Ngay từ cuối hè 1942, đối với dân ở Rominten, đâu đâu cũng chỉ nghe tới đại hội săn bắn được Erich Koch tổ chức, ông này là Tổng trấn của Đông Phổ, trên ba huyện lỵ vùng hồ Mazurie mà viên chủ quản đã nhượng lại làm địa hạt săn bắn tư hữu. Đây là một cuộc săn thỏ rất rộng lớn, vì dự trù ba ngàn người săn, trong đó có năm trăm đi ngựa. Toàn thể bộ tham mưu ở Rastenburg cùng các chức sắc địa phương đều tham gia lễ hội sẽ kết thúc bằng việc bầu lên một vị chúa săn.
Một đêm, viên trưởng kiểm lâm trở về từ Trakehnen, đèo theo phía sau cỗ xe kiểu Anh một con ngựa thiếu màu đen vạm vỡ, cuồn cuộn bắp thịt, bờm xờm, mông tròn trĩnh như đàn bà. Ông giải thích với Tiffauges:
- Dành cho cậu đấy. Lâu nay tôi muốn cho cậu lên nhựa. Đại hội săn bắn của Tổng trấn là một dịp tốt. Nhưng tôi khổ công tìm một con ngựa cân xứng với tầm vóc của cậu, cậu ạ! Con này bốn tuổi, lai giống với loại ngựa vùng núi Ardenne, nhưng mũi cong và da đen láng nói lên gốc gác Bắc Phi của nó, dù nó to lớn. Nó phải nặng đến sáu trăm ki-lô và vòng bướu vai ít ra là một tám mươi. Tựu trung là loại chạy xe tứ mã của thời vàng son đầu thế kỷ. Bay bổng thì nó không bay bổng, nhưng nó đèo được ba mạng như cậu. Tôi có cưỡi thử. Nó không chùn vó trước trở ngại, không sợ sông nước, không sợ gai chông, Hàm nó có hơi cứng, nhưng đến khi phi nước đại thì nó như một cỗ xe xung trận.
Tiffauges nhận lấy con ngựa, lòng rúng động, qua đó có sự dạt dào của con tim đơn độc xen lẫn linh cảm những điều trọng đại rồi đây sẽ do người với ngựa chung sức hoàn thành. Mỗi buổi sáng, từ nay cả đôi sẽ đi một cây số, đến nhà lão Presssmar, một cựu mã phu của hoàng gia, với một tái sản bao gồm một trại ngựa khá rộng, một xưởng lò và một khu tập ngựa có mái che. Ngựa của anh từ trại này mà ra. Được lão Presssmar hướng dẫn và lão này sung sướng hành nghề dạy dỗ như bất cứ ai nuôi ngựa. Nỗi vui sướng được gần gũi tấm thân to lớn, hiền lành và ấm áp mà anh kỳ cọ tẩy chải nhắc nhở anh trước hết đến đám bồ câu sông Rhin cùng những giờ khắc hạnh phúc êm ả sống với chuồng chim. Nhưng anh nhanh chóng hiểu rằng mối hồi tưởng ấy nó hời hợt và do hiểu sai mà ra. Thật ra, khi cọ xát và đánh bóng da ngựa, điều mà anh tìm thấy lại được chính là những vui thú khiêm tốn do đánh giày và đánh ủng ngày trước, nhưng được nâng lên một mức độ không so sánh nổi, Bởi vì nếu xưa kia bồ câu sông Rhin được anh chinh phục rồi sau đó trở thành những đứa con yêu quý, thì nay săn sóc ngựa cũng giống như tự mình băng bó cho mình. Và quả là một phát hiện đối với anh là mình quay về lại với mình, là mình ôm choàng lấy mình, là cái tình thương hãy còn mơ hồ đối với một người có tên là Abel Tiffauges thông qua con ngựa thiến khổng lồ của vùng Trakehnen. Một buổi sáng có ánh mặt trời rọi ngay xuống con ngựa, anh bỗng nhiên nhận ra lông ngựa đen tuyền ửng lên những vòng hào quang đồng tâm. Và như thế, con ngựa Bắc Phi này là một con Râu xanh, và cái tên thích hợp này tự nhiên mà có.
Các bài học cỡi ngựa của ông Pressmar lúc đầu vừa đơn giản vừa nhọc nhằn. Ngựa có yên, nhưng không có quai xỏ chân. Tiffauges phải nhún người phóc lên yên, và tiếp theo vào trong trường ngựa khởi sự một đợt lóc cóc nước kiệu vỗ vào mông ngựa, và người thầy dạy quả quyết rằng buổi tập dượt phải kéo dài kha khá thì người cỡi ngựa tập sự mới bảo đảm ngồi ngay ngắn được nhưng tập xong thì mệt mỏi, rã rời và rát ở hậu môn.
