Sếu Đầu Mùa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 2 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Trong giờ địa lý, cô giáo Inkaman-apai đang rét co ro trong chiếc khăn len đan bằng sợi thô, nhưng vẫn say sưa kể về Sri Lanka, hòn đảo kỳ diệu nằm giữa đại dương, gần bờ biển Ấn Độ. Trên tấm bản đồ học sinh, hòn đảo trông giống như một giọt nước so với lục địa. Vậy mà theo lời cô giáo, ở đấy hầu như chẳng thiếu một thứ gì: Nào là khỉ, voi, nào là chuối (một loại trái cây kỳ lạ nào đó), còn chà là loại ngon nhất thế giới, rồi còn vô số loại thực vật, loại trái cây kỳ lạ khác nữa. Nhưng điều hấp dẫn nhất chính là ở đó khí hậu lúc nào cũng nóng, suốt cả năm cứ việc sống nhởn nhơ, chẳng phải bận tâm đến giày, mũ, đến vải bọc chân, áo lông. Còn củi đốt thì hầu như cũng chẳng cần đến. Như vậy có nghĩa là chẳng phải ra đồng kiếm đồ đun nấu, chẳng phải còng lưng đến sát đất vác trên vai những bó cành khô về nhà. Thế mới gọi là cuộc sống chứ! Muốn làm gì thì làm, tha hồ sưởi nắng, còn nếu không muốn thì chui vào bóng râm mà nghỉ. Cả ngày lẫn đêm lúc nào cũng ấm áp, dễ chịu, quanh năm chỉ có mỗi mùa hè. Có thể tắm tùy thích, từ sáng sớm đến chiều tối cũng được. Tắm chán lại chạy lên đuổi bắt đà điểu, những con chim to lớn và ngốc nghếch ấy còn biết sống ở đâu nữa nếu không ở đấy. Nhưng giống chim thông minh nhất ở Sri Lanka có lẽ là con vẹt. Nếu muốn, có thể bắt chúng rồi dạy chúng hát, cười, tiện thể dạy luôn cả khiêu vũ nữa. Giống vẹt có thể làm được tất cả mọi chuyện. Người ta bảo, có những con vẹt còn biết nói nữa. Có người ở bản đã từng nhìn thấy ở chợ Giambun một con vẹt biết đọc. Cứ mang cho nó một tờ báo, thế là nó đọc như máy, không hề ngắc ngứ…

Đúng, trên hòn đảo Sri Lanka ấy chẳng thiếu thứ gì và còn biết bao điều kỳ diệu khác nữa. Cứ việc sống thoải mái và chẳng phải bận tâm về chuyện gì cả. Có điều đừng bao giờ để cho bọn chủ đồn điền thấy mình là được rồi. Bọn ấy bao giờ cũng lăm lăm một chiếc roi trong tay và người dân Sri Lanka thường bị đánh đến oằn lưng như những người nô lệ. Đúng là đồ áp bức! Chà, giá mà được tạt tai chúng nó một cái cho nảy đom đóm mắt nhỉ! Sau đó tước lấy cái roi và bắt chúng phải làm việc. Đối với những kẻ bóc lột và những tên tư bản ấy thì chẳng phải khoan dung và nhiều lời làm gì: Làm lấy mà ăn, chỉ có vậy thôi! Bọn phát xít cũng từ đây mà ra cả!.. Và cũng chính vì thế mới nổ ra chiến tranh. Bao nhiêu người trong bản đã hy sinh ngoài mặt trận. Ngày nào mẹ cũng khóc, cứ khóc mãi mà chẳng nói gì. Mẹ sợ rồi đến lượt bố cũng bị giết, nên có lần than vãn với bà hàng xóm: Khi ấy tôi biết nương thân vào đâu với bốn đứa con dại trên tay.

