Những ngày hè của Dũng qua đi trong mong đợi con Sói Lửa đột ngột quay về. Nhưng càng trông càng vắng. Vào những ngày chớm thu, có một người trong tốp thợ gỗ báo cho ông Giáp biết chú có gặp một đàn sói, trong đàn hình như có con Sói Lửa của ông ở thung lũng Vũng Trổ. Ban đầu thì ông hơi ngạc nhiên nhưng sau đó ông nói với chú thợ rừng:
– Cũng có thể lắm. Đối với thú rừng, nhất là với chó sói thì quãng đường ấy thấm gì. Thế là không còn mong gì nó quay về nữa.
Vũng Trổ là phía trong vùng Rẫy Bạn. Từ làng vào đấy phải mất hai ngày đường. Đấy là một thung lũng rất rộng, thấp hẳn xuống, xung quanh bao bọc bởi những dãy rừng già. Xưa kia, những người theo Nguyễn Huệ bị Gia Long truy lùng đã vào đây khai khẩn, sinh cơ lập nghiệp. Được ít lâu, phần vì lam sơn chướng khí, phần vì hổ báo và thú dữ đe dọa nên họ phải bỏ cơ ngơi lại, rút ra làng, tản mát mỗi người một phương. Về sau ruộng nương của họ trở lại thành rừng. Bây giờ người ta chỉ còn nhận ra dấu tích của họ để lại do những cây mít, cây bưởi, cây chè cổ thụ hoặc những luống đất kiểu vồng khoai. “Cánh đồng rừng” này cây cối vươn cao, thẳng tắp nhưng thưa, xen giữa những rừng cây là các bãi cỏ, cồn cỏ và bãi thụt ngút ngàn cỏ nước. Quanh thung lũng có những mái rừng bạt ngàn những chuối, lồ ô, mai, nứa - những thứ mà loài thú móng guốc lớn lớn thích ăn. Thợ săn thỉnh thoảng cũng có rủ nhau vào đây săn voi, bò rừng và bò tót.
Một hôm cánh thợ săn trong bạn săn của ông Giáp đến nhà ông chơi, họ rủ ông đi săn bò rừng. Ông suy tính một lúc rồi gật đầu:
– Ừ năm nay ta nên trở lại săn bò rừng vậy.
Ông Giáp nói vậy là vì năm vừa qua bạn săn này không đi săn bò rừng, và vì năm nay không có con chó săn đầu đàn nào nữa nên khó săn hươu, nai và hoẵng. Còn săn bò thì không cần đến những con chó thính hơi.
Tốp thợ săn vào rừng tìm đường đàn bò hay đi lại, làm những cái thòng lọng có khúc gỗ đặt sẵn bên đường. Mất năm ngày liền họ đã chuẩn bị được một bãi săn, chỉ cần chờ một trận mưa nữa là đẹp, mưa để xóa hết dấu vết con người. May quá, khi tốp thợ săn về nhà thì trời đổ một cơn mưa giông. Ai cũng bảo như thế là vận may đã đến.
Nhưng thật không ngờ, trước hôm thợ săn sửa soạn lên đường vào bãi săn thì ông Giáp có trát quan đòi lên huyện vì chuyện viên lính lệ dạo nào bị con Sói Lửa cắn vào cánh tay. Nguyên do là viên lính lệ bị bệnh thương hàn rồi chết. Người nhà lão phát đơn kiện ông Giáp. Họ đổ cho ông đã để chó dại cắn chết người của họ và đòi bồi thường nhân mạng. Chuyện tưởng không đâu vậy mà cứ nhì nhằng mãi, cuối cùng mọi chuyện trái phải đã rạch ròi. Quan trên thấy không có cớ để bắt ông Giáp bồi thường, đành phải xử trắng án. Cũng do vụ rắc rối này nên khi cánh thợ săn đến rủ ông đi săn bò rừng, ông bảo:
– Hoãn lại ít hôm nữa! - Nhưng chừng như thấy cánh thợ săn chưng hửng vì buồn, ông lại bảo - Hay là các chú cứ đi, dắt theo cả ba con chó lớn! - Ông nhìn con trai, hỏi: - Bao giờ trường khai giảng?
Dũng thưa:
– Còn gần hai tháng nữa bố ạ.
Ông lại hỏi:
– Mày có muốn đi săn bò rừng với các chú không? Cứ đi cho quen.
Bà vợ ông hốt hoảng, từ nhà trong chạy ra bảo:
– Không được đâu! Rồi lại lạc rừng đấy.
