên khi vừa trở về phòng ban, anh nhận được lời nhắn từ người quản lý rằng ông muốn gặp anh Bentley ở phòng riêng một lát. Owen chưa bao giờ thích những cuộc trò chuyện nho nhỏ này với Cấp trên. Ngoài giờ làm việc, trong vòng tay bạn bè, anh tin chắc người quản lý là một người bạn đồng hành thú vị và dễ mến; nhưng trong phòng riêng của ông thì cuộc trò chuyện lại chẳng mấy dễ chịu gì.

Người quản lý đang ngồi bên bàn làm việc, đăm đăm nhìn lên trần nhà. Vẻ ngoài giống hệt một con cá hồi nhồi bông của ông vốn đã rất nổi bật nay lại càng được làm nổi bật một cách tinh tế, và Owen, một chuyên gia trong những vấn đề này, cảm thấy những lo sợ của anh đã có cơ sở vững chắc — có rắc rối đang lơ lửng trên đầu. Ai đó đã phàn nàn về anh, và bây giờ anh chuẩn bị bị "sờ gáy" đúng như người ta vẫn hay nói.

Một gã to con đang ngồi quay lưng về phía cửa liền quay lại khi anh bước vào, và Owen nhận ra ngay những đường nét quen thuộc của ông Prosser — tay nhà văn chuyên ném bánh mì.

Owen nhìn ông ta mà không hề mang chút hằn học nào. Kể từ khi trở lại London, anh đã cất công tra cứu tên ông ta trong cuốn Who's Who và nhận ra rằng ông ta không hề mờ nhạt như anh từng nghĩ. Hóa ra ông ta là một Giáo sư Hoàng gia và là tác giả của khoảng nửa tá công trình nghiên cứu về xã hội học — một bảng thành tích mà Owen cảm thấy gần như có thể biện minh cho hành động ném bánh mì hay cốc đầu trẻ con trong những lúc nổi giận.

Người quản lý định cất lời, nhưng nhà văn đã nhanh chóng đón lời trước.

Ông ta gầm lên: "Đây có phải là thằng đần độn đó không? Này chàng trai trẻ, tôi không có ý định làm khó một kẻ thiểu năng bẩm sinh không chịu trách nhiệm về hành vi của mình, nhưng tôi phải đòi cho ra lẽ một lời giải thích. Tôi được biết rằng cậu phụ trách phần thư từ ở văn phòng này. Chà, trong suốt tuần qua, cậu đã ba lần gửi thư không dán tem cho vị hôn của tôi, cô Vera Delane, Woodlands, Southbourne, Hants. Cậu bị cái quái gì thế hả? Cậu nghĩ cô ấy thích trả hai xu cho mỗi lá thư hay thế nào?"

Tâm trí Owen bừng sáng ngay khi nghe những từ đó. Chúng gợi lại trong đầu anh điều gì đó. Rồi anh chợt nhớ ra.

Anh cảm thấy một sự rung động không lấy gì làm khó chịu. Anh chưa bao giờ biết mình là kẻ mê tín, nhưng vì lý do nào đó mà anh không sao gạt được những lời ngớ ngẩn của mẹ ông Dorman ra khỏi đầu. Và đây lại thêm một lời tiên đoán nữa của cụ, vốn chẳng có vẻ gì là khả thi, lại ứng nghiệm đến từng câu chữ.

Anh kêu lên: "Trời đất quỷ thần ơi! Hai người sắp kết hôn sao?"

Ông Prosser và người quản lý đồng loạt giật mình.

Owen nói: "Bà Dorman đã bảo là hai người sẽ cưới nhau mà. Ông không nhớ sao?"

Ông Prosser nhìn chằm chằm anh sắc lẹm.

Ông ta nói: "Chà, tao gặp mày ở đâu rồi thì phải. Mày là cái thằng ranh con đầu củ cải ở trang trại đó."

"Đúng thế," Owen đáp.

Ông Prosser rộng lượng nói: "Tao vẫn muốn gặp lại mày. Tao đã suy nghĩ kỹ về toàn bộ sự việc, và tao chợt nhận ra rằng có lẽ mình đã hơi lỗ mãng trong cuộc gặp trước."

"Không, không đâu ạ."

"Thực ra là thế này, sáng hôm đó tao đang vướng vào một đoạn sách khó nhằn chết tiệt, và khi mày bắt đầu..."

"Hoàn toàn là lỗi của tôi. Tôi rất hiểu mà."