Co ro trong lớp học lạnh ngắt, cô giáo Inkaman-apai kiên nhẫn chờ cho những cơn ho của lũ trẻ dịu đi rồi lại tiếp tục kể về Sri Lanka, về biển và về những đất nước có khí hậu nóng bức. Dù tin hay không tin vào những lời cô giáo kể (những miền đất ấy mới tuyệt làm sao), song lúc ấy Xuntanmurat vẫn cảm thấy thấy tiếc rằng mình không được sống ở Sri Lanka. “Sống ở đấy mới gọi là sống chứ!” - cậu thầm nghĩ, mắt liếc ra cửa sổ. Xuntanmurat làm như đang chăm chú nhìn cô giáo nhưng kỳ thực mắt cậu lại đang liếc ra cửa sổ, cậu giả vờ khéo lắm. Ngoài của sổ trời vẫn u ám. Những làn tuyết nặng bay xiên xiên đập vào cửa sổ. Một vài bông tuyết mỏng lởn vởn bám vào cửa kính. Dần dần các ô cửa kính phủ một lớp băng mỏng như bánh cuốn làm cho các cửa sổ mờ hẳn đi. Lớp matit xung quanh các khung cửa kính bị nứt ra vì lạnh, đôi chỗ bong ra, rơi xuống bệ cửa sổ loang lổ vết mực. “Có lẽ ở Sri Lanka người ta chẳng cần đến matit, - cậu nghĩ. - Dùng vào việc gì được! Vì cửa sổ cũng chẳng cần, mà ngay cả nhà ở cũng chẳng cần nốt. Chỉ cần làm một túp lều nhỏ, lấy lá cây phủ lên, thế là sống được rồi”.

Gió cứ đều đều lùa từ cửa sổ vào, nghe rõ từng tiếng rít khe khẽ qua các kẽ hở giữa những khung kính nên phía bên phải cửa sổ lạnh lắm. Nhưng cũng phải chịu thôi. Chính cô giáo Inkaman-apai đã xếp Xuntanmurat ngồi chỗ đó ngay cạnh cửa sổ: “Em là người khỏe nhất lớp, - cô giáo giải thích. - Em mới chịu được”. Hồi trời chưa lạnh, Myrzagun vẫn ngồi chỗ này, bây giờ cô giáo đã phải chuyển cho bạn ấy chỗ ngồi của Xuntanmurat, ít bị gió lùa hơn. Nhưng tốt nhất là cô giáo cứ xếp cho Myrzagun ngồi cùng một bàn bên cạnh cậu thì hơn, vì đằng nào cậu cũng ngồi phía ngoài và hứng hết phần gió cho Myrzagun khỏi bị lạnh rồi còn gì nữa. Còn bây giờ, cứ đến giờ ra chơi, mỗi khi cậu đến gần, cô bạn lại đỏ mặt lên. Myrzagun đối xử với cậu cũng như với các bạn khác, thế mà vừa thấy cậu bước đến, cô ta liền đỏ mặt lên rồi bỏ chạy ra chỗ khác. Mà cũng không thể đuổi theo Myrzagun được, các bạn sẽ cười ngay. Những cô bạn cùng lớp có thể sẽ nghĩ ra một trò gì đó để trêu cậu. Biết đâu chúng lại chẳng chuyền tay nhau một mảnh giấy với hàng chữ: “Xuntanmurat + Myrzagun = Eki asuk”.[1] Giá được ngồi cạnh nhau có phải hay không nào…

Ngoài cửa sổ gió vẫn thổi ù ù, tuyết vẫn rơi… Vào những ngày đẹp trời từ lớp học có thể nhìn rõ những ngọn núi sừng sững trước mặt. Trường học kề ngay dưới chân núi, cao hơn so với khu làng, chính vì vậy mà từ đây có thể bao quát mọi cảnh vật xung quanh. Những ngọn núi phủ tuyết trắng xa xa trông như một bức tranh vẽ. Còn bây giờ, khó mà phân biệt nổi hình dáng ảm đạm của chúng trong màn tuyết mờ đục.

Hai chân tê cóng, hai bàn tay cũng tê cóng, ngay cả sống lưng cũng lạnh ngắt, ở trong lớp quả thật là rất lạnh. Trước kia, khi chưa có chiến tranh, trong lớp học thường đốt lò sưởi bằng phân cừu khô[2]. Phân cừu khô cháy rất đượm, chẳng kém gì than. Còn bây giờ người ta người ta chỉ chở ít rơm đến. Rơm cháy vèo vèo trong lò nhưng chẳng được tích sự gì, lớp học vẫn lạnh ngắt, mà rơm mới đốt khoảng hai ngày đã hết, chỉ làm bẩn lớp.