Ông Giáp tính toán một lúc rồi nói:
– Không sợ đâu! Nếu có bị lạc thì gọi chó: “Lạc đường nắm đuôi chó” con ạ! Nhưng phải cẩn thận, phải nghe lời các chú thợ săn.
Ông Giáp đã quyết thì bà vợ cũng không can ngăn. Sáng hôm sau, bà chuẩn bị cho con trai mọi thứ như những lần chuẩn bị cho chồng đi săn bò rừng: mo cơm ăn trưa cho người và chó, gạo, mắm muối đủ ăn ba bốn ngày. Bà còn cẩn thận nhét vào túi áo con bao diêm, gói muối ràng bọc kín bên ngoài bằng lá chuối khô, bỏ túi cài kim băng lại cẩn thận. Dũng dắt con chó Khoang còn con Đốm và con Mực thì các chú dắt. Tốp săn bò rừng gồm có năm người. Đi mất gần hai ngày đường rừng thì họ đến thung lũng Vũng Trổ. Đúng là lời người ta đồn đại quả không ngoa: vùng rừng thật là tuyệt, rừng cây xen lẫn đồng cỏ, bãi lầy, hệt như một vùng chăn nuôi mà thiên nhiên đã tạo ra cho thợ săn nuôi muông thú. Leo lên cây cao nhìn bất cứ một bãi cỏ nào cũng có thể thấy từng đàn bò rừng, trâu rừng nhởn nhơ gặm cỏ như những đàn trâu bò nhà. Cũng trên các trảng cỏ có những gia đình nai hoặc hươu năm bảy con, chốc chốc lại tung vó chạy vòng quanh bãi hoặc nghểnh cổ ngơ ngác vào rừng cây.
Cánh thợ săn hạ trại bên một cái hang đặt cạnh dòng sông. Dũng ở lại trại nấu cơm, còn cánh thợ săn thì đi xem lại các bẫy thòng lọng. Họ xem xét những con đường mà đàn thú có thể tháo chạy, rồi chặt cây rào chắn lại. Mọi việc xong xuôi cánh thợ săn trở về thì cơm đã chín. Cơm nước xong xuôi thì mặt trời lặn, bóng núi ập xuống trùm kín cả bãi cỏ, rừng cây.
*
* *
Hôm sau khi gà rừng cất tiếng gáy thì cánh thợ săn đã đánh thức nhau dậy, sửa soạn cơm nước để kịp ra bãi săn.
Biết tính nết bò rừng nhút nhát, cánh thợ săn phải tranh thủ đi thật sớm khi trời còn đẫm sương, chưa có gió để chúng khó phát hiện.
Đến bãi săn, chú Bào chỉ một cây dẻ gai to và thẳng, trên ngọn có ba cành đâm chếch thành chạc ba, ngay cạnh con đường mòn do trâu bò rừng đi, bảo Dũng leo lên ngồi, hễ thấy đàn bò rút về hướng này thì hò hét xua đuổi. Chú còn dặn Dũng không được xuống đất, lỡ đàn bò bị dồn đuổi kéo đến sẽ trở tay không kịp, nhất là không được tự động xuống đất đi lung tung; cứ ngồi đấy chờ, các chú sẽ quay lại đón.
Dũng vâng lời, leo lên cây dẻ. Cậu chặt cành cây, cắt dây rừng buộc cành cây lên cái chạc ba của cây dẻ làm thành một cái giàn che chắn để ngồi cho thoải mái. Ngồi trên cao này thì chả có bất cứ một con thú dữ nào. Cậu khoái chí leo lên tận ngọn cây, ngóng nhìn bốn bề núi rừng trùng điệp, cố đoán xem làng xã mình nằm về hướng nào, nhưng thật khó mà hình dung được. Cậu có cảm giác như đang ngồi trên cột buồm của chiếc mành đánh cá ra khơi, bốn bề mênh mông trời nước.
Có tiếng hò hét của cánh thợ săn và tiếng chó sủa. Cuộc săn đuổi sôi động đã bắt đầu. Dũng đứng hiên ngang trên chòi cao, tay cầm chắc con mác vót sắc thả sức hò hét. Tiếng chó sủa, tiếng cành cây gãy ào ào chuyển dần về phía con đường cậu đang trấn ngự. Cậu lại nghe tiếng chân bò rừng cuốc trên đường rừng mỗi lúc một rõ dần. Cậu vừa rung cành cây vừa gào thét. Đàn bò chừng sáu bảy con, dẫn đầu là con bò đực có cái u nhô trên cầu vai nom chư một con bò nhà, đang vừa lắc lắc cặp sừng vừa chạy. Nghe tiếng cậu gào thét, con bò đổi hướng, chạy vòng trở lại. Cánh thợ săn chạy vòng lại phía Dũng. Chú Bào nói:
– Khá lắm! Cứ thế là được!
