Sang ngày thứ ba, những mũi cày đang đánh thức mảnh đất Akxai. Đã là ngày thứ ba những người thợ cày không ngớt miệng la hét, giục giã những chú ngựa của mình. Một luống đất màu nâu sẫm vừa mới được người lính đổ bộ Akxai xới lên nằm gọn trên cánh đồng. Công việc đã bắt đầu đem lại kết quả rõ rệt, làm vui mắt mọi người. Bây giờ tất cả chỉ còn tùy thuộc vào thời tiết.
Trong khoảng không gian bao la dưới chân dãy núi Manas vĩ đại, từ lâu vẫn ngự trị một sự tĩnh lặng vĩnh hằng chưa hề bị một người nào phá vỡ. Thảo nguyên Akxai khởi nguồn từ đây, trải dài mãi đến tận những vùng đất Chimkent và Tashkent khô cằn. Trên dải đất bao la hoang vu của thảo nguyên, những cỗ ngựa cày trông giống như những con bọ dừa bé xíu đang bò chậm chạp, để lại phía sau những vết đất dài tơi xốp.
Hiện giờ ở đây chỉ có ba chiếc cày đang làm việc. Erges và Kubatkun phải ở lại bản vài ngày để hỗ trợ việc bừa đất cho lúa thu, kịp thời giữ lại độ ẩm cho lớp đất trồng. Rõ ràng, đó là công việc quan trọng và khẩn cấp, nhưng ở Akxai thời gian cũng không chờ đợi. Để có thể cày hết khu đất đã được đánh dấu, tất cả đội quân đổ bộ phải cày liên tục suốt từ sáng đến tối, nếu không sẽ chẳng thể nào kịp và mọi công sức đổ ra sẽ vô ích. Xuntanmurat lo lắng, chờ đợi từng ngày hai bộ cày còn lại. Người ta đã hứa hẹn đủ chuyện và chính vì vậy mà Xuntanmurat đã phải cãi nhau với ông đội trưởng Sekis. Cãi nhau một trận nảy lửa.
– Bác nói lại với ông chủ tịch Tynaliev. - Cậu nói. - Bảo ông ấy trực tiếp lên đây mà giải quyết lấy mọi việc. Chỉ có ba chiếc cày thì chẳng làm được gì cả đâu. Chúng cháu không thể hoàn thành nhiệm vụ được…
Còn ông lão Sekis? Ông chẳng biết nói gì, chỉ đưa tay lên vò đầu. Xuntanmurat hiểu rằng ông đội trưởng thông minh và hiểu biết ấy cũng đang gặp biết bao khó khăn ở nông trang. Ông cũng muốn thực hiện tất cả mọi công việc một cách kịp thời, đến nơi đến chốn, theo kế hoạch đã vạch ra, nhưng công việc thì cứ như nước sôi lửa bỏng. Bao nhiêu việc cần kịp thời hoàn thành trong mùa xuân, thế mà cứ sờ đến cái gì thì hoặc là không có nhân lực, không có sức kéo, hoặc là không có thực phẩm. Đúng là đầu đưa ra thì đuôi phải thụt lại. Hôm qua, ông lão đã ngồi đây và tính toán mãi. Trong bản đang là thời kỳ đói kém. Tất cả mọi nguồn dự trữ đều đã gần cạn, thế mà đến vụ thu hoạch thì còn xa. Súc vật gầy tọp đi, nhiều con đã chết vì đói, nhưng chẳng ai muốn xẻ thịt. Để mua một cân thịt cho người ốm phải đi mãi ra tận chợ, mà giá một cân thịt bây giờ tương đương với giá cả một súc thịt lớn trước kia. Vậy mà người ta vẫn cứ phải đi. Không những chỉ đi bằng xe, bằng ngựa mà người ta còn đi bộ một chặng đường dài ba mươi, bốn mươi cây số. Những con ngựa cưỡi bây giờ chắc gì đi nổi một chặng đường như vậy, vừa ra khỏi bản là ngã gục bên đường. Chỉ còn những con ngựa kéo để phục vụ cho việc gieo hạt là còn khỏe. Nhưng cho dù là đàn ngựa còn tốt thì liệu chúng còn chịu được bao lâu với công việc nặng nhọc, vất vả như vậy?