Tiếc là khí hậu ở vùng núi Talas không giống như ở các nước nóng bức. Khí hậu mà khác đi hẳn là cuộc sống cũng thay đổi. Chắc cũng có voi và voi thì cũng cưỡi được như cưỡi bò vậy, miễn là đừng sợ. Xuntanmurat sẽ là người đầu tiên cưỡi voi. Cậu sẽ ngồi ngay trên đầu, giữa hai tai như người ta vẫn thường vẽ trong sách rồi đi khắp bản. Khi ấy mọi người vây quanh sẽ phải trầm trồ thán phục: “Nhìn kìa, chạy ra mà xem kia, thằng Xuntanmurat con trai của Becbai đang cưỡi con voi kìa!”. Lúc ấy Myrzagun sẽ nhìn thấy nó và sẽ phải hối tiếc… Cứ tưởng mình là hoa khôi thì không ai được phép đến gần cơ đấy! Rồi cậu sẽ nuôi một con khỉ và một con vẹt biết đọc nữa. Cậu sẽ đặt chúng ngồi ở phía sau trên lưng con voi. Chỗ ngồi thì chả thiếu, cả lớp có ngồi lên cũng đủ. Chắc chắn là đứa nào trong lớp cũng khao khát như vậy! Cậu thừa biết tâm lý các bạn mình.

Xuntanmurat đã tận mắt nhìn thấy một con voi thật. Chuyện ấy thì cả bản ai cũng biết. Cậu lại còn nhìn thấy cả một con khỉ và những loài thú khác nữa. Cả bản đều biết chuyện này vì nó đã kể đi kể lại cho mọi người nghe bao nhiêu lần. Đúng là lần ấy nó đã gặp may…

Cái chuyện đáng ghi nhớ trong đời ấy xảy ra trước khi có chiến tranh khoảng một năm. Dạo ấy là mùa hè, đúng vào vụ cắt cỏ. Năm ấy, ông Becbai bố cậu đang làm việc vận chuyển nhiên liệu từ thành phố Dzhambul đến kho dầu của trạm cơ khí kỹ thuật. Nông trang nào cũng phải cung cấp phương tiện để vận chuyển nhiên liệu. Bố cậu thường nói đùa rằng ông “có giá” lắm, bố không phải là một người đánh xe bình thường mà được quý như vàng vì nhờ có bố cùng với cặp ngựa và chiếc xe kéo của ông mà nông trang đã nhận được khối tiền ở ngân hàng. Chả thế mà ông kế toán vừa nhìn thấy bố đã phải vội vàng xuống ngựa chào hỏi…

Chiếc xe ngựa của bố được sửa lại thành xe chuyên chở dầu lửa. Thùng xe không có, vẻn vẹn chỉ có bốn bánh với hai chiếc thùng phuy bằng sắt nằm lọt thỏm giữa các tấm đệm, còn ở phía trước là chỗ ngồi của người đánh xe. Toàn bộ chiếc xe chỉ có thế. Chỗ ngồi ở đằng trước hai người có thể ngồi vừa, thêm người thứ ba thì không thể nhét nổi. Cặp ngựa của bố thuộc loại tuấn mã đặc biệt, vừa khỏe vừa đẹp trong bộ yên cương của bố!

Cả hai con đều là ngựa thiến, một con màu xám tro tên là Chabdar và con kia màu tía tên là Chontoru. Bộ đồ thắng rất tốt, vừa khớp với chúng. Những chiếc vòng cổ ngựa và dây đai làm bằng da bò non được tẩm nhựa cẩn thận, tha hồ giật cũng không dứt. Nếu không chu đáo như thế thì khó lòng thực hiện nổi những chuyến đi dài ngày. Trong công việc, bố là một người cẩn thận và ưa thích mọi cái phải chắc chắn. Bao giờ bố cũng dong ngựa đều bước. Những lúc con Chabdar và Chontoru chạy nhịp nhàng, bờm dựng lên giống như hai con cá đang bơi, trông thật thích mắt! Mọi người từ xa thường nhận ra bố ngay qua tiếng gõ đều đặn của bánh xe: “Becbai đi Dzhambul đấy!”. Một chuyến vừa đi vừa về mất đúng hai ngày. Mỗi lần trở về trông bố vẫn bình thường như chưa hề phải vượt qua một chặng đường dài hơn một trăm cây số. Mọi người ngạc nhiên: “Chiếc xe của ông Becbai cứ như là tàu hỏa bon trên đường ray ấy!”. Họ ngạc nhiên không phải là không có lý do. Nếu cặp ngựa bị mệt hoặc lười biếng thì chỉ cần nghe tiếng bánh xe lăn cũng đủ biết. Khi một cỗ xe ngựa như vậy đi ngang qua, ai nhìn thấy cũng phải đau lòng. Thế mà cặp ngựa của bố trông lúc nào cũng sung sức. Có thể chính vì vậy mà nông trang đã giao cho bố những chuyến hàng quan trọng nhất.

Thế rồi năm kia, khi vừa bắt đầu nghỉ hè, bố nói:

– Con có muốn theo bố lên tỉnh không?

Nghe bố nói vậy, Xuntanmurat sướng như điên. Chà, còn gì bằng nữa! Sao bố lại đoán biết được từ lâu cậu rất muốn có dịp được lên tỉnh chơi nhỉ? Từ bé đến giờ cậu đã được ra đến thành phố đâu! Thật là tuyệt!

– Chỉ có điều phải giữ mồm giữ miệng, đừng làm ầm lên. - Ông bố âu yếm dọa con trai. - Nếu không mấy đứa em mày sẽ nổi loạn bây giờ, khi ấy thì đừng hòng mà đi đâu.

Bố dặn trước như vậy, đúng quá! Thằng Adzhimurat nhỏ hơn cậu ba tuổi nhưng ngang bướng như một con lừa và không bao giờ chịu thua anh trong bất cứ chuyện gì. Mỗi khi bố ở nhà là nó bám riết lấy ông, tranh hết phần âu yếm, làm như trong gia đình chỉ có mỗi mình nó, ngoài ra chẳng có ai hết. Hai đứa em gái, khi ấy còn nhỏ thành ra muốn được bố âu yếm chỉ còn có cách là khóc toáng lên. Ngay cả những người láng giềng cũng không sao hiểu nổi sự quyến luyến quá đáng của thằng con thứ đối với người cha. Bà lão Aruukan người gầy gò, khô đét, giọng nói the thé cả làng ai cũng sợ đã vài lần vừa túm tai Adzhimurat bằng những ngón tay xương xẩu, vừa đe:

– Ôi, mày cứ bám lấy bố như vậy thì chẳng tốt lành gì đâu, thằng lỏi con ạ! Rồi sẽ xảy ra một tai họa gì đấy cho mà xem. Có đời thuở nhà ai, con trai mà cứ đeo riết lấy bố như vậy trong khi bố mày vẫn còn đang sống sờ sờ ra đấy! Con cái gì mà lạ lùng thế không biết. Ôi, mọi người cứ nhớ lấy lời tôi, chính thằng oắt này sẽ làm cho chúng ta phải điêu đứng đấy!

Mẹ lầm bầm trách móc, nhổ nước bọt rồi bợp cho Adzhimurat mấy cái nhưng không dám ngắt lời bà lão Aruukan. Ai cũng phải sợ bà ấy.

Té ra những lời nói của bà lão Aruukan thế mà đúng. Mọi việc xảy ra y như thế. Tội nghiệp cho Adzhimurat. Nó đã lớn, học lớp ba rồi. Nó thường tránh mặt mọi người và cố giữ vẻ mặt bình thường nhất là khi có mặt mẹ, vậy mà trong thâm tâm nó vẫn thầm mong không hôm nay thì ngày mai bố sẽ từ mặt trận trở về. Trước khi đi ngủ nó thầm thì cầu nguyện như một người lớn: “Cầu trời, cầu trời, ngày mai bố về”. Mà ngày nào cũng thế, thằng bé lạ thật. Nó cứ nghĩ rằng ngủ dậy là tất cả mọi chuyện sẽ thay đổi, phải có một điều gì đó xảy ra.