Lúc đầu, Pressmar quan sát học trò mình một cách kiên nhẫn, có vẻ coi thường và nói lên một đôi lời nhận xét không khoan nhượng. Chàng kỵ sĩ chúi người ngã về phía trước, cứng ngắc, đôi chân chuồi ra sau. Anh chàng suýt ngã, mà ngã cũng đáng! Phải ngồi lùi ra sau mới phải, phần thắt lưng ôm sát vào, hai bàn chân duỗi về trước, và sửa sai tư thế này bằng cách gò lưng và gò vai lại. Vẫn không nản lòng và bị ngược đãi, Tiffauges vẫn xem Pressma như một loài tôm cua đáng sợ, thu mình suốt đời trong một vũ trụ chật chội, đầy âm khí, mà lại còn không biết cách khai thác những lợi điểm. Anh thay đổi ý kiến đúng vào hôm anh cùng với ông thầy giam minh trong phòng để yên ngựa, nghe ông trình bày sự thật về con ngựa, và bỗng nhiên chứng kiến cái con người sống sót từ một thời buổi xa xăm này trở nên thông minh, nói năng có hồn, và tìm được những lời những lời chính xác và đậm màu sắc để diễn đạt. Ngồi trên một chiếc ghế đẩu cao, vắt đôi chân chữ ngũ, đùi chân gầy gò, chiếc ủng đong đưa, chiếc kính một mắt dán sát, ông thầy dạy cỡi ngựa của Guillaume đệ nhị bắt đầu đưa ra cái nguyên tắc là người với ngựa cùng là sinh vật, vậy thì không có một luận lý nào, một phương pháp nào có thể thay thế tuổi thâm cảm giữa con người với ngựa, và điều này đặt ra cho người cỡi ngựa một đức tính cốt yếu là sự tinh ý ở trên mình ngựa. Tiếp theo, sau khi lặng im nhằm để cho mấy chữ vừa nói đậm thêm giá trị, ông nói tiếp về cách luyện ngựa, Tiffauges lắng nghe một cách say sưa, vì những lời này xoay quanh trọng lượng của người cỡi và ảnh hưởng của trọng lượng với quân bình của ngựa, và rõ ràng có một tầm quan trọng trong sự chuyên chở. Ông Pressmar mở lời:
- Luyện ngựa là một công phu cực kỳ đẹp đẽ và tinh tế hơn người ta tưởng một cách thông thường. Luyện ngựa cốt ở việc trả lại cho ngựa cái dáng vóc và quân bình tự nhiên vốn đã bị hao hụt vì trọng lượng của người cỡi ngựa.
“Thật vậu, cậu so sánh phong cách của con ngựa với con nai chẳng hạn mà xem. Cậu sẽ thấy rằng toàn cộ sức lực của nai là ở vai và cổ. Trái lại, toàn bộ sức lực của ngựa nằm ở mông. Vai của ngựa thì thanh và vót lên, còn mông của nai thì gầy và xuôi. Mặt khác, quả tình khí giới của ngựa là miếng đá hậu phát ra từ mông, còn khí giới của nai là miếng vẩy sừng từ nơi bá cổ. Khi di chuyển, con nai rướn tới trước. Đó là lực kéo phía trước. Con ngựa ngược lại từ phái sau với bộ mông mà đẩy đi. Nói cho cùng, ngựa chính là bộ mông cộng với các bộ phận sát mông bổ sung vào.
“Thế mà điều thường xảy ra là gì nào khi người lên ngựa ? Cậu nhìn cho rõ tư thế của người nhé: Y ngồi quá gần phía vai ngựa hơn là phía mông. Thế là hai phần ba trọng lượng của y đề trút lên vai ngựa, mà vai ngựa, như tôi đã nói, thì yếu và nhẹ. Như thế là vai trĩu nặng nên chỉ gò lại, và sự lên gân này lan sang bá cổ, đầu, mõm, và mõm ngựa vốn dịu, nhẹ và nhạy là những gì làm nên giá trị của người dùng để cỡi. Người cỡi có trong tay một con ngựa mất cân bằng và gò gân chỉ còn nước vâng theo những yểm trợ của người một cách vụng về.
“Đến giai đoạn này mới nảy ra vấn đề luyện tập. Là làm thế nào, từng bước một, đưa đẩy con ngựa trở lại chở trên lưng nó càng nhiều càng tốt trọng lượng cuả người trên mông của nó, để giảm nhẹ cho vai. Và muốn được như vậy thì phải ngồi nhiều hơn ở trên hai vó sau, và làm sao hướng cho dôi vó này dưới chỗ mình ngồi duỗi tới trước càng xa càng tốt, nói tóm lại là, mượn một hình ảnh để so sánh nhưng không nên lạm dụng, phải bắt chước theo con căng-gu-ru với toàn bộ trọng lượng dồn vào hai chân sau, còn hai chân trước thong dong. Như một số bài tập, vấn đề luyện ngựa là cố gắng giúp cho ngựa quên đi cái trọng lượng của người cỡi mà nó đèo bòng, và trả lại cho ngựa cái thiên tính bằng cách đẩy cái giả tạo đến độ hoàn hảo. Sự rèn luyện biện giải cho một điều bất bình thường nếu ta thiết lập một cách tổ chức mới mẻ để đưa cái bất bình thường ấy vào một thế ổn định.
“Cho nên thuật cỡi ngựa vốn là nghệ thuật nhằm chi phối bao nhiêu sức khỏe cơ bắp của ngựa, là nghệ thuật chủ yếu nhằm nắm vững sự điều khiển mông ngựa là nơi tích tụ sức lực. Đùi ngựa phải chuyển theo gót chân người ấn nhẹ, khối mông ngựa phải mềm mại thông suốt thì ngựa mới nhậm lẹ, mà ngựa nhậm lẹ thì mọi cái khác do đó mà thành”.
Và vị thầy tài danh đứng lên, uốn cong người, mắt liến láo nhìn mông của chính mình - xương xẩu thế và tóp rọp thế! -, đôi chân khuỳnh vòng kiềng kẹp chặt hai phái hông của một con ngựa tưởng tượng, quần quần trong gian phòng, vừa quất roi vào khoảng không.
Bao nhiêu nhận định của Pressmar về sự đối lập giữa nai với ngựa, dù trừu tượng đến thế nào vẫn được minh chứng qua những chuyến sục sạo và đuổi dồn thú săn mà Tiffauges thực hiện kể từ nay trên mình còn râu Xanh. Không có chó – chó vẫn bị bị Goring loại ra khỏi vòng – con ngựa dần dà có vẻ hiểu ra những gì con người nhờ cậy nó, nó đánh hơi các lối đi và các lối mòn của nai cũng hăng say như chó săn vậy, là như thể ngựa với nai đối kháng nhau và trời bắt phải xung đột với nhau.