Lúc nào cũng nghĩ về những chuyện ấy thì quả là đáng sợ. Nhưng tai họa khủng khiếp nhất vẫn là chiến tranh mà cho đến nay chẳng ai biết được khi nào thì chấm dứt. Chỉ có một điều an ủi duy nhất, một niềm hy vọng khôn nguôi là quân ta đã bắt đầu giành được những chiến thắng đối với quân Đức, đang dồn chúng lại, đang đuổi chúng…
Ngày hôm sau, ngay từ sáng sớm, thời tiết có vẻ dễ chịu. Mặc dù vẫn còn những đám mây nhưng mặt trời thỉnh thoảng đã ló dạng trên đỉnh núi. Nhưng dần dần bầu trời trở nên vần vũ, u ám. Đến trưa trời bỗng tối sầm và trở lạnh đột ngột. Chắc là sẽ có mưa hoặc tuyết… Xung quanh cảnh vật lại trở nên ảm đạm. Sau khi ăn trưa, những người thợ cày lại ra ruộng ngay, họ mang theo những chiếc bao tải để trùm đầu phòng khi có mưa hoặc tuyết.
Những đường cày lại tiếp tục hiện lên. Đi đầu là Xuntanmurat, theo sau, cách cậu khoảng hai trăm bước là Anatai và cuối cùng là Erkinbek cách nó gần nửa vecxta[1]. Hôm nay, ở ngoài đồng chỉ có những người thợ cày. Ba người thợ cày và đằng trước là những ngọn núi hùng vĩ. Ba người thợ cày và đằng sau là thảo nguyên mênh mông. Ông chủ tịch Tynaliev chỉ đến đây đầu hôm. Công việc của ông rất nhiều, vì vậy ông phải phóng ngựa về ngay, giao lại cho ông lão đội trưởng Sekis tiếp tục ổn định những công việc còn lại. Sáng nay, ông Sekis lại đi nốt để giải quyết tiếp hai bộ cày của Erges và Kubatkun vẫn còn để lại ở bản. Và thế là sáng ngày thứ ba chỉ còn lại những chú thợ cày cùng với những chiếc cày, với đàn ngựa và với mảnh đất phải cày bằng xong để có thể gieo và thu hoạch được lúa mì, để có thể nuôi sống được mọi người…
Đám ruộng đang cày nằm khá xa chỗ đóng trại, nơi đó vẻn vẹn có một cái lều để ở, một đống cỏ chẽ ba, những bao lúa kiều mạch, nơi đó bây giờ đã trở thành nhà của họ. Ở nơi đóng trại chỉ còn lại mỗi bà cấp dưỡng. Bà già suốt ngày ca cẩm, càu nhàu, nào là củi ướt, nào là thiếu cái này, cái nọ thay vì phải chuẩn bị bữa ăn cho kịp thời. Ngoài đồng, người ta đâu có cần gì nhiều, chỉ một mẩu bánh mì dẹt và một bát canh nóng là đủ. Thế mà bà lão cứ cằn nhằn, nguyền rủa cuộc sống, cứ như là đang bị một người nào đó trách mắng thậm tệ. Ở trong bản ít người biết bà. Hình như bà là người ở nơi khác đến. Những người đàn bà khác chẳng ai có thể bỏ nhà cửa, con cái mà đi được, thế mà bà này đã đồng ý đi Akxai để kiếm ăn với đám thợ cày. Thôi thì mặc bà ta, muốn ăn uống ra sao cũng được, miễn là chuẩn bị bữa ăn cho đúng giờ. Thế mà bà lão cứ chạy ngược chạy xuôi chẳng kịp làm một cái gì. Mấy chàng thợ cày chẳng có lúc nào rảnh để giúp bà lão. Bởi lẽ con ngựa đâu phải là cỗ máy, đâu phải là chiếc máy cày cứ bật công tắc là chạy, đâu phải cứ đổ đầy dầu vào thùng là làm việc được. Người thợ cày cũng phải làm việc quần quật ngoài đồng như lũ ngựa, nhưng sau đó lại còn phải lo cho chúng ăn, chúng uống, chăm sóc cho cả bộ tứ, đến lúc lết về được đến lều là ngã quỵ… Sáng hôm sau, công việc cứ thế lại tiếp tục… Khó khăn nhất là việc thức dậy vào buổi sáng…
Công việc chính của người thợ cày là đảm bảo cho những chiếc cày làm việc liên tục, đảm bảo cho những con ngựa phải đủ sức khéo cày cho đến cuối mùa xuân. Đó là điều quan trọng nhất. Rất quan trọng. Ngày đầu tiên khi bắt đầu công việc cày vỡ, những con ngựa cứ bước được khoảng mười - hai mươi bước là phải dừng lại để thở, nghỉ lấy hơi. Chúng thở phì phò, nặng nhọc. Lúc ấy, lại phải nhấc lưỡi cày lên một chút, giảm bớt chiều sâu lật đất. Nhưng đấy chẳng qua chỉ là một biện pháp bất đắc dĩ cho đến khi con ngựa quen dần với cái cày.
