Ngày 9 tháng Bảy, thứ Ba.
Gác máy rồi, Wakatsuki vẫn còn thẫn thờ mất một lúc. Những sự việc liên tiếp xảy ra trong ba tháng nay, tất cả như một cơn ác mộng.
Anh nhìn xung quanh. Các nhân viên nữ vẫn như mọi ngày, người thì ngồi trước máy tính, người thì kiểm tra hồ sơ, người thì tiếp khách ngoài quầy.
Wakatsuki xem đồng hồ đeo tay. Mới 9 giờ rưỡi sáng, không quá sớm cũng chẳng quá muộn, là khoảng thời gian bó buộc của một ngày bình thường chán ngắt.
“Vừa vừa phải phải thôi chứ,” anh lẩm bẩm trong miệng. Mới một năm rưỡi trước anh còn sống cuộc sống của một nhân viên làm công ăn lương hết sức bình thường ở Tokyo cơ mà. Công việc hồi đó chỉ quanh quẩn tham dự các buổi diễn thuyết liên quan đến rủi ro quốc gia theo lệnh của công ty, hoặc viết báo cáo về xu hướng của tỉ giá hối đoái nước ngoài; ít ra buổi sáng cũng không đột ngột bị gọi đi làm những chuyện ghê tởm như kiểm tra xác chết.
Dù hằng ngày đều kiểm tra biên bản xác nhận tử vong, song gặp tử thi thật lại là chuyện hoàn toàn khác. Từ khi biết nhận thức cho đến nay, chưa một lần anh tiếp xúc với xác người thật.
Vậy mà chỉ vỏn vẹn trong hai tháng, anh sắp phải chứng kiến cái xác thứ hai, thậm chí còn có thể là người anh quen biết.
Nếu ngay cả việc kiểm tra xác chết cũng trở thành công việc thường nhật của chi nhánh thì sẽ ra sao đây? Mỗi sáng đến cơ quan, vừa ngồi xuống ghế thì mặt bàn biến thành băng chuyền, các xác chết lần lượt trôi qua. Một cái xác chết treo vẫn còn vết dây quấn cổ. Một cái xác chết cháy co cứng. Một cái xác chết đuối đã trương lên, phình to gấp ba lần... Sau đó, anh phải đối chiếu từng khuôn mặt người quá cố với ảnh chụp, đối chiếu biên bản xác nhận tử vong với nguyên nhân chết rồi cộp dấu vào một loại hồ sơ giống như nhãn mác để cột vào ngón chân tử thi...
Nhưng anh không thể cứ ngồi đây mãi để đắm chìm trong những suy nghĩ vẩn vơ được.
Wakatsuki uể oải đứng dậy, giải thích cho Kasai và phó giám đốc nội vụ Motoya về nội dung cú điện từ cảnh sát.
- Vậy nên giờ em phải đi nhận diện.
- Thế à… Ừm, cố bình tĩnh nhé…
Motoya không biết phải nói sao để động viên Wakatsuki.
- Đại để cậu có đoán được là ai không? - Kasai hỏi khẽ.
- Không ạ. Trong một năm vừa rồi, em trao không biết bao nhiêu danh thiếp. Cứ phải nhìn mặt rồi mới biết được - Wakatsuki nói dối.
Anh có cảm giác nếu nói ra và công nhận chuyện gì đó thì nó sẽ thành sự thật mất. Anh muốn trì hoãn thời khắc ấy dù chỉ là một chốc, cho đến lúc cực chẳng đã phải chứng kiến mọi thứ phơi bày trước mặt.
- Xin lỗi anh nhé. Đang giờ làm việc mà bắt anh phải đến đây.
Điều tra viên Matsui vừa nói vừa phe phẩy chiếc quạt giấy. Trán anh ta lấm tấm mồ hôi.
Mưa suốt từ sáng khiến độ ẩm tăng mạnh, tuy nhiệt độ không cao nhưng vẫn cảm thấy oi bức. Trong nhà xác có tiếng điều hòa chạy nhưng vẫn thoang thoảng mùi phân hủy.
- Hiện tại không có cách nào khác để xác định được danh tính. Quần áo bị xé rách, trên người hoàn toàn không có tư trang như đồng hồ đeo tay hay mắt kính, thứ duy nhất phát hiện được là danh thiếp của anh Wakatsuki. Chà, tôi không chắc anh có liên quan đến xác chết nhưng biết đâu đây lại là khách hàng của công ty anh, anh có thể xem kĩ cho tôi được không?
Matsui lật tấm vải phủ tử thi.
Wakatsuki trợn mắt. Một tích tắc sau, anh vội quay phắt đi, tay phải bịt chặt miệng, tay trái lục túi quần tìm khăn tay.
- Ha ha... Tôi nên giải thích trước cho anh mới phải.
Matsui bình thản nói rồi quay sang quát điều tra viên trẻ bên cạnh.
- Này, dẫn anh ấy ra nhà vệ sinh đi chứ!
Wakatsuki hất tay cậu điều tra viên ra rồi chạy đến bồn rửa ở góc phòng, nôn thốc nôn tháo.
Mùi dịch vị xộc lên kích thích mũi anh. Dù đã nôn sạch phần bánh mì nướng và cà phê còn sót lại nhưng dạ dày vẫn không ngừng co bóp.
- Thôi xong rồi. Anh nôn vào đấy thì tẹo nữa ống thoát nước lại tắc mất thôi.
Nghe Matsui nói vậy, Wakatsuki hiểu ngay anh ta đang trả thù vụ anh làm anh ta mất mặt hôm trước. Nếu vậy, anh càng không thể bỏ chạy được.
- Thất lễ rồi... Nghe anh Matsui nói trong điện thoại là đến để nhận diện nên tôi cứ nghĩ khuôn mặt vẫn còn nguyên - Wakatsuki lau khóe miệng bằng khăn tay và cố khoác lên người vẻ điềm nhiên - Anh cho tôi xem lại lần nữa được không?
- Không vấn đề gì, nhưng anh không sao đấy chứ?
- Vâng, tôi tống hết bữa sáng ra ngoài rồi.
Matsui nhìn Wakatsuki với vẻ mặt như muốn xác nhận lại, đoạn lật tấm vải phủ lên lần nữa.
Wakatsuki lấy tay che miệng, hơi ngửa cằm lên và ti hí một bên mắt để nhìn xuống thứ đang được đặt trên mặt của bệ đỡ.
Anh có cảm giác đúng là người đó từ lúc nhìn thoáng qua lần trước, nhưng với gương mặt bị hủy hoại đến mức này, anh không đủ tự tin để khẳng định.
- Nếu răng bên trong vẫn còn thì tôi muốn xem qua.
Lần này đến lượt Matsui nhăn nhó, nhưng cũng đành lẳng lặng xỏ găng tay cao su mỏng rồi đặt tay lên cằm tử thi.
Phần còn lại của cằm, trông giống như tấm bản lề bị vỡ, mở ra thật dễ dàng. Răng cửa và răng nanh đã mất hết nhưng răng tiền hàm ở hàm trên bên phải thì vẫn còn. Một chiếc răng lớn mạ vàng.
- Vậy là đúng rồi...
- Xin lỗi. Còn một chỗ nữa. Tôi muốn xem cổ tay trái.
- Anh đoán ra được ai rồi ư?
Matsui lộ vẻ kì vọng rồi lật tiếp phần vải bên hông tử thi. Cánh tay bị cắt gọn ghẽ từ phần khớp nối vai, lòng bàn tay được đặt ngửa bên hông tử thi.
- Chân tay đều bị chặt đứt lìa hết rồi. Cổ tay trái hả...?