Tiếng chó sủa xa dần. Rồi tiếng cánh thợ săn cũng xa nốt. Không gian yên ắng trở lại. Dũng chờ đợi tiếng chó sủa. Tiếng chân bò cuốc trên đường rừng rậm rạp vọng tới. Nhưng vẫn yên ắng. Cậu đợi một lúc rất lâu và bắt đầu sốt ruột. Bỗng tiếng chó lại vòng trở lại, mỗi lúc nghe một rõ. Đàn bò, vẫn con bò đực u dẫn đầu vòng lại con đường Dũng đang canh giữ. Cậu lại hò hét, xua đuổi. Con bò đực lại lượn một vòng rồi dẫn cả đàn quành lại. Cứ thế, đàn bò quanh đi, quanh lại trên vùng rừng dễ chừng bằng cả vùng đất làng cậu. Cánh thợ săn cố ép chúng vào các nẻo đường đã đặt sẵn những dây thòng lọng. Nhưng con bò đực đầu đàn hình như đã bị săn xổng vài lần nên rất khôn. Cuộc săn đuổi vây ráp kéo dài cho đến xế bóng vẫn chẳng ăn thua gì. Lại một lần nữa đàn bò vòng lại, và lần này mặc cho Dũng hò hét, con đầu đàn húc tung cái hàng rào bằng những cành cây ken lại, cứ thế dẫn cả đàn, nhắm con đường mòn phóng nước kiệu. Dũng nghe tiếng chú Bào từ triền rừng bên kia hỏi vọng sang:
– Chúng xé rào rồi à?
– Vâng, chúng xé rào chạy rồi. - Dũng hét to. - Cháu xuống chú nhé!
– Không. Cứ ở trên đấy! - Chú Bào hò bét bạn săn - Nhanh chân lên các bạn. Đừng hò hét nữa, chạy vòng lên đón đầu!
Thợ săn im lặng. Chốc sau tiếng chó cũng im nốt, tất cả như chìm vào rừng sâu. Dũng vẫn ngồi trên cây dẻ chờ tiếng chó sủa vọng lại. Nhưng càng chờ càng mất hút. Trời đã cuối chiều mà vẫn không thấy tăm hơi cánh thợ săn đâu cả. Dũng bắt đầu lo, không khéo các chú cứ mải đuổi theo đàn bò lạc lối rồi cũng nên. Cậu cất tiếng gọi:
– Chú Bào ơi! Chú Tín ơi!
Chẳng có tiếng trả lời. Dũng lại cất tiếng gọi chó:
– Khoang... Khoang... Khoang...!
Cũng chẳng có tiếng đàn chó. Bỗng bầu trời đen kịt lại, cơn giông đột ngột ập đến. Gió thổi rất mạnh, thỉnh thoảng lại có những cơn gió giật vặn lấy ngọn cây như muốn nhổ bật gốc lên. Cây dẻ Dũng ngồi chao đảo như đưa võng. Cậu cảm thấy giờ phút này mình giống như một con kiến leo lên trên ngọn rau dền giữa cơn cuồng phong, có thể bị gió cuốn đi bất cứ lúc nào và ném bất cứ chỗ nào. Tình huống này cánh thợ săn không hề nghĩ tới. Dũng tụt xuống khỏi ngọn cây dẻ. Nhưng đi đâu một mình giữa rừng sâu này? Dũng tính toán một lúc. Đành tìm về trại bên bờ suối vậy. Dù sao trại cũng được rào chắn cẩn thận. Các chú có quay lại đây hẳn cũng đoán ra cậu đã về trại. Để cho chắc chắn, cậu dùng mũi mác khắc vào vỏ một cành xương cá, loại cây vỏ mịn và xanh hai chữ “về trại”, rồi dùng mác vạc vỏ cây dẻ ra, tra cành xương cá vào đấy. Trong tốp thợ săn có chú Tín và chú Bào biết chữ. Hai chú đọc được bức thư này sẽ hiểu. Dũng hình dung lại con đường từ trại đến bãi săn. Phải rồi, lên khỏi dốc, đi qua một quãng rừng nhiều giang; qua một bãi cỏ rộng giữa có những cây trâm to, đi xiên qua bãi cỏ lại đến một khoảng rừng ẩm ướt thì đến một bãi cỏ nước có nhiều cây bằng lăng cành đâm ngang vẫn đang có những cánh hoa tím cuối mùa. Qua bãi cỏ nước này thì đi ngược lên, ngược mãi lên cánh rừng có nhiều cây to này đây. Trời bắt đầu rắc những hạt mưa lên lá cây. Dũng cúi xuống, một tay cầm mác, tay kia xòe ra che lấy đầu để đỡ bớt những hạt nước mưa rất lạnh khỏi rơi xuống đầu. Phải kiếm một ngọn lá cọ mà che nếu không thì ướt hết. Cậu rẽ lên mái vùng, chỗ có những bụi cọ, chặt một tàu cọ, khoác lên lưng, rồi buộc túm hai góc lá lại làm cái áo tơi. Cậu lại chặt tấm thứ hai, cắt các rìa lá đi, rồi che lên đầu. Cậu đi xuống dốc rừng theo trí nhớ để tìm đến bãi cỏ nước. Trời mưa mỗi lúc một nặng hạt, gió vấn vít, sấm chớp vẫn nổ ầm ầm. Khu rừng tối sầm lại. Cậu vẫn tiếp tục dấn bước, trong bụng vô cùng hoang mang, lo sợ. Vừa đi vừa tưởng tượng ra bao cảnh ngộ hãi hùng: cứ đi như mò mẫm trong đêm, ngộ nhỡ có con hổ, con báo nào tránh mưa bên một gốc cây lao ra thì nguy; cũng có thể giẫm phải rắn, rết trên đường đi, và trăn nữa, con trăn nằm bên đường, vô phúc giẫm phải, nó quấn chặt, nâng lên đập xuống cho mềm rồi mới nuốt. Bất giác cậu cất tiếng gọi lẫn trong nước mắt và nước mưa.
– Chú Bào ơi! Chú Tín ơi!
Nhưng mưa gió, sấm sét gầm rú thế này các chú làm sao mà nghe thấy cậu gọi. Biết vậy nhưng Dũng vẫn cứ gọi. Vừa gọi, cậu vừa bước gấp, mong sao tìm thấy bãi cỏ nước. Nhưng cậu đi đã lâu, có lúc vừa đi vừa chạy vẫn không thấy tăm hơi bãi nước đâu cả, mà phía trước cũng không thấy có một màn sáng nào dù là nhỏ chứng tỏ rằng ở đấy có một bãi quang. Dũng vẫn cứ cắm cúi đi, vừa đi vừa hết gọi các chú thợ săn, lại gọi chó. Mưa lạnh. Bầu trời trở lại quang đãng, nhưng rừng cây vẫn tối mịt. Một cảm giác kinh hoàng cực độ ập đến với cậu: trời tối rồi! Cậu đã lạc đường. “Lạc đường nắm đuôi chó”, người ta bảo thế. Nhưng có con chó nào ở đây đâu? Dũng nghĩ đến những con chó. Giá có con Khoang ở đây, dù nó không dắt được Dũng về trại thì cũng bớt cô quạnh, ôi, cậu hơi có chút hy vọng mỏng manh, giá bỗng dưng gặp lại con Sói Lửa thì cho dù có lạc đường cậu cũng không sợ. Nhưng hy vọng mỏng manh này tan nhanh càng làm cho nỗi thất vọng, nỗi cô đơn trong cậu tăng lên. Bởi nếu có con Sói Lửa và con chó còn nhớ tới cậu thì cả ngày hôm nay nó đã tìm đến với cậu rồi. Cậu mỏi mệt rã rời, khóc với ai ở đây? Cậu nghĩ thế và vụt đứng dậy mà vẫn không kìm được tủi thân. Cậu cất tiếng gào thảm thiết:
– Bố ơi! Mẹ ơi!