Công việc cho đến hôm nay đã tiến triển rõ rệt. Bầy ngựa đã quen dần với nhau, cùng hợp sức vươn cổ, rạp mình nhịp nhàng đều bước giống như những người kéo thuyền vẽ trên bức tranh ở sách giáo khoa[2]. Từng bước, từng bước một, chúng kéo theo những chiếc cày làm lật lên những tảng đất lớn.
Nhưng thời tiết như cố tình chơi khăm… Tuyết lại rơi đều, lấp lóa như những cụm bông trắng… Có nghĩa là mùa đông vẫn chưa làm xong công việc của mình, nó quyết định nhắc nhở mọi người hãy nhớ đến nó lúc chia tay. Mùa đông làm vậy quả là uổng công vô ích. Đối với những người thợ cày thì việc ấy lại càng không đúng lúc…
Xuntanmurat kịp đội chiếc bao tải lên đầu nhưng vẫn không tránh nổi những bông tuyết đang rơi. Ngồi trên lưng chủ ngựa cày đi giữa, tay quơ quơ chiếc roi trên không thúc ngựa. Có lúc cậu phải nghiêng mặt bên này, lúc nghiêng bên kia để tránh những cơn gió thổi thốc vào mặt. Tuyết rơi dày ướt nhèo nhèo và nhanh chóng tan thành nước. Những bông tuyết quay cuồng, lấp loáng, quẩn quanh cậu. Trong màn tuyết trắng, những ngọn núi như bồng bềnh trên biển rồi mờ dần và thế giới như đang khép lại. Chỉ còn nghe thấy những tiếng la hét thúc ngựa vọng ra từ trong màn tuyết mờ đục, như tiếng chim kêu cứu.
Những mũi cày vẫn cứ tiếp tục cắm xuống mặt đất lật lên từng tảng, từng tảng đất trên cánh đồng. Những chiếc cày màu đen thẫm lại, hiện lên nơi chân núi nhấp nhô như những ngọn sóng, lúc lại biến mất dưới thung lũng sâu…
Những chú ngựa ráng sức rạp mình xuống luống cày, giống như ở tư thế chui từ dưới đất lên, nặng nề lết đi từng bước, từng bước. Những bông tuyết vừa chạm tới lưng ngựa nóng hừng hực đang căng ra vì sức nặng liền tan ngay và chảy thành từng vệt hai bên sườn. Lũ ngựa quá vất vả vì đất dẻo quánh lại trơn như mỡ, thêm vào đó bộ đai thắng bị ngấm nước cũng trở nên nặng hơn, lưỡi cày mắc kẹt vào trong lớp đất dẻo quánh nhớp nháp ấy. Mặc dù vậy, vẫn phải tiếp tục cày. Ngày mai, khi trời hửng nắng, những luống cày sẽ se lại và khoảnh ruộng vẫn đảm bảo đạt yêu cầu. Không được bỏ phí thời gian.