Nhưng nếu sau chiến tranh bố có trở về thật thì Xuntanmurat cũng chấp nhận bố sẽ hoàn toàn thuộc về Adzhimurat, mặc sức cho bố bế nó trên tay hay cho nó ngồi trên cổ. Miễn là bố trở về. Miễn là được nhìn thấy bố lành lặn, khỏe mạnh. Đối với Xuntanmurat thì niềm hạnh phúc ấy đã quá lớn rồi. Miễn là bố trở về.

Cậu ước giá bây giờ bố được trở về như sau lần bố đi dân công tham gia công trình thủy lợi đào kênh Chuiski vào mùa hè năm kia, thì có phải tuyệt không. Hồi đó, suốt năm tháng liền, từ đầu hè cho đến cuối thu bố chuyên vận chuyển đất ở công trường và cuối đợt bố được phong danh hiệu Lao động tiên tiến Xtakhanov[3].

Lần ấy bố trở về vào lúc chiều tối. Mọi người trong nhà bỗng nghe thấy tiếng bánh xe lọc cọc ngoài sân, tiếng ngựa thở phì phì. Đám trẻ con chạy ra. Bố! Trông bố có gầy hơn một chút, da rám nắng như một người Di-gan. Quần áo trên người bố, như sau này mẹ nói, chẳng khác gì một kẻ hành khất, chỉ có đôi ủng bốc-can là còn mới. Adzhimurat là đứa đầu tiên chạy đến, nhảy lên ôm chặt lấy cổ bố và không rời ra nữa. Nó òa lên khóc, nghẹn ngào và cứ lặp đi lặp lại:

– Ata, atake, ata, atake…[4]

Bố ôm chặt lấy nó rưng rưng nước mắt. Ngay lúc ấy hàng xóm đổ xô đến và khi nhìn thấy cảnh ấy mọi người cũng không cầm được nước mắt. Còn mẹ, bối rối vì mừng quá và cứ chạy quanh hai cha con, định kéo Adzhimurat ra:

– Mày thả bố ra xem nào! Thôi, đủ rồi, còn để cho đứa khác nữa chứ. Đúng là thằng bé ích kỷ. Trời đất ơi, xem kìa, bà con đến thăm hỏi đầy sân rồi kìa…

Thế mà thằng bé vẫn cứ bám riết lấy bố nó.

Xuntanmurat cảm thấy như có cái gì đang chẹn nơi cổ, nghẹn ngào, miệng khô khốc. Thế mà cậu đã từng nói cậu sẽ không bao giờ khóc vì bất cứ chuyện gì. Cậu cố tự chủ… Xuntanmurat bỗng như tỉnh giấc.

Vẫn đang trong giờ học. Cô giáo Inkaman-apai đang kể về hòn đảo Java, đảo Borneo, về châu Úc, vẫn là những miền đất kỳ diệu, quanh năm chỉ có mùa hè. Lại những con cá sấu, những con khỉ, những cây dừa và biết bao sinh vật kỳ thú khác. Rồi đến chuyện loài chuột túi - đúng là một con thú kỳ lạ! Chúng bỏ con vào một cái túi đeo nơi cổ và thế là mẹ con lúc nào cũng bên nhau, muốn nhảy đi đâu mà chẳng được. Quả thật chỉ có những con chuột túi, hay nói cho đúng hơn là chỉ có thiên nhiên mới nghĩ ra những điều lý thú như vậy…

Riêng chuột túi thì nó chưa bao giờ nhìn thấy. Cái gì chưa nhìn thấy thì phải thừa nhận là chưa nhìn thấy. Kể cũng tiếc thật. Nhưng voi, khỉ và những thú vật khác thì nó đã nhìn tận mắt, gần đến nỗi chỉ cần vươn tay ra là chạm vào chúng…

