Sau lần gặp đầu tiên ấy, anh gặp cô rất nhiều. Dần dần, giữa họ ngầm hiểu rằng cô sẽ ghé qua trên đường từ nhà hát về. Anh bắt đầu mong ngóng cô, và thấy bứt rứt khi cô đến muộn. Có bận cô dẫn cả Gladys – cô nàng cuồng thuốc lá – đi cùng, nhưng cuộc thử nghiệm ấy không thành công cho lắm. Gladys cứ ẻo lả và tỏ ra thanh lịch đến mức phát ngột, khiến câu chuyện trở nên gượng gạo. Từ đó về sau, Peggy đi một mình.
Thường thì cô thấy anh đang làm việc. Sự siêng năng của anh khiến cô kinh ngạc.
– Trời ơi, George – cô cất lời vào một tối nọ, ngồi vào chỗ quen thuộc trên chiếc bàn làm việc mà anh đã dọn bớt một chồng bản thảo nhỏ để nhường chỗ cho cô. – Anh không chịu nghỉ ngơi lấy một giây sao? Em thấy lúc nào anh cũng viết.
Rutherford bật cười.
– Anh sẽ nghỉ ngơi khi nào người ta chuộng tác phẩm của anh hơn bây giờ một chút, – anh đáp. – Khi nào anh bước vào hàng ngũ tác giả kiếm được hai mươi xu một từ, anh sẽ chỉ viết mỗi tháng một lần và dành phần thời gian còn lại để đi du lịch.
Peggy lắc đầu.
– Du lịch với lị du lịch, em chẳng ham, – cô nói. – Em thấy đúng là dở hơi khi người ta cứ thích rời khỏi Broadway trong khi đã có đủ tiền túi để ở lại đó mà tận hưởng.
– Em thích Broadway lắm à, Peggy?
– Em thích Broadway á? Trẻ con có thích kẹo không cơ chứ? Thế sao, anh lại không thích chắc?
– Nơi đó cũng tạm được lúc này. Chỉ là nó không phải chốn lý tưởng của anh thôi.
– Ồ, thế anh đang thèm khát cái cõi Thiên Đàng nhỏ bé nào ở tận đâu thế hả?
Anh rít một hơi tẩu thuốc, màng khói lãng đãng nhìn cô.
– Tận bên Anh quốc cơ, Peggy ạ, có một hạt gọi là Worcestershire. Và đâu đó gần rìa hạt ấy có một ngôi nhà xám có mái đầu hồi, ở đó có bãi cỏ, đồng cỏ, bụi rậm, vườn cây ăn quả, một khu vườn hồng, và một cây tuyết tùng lớn nằm trên khoảng sân thượng trước khi bước vào vườn hồng. Và nếu em leo lên ngọn cây tuyết tùng đó, em có thể nhìn thấy dòng sông lấp ló qua những tán táo trong vườn. Xa xa là những ngọn đồi. Và—
– Đúng là cái xứ nhà quê một cục! – Peggy thốt lên với vẻ chán ngán tột cùng. – Chà, sống ở cái chốn đó tầm hai mươi ba tiếng thôi cũng đủ là quá sức chịu đựng đối với em rồi. Broadway là chân ái của em! Cứ quăng em vào chỗ nào mà em có thể với tay chạm tới Đường 42 mà không bị ngã nhào, rồi anh muốn làm gì thì làm. Em chưa từng nghĩ anh lại là một gã nhà quê đến thế đấy, George.
– Đừng lo, Peggy. Anh nghĩ còn lâu lắm anh mới bén mảng đến đó. Anh phải gây dựng sự nghiệp trước đã.
– Sắp đạt đến tầm của bác John D. chưa anh?
– Anh vẫn còn phải phấn đấu một quãng dài. Nhưng mọi thứ đang tiến triển, anh nghĩ vậy. Em có biết không, Peggy, ngồi trên cái bàn kia, em trông giống hệt một bức tượng Billiken nhỏ bé đấy?
– Cảm ơn anh nhé, George. Em vẫn luôn biết miệng mình hơi rộng thật, nhưng cứ làm như em thua kém cả tượng Billiken không bằng. Anh có hay dùng cái kiểu "Bằng hữu Thẳng thắn" đó với cô ấy không? – Cô chỉ tay về phía bức ảnh trên lò sưởi. Đây là lần đầu tiên kể từ đêm họ gặp nhau cô mới đả động đến nó. Theo một thỏa thuận ngầm, đề tài ấy đã bị họ gạt bỏ từ lâu. – Nhân tiện, chưa bao giờ anh nói cho em biết tên cô ấy.