Người ta nói rằng khi con người sắp chết thì thường cất tiếng gọi người thân. Vì thế sau tiếng khóc gọi bố, mẹ, Dũng lại càng hoảng. Hết lo sợ cho mình, lại nghĩ đến bố mẹ. Các chú thợ săn về mà không thấy cậu thì mẹ cậu chết mất. Ôi cậu đã làm được gì đỡ đần cho mẹ đâu, mà bao lần đã làm cho mẹ đau đớn. Rồi Dũng lại nghĩ đến bố. Ông là một người gan dạ và đôi khi liều lĩnh. Chưa chừng biết cậu bị lạc, một mình một ngọn mác, ông xẻ rừng mà đi trong đêm để tìm bất chấp hổ báo, rắn rít cũng nên. Có thể không giống như mẹ, bố cậu không sụt sùi, không hốt hoảng, ông sẽ cắn môi đến bật máu để nén nỗi đau buồn, sẽ bóp tưởng đến nát cả vầng trán rộng để tính toán xem nên đi tìm con ở đâu, và phán đoán xem liệu có gì không may xảy ra với cậu không? Bố ơi trong cảnh ngộ này bố làm thế nào hả bố? Phải tĩnh tâm và can đảm! Dũng tưởng như nghe rõ lời bố bên tai. Cậu thôi khóc. Dù sao thì bên mình cậu vẫn còn có những thứ cần thiết cho đêm nay mà mẹ đã lo sẵn: mo cơm đeo bên hông và bao diêm trong túi vẫn chưa ướt. Phải tìm chỗ nào đó để nghỉ tối nay. Không thể cắm lều, nằm dưới đất qua đêm giữa rừng sâu nhiều thú dữ này.
Cậu tìm được mấy cây dẻ đỏ mọc gần sát nhau, trên ngọn lại có chạc. Cậu chặt cây con và cắt dây rừng, leo lên ngọn làm chòi. Công việc này cũng nhờ bố từng chỉ vẽ nên cậu làm rất thành thạo. Cậu kiếm lá cọ rừng lợp mái, chặt lồ ô chẻ ra làm dát. Cậu còn ken các đoạn gỗ tươi lại, đắp đất lên làm một cái bếp. Củi trong rừng không hiếm. Mặc dù trời vừa mưa, nhưng những cây nứa tép vẫn khô, cậu kiếm củi và chặt nứa làm đuốc, chuyển cả lên chòi. Cậu làm những việc này bình tâm như làm việc trên rẫy hay trong vườn nhà, chẳng nghĩ đến chuyện sợ hãi. Cậu lại chặt một cây lồ ô non chứa đầy nước. Chỉ cần dồn nước vào đầy hai ống là cậu có nước đủ dùng cho suốt ngày mai. Vác những cây gỗ mục, gỗ khô chất thành một đống to chỗ bãi đất trống trước cái chòi một đoạn rồi cậu nổi lửa. Đống củi bắt lửa soi sáng cả khoảng rừng. Cậu hy vọng đống lửa nay sẽ giúp các chú thợ săn đi tìm cậu nhìn thấy mà đến. Cậu leo lên chòi, mở cơm nắm ra ăn. Ăn xong, cậu ra khỏi chòi, leo lên tít ngọn cây hú vọng bốn xung quanh một lúc, rồi tụt xuống, chui vào chòi. Chòi cao và chắc chắn thế này, có mác sắc trong tay lại có lửa, cậu cảm thấy vững dạ. Bếp lửa trên chòi cháy rừng rực, cậu châm ngọn đuốc nứa tép vào lửa. Nứa khô, trên cao được gió, lửa càng bốc mạnh. Cậu nảy ra một ý: buộc đuốc lên ngọn cây chắc chắn ánh lửa sẽ chiếu đi xa hơn. Giờ này hẳn các chú thợ săn vẫn lặn lội trong rừng tìm cậu, ngọn lửa này sẽ giúp các chú đỡ nhọc nhằn hơn. Buộc xong ngọn đuốc, cậu lại xuống chòi. Bây giờ đêm tối quanh chòi đã đặc quánh lại như bồ hóng, cả khu rừng tĩnh mịch, bí hiểm. Chỉ có những cánh chim, những cánh dơi đi ăn đêm vỗ nhè nhẹ. Dưới mặt đất có tiếng những con vật gì rón rén trong đêm đen. Một cảm giác tự tin, lẫn một chút kiêu hãnh dấy lên trong cậu dù rất nhỏ. Trong gian nguy mà biết bình tĩnh, can đảm thì con người vẫn có thể làm chủ được, bố từng nói với Dũng như thế. Cậu ra khỏi chòi, cất tiếng đuổi thú giữa rừng khuya một vài lần rồi trở vào, nằm thảnh thơi, nghĩ đến kế hoạch ngày mai. Nhất định cậu sẽ tìm ra đường về, sẽ về với bố mẹ. Mải mê với các ý nghĩ, cậu ngủ thiếp đi lúc nào không biết.