Ông Prosser rút ra một hộp đựng danh thiếp.

Ông ta nói: "Chúng ta phải gặp nhau nhiều hơn mới được. Tối nay đến làm vài chén đi. Tối nay đến nhé."

"Tôi rất tiếc. Tối nay tôi phải đến nhà hát mất rồi."

"Thế thì đến ăn khuya sau đó vậy. Quá tuyệt. Hẹn gặp tao ở khách sạn Savoy lúc mười một giờ kém mười lăm nhé. Tao thấy mừng vì lúc đó đã không ném ổ bánh mì trúng mày. Tính bốc đồng là khuyết điểm suốt đời của tao. Bố tao cũng y chang như thế. Vậy nhé, mười một giờ kém mười lăm ở Savoy."

Người quản lý, từ nãy đến giờ vẫn lắng nghe cuộc trò chuyện với vẻ không kiên nhẫn cho lắm, lúc này liền xen vào. Ông là một người coi trọng phép tắc ứng xử, và ông phản đối việc phòng làm việc riêng của mình biến thành nơi hội ngộ của những người bạn cũ thời đại học. Ông đã ám chỉ điều đó.

Ông hắng giọng với vẻ không đồng tình: "Ha! Prrumph! Ờ... anh Bentley, thế là đủ rồi. Cậu có thể quay lại làm việc — à hừm! Lần sau làm ơn cẩn thận hơn trong việc đóng dấu thư nhé."

Ông Prosser chợt nhớ ra nỗi ấm ức của mình, liền chen vào: "Ừ, nhân danh Chúa, đúng thế đấy. Hãy cẩn trọng hơn chút đi chứ, thằng ranh đầu đất ạ. Mày nghĩ cô Delane được làm bằng tiền hai xu chắc? Hãy kèm cặp nó vào," ông giục người quản lý. "Mấy gã trẻ tuổi thời nay lúc nào cũng cần có người đứng cầm roi đứng trên đầu thế này. Lần sau cẩn thận hơn đấy, chàng trai trẻ. Nhớ nhé, mười một giờ kém mười lăm. Ghi nhớ vào, kẻo lại quên mất đấy."

Chiếc ghế mà Audrey đã mua cho anh ở Nhà hát Piccadilly hóa ra lại nằm ngay giữa hàng ghế thứ sáu của khu vực ghế hạng sang — thực sự là một cái bẫy tử thần. Dù anh có phải chịu đựng nỗi thống khổ gì đi nữa thì việc tẩu thoát là điều không thể. Anh đã bị kẹt cứng ở đó.

Khu vực vé rẻ thưa thớt người ngồi, nhưng các dãy ghế hạng sang thì kín nghịt. Owen, vốn phản đối toàn bộ sự việc này, từ chối mua chương trình biểu diễn và ổn định chỗ ngồi, sẵn sàng tinh thần đón nhận điều tồi tệ nhất. Anh có một ký ức sống động về cuốn tiểu thuyết Những Bông Hồng Trắng, và anh không hề mong chờ sẽ có được niềm vui thích nào từ phiên bản kịch của nó. Anh đã từ lâu không còn là thành viên của lượng công chúng đông đảo mà cô Edith Butler phục vụ. Những cuộc phiêu lưu sướt mướt của các gia sư trong những dinh thự của công tước — nữ chính của Những Bông Hồng Trắng là một nữ gia sư — không còn làm thỏa mãn tâm hồn anh nữa.

Luôn có một bầu không khí mang dáng dấp kỳ ảo một cách kỳ lạ xung quanh một vở kịch được chuyển thể từ sách. Người ta cứ có cảm giác như mình đã xem tất cả những thứ đó trước đây rồi. Trong suốt màn đầu tiên, Owen quy cảm giác quen thuộc với những gì đang diễn ra trên sân khấu này là do điều đó. Đến đầu màn thứ hai, anh thấy mình có thể đoán trước các tình huống sẽ xảy ra. Nhưng mãi đến màn thứ ba thì sự thật mới ngấm vào đầu anh.

Màn thứ ba là màn duy nhất mà trong quá trình chuyển thể kịch bản, anh đã thực sự có những điều chỉnh mạnh mẽ so với nội dung tiểu thuyết. Nhưng trong màn này, anh đã đưa vào một nhân vật không hề xuất hiện trong truyện — một sản phẩm từ trí tưởng tượng của chính anh. Và giờ đây, với đôi mắt trợn trừng, anh chứng kiến sinh vật đó bước ra từ cánh gà, và nghe hắn thốt ra những lời thoại mà giờ đây anh nhớ rõ mồn một là do chính mình đã viết ra.