– Halliday, – Rutherford đáp gọn lỏn.
– Gì nữa cơ?
– Alice.
– Đừng có mà cắn em, George! Em có làm gì anh đâu. Kể cho em nghe về cô ấy đi. Em thấy tò mò đấy. Cô ấy có sống ở cái ngôi nhà xám xịt nuôi đầy lợn với gà cùng đống hoa hồng, kèm theo cả cái lố lăng nhà quê kia không?
– Không.
– Thân mật với em tí xem nào, George. Sao thế hả anh?
– Anh xin lỗi, Peggy, – anh nói. – Anh ngốc thật. Chỉ là mọi thứ cứ như thể vô vọng lắm rồi ấy! Đây này, anh kiếm được khoảng nửa đô-la một năm, và—Thôi, có càu nhàu cũng chẳng ích gì, phải không? Dù sao thì, biết đâu có ngày anh lại làm nên chuyện lớn với việc viết lách của mình. Đó là điều anh muốn nói khi bảo em là một tượng Billiken đấy, Peggy ạ. Em biết không, từ hồi gặp em, vận may của anh đã phất lên gấp đôi. Em chính là bùa hộ mệnh của anh đấy.
– Oai ghê nhỉ! Ai trên đời cũng có ích cả, đúng không anh? Em tự hỏi không biết nếu em hôn anh thì có giúp ích gì được không, George?
– Đừng có làm thế. Không ai lại đi vắt kiệt sức của bùa hộ mệnh cả.
Cô nhảy xuống, bước qua căn phòng đến chỗ anh ngồi, cúi xuống nhìn anh bằng đôi mắt tròn vo, xám ngắt lúc nào cũng gợi anh nhớ đến mắt mèo con.
– George!
– Gì thế em?
– À, không có gì!
Cô quay ngoắt đi về phía lò sưởi, đứng ngẩn ngơ ngắm bức ảnh, lưng quay về phía anh.
– George!
– Ơi?
– Này, mắt cô ta màu gì thế?
– Xám.
– Giống mắt em á?
– Sẫm màu hơn mắt em.
– Đẹp hơn mắt em à?
– Em không nghĩ là chúng ta có thể nói chuyện khác hay sao?
Cô quay phắt lại, hai tay siết chặt thành nắm đấm, mặt đỏ bừng bừng.
– Em căm ghét anh! – cô thét lên. – Em ghét thật đấy! Ước gì em chưa từng gặp anh! Ước gì—
Cô tựa người vào bệ lò sưởi, vùi mặt vào hay tay, bật khóc nức nở. Rutherford chồm dậy, bàng hoàng và bất lực. Anh lao đến bên cô, dịu dàng đặt tay lên vai cô.
– Peggy, cô bé ngoan...
Cô hất tay anh ra.
– Đừng có chạm vào em! Cấm anh đấy! Trời ơi, em ước gì mình chưa từng gặp anh!
Cô chạy ra cửa, lao vụt ra ngoài và sập mạnh cửa lại phía sau.
Rutherford vẫn đứng nguyên ở đó, bất động. Rồi, gần như theo phản xạ, anh thò tay vào túi tìm hộp quẹt và châm lại tẩu thuốc.
Nửa tiếng trôi qua. Lúc đó cửa mới từ từ hé mở. Peggy bước vào. Trông cô nhợt nhạt, mắt đỏ hoe. Cô mỉm cười—một nụ cười nhỏ đầy vẻ tội nghiệp.
– Peggy!
Anh bước một bước về phía cô.
Cô chìa tay ra.
– Em xin lỗi, George. Em thấy mình tệ quá.
– Cô bé ngốc này, nói nhảm gì thế!
– Thật mà. Anh không biết em thấy mình tồi tệ thế nào đâu. Anh đối xử với em rất tốt, George ạ. Em nghĩ mình nên ghé qua để nói lời xin lỗi. Chúc anh ngủ ngon, George!
Đêm hôm sau anh chờ đợi, nhưng cô không đến. Những đêm trôi qua, và cô vẫn không đến. Rồi vào một buổi sáng nọ, khi đọc báo, anh thấy vở kịch *The Island of Girls* đã chuyển hướng về phía tây tới Chicago.