Lưỡi cày bỗng bị mắc kẹt, ngựa không đi được nữa. Xuntanmurat xuống ngựa cạo sạch tảng đất nhão bám chặt vào lưỡi cày rồi cất tiếng gọi Anatai và Erkinbek đang cày ở phía sau. Sau khi nghe thấy tiếng trả lời, cậu lại lách qua mình những con ngựa và đám dây thắng sũng nước đến cạnh con ngựa đầu đàn rồi nhảy lên yên, thúc ngựa đi tiếp…
Tuyết vẫn rơi mãi không ngừng. Những cỗ ngựa cùng với những chiếc cày màu xám như những con tàu bồng bềnh trên biển tuyết trắng. Mọi tiếng động cùng các âm thanh khác dường như chìm đắm trong biển tuyết trắng vô bờ, thỉnh thoảng trên cánh đồng lại vang lên những tiếng gọi nhau của các chàng thợ cày.
– Ana-ta-ai!
– Erkin-be-ek!
– Xuntanmura-a-at!
Trên mặt các cậu có những vệt nước không rõ là nước tuyết tan hay mồ hôi; bàn tay cầm cương ngựa phồng rộp lên, xám ngoét vì lạnh và ướt; hai bắp chân bị kẹp vào giữa hai bên sườn các chú ngựa đang mải miết kéo cày cứ run cầm cập, đau buốt, chỉ muốn co lên một chút cho thoải mái nhưng biết gác vào đâu. Mặc dù vậy, Xuntanmurat hiểu rằng đằng sau cậu, bám theo từng đường cày của cậu là Anatai và Erkinbek, rằng chúng chỉ có ba người với sáu lưỡi cày, và các cậu không có quyền dừng sáu lưỡi cày ấy lại giữa ban ngày. Những lưỡi cày của các cậu vẫn tiếp tục lướt trên mảnh đất Akxai. Chỉ mong sao lũ ngựa chịu đựng được, không bị ngã gục. Xuntanmurat thầm nói với chúng:
“Hãy cố chịu đựng, hãy gắng lên, những chú tuấn mã của thần Kambar-Ata[3]. Chẳng phải ngày nào cũng vất vả như thế này đâu. Hôm nay tuyết rơi nhưng ngày mai sẽ không có nữa. Tiến lên, tiến lên đi! Hãy cố chịu đựng, những chú tuấn mã của thần Cholpon-Ata[4] ạ, sắp hết đường cày này rồi, sau ta sẽ quay sang đường mới. Hãy cố lên tí nữa, đừng giảm bước. Ta không được quyền tháo cày cho bọn mi đâu. Chúng ta đã ra sức chăm sóc các bạn suốt cả mùa đông để các bạn giúp chúng ta việc này đây. Chẳng còn cách nào khác nữa. Ta thúc các bạn đi trên những lớp đất mềm, đất cứng, các bạn vất vả thật đấy, nhưng nếu không làm vậy sẽ chẳng có lúa mì. Ông lão Sekis đã nói, trước kia cũng thế và sau này cũng vậy thôi. Ông còn nói rằng bánh mì, mỗi một mẩu bánh mì đều thấm đượm mồ hôi, nhưng chẳng phải ai cũng biết, cũng nghĩ về điều ấy khi ăn miếng bánh mì. Mà chúng ta lại rất cần bánh mì. Rất cần các bạn ạ. Chính vì thế mà chúng ta đang ở đây, trên mảnh đất Akxai này.
Chabdar, cậu là người anh em của tôi, cậu là con tuấn mã đầu đàn của tôi. Cậu vừa kéo cày lại vừa phải mang tôi trên lưng nữa. Hãy tha lỗi cho tôi vì tôi đã dùng roi đánh cậu. Cần phải vậy, cậu đừng giận tôi nhé, Chabdar.