Một buổi tối lần lữa trong bóng tối vàng vọt của chuồng ngựa phảng phất mùi vị ngọt ngọt của phân, trong khi nhìn những chiếc mông láng lẩy cuồn cuồn từ chuồng này sang chuồng khác, anh nom thấy đuôi con Râu Xanh cong cớn, chênh chếch ở đàng góc, bày hậu môn ra, màu nâu nhẵn, nhỏ, nhú ra, cứng, sít sao và nhíu lại ở giữa, như cái đãy tiền co dây thắt nút. Và lập tức cái đãy tiền ấy ló ra ngoài, nhanh như một nụ hồng được quay phim nhanh, lộn trái lại như một chiếc găng tay, để trễ ra ngoài một viên hồng ươn ướt, từ phía giữa những viên hồng này anh nom thấy những hòn phân tươi rói, nhẵn thín và bóng mỡ tuyệt đẹp lăn ra từng hòn một xuống rơm không vỡ. Một mức độ hoàn hảo đến như thế trong cử động phóng uế, đối với Tiffauges rõ ràng là sự minh chứng tối cao cho những lời thuyết giảng của Pressmar. Châu thân con ngựa nằm ở cả phần mông, hẳn nhiên là như thế, và phần mông này biến con ngựa thành Thần Đại Tiện, Thần Hậu Môn, và Tận Hậu, cái chìa kháo mở vào tinh chất của nó.
Cung một trật, ta giải thích được sức hấp dẫn truyền kiếp của ngựa đối với người, và hình ảnh đậm nét sánh đôi của ngựa và người cỡi ngựa trên chiếc mông khổng lồ và trù phú của con ngựa, người cỡi không ngớt áp lên đó chiếc mông bé bỏng, cằn cỗi, nhão nhẹt của mình. Con người mơ hồ hy vọng rằng nhờ tiêm nhiễm như thế nào đó Thần Hậu Môn sẽ tỏa sáng và giáng phúc xuống đống phóng uế của mình. Nhưng vô ích: phân người vẫn không đều, khi có khi không, khi thì khô khốc, khi thì tràn trề như bụi cám, và bao giờ cũng hôi hám. Phải chi phần thân sau của ngựa giống y con người, may ra người mới có được những cơ quan bảo đảm phóng uế như ngựa được. Đó là ý nghĩa của hình tượng Nhân Mã phô bày con người dính liền bằng máu thịt với Thần Hậu Môn, mông người nhập một với mông ngựa, và người sẽ vui sướng rặn từng lọn vàng thơm tho.
Nói đến vai trò tiên quyết của ngựa trong cuộc săn nai, cái ý nghĩa trở nên hiển nhiên. Đó là sự bách hại của Thần Hậu Môn đối với Thần Vận Tải Dương Vật, sự rượt đuổi và hạ sát của Hậu đối với Đầu. Và Tiffauges vui thú bắt gặp thêm lần nữa hiển hiện sự đảo lộn lạ lung đã làm cho con vật đuổi bắt với bộ mông đầy đặn trong cuộc chơi sát sinh này biến trở thành một nguyên lý hiếu chiến và tận diệt, và làm cho chúa tể của khu rừng đầy khí lực phát sinh cành nhánh ở trên đầu biến trở thành một con mồi lép về cam đành chịu trận
—★—
Tháng chín, trận chiến ồ ạt ráp ranh bủa vây và triệt hạ thành Stalingrad buộc Erich Koch triển hạn cuộc săn bắn. Tiếp theo là những trận đấu giá lạnh quá sớm cắt ngang thời tiết mùa thu quá dịu nhẹ, và, với những trận tuyết đầu tiên, ai nấy có thể nghĩ rằng, thêm một lần nữa, đời sống sẽ trôi êm trong bầu không khí yên tĩnh của mùa đông. Đúng lúc bấy giờ, chuyến săn bắn được ấn định vào đầu tháng mười hai và bao nhiêu công tác chuẩn bị được đem ra làm lại. Ấy thế mà mọi việc phải bỏ ngang, bởi vì Goring, vị thượng khách của cuộc lễ, đúng thời điểm ấy, lại được cử sang nước Ý để tìm cách chuyển sức sống mới cho các nước đồng minh đang chao đảo. Cuối cùng cuộc săn bắn thỏ vĩ đại của Tổng trấn Erich Koch diễn ra hôm 30 tháng một.
Ngay từ hôm 25, Tiffauges lên đường cùng với những đoàn săn bắn đầu tiên gồm năm trăm người dò đường cưỡi ngựa. Trung tâm tập kết là Arys, thành phố nhỏ, cách khoảng một trăm cây số về phía nam, giữa các hồ vùng Mazurie. Họ mất ba ngày để đi đến, trước đó họ được giao những phiếu cư trú tại nhà thường dân có chuồng ngựa. Tiffauges, áo quần và giày đều mới, cảm thấy dễ chịu khi được hưởng một buồng riêng tại nhà tư nhân, giống như mình ở lại xử sở đã chinh phục được. Phải chăng người Đức vẫn là kẻ thắng trận, người Pháp hãy còn là tù binh? Anh phân vân khi nên đôi ủng của mình lên lề đường dày đặc những phụ nữ nội trợ sùm sụp trong mớ áo ấp dị thù đang lê bước thành từng hàng dài trước những cửa tiệm với những tủ kính không có hàng bày bán. Người ta kính cẩn phục vụ ăn uống cho anh, và anh tha hồ ăn nói, lấp lửng về gốc gác của mình dưới những bí ẩn mà giọng nói giống như người Thụy Sĩ của anh cùng với những quan hệ không chối cãi được của anh với Người Sắt càng làm thêm khó hiểu.