Matsui giơ tay trái xám ngoét của tử thi lên cho anh xem. Cổ tay trái đã bị gãy, oặt ẹo như một vật thể sống. Wakatsuki đã nhận ra nốt ruồi to cỡ đồng xu năm trăm yên nằm ngay đỉnh của phần xương quay. Cả vị trí, hình dạng và kích cỡ đều trùng khít với kí ức của anh.
- Tôi biết rồi... Không cần xem nữa đâu.
Wakatsuki nhắm mắt lại. Vừa nôn ban nãy nhưng lúc này, ngực anh lại có cảm giác khó chịu.
- Vậy người này là ai? - Matsui háo hức hỏi.
- Kanaishi Katsumi... Giảng viên tâm lý học ở trường cũ của tôi.
- Giờ chúng ta lên trên kia, tôi muốn hỏi chuyện cụ thể - Mắt Matsui sáng lên như một con mèo tìm thấy mồi.
Về đến căn hộ, Wakatsuki liền sập cửa và khóa ngay lại. Một tiếng động lớn vọng khắp hành lang khu nhà.
Mới trước đây ít lâu, anh còn thường xuyên ở nhà không khóa cửa giống như hồi sinh viên, chẳng biết từ bao giờ lại sinh ra thói quen khóa cẩn thận.
Anh vội vã mở tủ lạnh, lấy lon bia 500 ml ra rồi đưa ngay lên miệng. Chất lỏng buốt giá chạy qua thực quản, làm lạnh dạ dày lúc này đã trở nên nóng rẫy. Cuối cùng, anh cũng có thể thở ra một hơi nhẹ nhõm.
Đột nhiên thấy lo lắng, anh bèn kiểm tra xem cửa sổ nhỏ hướng ra lối đi của khu nhà đã được khóa cẩn thận hay chưa.
Ngoài khóa cài hình lưỡi liềm ra thì cả hai chốt trên dưới đều đã đóng cẩn thận. Có một đêm, anh mơ một giấc mơ quái gở. Anh thấy Komoda Shigenori dùng dao cắt kính khoét một lỗ trên cửa sổ để mở khóa cài và chui vào nhà. Ngay hôm sau, anh đã phải vội vội vàng vàng đến cửa hàng kim khí gần nhà mua thêm khóa.
Nhưng bình tĩnh suy nghĩ lại, anh nhớ ra rằng ngoài tấm kính còn có những mắt lưới sắt, thành ra không cần mua thêm khóa thì bên ngoài cũng khó lòng mà xâm nhập được.
Ngay cả lúc này, Wakatsuki cũng vẫn cảm thấy xấu hổ vì có những hành động ngớ ngẩn như thể mình là người bị hại. Anh cởi áo vest vứt lên giường, chỉ nới lỏng cà vạt rồi ra bàn ngồi.
Anh vẫn chưa vượt qua nối cú sốc khi phải chứng kiến thi thể thê thảm của Kanaishi.
Câu nói của điều tra viên Matsui lại vang vọng trong đầu anh.
“… Nhìn vào trạng thái dinh dưỡng và tình trạng các vết thương nhỏ, có thể cho rằng anh ta đã bị giam lỏng từ một tuần đến chục ngày. Trong khoảng thời gian đó, anh ta chỉ được uống nước và bị tra tấn dã man…”
Anh uống cạn lon bia.
“… Dựa vào phản ứng của cơ thể sẽ phân biệt được ngay đâu là vết thương lúc sống và đâu là vết thương sau khi chết. Tính cả thời điểm từ khi bị chặt đứt thì hầu hết các vết thương đều xuất hiện lúc nạn nhân còn sống...
“… Hung khí là một vật sắc có chiều dài lưỡi khoảng hơn 45 centimet. Có thể khẳng định chắc chắn đây là đao Nhật, khả năng hung thủ có dính dáng đến yakuza là khá lớn. Da lưng, bụng và phần bên trong chân, tay đều có vết rạch cách nhau một vài milimet. Các dây thần kinh chi phối cảm giác đau đớn của con người hầu hết đều nằm trên bề mặt da. Hung thủ biết rõ nên mới làm như thế. Người bị tra tấn chắc chắn sẽ đau đớn không khác gì bị đày xuống địa ngục…”
Hình ảnh lúc sinh thời của Kanaishi bỗng tái hiện trước mắt anh. Dù anh không thích quan điểm quá lý trí và tiêu cực về nhân loại của hắn, cũng không ưa nổi việc hắn là gay, song Kanaishi đã thực lòng lo lắng cho sự an nguy của anh.
Dù sao đi nữa, việc một người mới đây còn trò chuyện với anh bỗng nhiên bị giết hại thê thảm theo cách thức vô cùng tàn độc quả thực là một cơn ác mộng.
Rốt cuộc kẻ nào đã khiến Kanaishi gặp phải tai ương này? Dù không muốn nghĩ đến nhưng anh cũng không tài nào lẩn tránh được.
“Chắc chắc là gã đó.” Một giọng nói vang lên trong đầu anh. Kanaishi đã thể hiện sự quan tâm sâu sắc đối với Komoda, coi gã là đối tượng nghiên cứu. Kết quả của việc tiếp cận gã một cách bất cẩn đã khiến hắn bị bắt cóc và tra tấn đến chết bằng đao Nhật.
Nhưng tại sao Komoda Shigenori phải làm đến mức này? Cho dù gã có lòng căm thù đến mức bệnh hoạn nhưng về cơ bản, hành động vẫn phải suy tính thiệt hơn. Nếu gã không giết Komoda Kazuya thì đâu nhất thiết phải gửi đầu mèo đến, thậm chí việc giết Kanaishi còn có thể coi là hành động ngu xuẩn.
Hơn nữa, tình trạng của thi thể khi được phát hiện cũng rất khó lý giải. Nghe nói các mảnh xác bị vứt lung tung ở bãi sông Katsura. Đây không phải khu vực đông đúc như gần cầu Togetsuki song thế này cũng chẳng khác gì mời người khác tìm ra cái xác.
Và cả tấm danh thiếp của anh rơi gần đó nữa.
Lẽ nào đây cũng lại là một lời cảnh cáo?
Nhằm mục đích gì?
Dòng suy nghĩ lại đưa anh về điểm xuất phát.
Sắp xếp lại một lần nữa xem nào. Tại sao Komoda Shigenori lại được coi là vô tội? Bởi vì cảnh sát đã xác minh được chứng cứ ngoại phạm. Dù vậy, anh vẫn không sao gạt bỏ được trực cảm rằng gã có tội, lý do là bởi ánh mắt thăm dò anh của Komoda lúc đứng trước xác chết trong căn phòng đó. Lẽ nào đó đơn giản chỉ là ảo giác?
Đã hơn hai tháng trôi qua kể từ thời điểm vụ án xảy ra, nhưng cảnh tượng khi đó vẫn gợi về trong anh không biết bao nhiêu lần, thậm chí cả trong mơ, không những không nhạt đi mà ngày càng trở nên rõ ràng.
Liệu đó có thực sự là ấn tượng nguyên sơ về vụ án hay không?
Một nghi vấn nhỏ được Wakatsuki đặt ra. Anh biết rõ trí nhớ con người là một phạm trù dễ lẫn lộn. Cả sự việc lần này cũng vậy, có lẽ nào mỗi lần nhớ lại, anh đều thêm thắt vào đó chút suy tưởng cá nhân và càng lúc càng tự bẻ cong kí ức của mình?
Lẽ nào mọi cảm giác của anh về vụ án lúc này đều do anh tự vẽ ra?