Cái hôm mà bố nói, sẽ cho Xuntanmurat đi theo vào thành phố, cậu sung sướng đứng ngồi không yên, thần kinh căng thẳng quá mức vì sốt ruột và thích thú, nhưng bực nhất là không được nói điều ấy với ai cả. Nếu Adzhimurat biết được chuyện này chắc chắc nó sẽ la hét ầm ĩ: Tại sao bố cho Xuntanmurat đi mà lại không cho con? Lúc ấy thì còn biết nói sao? Chính vì thế mà trong niềm sung sướng thầm lặng, trong sự chờ đợi cuộc du lịch vào sáng ngày mai, Xuntanmurat cảm thấy như mình có lỗi với em trai. Mặc dù vậy nó vẫn muốn kể cho mấy đứa em biết về cái sự kiện trọng đại sắp tới. Nó rất muốn tiết lộ điều bí mật ấy, nhưng bố và đặc biệt là mẹ đã nghiêm khắc dặn đi dặn lại là không được hé răng. Khi nào nó lên đường rồi thì mấy đứa em biết cũng được, như thế sẽ tốt hơn. Xuntanmurat phải cố gắng lắm mới kiềm chế được bản thân, mới giữ nổi được điều bí mật ấy. Cậu thấy khốn khổ tưởng như chết đi được vì điều đó. Để bù lại, chưa có khi nào cậu lại trở nên chăm chỉ, ân cần, chu đáo và tốt bụng với tất cả mọi người như trong ngày hôm đó. Cậu sẵn sàng làm tất cả mọi việc, không nề hà. Nào là dùng dây thòng lọng bắt con bê dẫn đi chăn chỗ khác, nào là vun khoai tây trong vườn, nào là giúp mẹ giặt giũ quần áo, nào là tắm rửa cho đứa em bé nhất khi nó ngã vào vũng nước và còn bao nhiêu việc khác nữa. Nói tóm lại, trong ngày hôm ấy cậu đã cố gắng hết mức đến nỗi mẹ phải bật cười, lắc đầu thốt lên:

– Mày làm sao thế? - Mẹ cố nhịn cười. - Lúc nào mày cũng như thế này thì mẹ sung sướng biết bao! Không biết có phải là điềm gở không! Hay là thôi, không cho mày vào thành phố nữa. Thiếu một tay giúp việc tốt như thế này mẹ cũng tiếc lắm.

Nhưng đấy là mẹ chỉ vui miệng nói thế thôi chứ chính mẹ đã nhào bột, nướng bánh mì dẹt và chuẩn bị các thứ thực phẩm khác cho hai cha con đi đường. Mẹ còn nấu bơ đổ vào chai. Món này cũng để cho hai bố con mang theo.

Buổi chiều, cả gia đình quây quần xung quanh ấm nước Samovar đặt dưới gốc táo cạnh con mương, uống trà với kem chua và bánh mì dẹt nóng hổi. Bố ngồi giữa đám trẻ, một bên là Adzhimurat, bên kia là mấy đứa em gái. Mẹ rót trà, còn Xuntanmurat sắp đặt những chiếc bát và bỏ thêm than vào ấm Samovar. Cậu tỏ ra rất thích khi được làm những việc ấy. Vừa làm cậu vừa nghĩ đến việc ngày mai cậu đã có mặt ở thành phố. Bố đã hai lần nháy mắt với cậu. Đúng là bố đã chơi cho thằng em một vố.

– Thế nào Adzhike?[5] - Sau khi hớp một ngụm trà, bố quay sang phía nó hỏi. - Con đã cưỡi chú lừa bờm đen của mình lần nào chưa?

– Chưa ạ! - Adzhimurat phàn nàn. - Con lừa ấy ranh ma lắm. Con cho nó ăn, cho nó uống, thế là nó cứ bám theo con như con chó ấy. Có một lần nó còn theo con đến trường nữa, cứ đứng dưới cửa sổ chờ cho đến khi con ra chơi, cả lớp đều nhìn thấy. Thế mà cứ ngồi lên lưng nó là nó lại đá hậu…

– Thế không có ai giúp con tập cưỡi nó á? - Bố giả vờ hỏi lại.