Nhưng nguồn sức lực mới mẻ thực sự và nguồn sức lực trẻ trung sẵn sang chinh phục đang sôi sục trong anh chính là con Râu Xanh, người anh em hộ pháp mà anh cảm thấy đang sống nóng giữa hai đùi chân của mình và đang nâng anh lên khỏi mặt đất cùng với đám người khác. Đôi khi, đang dong ruổi trên mình ngựa ở đường trường đưa anh đến tận vùng Mazurie, để buông lợi thân thể, anh ngồi lọt ra phía sau trên mông ngựa, và ngắm nhìn bầu trời trong nhạt đong đưa trên đầu mình, vừa cảm thấy phía dưới hai bả vai bắp thịt mình đang cuồn cuộn vận động. Hoặc là, anh chồm người về phía trước, đưa hai tay choàng lấy bá cổ của Râu Xanh, áp má mình xuống lớp bờm láng lẩy yến sáng. Khi ngang qua quảng trường của một ngôi làng đang ngênh ngang họp chợ, con ngựa bỗng nhiên dừng khựng ngay chỗ người dồn ứ đông đảo nhất, Tiffauges cảm thấy mình bị đội cứng lên vì cột sống của con vật, và anh nghe một tràng lạch phạch xuống nhựa đường. Bị phân bắn lên tung tóe, đám người mau mau dạt ra vừa cười lớn, vừa lầu bầu và chàng trai người Pháp, tỉnh khô, thân mình phủ bọc trong những màn hơi ngòn ngọt dâng từ dưới mình lên, anh chàng có cái cảm tưởng ngây ngây rằng chính mình, chứ không phải ai khác, đang hiên ngang trút cục nặng ngay mặt đám dân làng trên vương quốc của mình.
Vai trò mà người ta phân cho anh trong suốt diễn tiến cuộc săn thì không vẻ vang giống như thế. Những ai săn bộ đều sục sạo ở vùng rừng thấp và địa hình lồi lõm. Người ta có lý do khi giao cho nhóm người săn cưỡi ngựa lãnh vùng đồng bằng và các vùng đất đã giẫy. Toàn bộ khu vực săn bắn trải rộng gần bốn trăm héc-ta, và bao gồm nhiều mặt hồ. Đây không phải là cuộc săn bủa kín – không dùng vải, băng, lưới – mà đây là cuộc săn theo “vòng tròn chẻ”, người lùa thú và săn thú xuất phát từng đôi – cứ ba phút, một người phía mặt, một người phía trái, để tập kết lại một điểm từ hai ngã khác nhau. Như thế, tập thể làm thành một nửa vòng tròn rộng lớn với hai mút xáp lại để cuối cùng khép thành một vòng khoanh mỗi lúc một co rút lại. Bằng một tín hiệu, đám người đi ăn – quá xáp gần nhau – ngưng bắn vào phía trong vòng tròn, mà chỉ còn bắn ra phía ngoài vòng.
Giữa bao nhiêu cuộc giết chóc có Tiffauges tham gia, lần này trông tàn độc hơn cả và nhạt nhẽo hơn cả. Mấy con thỏ bị phát giác tuôn chạy như tên bắn, nhưng chân chúng quýu lại khi đụng phải đồng bọn chạy ngược chiều. Cuống cẳng, chúng nó dội ngược lại hỗn loạn và cái nét đẹp của hình thể chúng nó khi phóng nhanh tự nhiên điểm thêm đủ thứ náo nhiệt, rượt bắt, lừa lọc, nước đôi, hòa trộn cào cảnh tượng kinh hoàng đang gia tăng theo tiếng sung. Hình ảnh cuối cùng mà Tiffauges thu nhặt được của ngày hôm ấy là hình ảnh một bãi thảm kếch xù làm bằng da thú màu nâu và trắng của những thi thể chất chồng lên nhau của một ngàn hai trăm con thỏ từ cảnh tượng săn bắn ấy. Đứng một mình giữa bãi tha ma non nớt, Goring – được bầu làm vua của cuộc săn với hai trăm con thỏ riêng phần mình – đứng lấy dáng cho gã phó nhòm chính thức chụp hình, bụng ưỡn ra, chiếc gậy thống chế đưa lên trong bàn tay mặt.
Sáng hôm sau, toàn bộ báo chí Đức để tang, báo tin thống chế Von Paulus đầu hàng ở thành Stalingrad cùng với hai mươi bốn tướng soái và một trăm nghìn quân lính sống sót của đạo quân thứ VI.
—★—
Có được lộ trình thư trong tay cho phép anh khá tự do để về lại Rominten, Tiffauges tránh đi con đường thẳng phải qua Lyck và Treuburg, và anh lao đi về phía bắc qua vùng Mazurie là vùng khắc khổ hơn cả và mang tính lịch sử nhiều hơn cả của toàn cõi Đông Phổ. Vùng đất hoang ảm đạm này, dày đặc hố rãnh lơ phơ còm cõi và bụi cây trăn, lô nhô chỗ này chỗ kia mấy tảng đá lăn, dưới những tảng đá này bọn người Sudaviens – tức là dân Slave cuối cùng chiến đấu chống lại sự xâm lăng của Đức – đã chôn đồng đội của mình, trên vùng đất ấy còn đè nặng nỗi oan khiên của những trận đánh đổ máu tràn trề suốt nghìn năm. Kể từ cuộc chống cự sau cùng của lão tướng Stardo đối đầu với kỵ binh Đức cho tới những chiến thắng của Himdenburg dẹp tan các đạo quân của Rennenkamf, giữa thời gian đó là trận Tannenberg với Jagellon đè bẹp bọn Áo Trắng và bọn Đoản Kiếm, cả vùng đất này chỉ là một bãi xương chất thành núi tua tủa thành lũy hoang tàn và cờ xí tả tơi vì lằn đạn.
Qua khỏi mũi đất nằm giữa hồ Spirding với hồ Tirklo, anh thẳng đường tới làng Drosselwalde. Lòng anh dâng dậy theo một linh cảm trầm trọng và phấn chấn giúp anh đinh ninh rằng có một mục đích chưa rõ mặt mày nhưng quan trọng có tính cách quyết định đối với anh đang nằm ở cuối đường đi của mình. Từ Stalingrad xa xôi, nhịp đập âm thầm của đại cuộc làm nên lịch sử lại làm rung động lên lần nữa các địa tầng. Tiffauges tự cảm thấy mình được nắm lấy bàn tay, được dẫn dắt chỉ huy, và anh vâng theo một cách âm thầm sung sướng. Anh ngang qua một cái xóm mang tên dị thường mà hay – Schlangenfliess, Bờm Rắn -, và anh choáng váng.