Không, không phải. Riêng điểm này thì anh tin chắc. Riêng nỗi sợ hãi anh cảm nhận được khi chuyển ánh nhìn từ xác chết của Komoda Kazuya sang Shigenori là điều tuyệt đối không thể nhầm lẫn.
Mọi lý lẽ của anh đều đâm sầm vào ngõ cụt. Bất chợt, anh nhớ lại lời của Megumi.
“Khi lý lẽ hay tình cảm rơi tõm vào vòng luẩn quẩn thì nên tin vào trực cảm và giác quan.”
Ra thế. Vậy thì thử xuất phát lại từ đó. Nếu nghe theo trực cảm thì Komoda Shigenori quả là hung thủ.
Nhưng điều tra viên Matsui đã khẳng định Komoda Shigenori có chứng cứ ngoại phạm rõ ràng. Liệu có khả năng gã đã ngụy tạo chứng cứ và qua mắt cảnh sát một cách trót lọt không?
Wakatsuki cố gắng lật đi lật lại mớ suy nghĩ nhưng chỉ càng thêm bế tắc, chẳng đi được đến đâu.
Wakatsuki lấy từ trong cặp ra cuốn Tuyển tập các vụ án bảo hiểm nhân thọ rồi đặt lên bàn. Chính là cuốn sách anh mượn từ phòng tài liệu của trụ sở chính.
Anh thẫn thờ nhìn bìa sách. Lúc này mới đọc nó có lẽ chẳng thu được gì mới, nhưng anh không nghĩ ra việc gì khác nên làm vào lúc này.
Vừa uống bia anh vừa lướt qua những câu chuyện, trong đó, rất nhiều tên tội phạm vắt óc nghĩ đủ mọi cách để lừa đảo tiền bảo hiểm. Nội dung các vụ án dần dần cuốn hút anh. Đến khi lấy lon bia thứ hai từ tủ lạnh ra, anh đã hoàn toàn chìm đắm vào cuốn sách. Anh châm lửa hút thuốc - một việc rất hiếm có rồi tiếp tục đuổi theo những con chữ trong lúc gạt tàn thuốc vào lon bia rỗng.
Gọi ngắn gọn là tội phạm bảo hiểm nhưng phạm vi lại khá rộng, ngoài loại hình tự tạo tai nạn tử vong bao gồm giết người lấy tiền bảo hiểm, tự sát lấy tiền bảo hiểm (hay còn gọi là giết người giả dạng) ra thì ngay cả chính hợp đồng bảo hiểm khi kí kết cũng có yếu tố lừa đảo.
Một vụ án mang tính cổ điển được lấy làm ví dụ có tên “Vụ án chủ buôn ngũ cốc AM” đã thu hút Wakatsuki.
Vụ án xảy ra ở châu Âu vào những năm 1880, không rõ thời gian và địa điểm chính xác. Một sáng sớm nọ, ở giữa cầu, người ta phát hiện chủ buôn ngũ cốc AM chết trong tình trạng bị bắn xuyên sọ từ phía sau tai phải. Ngoài chiếc ví bị mất ra thì đồng hồ cũng bị giật đứt, từ đó, người ta nghi ngờ đây là vụ án giết người cướp của. Người đàn ông nghỉ qua đêm chung phòng trợ với AM bị bắt vì tình nghi, song người này đã phủ nhận hành vi phạm tội.
Trong lúc mọi nghi vấn đều đổ dồn vào nghi phạm thì một vết xước nhỏ còn mới ở tay vịn của cây cầu đã tình cờ được phát hiện. Một sợi dây khá chắc chắn cũng được tìm ra khi nạo vét đáy sông, một đầu dây buộc vào tảng đá lớn còn đầu kia buộc với khẩu súng, tức là, chủ buôn ngũ cốc AM đã thả tảng đá từ lan can cầu xuống sông rồi tự bắn vào đầu mình. Khẩu súng bị kéo rơi xuống sông do sức nặng của tảng đá.
Kết quả điều tra sau đó cho thấy, vì đang bên bờ vực phá sản nên AM đã tham gia bảo hiểm nhân thọ với số tiền lớn cho gia đình, tuy nhiên sau khi biết sẽ không được thanh toán bảo hiểm trong trường hợp tự sát, ông ta đã dùng trò bịp này để dựng lên một vụ giết người.
Vụ án này chẳng khác gì bước ra từ tiểu thuyết trinh thám. Với cảm hứng từ đó, nhà văn Conan Doyle đã viết thành truyện ngắn nổi tiếng có tên “Bài toàn cầu Thor” trong Sherlock Holmes toàn tập.
Wakatsuki nhớ lại câu châm ngôn cổ, “Sự thật còn ly kì hơn cả tiểu thuyết.” Trong thực tế, bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra.
Câu chuyện này được xếp vào loại “Tự sát ngụy trang thành bị giết để lấy tiền bảo hiểm”. Giả sử đúng là Komoda Shigenori giết hại Kazuya thì mô típ sẽ là “Giết người ngụy trang thành tự sát để lấy tiền bảo hiểm”, tức là hoàn toàn ngược lại. Không biết có bao nhiêu vụ án như vậy trong thực tế.
Anh lật tiếp sách thì thấy có bảng phân loại các phương thức giết người giả dạng hòng lấy tiền bảo hiểm được thống kê bởi Cục Cảnh sát từ năm 1978 đến năm 1985, dù số liệu thống kê khá cũ.
Theo bảng phân loại thì trong tổng số 68 vụ, đứng số một là “Ngụy trang thành vụ án bị giết bởi người thứ ba” 25 vụ; tiếp theo là “Ngụy trang thành tai nạn giao thông” 23 vụ; “Ngụy trang tai nạn tử vong khác” 18 vụ, cụ thể là bảy vụ giả chết đuối, bốn vụ chết do ngộ độc khí ga, bốn vụ chết cháy do hỏa hoạn, ba vụ ngã tử vong. Ngoài ra có hai vụ “Ngụy trang chết tự nhiên” không xác định được thủ đoạn.
Bất ngờ ở chỗ, không có vụ ngụy trang tự sát nào cả. Trong số các nguyên nhân tử vong phổ biến thì tự sát là thường gặp còn giết người lại cực hiếm, thế nhưng liên quan đến phương thức ngụy trang thì hoàn toàn trái ngược. Thế là sao?
Thứ nhất, có thể diễn giải rằng, thống kê trên 68 vụ là quá ít, nên ngẫu nhiên các vụ ngụy trang tự sát không lọt vào bảng phân loại. Thứ hai, đây chỉ là thống kê các vụ đã bị phát giác, biết đâu trong số những vụ mà tội phạm thực hiện trót lọt lại có cả giết người ngụy trang thành tự sát?
Ngắm lại, trường hợp giết người ngụy trang tự sát có lẽ ít hơn Wakatsuki tưởng. Dù đã có kèm kì hạn nhưng quy định không nhận được tiền bảo hiểm trong trường hợp tự sát vẫn là một trở ngại lớn, hơn nữa, xem ra việc giết người ngụy trang thành tự sát khá khó nhằn.
Xét trường hợp cụ thể thì ở nước ngoài có một vụ án vô cùng hiếm thấy, người ta phát hiện ra vợ của một bác sĩ nọ đã nhập viện khoa Tâm thần vì trầm cảm dẫn đến muốn tự sát. Ông chồng bác sĩ mua cho vợ một khoản bảo hiểm nhân thọ lớn rồi dụ dỗ vợ tự sát bằng thuật thôi miên.
Ngoài ra, vào năm 1980, ở Nhật còn xảy ra một vụ án có tên “Giết hại giám đốc và ngụy trang thành tự sát”.
Anh không biết vì sao vụ án lại không xuất hiện trong bảng thống kê trên của Cục Cảnh sát.