– Con sẽ giúp Adzhike. Nhất định sẽ cưỡi được…

– Hu-ra! - Thằng em trai bật dậy. - Nào đi ngay đi.

– Ngồi yên đấy! - Mẹ ngăn lại. - Ngồi yên đấy và đừng có bắng nhắng. Uống trà xong xuôi đã, đi đâu mà vội.

Đấy là mọi người đang nói đến con lừa hai tuổi của Adzhimurat. Mùa xuân năm ấy, cậu Nurgazy đã tặng cho bọn trẻ con lừa này. Đến mùa hè thì con lừa đã lớn phổng lên. Đã đến lúc phải huấn luyện con vật tai dài này và cho nó tập làm quen với cái yên và công việc. Trong công việc gia đình, một chú lừa nhỏ bao giờ cũng cần thiết - nào là chở lúa đến cối xay, nào đi lấy củi hoặc chở những thứ lặt vặt khác. Chính vì thế mà cậu Nurgazy đã tặng nó cho bọn trẻ. Ngay hôm đầu tiên Adzhimurat đã nhận con lừa về mình. Thằng bé bướng bỉnh và nghịch ngợm chăm sóc cho con lừa cẩn thận đến mức không cho ai đến gần. Hơi một tí là nó hét ầm lên: Không được đụng đến con lừa! Tự em sẽ cho nó ăn, cho nó uống. Đã có lần hai anh em đánh nhau vì nó. Lúc đó mẹ đã nện cho thằng anh một trận vì con lừa được coi như của thằng em. Từ dạo ấy đến nay, Xuntanmurat vẫn còn tức. Đến khi cần phải huấn luyện con lừa thì nó gạt phăng: Nếu là lừa của mày thì mày tự lo lấy, đừng nhờ tao, tao không có liên quan gì đến nó hết. Mặc dù trong chuyện này Xuntanmurat là một tay lành nghề. Ngay từ nhỏ nó đã quen với việc này và bây giờ thành thạo lắm rồi. Nó thích trị những con vật bướng bỉnh. Công việc ấy giống như một cuộc đọ sức xem ai thắng ai. Tất cả lũ ngựa, bê và lừa non của hàng xóm đều do một tay nó trị cả. Thông thường công việc vực súc vật non thường giao cho một trong số những đứa trẻ tháo vát vì không phải bất cứ chuyện gì người lớn cũng làm được. Người ta đến nhờ Xuntanmurat với lời yêu cầu hết sức nhã nhặn: “Xuntanmurat, cháu tranh thủ thời gian vực hộ con bò tơ của ta nhé”, hay là: “Xuntanmurat, cháu hãy giúp cho chú lừa con bướng bỉnh của ta trở nên biết điều một chút nhé! Nó không chịu cho thằng Mukhe nhà này ngồi lên lưng, không những thế lại còn cắn, còn đá mới khiếp chứ. Ngoài cháu ra, không có ai có thể làm được việc này cả…”

Xuntanmurat đã đạt được đến đỉnh vinh quang như vậy đấy, thế mà cậu lại từ chối giúp cho em mình, đã thế lại còn mỉa mai, châm chọc khi thằng em hai lần bị lộn cổ từ trên lưng lừa xuống đất, sưng cả trán.

– Nó chỉ chạy theo mày như con chó thôi! Mày sẽ khóc chán với nó!

Chà, đúng là cư xử như vậy thật chẳng đẹp mặt tí nào. Chỉ đến lúc bố nói bóng gió nó mới hiểu ra điều ấy. Nó đúng là một thằng ngốc khi trả thù em mình một cách hèn hạ như vậy. Bây giờ trước chuyến đi vào thành phố mà thằng em không hề biết, nó đã bị lương tâm cắn rứt và cảm thấy hối hận vô cùng. Xuntanmurat sẵn lòng xin lỗi, sẵn lòng làm tất cả mọi việc cho em.

Uống trà xong, Xuntanmurat đi với bố ra bãi cỏ sau vườn rau. Trước tiên, hai cha con nhặt hết những hòn đá, ném ra xa rồi sau đó đóng yên cho con Bờm Đen - Adzhimurat thường gọi con lừa của mình một cách trịnh trọng như vậy. Bố giữ tai con Bờm Đen còn cậu nhanh nhẹn thắng cương cho nó.