Trên một gò lởm chởm những đôi thạch có vẻ to tướng trong xứ sở phẳng phiu này, địa điểm Kaltenborn lù lù một khối bàn thạch. Từ Schlangenfliess đến đây, Tiffauges chỉ nom thấy mặt nam của pháo đài, là mặt chạy quanh ôm sát địa hình của gò, và kết thúc bằng hình dáng mũi thuyền là một tháp đồ sộ, một loại kiến trúc xây cao bằng đá men ren rỉ với bờ trên bằng lan can khoét lỗ bày ra giữa khoảng không một hình răng cưa giống như chiếc đinh thúc ngựa để trợ lực, mặt tường cách quãng đều đặn có thêm những trụ tường chống đỡ và những dải nhô hẳn ra ngoài, đằng sau mặt tường anh thấy rõ rất nhiều tháp chuông nhỏ, tháp canh, ống lò sưởi, mái phụ, tháp cao, sân thượng, trụ chỉ hướng gió, và các mái chồng, thêm vào đó là vô số cờ phướn bay phấp phới tạo nên một vẻ sống động và đặc sắc thế. Anh cảm thấy chắc chắn, một cách vừa chua chát mà vừa kích thích, rằng đằng sau các lớp tường cao ấy có một sự sống đang tập trung và được tổ chức và vị bưng bít nên càng thêm phấn mãnh liệt. Anh thúc ngựa đi theo con đường quanh co dẫn lên lâu đài. Mặt bắc hiện ra với anh khi lên tới đỉnh, đàng trước là một mặt bằng rộng lớn xuôi dọc theo địa hình, tại đây có một ông già đội mũ lười trai có mấy miếng vải sụp xuống đang quét tuyết. Mấy khoảng hở chật hẹp xen đều giữa các bức thành vẫn không góp phần làm cho vẻ đơn điệu buồn bã ở đây bớt đi phần nào, luôn cả hai cái tháp tròn có mái nhọn và dẹt đè nặng toàn bộ khối xuống chiếc cổng ra vào bị thắt hẹp lại và được trấn giữ bằng hai thớt chày. Đây là một cái thành quách khô cằn, không đẹp, với màu sắc đỏ nhạt và đen, là khí cụ của chiến tranh, được quan niệm và xây cất do những con người dửng dưng với cái vui và cái đẹp. Tương phản với vẻ ban đầu bộ trực và buồn bã, phần phía trong quả nhiên lại có vẻ dũng mãnh, trai trẻ và linh hoạt giống như Tiffauges đã cảm nhận ra đang sau lớp tường cũ kỹ Có những chiếc mái với lớp ngói sơn nhiều màu đang chúc mình xuống mấy sân thượng lấp la lấp lánh những khí giới hiện đại, từng cụm cờ đỏ và chữ thập ác phành phạch trong gió bấc, và thỉnh thoảng lọt vào tai một vài âm thanh cuả tiếng kèn hoặc một bài hát.
Tiffauges mở lời với người quét tuyết, rồi nhờ ông trông hộ con Râu Xanh mà anh buộc vào cây, và vì không dược phép vào, anh cất công đi dọc theo chân tường, ít nữa là đến tận hình ảnh cái đinh thúc ngựa của tháp to nhất mà anh đã nom thấy từ bên dưới kia. Cuộc dạo chơi không lấy gì làm dễ dáng, ví nếu có một lối mòn nhỏ hẹp vòng vèo dọc theo bờ tường, thì nó lại thường xuyên bị chắn ngang vì những mũi đá hoặc tường xây nhô ra, thế là phải tụt xuống sườn núi rồi trèo ngược lên, sau khi đi quành chướng ngại vât. Anh không thể nào biết rõ mình muốn cái gì, chỉ biết rằng anh đang chờ đợi một cái gì đó xác nhận, phê chuẩn, nói tóm lại là cái gì đó giống như một chữ kí của định mệnh, và giống như một sụ dấu ấn đẻ ghi lên cái thiên chức của kẻ mang tên Tiffauges tại Kaltenborn. Anh tìm thấy điều mình đang kiếm tìm ngay dưới chân cái hình đinh thúc ngựa to, nhưng muốn đến đó anh phải chui qua một đám rậm đầy những cây gai, cây cơm cháy, cây cậm cò, tai cọp mà hàng lũ dây leo tường vách đá long thong càng làm thêm chằng chịt. Chưa hết. Đi tới dưới chân cái cạnh sắc mũi của đinh thúc ngựa, còn phải lấy hai tay moi móc lớp tuyết mềm tấp đầy ở đây. Nhưng từ câu giải đáp của Kaltenborn hiện ra trước mắt anh: ở nơi này, hình dạng đinh thúc ngựa hõm vào như có một hốc đá xây lối ra được tựa vào đôi vai của một vị Khổng Lồ bằng đồng. Bắp thịt cuồn cuộn và mặt mày rúm ró dưới sức nặng đang đè xuống, vị hộ pháp da đen ở tư thế ngồi, hai đầu gối đụng vào râu, gáy chúc xuống thẳng góc, hai cánh tay đưa lên và dính vào đá. Đường nét kém cỏi và sặc mùi trường trại khoa trương của hoang đế Đức cuối cùng. Chắc hẳn rằng khuôn mặt này mới được thêm thắt vào dưới cái tháp to mà nó có vẻ đang cưa mang, và luôn toàn bộ pháo đài cũng thế nhưng sự chôn vùi hình ảnh ấy dưới lớp cây cối và tuyết, và sự phanh phui nhờ có Tiffauges cũng đủ chứng tỏ cho chàng thanh niên người Pháp biết rằng vị khổng lồ được khắc tại sườn núi của Kaltenborn là chỉ dành riêng cho anh mà thôi.