Audrey đã đúng! Con rắn độc Edith Butler đã ăn cắp vở kịch của anh.

Tâm trí Owen hoạt động hết công suất trong suốt phần còn lại của vở kịch. Đến khi bức màn hạ xuống và anh bước ra bầu trời bên ngoài, anh đã nhận thức được một phần những khó khăn của vụ việc này. Chứng minh mình là tác giả của một vở kịch nguyên bản là điều khó khăn, nhưng không phải là bất khả thi. Những người bạn từng được nghe phác thảo cốt truyện có thể ra làm nhân chứng. Người ta có thể lưu giữ những ghi chép nháp. Nhưng việc chuyển thể một cuốn tiểu thuyết lại là chuyện khác. Mọi bản chuyển thể của bất kỳ cuốn tiểu thuyết nào nhất thiết đều phải có điểm tương đồng lớn.

Anh bắt đầu đi dọc theo đường Piccadilly, và đã đến tận góc Công viên Hyde trước khi sực nhớ ra mình có hẹn đi ăn khuya với ông Prosser tại Khách sạn Savoy. Anh vẫy một chiếc xe cab.

"Cậu đến muộn đấy," tác giả của các chuyên khảo xã hội học cất giọng vang như sấm khi xuất hiện. "Cậu đến muộn chết tiệt. Chắc là với cái đầu bã đậu của mình, cậu đã quên sạch sành sanh rồi chứ gì. Đi thôi. Chúng ta vừa kịp làm vài quả ô-liu và một ly đồ uống trước khi họ tắt đèn đấy."

Owen vẫn đang mải suy nghĩ trầm ngâm khi bắt đầu bữa ăn khuya. Chắc chắn phải có cách nào đó để anh chứng minh quyền lợi của mình. Anh đã làm gì với bản thảo gốc rồi nhỉ? Giờ thì anh nhớ ra rồi. Anh đã đốt nó đi. Lúc ấy nó chẳng khác nào đống rác vô tích sự. Có lẽ nào, anh cay đắng nghĩ, mụ đàn bà Butler đã tính toán trước điều này.

Ông Prosser kết thúc cuộc trò chuyện sôi nổi với người hầu bàn về chủ đề rượu vang của Pháp, chồm người về phía trước, nhanh nhẹn tự gắp cho mình chút cá cơm và bắt đầu trò chuyện. Ông ta nói lớn tiếng và dồn dập. Owen, với tâm trí trôi dạt tận đẩu tận đâu, hầu như chẳng thèm lắng nghe.

Chẳng mấy chốc người hầu bàn quay lại với nhãn hiệu rượu đã chọn. Ông ta rót đầy ly của Owen, và Owen uống một ngụm, cảm thấy dễ chịu hơn. Thấy chiếc ly của mình lại được rót đầy một cách thần kỳ, anh liền cạn sạch thêm lần nữa. Và rồi đột nhiên anh thấy mình đang nhìn thẳng qua bàn vào người chủ tiệc, dâng trào một niềm tin tuyệt đối rằng đây chính là con người duy nhất trong tất cả mọi người mà anh muốn chọn làm người tâm sự. Gương mặt ông ta mới hiền từ làm sao, dù có hơi nhòe đi một chút! Giọng nói của ông ta mới êm dịu làm sao, dẫu có hơi không rõ tiếng!

Anh cất lời: "Prosser này, anh là một người từng trải, và tôi muốn xin lời khuyên của anh. Anh sẽ làm gì trong một trường hợp thế này? Tôi đến nhà hát xem một vở kịch, và điều tôi nhận ra là gì chứ?"

Anh ngừng lại, nhìn chủ nhà với vẻ đầy ấn tượng.

Ông Prosser nói: "Mấy đứa đang chơi bài gì thế nhỉ? Đi đâu cũng nghe thấy. Chắc lại là mấy giai điệu kiểu Viên nào đó rồi."

Owen cảm thấy bực mình. Anh bắt đầu nghi ngờ rằng rốt cuộc những phẩm chất làm người tâm sự của ông Prosser có khi chỉ là bề ngoài chứ thực chất chẳng đáng là bao.

Anh tiếp tục: "Nhân danh Chúa, tôi nhận ra rằng chính tôi là người đã viết ra cái thứ đó."