Nội dung của vụ án như sau: Hai cán bộ của một công ty sắp phá sản nọ đã phát hiện giám đốc tham gia khoản bảo hiểm tổng cộng 200 triệu yên, khoản tiền này sẽ được công ty thụ hưởng, bèn chuốc cho giám đốc say rượu rồi siết cổ chết treo lên cành cây để ngụy trang thành tự sát. Cảnh sát đã điều tra do nghi ngờ về nguyên nhân chết và ngay lập tức phát giác ra hành vi phạm tội.
Có lẽ vụ việc bị bại lộ vì sự khác nhau giữa sung huyết trên mặt hoặc rãnh treo trong trường hợp tự thắt cổ và siết cổ. Bằng cách nào mà Komoda Shigenori lại giải quyết được vấn đề nan giải này?
Dòng suy nghĩ của Wakatsuki bị lung lạc dữ dội. Chẳng lẽ gã ta vô tội thật?
Có thể Komoda đi làm về và tình cờ phát hiện thi thể treo cổ của Kazuya. Nhưng gã từng có tiền sử bị bắt trong vụ án “Tộc săn ngón tay”, hay gã sợ bị cảnh sát nghi ngờ nên cố tình gọi điện cho Wakatsuki đến để làm người phát hiện đầu tiên?
Thời gian Komoda gọi điện đến chi nhánh là 1 giờ rưỡi chiều, thời gian tử vong của Komoda Kazuya lại nằm trong khoảng từ 10 giờ sáng đến giữa trưa nên hoàn toàn có thể nghĩ đến tình huống này.
Khoan, chờ đã. Vậy thì hành động giết mèo con và chặt đầu có ý nghĩa gì? Nếu Komoda Shigenori vô tội, gã có nhất thiết phải làm chuyện đó không? Hơn nữa, tiền bảo hiểm của Komoda Kazuya đã được thanh toán xong, nguồn cơn nếu có cũng chỉ là bức thư anh gửi đến Komoda Sachiko mà thôi.
Dường như những hành động ấy có hàm ý cảnh cáo anh đừng làm những điều thừa thải. Vậy thì hẳn là Komoda Kazuya đã bị giết.
Cả Kanaishi cũng vậy.
Nhưng giả sử Shigenori không phải hung thủ…
Trong lúc lật quyển sách, anh vô thức đặt ngón tay lên một trang nọ. Đề mục là “Vụ án đầu độc con đẻ (Vụ án phu nhân Tiltmann), năm 1951, Tây Đức.”
Anh đọc lướt tóm tắt vụ án.
Tháng Sáu năm 1950, Kurt, chồng của Elfriede Tiltmann, đã tham gia bảo hiểm với khoản tiền 50 nghìn mác Đức có kèm theo điều khoản đặc biệt là bảo hiểm tai họa. Ngoài ra, ông cũng đã tham gia nhiều hợp đồng khác nhưng toàn bộ đều do vợ mình thụ hưởng. Tháng Chín cùng năm, Kurt chết.
Tháng Hai năm 1951, Elfriede cùng lúc kí hợp đồng với ba công ty bảo hiểm nhân thọ, người được bảo hiểm là con trai Martin. Lúc bấy giờ, nước Đức có quy định trẻ dưới 14 tuổi nếu chết sẽ không nhận được tiền bảo hiểm, tuy nhiên Elfriede đã tha thiết bày tỏ mong muốn được nhận tiền bảo hiểm đầy đủ ngay cả trong trường hợp Martin chết khi chưa đầy 14 tuổi, nhân viên bản bảo hiểm đã cảm thấy vô cùng kì lạ.
Tháng Ba năm 1951, Martin đón sinh nhật tuổi 14 thì tháng Sáu cùng năm, cậu bé tử vong. Trong đám tang, Elfriede lau nước mắt, cố diễn cho tròn vai một bà mẹ đau buồn nhưng sự thật là bà ta đã cho Martin uống dung dịch chì và đánh lừa cậu bé đó là thuốc...
Lời Kanaishi từng nói bỗng vang vọng trong đầu Wakatsuki, cứ như thể linh hồn hắn quay trở về thế giới này để thông báo với anh thêm lần nữa.
“Đến con đẻ của mình họ còn không có tình cảm gì cơ mà.”
Một tia sáng lóe lên trong đầu anh. Dường như mọi chuyện là hiểu lầm nghiêm trọng. Vì định kiến nên Wakatsuki đem lòng nghi ngờ Komoda Shigenori, bởi lẽ Kazuya là con riêng của Sachiko. Nhưng nếu như chính Sachiko mới là hung thủ thì sao?
Trong số những vụ án giết người lấy bảo hiểm mà người bị hại là trẻ em thì số vụ giết con riêng nhiều đến áp đảo, chưa biết chừng chuyện như vậy đã trở thành khái niệm cố hữu rồi cũng nên. Không thể tưởng tượng nổi mẹ đẻ lại đi giết đứa con máu mủ của mình.
Vậy nhưng, ngoài vụ án phu nhân Tiltmann ra, vẫn còn bao nhiêu sự việc tương tự còn gì? Bắn chết con rồi vứt xuống hồ vì gây cản trở đến việc tái hôn. Ném con vào bồn tắm rồi châm lửa đốt nhà để con không thoát được.
Nếu nghĩ như vậy thì mọi diễn biến đều ăn khớp. Nếu khả năng phạm tội của Shigenori là không thể thì Sachiko chắc chắn có dư thời gian để làm.
Cảnh tượng hiện lên rõ mồn một trong đầu Wakatsuki. Trước tiên, ả sẽ quàng dây lên xà nhà, một đầu làm sẵn thành vòng dây rồi giấu đi, tiếp theo gọi con đến, bắt cậu bé đứng lên một cái ghế có bánh xe, bảo con lấy cho mình thứ gì đó trên cao chẳng hạn. Nghe mẹ ruột nói vậy, chắc chắn đứa bé sẽ tuân theo mà không mảy may nghi ngờ. Komoda Shigenori thì không thể làm những điều này.
Từ đằng sau, Sachiko sẽ lẹ làng quàng vòng dây vào cổ con. Ghế có bánh xe nên ả dễ dàng đạp nó đi chỗ khác. Cậu bé bị thắt cổ sẽ lịm ngay tức khác, thậm chí còn không có thời gian để vùng vẫy.
Wakatsuki vô thức xoa cánh tay. Anh không bật điều hòa mà sao vẫn sởn gai ốc.
Thế nhưng, về mặt tình cảm, anh lại tự phản bác suy nghĩ của mình lúc này.
Anh không thể không nghĩ về mẹ mình. Bố anh qua đời, mẹ đi bán bảo hiểm để nuôi hai anh em, dù trước đó bà chưa từng làm việc bên ngoài.
Rồi cả hình ảnh nhất quyết bảo vệ đàn con của mèo mẹ nữa...
Cho dù phải hi sinh tất thảy, chẳng phải bố mẹ luôn bảo vệ con cái hay sao?
Nhưng nếu lý thuyết của Kanaishi là đúng, thì tình cảm của psychopath đối với con cái về cơ bản khác với những gì chúng ta cảm nhận. Tình cảm ấy, nhiều nhất có lẽ cũng không hơn tình cảm của lũ côn trùng hay lũ nhện đối với trứng của mình là bao.
Một đứa trẻ, cho dù nằm trong tay một kẻ thù đáng sợ có thể sẽ ăn thịt mình, nhưng chỉ cần ngửi thấy mùi của người mẹ là đã có thể an tâm đi vào giấc ngủ, ấy vậy mà...