Trở xuống lại Bờm Rắn, anh bước vào một cái quán của ngôi làng, tên quán là Ba Kiếm, ngồi trước một vại bia và nhừ chủ quán bổ túc vào những gì anh muốn biết về lâu đài và chủ nhân của nó.
Các đại gia Đông Phổ có cái kiêu hãnh là tìm ra chánh quán của mình trong hàng ngũ những hiệp sĩ Đức quốc đã từng thường hưởng từ tay cuả hoàng đế Frédéric II và từ giáo hoàng Grégoire IX cái tỉnh lỵ xa xôi ngoại đạo này nhằm mục đích làm cho người dân chúng theo đạo. Công trình xây dựng gia hệ được mỗi một gia đình của đất Junker đổ công một cách thành khẩn và điều đáng để ý là các hiệp sĩ Đức quốc thời cổ vì toàn là tu sĩ, và cũng phát thệ giữ mình tinh tấn cho nên, theo đúng lẽ, không thể có con cái nối dõi. Nhưng những tham vọng của các bá tước ở Kaltenborn còn cao hơn, vì họ tự cho mình thuộc dòng dõi các hiệp sĩ Đức Quốc thời cổ. Dòng dõi Đoàn Đao xưa cổ hơn và chinh chiến táo bạo hơn các hiệp sĩ Đức Quốc thời cổ. Dòng dõi Đoản Đao là một cộng đồng tu sĩ sáng lập năm 1197 do Albert d’Apeldom, thành viên của đại học Brême, họ trở thành một dòng tu chiến đấu theo ý nguyện của Albert-de – Buxhowlen, giám mục của Riga, là người ban cho họ cái huy hiệu hai cây kiếm bọc vải đỏ đeo sườn trái chồng lên bộ đồng phục trắng. Các hiệp sĩ của Đáng Cứu Thế Dòng Song Kiếm Livonie – đó là cách gọi tên đầy đủ của những người này – họ là những người, ba mươi năm trước khi đám hiệp sĩ Đức quốc thời cổ giẫm chân lên nước Phổ, đã chinh phúc các vùng đất Livonie, Courlande và Estonie. Nhưng họ yếu dần theo cuộc chiến không ngừng nghỉ chống lại dân Lituanie và dân Nga, họ ủy thác cho các hiệp sĩ Đức quốc thời cổ hòa nhập chung với họ. Sự hòa nhập này được giáo hoàng phê chuẩn vào năm 1336, và được làm lễ tại Viterbe có sự chứng giám của vị Tổng lãnh hiệp sĩ Đức quốc thời cổ là Hermann-Von-Salza. Dù vẫn là một dòng đạo chiến đấu tự trị và dù đặt riêng một lãnh chúa cho vùng Livonie, dòng Đoản Đao kể từ nay hòa nhập số phận mình với dòng Đức quốc thời cổ, trong khi vẫn nuôi giữ lấy riêng cho mình cái ý thức thầm kín không hề xao lãng là mình có những lai lịch đáng trọng vọng hơn và vẻ vang hơn cái dòng kia. Các huy hiệu của lâu đài ở Kaltenborn, tuy đơn sơ cổ điển vẫn nhắc nhở lịch sử của hai dòng anh em. Các bá tước Von Kaltenborn mang huy hiệu tráng bạc với ba thanh kiếm chĩa thành chông ở một phần ba màu đen phía trên của huy hiệu. Ba thanh kiếm đỏ trên nền trắng nhắc nhở hai thanh kiếm của dòng Đoản Kiếm cộng với thanh kiếm của dòng Đức thời cổ. phần màu đen phía trên huy hiệu phụ thuộc vào màu trắng và màu đỏ nên màu thứ ba của cờ nước Phổ. Còn ba thanh kiếm – ngoài việc làm nền bảng hiệu của quán – chủ quán tranh thủ đưa ra nhận xét, thì được vẽ to hơn bình thường, bó lại với nhau, mũi chổng lên trời, tại bờ lan can của sân thượng rộng nhất của lâu đài, nằm trên tòa tháp của vị Khổng Lồ và day mắt về phía Đông.
Bản thân lâu đài – một trong những lâu đài đáng tự hào nhất của toàn cõi Đông Phổ - vào buổi đấu của thế kỷ có vẻ như chờ chực bị triệt hạ, mặc dù các bá tước cố gắng kiên trì cư ngụ, và hết sức bồi đắp những vỡ lở do thời gian gây nên ở các mạn sườn con tù cũ kỹ. Sự sống còn xuất xứ từ Guillaume đệ nhị vốn ưa thích vùng săn bắn đại quy mô này. Hoang đế, năm 1990, đã từng hạ lệnh trùng tu lâu đài Haut-Konigsbourg gần Seslestat, như một hình ảnh thách thức kẻ thù truyền kiếp phía Tây, có nhận định rằng một pháo đài nào khác xứng đáng với triều đại của mình, đương đầu với kẻ ngoại xâm Slave. Các công tác trùng tu mãi đến gần thế chiến 1914 mới kết thúc, các nhà khảo cổ cho rằng các công tác ấy là thái quá cũng giống như những công tác trước đây đối với Hault-Konigsbourg đã đưa ra một mô hình thu nhỏ quá đồ sộ, diêm dúa và mới toanh, tuy nhiên vẫn khác biệt ở điểm kiến trúc Đức quốc thời cổ ít bị đau khổ theo cái cao hứng của các nhà phục chế hiện đại, bởi lẽ các hiệp sĩ giang hồ vốn tạo dựng tác phẩm đã trà trộn vào đó vừa kỷ niệm hành trình vừa mơ ước thần bí của mình, và ta cũng thường thấy một công trình hiển hiện cùng một lúc những yếu tố hồi giáo, yếu tố của Ý và Đức.