Còn cậu Chontoru, cậu đang đi bên trái ta trên cánh đồng hoang này và cậu vất vả nhất, nhưng cậu là con ngựa khỏe thứ hai sau Chabdar. Cậu là con ngựa mà bố ta luôn luôn, hãnh diện. Cậu có nhớ không? Lần chúng ta đi vào thành phố ấy… Đã lâu rồi, chẳng có thư từ gì của bố cả và điều ấy thật đáng sợ. Nhưng các cậu là những chú ngựa nên các cậu chẳng hiểu được điều đó. Khi người ta đang chiến đấu ngoài mặt trận mà chẳng có tin tức gì thì thật là đáng sợ. Mẹ gầy hẳn đi nhiều lắm vì lo lắng, phiền muộn. Khi mọi người khóc than cho bố của Anatai thì chính mẹ và cô giáo Inkaman-apai là những người khóc nhiều nhất. Họ đều hiểu rằng có chuyện bất hạnh gì đó đã xảy ra nhưng chẳng ai dám nói về điều đó. Họ biết cả… Này, này, Chontoru, ta không cho phép cậu được đầu hàng đâu. Tiến lên, Chontoru! Hãy giữ vững!
Còn cậu, chú Đuôi trắng, cậu cũng là người anh em của ta, cậu đang đi phía bên phải, giữa bộ đai thắng. Cậu phải cố kéo thật mạnh vì cậu và Chabdar là những con ngựa đi giữa. Cậu là một chú ngựa đẹp có đuôi trắng khác thường. Nhưng cậu đừng có đầu hàng, nghe chưa, không được nản chí. Ta không cho phép cậu tụt lại phía sau. Nào, nào, Đuôi trắng! Cậu không được phụ lòng tin của ta!
Người anh em Nâu sẫm của ta, cậu là một chú ngựa tốt và giản dị. Khi ta chọn cậu vào bộ tứ này ta đã đặt bao hy vọng vào cậu. Cậu là một con vật biết làm việc và tính nết hiền lành. Ta quý trọng cậu. Cậu đi phía ngoài cùng và vì thế lúc nào cậu cũng thấy rõ mọi chuyện và qua cậu người ta có thể đánh giá công việc của chúng ta, Nâu sẫm ạ. Ta sẽ không bao giờ xúc phạm đến cậu, chỉ có điều cậu phải kéo, kéo thật hăng vào, không được bỏ cuộc. Ta hứa với cậu khi nào chúng mình kết thúc công việc cày bừa, gieo hạt ở Akxai và trở về bản, cậu sẽ vẫn được đi ở phía ngoài cùng để mọi người nhìn thấy cậu. Chúng ta sẽ đi ngang qua nhà cô ấy để khi cô ấy chạy ra đường cô ấy sẽ nhìn ngay thấy cậu. Người anh em Nâu sẫm ạ, thế là ta chẳng được gặp cô ấy trước khi lên đường. Nhưng ta vẫn giữ chiếc khăn của cô ấy tặng bên người đây, khăn luôn luôn bên ta, không bao giờ phải dầm mưa, dãi tuyết. Ta ngày đêm nghĩ đến cô ấy, làm sao mà không nghĩ tới nàng được! Nếu ta không nghĩ đến nàng nữa thì tất cả sẽ trở nên trống rỗng và cuộc sống đối với ta chẳng còn ý nghĩa gì nữa…
Nào, nào, những chú ngựa của thần Kambar-Ata! Hãy cùng nhau tiến lên, tiến lên! Nào, nào… Tuyết vẫn còn rơi, rơi mãi! Những bông tuyết ướt lạnh làm sao! Chúng mình đã ướt hết từ đầu đến chân rồi. Mà gió vẫn còn thổi. Giá mà bà cấp dưỡng của chúng ta nhớ đến việc lấy những chiếc khăn ngựa che cho đống cỏ thì tốt biết bao. Nếu bà ấy không nghĩ ra thì đống cỏ sẽ ướt hết và mọi chuyện sẽ hỏng bét. Lúc ấy ta còn biết lấy gì cho các bạn ăn - mười hai chú ngựa chứ ít đâu! Đáng lý phải dặn bà ấy trước lúc đi làm mới phải. Ta quên mất, ta đâu có đoán trước được tuyết sẽ rơi…