Wakatsuki nhớ lại mùi hương của Sachiko, và cả thứ mùi hôi thối kì dị ngập ngụa trong nhà Komoda.
Có gì đó như một mạng lưới đèn điện được kết nối trong đầu Wakatsuki. Anh nhấc máy điện thoại phụ không chần chừ, ấn ngay số phòng trọ của Megumi. Tại sao lúc này anh mới nhận ra cơ chứ?
- Vâng… Kurosawa đấy ạ.
Sau bảy hồi chuông, Megumi nhấc máy. Vẫn chưa đến 12 giờ nhưng hình như cô đã đi ngủ, hẳn vẫn chưa nguôi cơn sốc vì mấy con mèo.
- A lô, anh Wakatsuki đây. Anh có chuyện phải hỏi em bằng được.
- Gì thế anh? Cô hơi chùng giọng.
- Hồi đến phòng nghiên cứu của giáo sư Daigo tháng trước ấy, hình như cô có nói rằng khuyết tật khứu giác và thiếu hụt tâm thức có liên quan với nhau, đúng không?
- Khứu...?
- Khuyết tật khứu giác. Không có khả năng ngửi thấy mùi ấy. Em nhớ không, cô nói rằng cậu sinh viên tên F bị như vậy...
- Cô nói vậy à... Không phải chuyên môn của em nên em cũng không nhớ lắm. - Dường như Megumi đã lấy lại tinh thần - Chờ một chút, chắc trong sách sẽ có.
Có tiếng lục đục tìm sách trên giá một lúc. Wakatsuki sốt ruột chờ đợi.
- Thấy rồi... Nhưng đây không phải lý thuyết chính thống đâu.
- Không sao, em cứ chỉ cho anh đi.
- À, ừm… Trong số những tên tội phạm bị chẩn đoán là thiếu hụt tâm thức, thường xuyên xuất hiện các trường hợp khuyết tật khứu giác bẩm sinh.
Megumi cố tình phát âm nhấn mạnh vào từ “thiếu hụt tâm thức”.
- Vì sao lại thế?
- Có giả thuyết cho rằng từ lúc còn nhỏ, đứa trẻ đã không cảm nhận được mùi sữa hoặc mùi cơ thể người mẹ nên sự phát triển tình cảm thông thường bị cản trở.
Wakatsuki nghĩ bụng, nếu vậy thì đương nhiên khi thành bố mẹ, họ cũng không có tình yêu thương bình thường dành cho con cái mình. Dĩ nhiên, không thể suy ngược lại rằng tất cả những người bị khuyết tật khứu giác sẽ trở thành kẻ thiếu hụt tâm thức.
- À, sao tự nhiên anh lại hỏi vậy?
Nghe Wakatsuki giải thích xong, Megumi im lặng. Wakatsuki cũng cảm thấy vô lý, chưa kể Megurni vốn không dễ gì chấp nhận cách suy nghĩ này.
- Anh đã từng nói bà vợ đó có vết rạch trên cổ tay đúng không?
- Ừ. Nhưng sao?
Wakatsuki thấy lạ trước câu hỏi của Megumi.
- Vì trong này có viết, những người thiếu hụt tâm thức không những không quan tâm đến tính mạng người khác mà ngay cả bản thân mình họ cũng không để ý, thành ra dễ lặp lại hành vi tự sát bất thành… Em không biết điều này có giúp gì cho anh không…
Wakatsuki bất giác câm lặng.
Anh hình dung lại vết thương trên cổ tay Sachiko. Vết thương ấy cũng là một trong những lý do khiến anh tự tạo ra suy nghĩ một chiều rằng ả là nạn nhân. Anh cứ đinh ninh ả tính tự sát nên mới hỏi về điều khoản miễn trách bảo hiểm.
Song, có lẽ Sachiko hỏi không phải để tự sát, mà để sát hại con đẻ của mình và ngụy trang thành một vụ tự sát.
Và rồi, anh chủ nhiệm tốt tính của công ty bảo hiểm cứ tùy tiện lý giải sự việc theo ý mình và thổ lộ luôn cả vết thương tinh thần xấu xí nhất trong lòng để ngăn cản ý định tự sát của đối phương. Nghe thấy vậy, Sachiko bèn nghĩ ra cách để anh chàng lương thiện này làm người phát hiện xác chết đầu tiên…
Cúp máy rồi, Wakatsuki vẫn thẫn thờ đắm chìm trong suy nghĩ. Kết luận lúc này vẫn còn quá sớm. Mọi chuyện mới chỉ dừng lại ở giả thuyết. Nhưng...
Điện thoại đột ngột réo vang khiến Wakatsuki nhảy dựng lên. Từ sau lần bị những cuộc gọi không lời tấn công, anh rơi hẳn vào trạng thái sợ điện thoại gọi đến. Chắc Megumi lại nhớ ra điều gì đó.
Anh hít thở sâu để lấy lại bình tĩnh rồi nhấc máy.
- A lô?
- A lô, đây có phải là nhà Wakatsuki không?
Vừa nghe giọng anh đã nhận ra ngay. Người gọi đến là giáo sư Daigo.
- Vâng, em cảm ơn cô rất nhiều vì việc hôm trước.
- Ừ, cô Daigo đây. Xin lỗi vì gọi em vào giờ này. Em ngủ rồi à?
- Chưa ạ, em vẫn thức...
- Cô vừa đọc lại bài tập làm văn ấy và chợt nhận ra một chuyện nên mới gọi cho em. Cô nghĩ cô nên vào thẳng vấn đề. Kết luận lại thì giấc mơ viết trong đó quả đúng là dị thường.
Một sự trùng hợp ngẫu nhiên đến kì lạ, giáo sư Daigo cũng nghĩ về vụ án đó cùng lúc với anh.
- Nhưng cô đã nói là chỉ đọc “Giấc mơ” thôi sẽ không thể cảm nhận được sự thiếu hụt tâm thức phải không ạ?
- Không phải bài “Giấc mơ” mà là bài “Giấc mơ về cái Xích đu” cơ! Cuối cùng cô đã nhớ ra là nó giống y hệt giấc mơ xuất hiện trong cuốn sách của cô Von Franz[1]!
Bà Marie-Louise Von Franz là học trò yêu quý của Jung, cũng là người đã dạy giáo sư Daigo Noriko hồi bà còn học trong phòng nghiên cứu Jung ở Thụy Sĩ.
- Đáng ra cô phải nhận ra ngay từ đầu mới phải. Vấn đề không nằm ở cái xích đu, mà ở phản ứng tình cảm đối với nó.
- Nghĩa là sao ạ?
- Đọc lại bài văn “Giấc mơ về cái xích đu” ấy lần nữa, cô mới hiểu rõ. “Em trèo lên xích đu rồi bắt đầu nhún,” “Em nhún nữa thì nó lại lên cao hơn nữa,” “Em trượt khỏi cái xích đu,” “Và rồi em rơi xuống một nơi tối tăm, không có gì ở đó…”
Giáo sư Daigo im lặng một lát như để thời gian cho Wakatsuki suy nghĩ.
- So sánh với bài “Giấc mơ” sẽ thấy rõ hơn. Bài xích đu chỉ đơn thuần nói về hành động mà không có lấy một từ bày tỏ phản ứng cảm xúc nào đúng không? Xuyên suốt cả bài, phần nói về biểu hiện cảm xúc chỉ có duy nhất một từ là “thú vị”.
Giọng giáo sư Daigo càng lúc càng phấn khích.