Pháo đài mới toanh của Kaltenborn thu hút sự chú ý của một sĩ quan chỉ huy đội đặc nhiệm là Joanchim Haupt ngay từ năm 1933 quyết tâm tạo lập trường quân sự dựa theo khuôn mẫu của trường hoàng gia nổi tiếng ở Plon sẽ tạo tinh hoa cho Đức quốc xã trong tương lai. Các “Napola” – trường chính trị quốc gai – thương đặt trong các lâu đài hay tu viện trưng dụng và mỗi năm mỗi tăng số lượng, mặc dù Haupt bị thất sủng sau “ đêm trường đao” ngày 30 tháng sáu năm 1934 và loại trù đội quân đặc nhiệm. Sự nghiệp của Haupt được phục hồi và tiếp nối do một chức sắc của đội quân tình báo là August Heissmeyer chỉ huy tinh binh, chủ trương trao quyền chỉ huy bốn chục trường chính trị quốc gia hiện có cho nhân viên của Himmler. Trường ở Kaltenborn trên lý thuyết được đặt dưới quyền của tướng Von Kaltenborn bá tước, người đại diện cuối cùng dòng dõi, chiếm trọn một cánh lâu đài làm chỗ ở. Nói cho đúng, đây là một ông già hoài cổ với nước Phổ cho nên ít thích hợp với những nét quyến rũ của trật tự mới do Đức quốc xã sáng lập – ông nhất quyết không tin rằng điều gì tốt đẹp cho Phổ lại có thể đến từ Barvière và nước Áo -, và bao nhiêu quan tâm nghiên cứu của ông về lịch sử, về huy hiệu, khiến ông xao nhãng việc điều hành trường trung học thực sự. Nói cho cùng, nếu có ban cấp cho vị tướng cái chức trưởng Chỉ huy trường học vì chiếu cố đến quá khứ của ông và vì dành cho ông một chỗ trong lâu đài của chính ông, thì mọi quyền hành thực sự nằm vào vị chỉ huy quân đội quân tình báo Stefan Raufeisen áp dụng kỷ luật gắt gao nặng nề đối với ba chục quân nhân giảng dạy, năm chục người khác và hạ sĩ quan, và bốn trăm trẻ con của Kaltenborn.
—★—
Quay trở về Rominten đứng trước mặt ông trưởng kiểm lâm, Tiffauges tình cờ đề cập đến pháo đài Kaltenborn đã gây ấn tượng sâu đậm cho anh. Nhờ thế anh biết được rằng tướng Von Kaltenborn bá tước là người đã có mặt trong chuyến đi săn vĩ đại của Tổng trấn Koch, nhưng anh không thể nào nhớ ra ông ấy, mặc dù ông trưởng kiểm lâm mô tả thêm thắt rõ rang. Anh lấy làm ray rứt như gặp nạn, và kể từ nay, nếu có tận tâm làm tròn nhiệm vụ, tim óc anh vẫn đặt ở nơi khác, bềnh bồng về phía vùng Mazurie, quẩn quanh các lũy thành cao chứa chất sự sống tù túng nhưng tràn đầy và reo ca.
Mùa xuân đến sớm, êm dịu nồng nàn, làm đắm đuối vạn vật, đúng lúc này là tháng tư, cũng giống như hàng tháng, anh phải đi tới tòa đô chính của Goldp để gia hạn giấy tờ. Anh cảm thấy mình tốt bụng và yếu đuối, giống như cỏ non điểm những nụ hoa cúc trắng, giống như những làn gió ấm mơn trớn các nụ hoa bạch dương và cây phỉ, và thổi bay từ các cành thông một làn phấn hoa màu vàng nghệ. Anh suýt khóc vì thương cảm khi nom thấy một con chim sẻ làm xấu lên lớp bụi nóng giữa đường, và hai em bé học sinh cười vang vừa chà xát chiếc cặp mang trên lưng vào nhau như hai chiếc vỏ ốc sên. Tiếng chiêm chiếp tràn khắp bầu trời, dường như tràn luôn vào tòa đô chính cổ kính đang nhộn nhịp một cách khác thường sáng hôm ấy. Ngay từ cửa ra vào, mấy cái giá móc áo bằng đồng thu hút con mắt nhìn vào không biết bao nhiêu là mũ mềm rộng vành, áo khoác vai, khăn trùm và găng túm đỏ màu sắc phủ chụp lên đó, và dưới đất sắp hàng lũ lượt nào guốc trơn, guốc bọc và ủng trẻ con, giống như thể bao nhiêu em bé Quàng Khăn Đỏ kéo về tòa đô chính hội nghị. Tiffauges bước lên chiếc cầu thang lớn rộng dẫn vào phòng hôn lễ, anh lôi cuốn đi tới vì một mùi hương thanh tân xuân sắc trong đó có vị hồ tiêu và hạt giống. Anh dừng lại ở trước một cánh cửa bề thế bằng gỗ sồi chạm trổ: nơi này đây. Anh nghe tiếng gì như tiếng líu lo của lồng chim, và từng đợt âm thanh êm ái cứ quyện lấy con người anh. Anh ấn tay vào quả đấm nặng nề bằng đồng và bước vào.