Mà bà ấy thì đúng là một bà già kỳ lạ, cặp mắt của bà ta sao mà tinh thế. Những con ngựa của chúng ta, ai cũng phải khen, nhìn mãi mà không chán mắt. Đúng là những con ngựa tốt, bà ấy công nhận, chúng được chăm sóc tử tế đấy chứ, hai bên sườn mỡ phải dày tới hai ngón tay. Trước kia, những con ngựa như thế này, vẫn lời bà già ấy nói, người ta thường xẻ thịt vào những ngày giỗ chạp. Vào thời ấy, thịt ăn ê hề. Mà thịt ngựa phải nấu trong những cái chảo chứa được tới bốn mươi thùng nước. Rồi người ta hớt lớp mỡ ở trên - mỡ ấy gọi là zardep, cái tên thật lạ - múc từng muôi đầy mang đến cho người ốm. Chính bà ấy nói, người ốm mà được uống thứ mỡ ấy là khỏe ngay lập tức. Đúng là một bà già phàm ăn cho nên lúc nào cũng chỉ nghĩ đến mỡ. Toàn nói gở về mấy con ngựa! Thôi, mặc xác bà ấy! Ở trường, ai cũng bảo là chẳng có điềm lành, điềm gở gì cả, chẳng qua đó chỉ là những lời nói láo. Mặc xác bà ấy muốn nói gì thì nói, miễn là chuẩn bị bữa ăn cho đúng giờ. Mà hôm qua bà ấy đã làm cho bọn mình ngạc nhiên vì món thịt dê rừng. Chắc đó là con dê gầy giơ xương nhưng dù sao cũng là thịt. Bà ấy nói là có hai người thợ săn nào đó từ trong núi đi ngang qua rẽ vào lều sưởi và để lại cho một phần thịt săn được. Cám ơn những người thợ săn, đúng là những người am hiểu phong tục. Họ muốn lần đi săn khác sẽ thu được kết quả vì vậy họ đã chia một phần thịt cho những người gặp đầu tiên. Mà chúng ta rõ ràng là những người họ gặp đầu tiên trên đường từ trong núi ra, quanh đây còn ai nữa đâu. Dù có phi ngựa khắp núi, khắp thảo nguyên cũng chẳng gặp được người nào. Tuyết vẫn cứ rơi mãi, rơi mãi không ngớt… Mệt quá rồi…”
Lũ ngựa dừng lại, kiệt sức… Xuntanmurat nhảy xuống, vất vả lắm cậu mới đứng vững, đôi chân tê dại vì bị ép quá chặt, cậu lảo đảo quanh cỗ ngựa như người say rượu. Cậu cảm thấy đau lòng khi nhìn những con ngựa đầm đìa mồ hôi đang đứng run lập cập và thở nặng nhọc, đứt quãng. Khắp mình chúng suốt từ tai đến chân đều ướt đẫm. Xuntanmurat buột ra một tiếng rên vì thương xót. Trong khi đó tuyết vẫn cứ rơi mãi, rơi mãi, rồi tan ngay trên những cái lưng đang bốc hơi của lũ ngựa. Xuntanmurat quẳng cái bao tải ướt sũng trên đầu xuống và bằng đôi tay tê cóng vội vã tháo dây thắng rồi sau đó không ghìm được nữa, cậu khóc nấc lên, ôm chặt lấy cổ con Chabdar. Vừa khóc cậu vừa thì thào: “Tha lỗi cho ta, tha lỗi cho ta đi!”. Cậu cảm thấy nơi đầu môi mùi mồ hôi ngựa, mặn chát, âm ấm…
– Ê, Xuntanmurat! Có chuyện gì thế? - Anatai đang bám sát ở đường cày bên cạnh, cất giọng hỏi.
– Thôi, tháo ngựa đi! - Xuntanmurat đáp lại.
❀ ❀ ❀
[1] Vexta: Dặm Nga, bằng 1,06 km.
[2] Ý nói đến bức tranh “Những người kéo thuyền trên sông Vonga” của họa sĩ Nga nổi tiếng I. E. Repin (1844-1930).
[3] Kambar-Ata: Vị thần bảo trợ của giống ngựa trong thần thoại.
[4] Cholpon-Ata: Vị thần bảo trợ của giống ngựa trong thần thoại.