Ông Prosser thờ thẫn nói: "Chẳng thấm vào đâu so với Góa Phụ Vui Tính cả."

Owen đập mạnh tay xuống bàn.

"Tôi bảo là tôi nhận ra chính mình đã viết ra thứ đó cơ mà."

"Thứ gì cơ?"

"Vở kịch mà tôi đang kể cho anh nghe ấy. Cái trò Những Bông Hồng Trắng này này."

Anh nhận ra cuối cùng mình cũng thu hút được sự chú ý của chủ nhà. Ông Prosser có vẻ thực sự quan tâm.

"Ý cậu là sao?"

Owen lao vào câu chuyện của mình. Anh bắt đầu từ những khởi đầu mờ mịt của nó, từ những ngày anh mua cuốn tiểu thuyết trên chuyến hành trình từ Bath đến Cheltenham. Anh miêu tả phương pháp làm việc của mình, cách anh gửi bưu kiện bảo đảm, sự hồi hộp, rồi sự cam chịu ngày càng lớn dần. Anh phác thảo lại chặng đường cuộc đời mình. Anh kể về Audrey và vẽ nên một bức chân dung sắc nét về ông Sheppherd. Anh đưa người nghe tiến thẳng đến khoảnh khắc sự thật phơi bày trước mắt.

Gần cuối câu chuyện, hệ thống đèn tắt ngúm, và anh kết thúc câu chuyện ngay tại sân bay của khách sạn. Trong không khí mát mẻ, anh cảm thấy tỉnh táo trở lại. Những đường nét của ông Prosser lại sắc nét và rõ ràng.

Nhà xã hội học lắng nghe một cách tuyệt vời. Ông ta có vẻ vô cùng chăm chú và không hề ngắt lời dù chỉ một lần.

Khi họ bước ra đến đường Strand, ông ta hỏi: "Điều gì khiến cậu chắc chắn đó là phiên bản của cậu?"

Owen kể cho ông ta nghe về nhân vật do trí tưởng tượng của anh tạo ra trong Màn III.

"Nhưng cậu đã làm mất bản thảo rồi ư?"

"Đúng vậy; tôi đã đốt nó đi rồi."

Ông Prosser nói một cách cay nghiệt: "Đúng là điều người ta có thể đoán trước ở cậu. Này chàng trai trẻ, tao bắt đầu tin là có uẩn khúc trong chuyện này đấy. Tất nhiên là cậu chẳng có nổi một chút bằng chứng mảy may nào có thể đứng vững trước tòa án cả; nhưng dẫu sao, tao vẫn có xu hướng tin cậu. Một phần vì cậu không đủ thông minh để bịa ra một câu chuyện như thế này."

Owen cảm ơn ông ta.

"Thực ra, nếu cậu trả lời được một câu hỏi của tao thì tao sẽ hoàn toàn bị thuyết phục."

Owen có cảm giác rằng ông Prosser đang có xu hướng tỏ ra trịch thượng hơn mức cần thiết. Dù làm một người lắng nghe thông minh thì rất hữu ích, nhưng điều đó dường như chẳng phải là lý do để ông ta tự biến mình thành một dạng quan tòa hay tổng quản buổi lễ.

Anh nói: "Anh tốt quá nhỉ; nhưng liệu Edith Butler có thấy thỏa mãn không? Đó mới là điều quan trọng hơn đấy."

Ông Prosser đáp: "Chính tao là Edith Butler đây."

Owen khựng lại. "Anh ư?"

"Cậu không cần phải bô bô cái miệng ra khắp chốn đâu. Cậu là người duy nhất ngoài người đại diện của tao biết chuyện này, và tao sẽ chẳng đời nào nói cho cậu biết nếu có thể tránh được. Đó không phải là điều tao muốn thiên hạ đều hay biết. Trời đất quỷ thần ơi, đừng có trợn mắt nhìn tao như cá ngần thế chứ! Cậu chưa từng nghe nói về bút danh bao giờ à?"

"Vâng, nhưng mà —"

"Thôi, khỏi cần bàn nữa. Cứ coi như tao chính là Edith Butler đi. Bây giờ thì nghe tao nói đây. Bản thảo đó đến tay tao khi tao đang ở miền quê. Trên đó chẳng đề tên tuổi gì cả. Điều đó tự bản thân nó đã chỉ ra một cách mạnh mẽ rằng cậu chính là tác giả của nó. Đó chính xác là cái kiểu hành động đần độn mà cậu sẽ làm khi chẳng thèm đề tên tuổi gì lên tác phẩm."