- Không biết em có biết không, Jung từng nói, trời và đất trong giấc mơ thể hiện hai thái cực của vô thức. Dù cùng là sự vô thức nhưng trong khi trời thể hiện bản ngã thì đất lại thể hiện bản năng. Đối với con người, dao động mãnh liệt giữa bản ngã và bản năng chắc chắn sẽ trở thành nỗi căng thẳng vô hạn. Cứ đi đi lại lại giữa hai cực đối nghịch nhau ấy nhưng chẳng hề bất an, trái lại còn thấy thú vị thì chỉ có thể nói là vô cùng dị thường. Đặc biệt là đoạn “rơi xuống một nơi tối tăm” ở cuối bài. Nếu là người bình thường, chắc chắn sẽ cảm thấy sợ hãi, nhưng người này chỉ nói “không có gì ở đó”. Điều này gần như giống hệt với giấc mơ Von Franz đã phân tích.
- Vậy bà Von Franz đã nói sao ạ? - Wakatsuki nuốt nước miếng.
- Cô ấy nói, “Con người này không có trái tim!”
- Không có trái tim?
- Giấc mơ mà Von Franz phân tích thực ra là của một kẻ sát nhân hàng loạt nổi tiếng. Dĩ nhiên, cô ấy không được biết trước thông tin này.
Đêm đó, Wakatsuki phải mượn một lượng cồn lớn mới có thể đi vào giấc ngủ. Không gian bên ngoài rèm cửa bắt đầu biến thành một màu trắng xóa, ý thức của anh cũng bị nuốt trọn vào bóng tối đen ngòm.
Anh đang đứng ở một nơi giông giống một hang động lớn.
Trước mắt anh là một mạng nhện khổng lồ. Tấm mạng nhện cũng vô hạn như bóng tối làm nền xung quanh nó, không có lấy một điềm đỡ, cứ trải rộng mãi không dừng.
Lại nữa rồi, Wakatsuki nghĩ bụng. Anh biết đó là “xứ sở của cái chết”. Những kẻ đang chới với giữa bóng đêm mịt mùng sẽ bị vướng vào mạng nhện và biến thành thức ăn.
Có thứ gì đó treo lơ lửng trước mắt anh. Anh nhận ra ngay, đây là hài cốt của một vật hi sinh đáng thương.
Người chết bị quấn bởi tơ nhện chằng chịt, đang nhìn anh với vẻ mặt oán thán. Gương mặt ấy vừa giống anh trai anh lại vừa giống Komoda Kazuya. Chết rồi thì chẳng còn ý thức của một người sống, nhưng làm mồi cho nhện thì chẳng khác nào phải chết thêm lần nữa. Bằng ý thức của người chết, cái xác ấy đang than vãn cho vận mệnh của chính mình.
Mạng nhện bắt đầu rung, rồi mau chóng chuyển thành chấn động dữ dội. Con nhện đã trở về.
Bình thường, cơn ác mộng sẽ chấm dứt ở đây. Nhưng lần này thì chưa. Wakatsuki chờ đợi trong nỗi sợ hãi cực điểm. Rồi một loài sinh vật khổng lồ kinh tởm xuất hiện.
Nó có phần bụng phình to như khinh khí cầu và tám chiếc chân dài đầy gai góc. Một con nhện khổng lồ... Nhưng đầu nó không phải đầu nhện, thay vào đó là một cái đầu phụ nữ với khuôn mặt bành bạnh hết sức cục mịch và u âm, cùng đôi mắt như vết dao khoét thật sâu.
Từ tổng hợp những hình tượng kì dị cố hữu trong giấc mơ mà anh từng biết, Wakatsuki đinh ninh đây là “Nhện ma nữ[2]”.
Nhện ma nữ treo mình trên sợi tơ giữa bóng đêm mịt mùng, lắc lư lắc lư. “Không có bất kì phản ứng cảm xúc nào”, một giọng nói chợt vang lên. Dù đang dao động mãnh liệt giữa hai thái cực nhưng nó vẫn vô cảm.
Nhện ma nữ nhấc thi thể bị quấn lằng nhằng của đứa con lên rồi bắt đầu đớp vào phần gáy.
Đứa con rõ ràng đã chết bỗng nhiên mở mắt trừng trừng. Máu tươi tuôn xối xả, rớt tong tong từ miệng nhện ma nữ.
Bất chấp đứa con đang quằn quại trong đau đớn, nhện ma nữ xé thịt ăn chóp chép, nó nhai rất kĩ rồi nuốt ừng ực một cách ngon lành.
Tiếng nói lại vang lên đầu đó, rằng chúng không có tình cảm với con cái mình.
Chúng không có trái tim.
Đang ăn dở bữa chính kinh tởm, nhện ma nữ bỗng nhìn sang Wakatsuki.
Quá sợ hãi, Wakatsuki hét lên thất thanh. Tức thì, mặt đất dưới chân biến mất, anh rơi xuống tận cùng, tận cùng của bóng đêm sâu thẳm.
Tỉnh lại, anh thấy mình đang năm trên sàn nhà. Quần lót ướt nhẹp mồ hôi, miệng khô khốc, buồn nôn và đầu đau như búa bổ.
Nhưng kí ức về giấc mơ vẫn còn rõ mồn một. Dường như anh vẫn đang sống trong thế giới đó.
Wakatsuki cố nén cơn buồn nôn để gượng dậy và nhìn đống thùng carton vẫn chất chồng trong phòng ngủ. Trong số đó, chắc chắn có một thùng đựng tài liệu chuyên môn về tâm lý học mà anh đã đọc hồi đại học vì ảnh hưởng từ Megumi. Anh đã bỏ bẵng vì nghĩ rằng chẳng bao giờ dùng đến…
Wakatsuki mệt mỏi dỡ đống thùng xuống. Toàn sách là sách nên rất nặng, đã vậy, vì lười nên bên ngoài anh chỉ đề chữ “Sách vở”, thành thử phải xé băng dính để kiểm tra từng thùng một.
Anh lật úp từng thùng rồi đổ tung đồ đạc bên trong ra sàn, cuối cùng cũng thấy một góc bìa trắng quen thuộc, bèn bới cuốn sách đó lên. Đây rồi. Chuyên đề phân tích giấc mơ của Carl Jung.
Cuối cùng, Wakatsuki cũng hiểu lý do anh mơ thấy con nhện vô số lần.
Một mặt, nhện biểu trưng cho thế giới, vận mệnh, trưởng thành và cái chết, sự phá hủy và tái sinh, mặt khác, trong giấc mơ, nó là biểu tượng của “thái mẫu” nguyên mẫu gợi lên hình ảnh của người mẹ trong hệ vô thức tổng hợp của con người.
Theo Jung, “thái mẫu” có những mặt tích cực như “sự quan tâm, chở che của một người mẹ, uy quyền ma thuật cố hữu của nữ giới, trí tuệ và khí phách linh hồn vượt trên cả lý trí, bản năng và sự rung động đáng tin cậy, lòng từ bi sâu sắc, sự nuôi dưỡng, nâng đỡ và tất cả những tố chất để thúc đẩy sự trưởng thành và khai hoa nở nhụy”, nhưng cũng có cả những mặt tiêu cực, gợi đến hình ảnh “sự bí ẩn, sự che giấu, sự tăm tối, địa ngục, xứ sở người chết và tất thảy những điều nghe đến đã sởn gai ốc như ăn tươi nuốt sống, mê hoặc, gây tổn thương, đều không thể thoát ra khỏi hình tượng “thái mẫu” như định mệnh đã an bài”.
Ông cho rằng, Hariti nữ thần ban đầu vốn là ác quỷ chuyên bắt trẻ con ăn thịt, sau đã hối cải và trở thành nữ thần nuôi con cũng chính là “thái mẫu” mang hình tượng Ánh sáng và Bóng tối đối lập như vậy.