Hình ảnh mắt anh bắt gặp khiến anh sững sờ lào đảo, và buộc anh đưa vai tựa vào khung cửa: cả một bầy con gái nhỏ trần truồng như nhộng đang làm nổi rõ cái màu gỗ sồi sẫm tối từ lớp gỗ bọc gian phòng. Có đứa ốm o như mèo lột da, có đứa hồng hào bụ bẫm như heo sữa, lại có những đứa lớn rắp ranh cập kê, nhiều đứa tròn quay như búp bê, và bao nhiêu mái tóc thắt bím, đánh con rít, đánh tròn ở hai bên màng tang, hoặc trái lại để thong dong và bềnh bồng giữa hai bờ vai mảnh mai, đó là tất cả những gì che đậy cho các tấm thân bế bỏng, chưa đến tuổi dậy thì, láng lẩy như viên xà bông. Sự đột nhập của anh không bị ai thấy, và anh nhè nhẹ khép trái cửa lại, để vãn hồi cái bầu không khí đậm đặc chỉ có được trong một gian phòng hoàn toàn kín bưng mà thôi. Anh vừa lim dim mắt vừa vồ vập hít đầy buồng ngực mình cái mùi hương dễ chịu đã cuốn anh đi theo từ sáng sớm mà nay anh bắt gặp tại đây trong cái tinh khiết sơ khai của nó, và anh vô tình mở rộng hai bàn tay dang thẳng tới trước như để bưng, để nhặt toàn bộ của cải ấm nóng và ngây ngất của trời cho ấy, món quà tặng cuối cùng của vùng đất Đông Phổ.
- Anh chẳng có phận sự gì ở đây. Ra ngay!
Một nữ thần Nhật Nhĩ Man bó chẽn trong tấm áo y tá trắng tinh, khuôn mặt nghiêm nghị, đều đặn, đang trừng mắt nhìn anh. Anh lùi bước, mở cửa và dợm rút lui một cách miễn cưỡng.
- Nhưng mà này, ai cho anh vào đấy?
Anh lắp bắp:
- Mùi hương. Tôi không dè da thịt con gái lại có mùi hương như hoa huệ chuông…
Gã viên chức đóng dấu cho hộ chiếu của anh giải thích cho anh rõ sự tụ tập ngộ nghĩnh ấy. Hàng năm, ngày 19 tháng 4, tất cả trẻ con mười tuổi phải qua một hội đồng xét duyệt trước khi gia nhập đoàn Thanh niên Hitler. Gã nói thêm:
- Bọn con trai thì ở phía bên kia quảng trường, tại nhà hát thành phố.
Tiffauges hỏi lại:
- Nhưng tại sao lại ngày 19 tháng 4?
Gã kia trố mắt nhìn anh:
- Thế anh không biết 20 là sinh nhật của Quốc trưởng chúng ta hay sao? Hàng năm Đức quốc tặng quà sinh nhật cho người dưới hình thức cả một thế hệ tre con! Gã kết luận bằng một giọng sôi nổi, đồng thời trỏ tay vào tấm chân dung to lớn nhiều màu của Adolf Hitller đang nhíu mày trên đầu gã.
Khi Tiffauges về lại Rominten, vị tổng quản săn bắn với những chuyến đi săn và những trận sát hại của mình, những bữa tiệc thịt rừng cùng bao nhiêu tri thức về phân và về bộ phận sinh dục, trước mắt anh, gã đó đã bị hạ giá thành một loại hung thần nhỏ bé, mang tính chất của dân ca và hư tưởng, thoát thai từ một loại truyện cổ tích của vú già. Gã bị mờ nhạt vì gã kia, tức là gã hung thần của Rastenburg đang bó buộc nhân dân trao tặng một món quà triệt để nhân ngày sinh nhật của mình là năm trăm ngàn đứa con gái và năm trăm ngàn đứa con trai mười tuổi, theo lối phục sức tế lễ, tức là trần truồng như nhộng, và với số lượng này gã nhồi thịt làm thành mồi sung cho đại bác.
*
* *
Kể từ vụ Staligrad và bài diễn văn của Gobbels tại Cung thể thao mời mọc toàn dân say sưa xung trận, bầu không khí trở nên nặng nề tại Rominten. Bao nhiêu lời kêu gọi nhập ngũ mới dóng lên đã tạo nên những khoảng trống. Càng ngày người ta càng ít nghĩ đến những thú vui săn bắn và ăn uống, càng ngày người ta càng nghĩ nhiều hơn đến sự tụ tập ồ ạt đang phừng phừng lên ở phía đông mà người ta không mình chắc có thể đứng ra ngoài. Những vụ oanh kích bắt đầu gieo âu lo, và vì con tàu bọ sắt bảo đảm là chiếc chòi săn bắn không có nơi trú ẩn phòng không, cho nên Goring thưa thớt đến thăm Rừng Cấm.
Một hôm viên trưởng kiểm lâm cho Tiffauges hay rằng vì nhân viên phải giảm tối đa, buộc lòng y phải giao cho anh trở về phòng phân phối việc làm ở Morhof. Tuy nhiên, nếu anh có ao ước điều gì, thì sự việc tiếp cận nhân vật thứ hai của Đức quốc xã may ra giúp anh toại nguyện. Nghe đến đây, Tiffauges hồi tưởng vụ săn bắn tháng giêng có vị tướng soái bá tước Von Kaltenborn được mời tham dự, ông này thoáng chốc có viếng thăm cái pháo đài trên đường trở về, và anh hỏi xem anh có thể được biệt phái đến trường chính trị quốc gia hay không, với nhiệm vụ là lái xe hay giữ ngựa. Viên trưởng kiểm lâm ngạc nhiên nghe lời của chàng thanh niên đủ nghề, bao giờ cũng lầm lì dễ bảo nay xướng lên những nguyện vọng rành rẽ đến như vậy. Ông này bảo:
- Xét những lần tuyển dụng về sau này, tôi sẽ lấy làm lạ nếu như ban giám đốc trường chính trị quốc gai không lợi dụng cơ hội này để có được một nhân viên do thống chế Đức quốc xã đề đạt mà anh lại là một nhân viên chưa bị trưng dụng! Tôi sẽ điện thoại thu xếp việc này.
Mười lăm ngày sau, Tiffauges nhận sự vụ lệnh đi Kaltenborn, và anh rời Rominten đèo theo con ngựa Râu Xanh cũng được biệt phái đến trường chính trị quốc gia.