"Dù sao thì tôi cũng có gửi kèm một bức thư mà."

"Có một bức thư gửi kèm thật. Tao mở gói bưu kiện ở ngoài trời. Lúc đó trời đang có một cơn gió lốc thổi mạnh. Nó cuốn béng bức thư đi, và đó là lần cuối cùng tao nhìn thấy nó. Tao chỉ đọc được đến đoạn 'Kính gửi Bà'. Nhưng có một điều tao còn nhớ về nó, đó là nó được gửi từ một khách sạn nào đó ở Cheltenham, và tao vẫn có thể nhớ ra nếu nghe thấy tên nó. Nào, thế thế nào?"

Owen đáp: "Tôi có thể nói cho anh biết. Đó là khách sạn Wilbraham's. Tôi đang trọ ở đó."

Ông Prosser nói: "Cậu đạt yêu cầu. Chính là Wilbraham's."

Trái tim Owen thót lên một nhịp. Trong giây lát, anh như bay bổng trên chín tầng mây.

"Vậy ý anh muốn nói là mọi chuyện đều ổn cả rồi — rằng anh tin tưởng —"

Ông Prosser nói: "Đúng thế. Nhân tiện đây," ông tiếp lời, "thông cáo ngừng diễn của Những Bông Hồng Trắng đã được dán lên từ tối qua rồi."

Trái tim Owen bỗng chốc nặng trĩu như đá chì.

Anh lắp bắp: "Nhưng... nhưng mà... Nhưng tối nay khán giả đông kín nhà hát cơ mà."

"Đúng vậy. Đông kín vé mời miễn phí. Toàn bộ mấy tên ăn hại vui tính ở London đều có mặt ở đó cả. Đó là vở kịch thất bại thảm hại nhất trong mùa này đấy. Và nhân danh Chúa," ông hét lên với một sự phẫn nộ đột ngột, "đáng đời bọn chúng lắm. Nếu tao nói với chúng một lần rằng nó sẽ thất bại ở Anh, thì tao đã nói tới cả trăm lần rồi. Công chúng London đời nào chịu đựng nổi cái thứ văn chương sướt mướt nhảm nhí đó."

Owen dừng lại và nhìn xung quanh. Một chiếc xe cab đang đỗ bên kia đường. Anh ra hiệu gọi nó. Anh cảm thấy bản thân hoàn toàn kiệt sức không thể đi bộ về nhà nổi. Không một đòn giáng thể xác nào có thể làm anh suy sụp hoàn toàn hơn sự thất vọng ê chề này ngay vào lúc tưởng chừng như bằng một phép màu nào đó, mọi thứ đều đang mỉm cười với anh.

Ông Prosser thò đầu qua cửa sổ mở rộng, nói: "Đi xe vẫn hơn là đi bộ. Sự lười biếng — sự chây ì — đó chính là lời nguyền của thanh niên hiện đại. Tao bảo hắn lái đi đâu đây?"

Owen đọc địa chỉ nhà mình. Anh chợt nhớ ra rằng mình vẫn chưa cảm ơn chủ nhà vì lòng hiếu khách.

Anh nói: "Thật sự rất cảm ơn anh vì bữa ăn khuya nhé, anh Prosser. Tôi thưởng thức nó vô cùng."

Ông Prosser đáp: "Lần sau lại đến nhé. Tao e là cậu đang cảm thấy thất vọng về vở kịch lắm đúng không?"

Owen gượng cười.

"À không, mọi chuyện ổn cả mà," anh nói. "Đành chịu thôi chứ biết sao được."

Ông Prosser quay người lại nửa chừng, rồi lại thò đầu qua cửa sổ một lần nữa.

Ông ta nói: "Tao nhớ ra còn có điều này suýt quên chưa nói. Lẽ ra tao phải nói cho cậu biết rằng vở kịch này đã được công chiếu ở Mỹ trước khi đến London. Nó đã trụ vững hai mùa diễn ở New York và một mùa ở Chicago, và hiện vẫn có ba đoàn kịch đang lưu diễn trình diễn nó trên khắp các nẻo đường đấy. Đây là danh thiếp của tao. Ngày mai hãy ghé qua gặp tao nhé. Tao không thể nhớ ngay con số chính xác lúc này được, nhưng mọi chuyện sẽ ổn thôi. Cậu sắp có cả một đống tiền rồi đấy."

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của P. G. Wodehouse

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.