Wakatsuki đã từng nghĩ, liệu có phải ngẫu nhiên mà anh liên tục mơ thấy nhện sau vụ án Komoda Kazuya. Phải chăng ngay từ đầu, đó đã là điềm báo nhằm tố cáo rằng hung thủ chính là “người mẹ”?
Wakatsuki ra bồn rửa mặt lấy Listerine súc miệng. Gương mặt anh phản chiếu trong gương tái xanh chẳng khác gì người chết.
Anh rửa mặt bằng nước ấm từ vòi rồi chậm chạp thay quần áo. Vừa mặc áo vest vào, cơ thể đã bốc ra hơi nóng khó chịu. Vác chiếc xe đạp địa hình trên vai và đi xuống cầu thang chật hẹp của khu nhà, người anh ướt đẫm.
Tuy vậy, ra đến đường Oike, cơn gió trong lành của buổi sáng sớm đã thổi bay mồ hôi trên trán.
Mãi đến đêm qua Wakatsuki mới nhận ra Komoda Sachiko là hung thủ. Sự chậm trễ này chẳng có gì lạ, bởi nói gì thì nói, ấn tượng ban đầu về Komoda Shigenori quá mạnh mẽ đối với anh.
Tuy hơi muộn nhưng giờ nghĩ lại anh mới thấy, đằng sau dáng vẻ của Shigenori luôn thấp thoáng bóng dáng Sachiko.
Việc yêu cầu đích danh Wakatsuki đến nhà để biến anh thành người đầu tiên phát hiện xác chết chỉ có thể là Sachiko, người đã biết tên anh sau cuộc nói chuyện điện thoại trước đó. Hơn nữa, thói dai dẳng dị thường biểu hiện ở việc ngày nào cũng đến chi nhánh vào một giờ nhất định để gây áp lực lên Wakatsuki rõ ràng phù hợp với một Komoda Sachiko có biểu hiện hoang tưởng hơn là Shigenori kẻ giống với bệnh nhân tâm thần phân liệt. Thậm chí ngay cả hành vi cắn tay tự gây thương tích cũng vậy, nếu Shigenori cực chẳng đã phải làm theo mệnh lệnh của Sachiko thì anh còn thấy dễ hiểu.
Không biết có phải đạp xe khiến máu lưu thông toàn thân hay không mà đầu óc anh cũng bắt đầu hoạt động.
Phải rồi. Cả câu chuyện mấy con vật bị giết và cô bé học sinh chết nổi trên mặt hồ ở trường tiểu học K cũng thế. Mọi người đều đinh ninh Shigenori là hung thủ nhưng lúc này, anh đã có thể giải thích sự việc theo hướng hoàn toàn khác.
Người liên tục giết mấy con vật nhỏ không đủ sức kháng cự quả nhiên chính là Komoda Sachiko. Có lẽ ả vừa mắc chứng nghiện tấn công bệnh hoạn, vừa gian trá đủ để tự đặt mình ngoài vòng nghi kị.
Phàm những kẻ sống bằng cách biến người khác thành đồ ăn của mình luôn có sẵn một thứ trực cảm đặc biệt, đó là khả năng đánh hơi được điểm yếu trong tâm lý đối phương.
Chắc hẳn Komoda Sachiko cũng dùng trực cảm đó để nhận ra cậu học sinh có vấn đề trong lớp. Thấy Kosaka Shigenori là một người thiếu ý chí và không có lập trường, ả đã lén tiếp cận sao cho không ai nhận ra. Shigenori liền mở lòng và trở nên thân thiết với người duy nhất bày tỏ sự quan tâm đến gã trong lớp học toàn những kì thị xa lánh. Có lẽ với Sachiko, chẳng mất quá nhiều công sức để làm ra vẻ thích Shigenori. Và rồi, ngay sau khi ả giết mấy con vật, y như rằng Shigenori bị bắt gặp lảng vảng quanh khu chuồng nuôi…
Về vụ chết đuối của cô bạn lớp bên, nếu như Sachiko cũng là hung thủ thì động cơ có thể là do ghen ghét. Cô bé đó chắc hẳn được trời phú cho cả diện mạo lẫn gia cảnh, hơn nữa còn sống rất hạnh phúc nên đã khiến ả căm ghét tận xương tủy. Hành động bám riết cô bạn của Shigenori cũng là nguyên nhân dẫn đến nỗi ghen hờn của Sachiko.
Trong chuyến dã ngoại, ả đã viện cớ nào đó để dụ cô bé ra một chỗ xa. Gì chứ đối với một người như ả thì việc nói dối dễ như trở bàn tay, và sau đó, ả sẽ đẩy cô bé xuống một cái hồ sâu không thấy đáy và chẳng dễ gì ngoi lên được.
Chuyện Shigenori luôn có thói quen tự ý bỏ đi đâu đó lúc tham gia các hoạt động tập thể cũng nằm trong tính toán của ả. Sachiko đứng ra làm chứng cho Shigenori, thực chất cũng chính là tạo chứng cứ ngoại phạm cho mình chứ không nhằm bảo vệ Shigenori.
Wakatsuki hiểu rõ mình đang tự xây dựng toàn bộ câu chuyện, tất cả chỉ là những điều vô căn cứ cộng với suy đoán này chồng lên suy đoán kia. Ở vụ án nào cũng vậy, không có một bằng chứng nào đáng để nghi ngờ Komoda Sachiko, nói gì đến bằng chứng chứng minh ả có tội.
Đến chi nhánh rồi chào hỏi bác bảo vệ tóc bạc trên sáu chục tuổi xong, Wakatsuki dựng xe địa hình vào bãi đậu xe phía sau tòa nhà của công ty Bảo hiểm Nhân thọ Showa. Anh mua một lon cà phê từ máy bán hàng tự động ở tầng trệt uống thay cho bữa sáng. Mồ hôi lấm tấm trên thái dương.
Dẫu sao thì với công ty Bảo hiểm Nhân thọ Showa, vụ án đã hoàn toàn kết thúc. Ngay cả Wakatsuki cũng hiểu rõ rằng quên đi là tốt nhất.
Nhưng trước đó anh vẫn còn việc phải làm, việc duy nhất khiến anh vẫn bận lòng. Chỉ cần một thao tác hết sức đơn giản nữa thôi là xác nhận được. Hoàn tất rồi anh sẽ chuyên tâm vào sự vụ hàng ngày, đống việc dang dở đã chất cao như núi rồi.
Buổi sáng hôm đó, Wakatsuki khổ sở vì dư âm của cơn say đêm qua và cơn đau đầu. Anh sang phòng trà nước, đổ nước từ bình làm lạnh vào ấm trà mang về phòng, rót ra cốc uống ừng ực rồi lần lượt xử lý lượng hồ sơ đồ sộ.
Quá 11 giờ, khi công việc đã hòm hòm, Wakatsuki mới có lúc ngẩng đầu lên. Kasai đang tiếp một cụ già có vẻ lãng tai ngoài quầy. Giọng nói tận tình lịch sự giải thích cách sử dụng hồ sơ vọng cả vào bên trong phòng. Anh nhìn quanh. May thay, vẫn còn hai chiếc máy tính đang trống.
Wakatsuki đứng dậy, cầm theo bản đối chiếu nội dung bảo hiểm được gửi đến từ văn phòng phúc lợi.
Bản đối chiếu này có tên tuổi và ngày tháng năm sinh của các thành viên trong một gia đình sáu người, kèm thêm một bản đồng ý tiết lộ nội dung hợp đồng của hai người làm bố và mẹ. Chắc gia đình này đang xin bảo trợ sinh hoạt. Muốn đối chiếu sẽ phải tra danh sách hợp đồng trên máy tính, nếu không có hợp đồng, máy sẽ hiện chữ “Không có kết quả tương ứng”, nếu có sẽ phải điền nội dung chi tiết rồi gửi lại bản mẫu.
Tuy nhiên, tên và ngày tháng năm sinh Wakatsuki nhập vào máy không thuộc về bất cứ ai trong số thành viên của gia đình sáu người này.
Shirakawa Sachiko
Ngày 4 tháng Sáu năm Showa thứ 26[3]
Shirakawa Sachiko là tên của Komoda Sachiko sau lần kết hôn đầu tiên. Ngẫm lại thì anh mới chỉ đối chiếu tên “Komoda Sachiko”, “Komoda Shigenori” và “Kosaka Shigenori” chứ chưa một lần tìm tên cũ của Sachiko.
Trên màn hình hiện lên chỉ một hợp đồng duy nhất, nhưng đã bị tiêu hủy từ mười bảy năm trước. Tình trạng là đã thanh toán tiền bảo hiểm tử vong. Người được bảo hiểm là “Yoshio”, con của Sachiko.
Nhưng rốt cuộc, Yoshio chết trong hoàn cảnh nào?
Từ trước đến giờ, nguyên nhân tử vong của hàng triệu, hàng chục triệu người được bảo hiểm đều được phân tích và ghi lại trong máy tính của các công ty bảo hiểm nhân thọ.
“Shirakawa Yoshio” là hợp đồng cũ nên không thể biết được chi tiết. Trên màn hình chỉ còn lưu lại hai con số “497” - mã số nguyên nhân tử vong và “963” - mã số nguyên nhân tai nạn.
Cả hai mã số này đều do điều tra viên tỉ lệ tử vong của Hiệp hội Bảo hiểm Nhân thọ phân loại, căn cứ vào Tóm lược phân loại thống kê bệnh tật, thương tật và tử vong của Nội các Nhật bản và phòng Thống kê Bộ Y tế.
Mã số nguyên nhân tử vong là con số mà Wakatsuki cũng biết rất rõ. Dự cảm không lành dấy lên trong anh. Ý nghĩa của “497” là bị giết.
Wakatsuki quay lại bàn làm việc và rút cuốn Mã số nguyên nhân tử vong từ dưới đáy ngăn kéo.
Cuốn cẩm nang này đưa ra giả thuyết về tất cả những vụ tử vong, tai nạn có thể xảy ra trong thực tế nên việc phân loại được làm rất chi tiết. Chỉ nhìn qua thì mục nào cũng khó hiểu, chẳng hạn như “816: Tai nạn ô tô không do va chạm, mất khả năng điều khiển” hay “976: Thương tật do thủ đoạn không rõ, căn cứ theo can thiệp pháp luật”.
Thậm chí, có cả những “mã số trinh nữ”, tức mã số chưa được dùng lần nào như “854: Tai nạn tàu vũ trụ” hay “996: Thương tật do vũ khí hạt nhân căn cứ theo hành vi chiến tranh”. Hẳn người ta cũng đang mong ngóng một ngày nào đó chúng sẽ xuất hiện.
Ngón tay Wakatsuki lướt trên mặt giấy rồi dừng lại. Theo cuốn sổ tay này, mã số nguyên nhân tai nạn “963” được diễn giải là “Bị giết do treo cổ và siết cổ”.
Trong lúc dùng máy tính trên thư viện tìm lại bài báo của mười bảy năm trước, Wakatsuki tự hỏi, rốt cuộc mình đang làm gì vậy?
Đến lúc này, dù có biết về vụ án năm xưa đi nữa cũng không thể khiến mọi chuyện thay đổi. Vạn nhất, mà không, triệu nhất ấy chứ, anh tìm lại được chứng cứ phạm tội thì vụ án cũng đã hết hiệu lực.
Dẫu vậy, anh vẫn phải xác minh bằng mọi giá. Hồ sơ liên quan đến bảo hiểm tử vong đã bị tiêu hủy từ mười bảy năm trước nên không còn cách nào khác ngoài việc tra cứu trong thư viện. Vì lẽ đó mà anh phải bỏ bữa trưa, nhưng đằng nào anh cũng chẳng có hứng ăn.
Tìm một lúc, Wakatsuki phát hiện một mẩu tin vắn ở góc Xã hội của báo chiều, tiêu đề là “Một trẻ nhỏ bị thắt cổ chết”.
Khoảng 11 giờ rưỡi sáng ngày 4, tại nhà của Shirakawa Yu (30 tuổi) ở khu 5 Kanaoka, phía Đông thành phố Osaka, người mẹ tên là Sachiko (28 tuổi) đi chợ về thì phát hiện con trai cả Yoshio (6 tuổi) bị chết. Cô lập tức thông báo cho cảnh sát. Từ dấu vết giống như bị dây siết trên cổ Yoshio, người ta cho rằng đây có khả năng là vụ giết người, sẽ tiến hành giải phẫu tử thi vào ngày 5 để điều tra nguyên nhân chi tiết.
Sachiko kể lại rằng, khi cô đẩy cửa vào nhà thì Yu chồng cô, cũng là bố đứa bé, lao từ trong nhà ra và bỏ chạy một mạch. Cảnh sát cho rằng có khả năng Yu biết rõ về vụ việc nên đang truy tìm tung tích của y.
Báo sáng của hai ngày sau đăng thêm một mẩu tin ngắn có tựa đề “Truy nã người bố vì sát hại con nhỏ”.
Liên quan đến vụ án một cậu bé 6 tuổi được phát hiện trong tình trạng bị siết cổ chết ở khu 5 Kanaoka, phía Đông thành phố Osaka vào sáng ngày mùng 4, Sở Cảnh sát Osaka đã truy nã hung thủ A (30 tuổi), là bố cậu bé, vì tình nghi giết người.
Người vợ tên S trước khi phát hiện thi thể đã thấy A lao ra khỏi nhà, từ đó biệt tăm biệt tích. Hai năm trước, A từng phải vào viện tâm thần trong nội thành Osaka. Gần đây, y có nhiều biểu hiện thất thường như không đi làm, sáng ngày ra đã uống rượu...
Cách viết y như thể đang cho rằng, chỉ cần nêu lên sự thật Shirakawa Yu có tiền sử bệnh tâm thần là đã đủ giải thích mọi chuyên. ”Dĩ nhiên, họ không hề Công bố việc Yoshio được mua bảo hiểm, có lẽ phóng viên này chỉ viết bài dựa trên phát ngôn của cảnh sát chứ không tiến hành bất cứ bài phỏng vấn lấy tin tìm sự thật nào.
Wakatsuki tra cứu những bài báo tiếp theo, nhưng không tìm ra bài nào viết về kết cục của Yu, xem y có bị bắt hay không.
Như vậy nghĩa là sao? Do bài báo được đăng ở một nơi khác, do không phải tin tức quá nóng, hay do cân nhắc đến nhân quyền của một kẻ tình nghi mắc bệnh tâm thần?
Hay do Shirakawa Yu đã mất tích vĩnh viễn?
Anh bàng hoàng. Mười bảy năm trước chính là khoảng thời gian Komoda Sachiko chuyển đến ngôi nhà đen ở Kyoto. Liệu giữa hai sự việc này có mối liên hệ gì không?
❀ ❀ ❀
[1] Marie-Louise von Franz (1915-1988): học giả, nhà tâm lý học người Thụy Sĩ.
[2] Tên tiếng Nhật là Jorogumo, một loại yêu quái nhện dưới lốt phụ nữ, thường xuất hiện trong truyện dân gian Nhật Bản.
[3] Tức năm 1951.