Xuntanmurat thắt lại dây cương cho chặt, công việc không hề đơn giản, và ngay lúc ấy những tiết mục xiếc bắt đầu. Sau một thời gian dài sống tự do thoải mái dưới sự bảo trợ của Adzhimurat, con Bờm Đen đã kịp học được những thói ngang ngược. Vừa thấy có người động đến lưng, nó liền tung hai chân sau đá hậu rồi chổng mông lên, nhảy phắt sang một bên. Chú lừa con đã biết cách hất chàng kỵ sĩ xuống đất. Nhưng chuyện ấy đâu phải dễ dàng. Vừa chạm người xuống đất, Xuntanmurat đã bật ngay được lên trên lưng con Bờm Đen, cậu áp bụng vào lưng nó và bằng một động tác tiếp theo cậu đã ngồi ngay ngắn trên yên. Con vật lại nổi xung, lại ngã, lại bật dậy…

Xuntanmurat thực hiện tất cả những động tác ấy một cách thành thạo với vẻ thích thú. Vấn đề là ở chỗ phải biết cách ngã! Tại sao người ta vẫn thường nói ngã từ trên lưng lừa xuống còn nguy hiểm hơn là từ trên lưng ngựa hay lạc đà, mà đáng lý ra phải ngược lại mới đúng. Bí quyết chính là ở chỗ khi ngã, người ta phải có thời gian để kịp chống hai tay xuống đất trước. Khoảng cách từ trên lưng ngựa hoặc từ trên lưng lạc đà xuống đến đất cho phép người ta có thể định hướng một cách dễ dàng. Trong khi đó, từ trên lưng lừa, người kỵ sĩ không có kinh nghiệm thường rơi xuống như một bao gạo, không kịp định thần…

Xuntanmurat biết rõ điều đó qua kinh nghiệm bản thân, nên cậu chẳng sợ gì hết. Mọi người cười đùa, la hét ầm ĩ. Ngay cả bố cũng ôm bụng cười ngặt nghẽo đến chảy cả nước mắt. Bọn trẻ nghe tiếng ồn ào liền đổ xô ra xem. Trong số đó có một thằng bé mang theo một chú chó con. Con chó nghĩ rằng mình cũng phải có trách nhiệm tham gia vào cảnh nhốn nháo ấy, bèn sủa ầm lên và chạy theo con Bờm Đen làm cho con lừa hoảng sợ lại càng tiến nhanh hơn. Xuntanmurat được dịp trổ tài trình diễn những ngón nghề điêu luyện của chàng kỵ sĩ như các hội viên của Hội hỗ trợ xây dựng ngành hàng không và hóa chất làm cho bọn trẻ trố mắt thán phục. Cậu nhảy từ lưng con Bờm Đen xuống rồi bay lên lưng nó trong lúc nó đang chạy, cứ thế liên tục.

Trước chiến tranh, các kỵ binh hội viên Hội Hỗ trợ xây dựng ngành hàng không và hóa chất thường tập luyện ở bãi cỏ bên cạnh trụ sở Xô Viết xã. Còn các chàng kỵ sĩ của bản thường tập luyện vào buổi chiều, sau giờ làm việc. Họ vừa cho ngựa phi nước đại vừa tập chém những cành liễu, vừa chạy vừa nhảy lên lưng ngựa rồi lại nhảy xuống. Các chiến sĩ xuất sắc được thưởng huy hiệu. Những chiếc huy hiệu thật là đẹp, có giây đeo hoặc có kim gài. Bọn trẻ đứng xem mà thấy thèm. Mỗi khi họ luyện tập bao giờ bọn trẻ cũng tụ tập đông nghịt đến xem. Không biết bây giờ các chàng kỵ binh ấy đang ở nơi đâu? Trên lưng ngựa hay trong chiến hào? Nghe nói bây giờ trong chiến tranh người ta không dùng kỵ binh nữa…

Vừa liếc nhìn ra sân qua cửa sổ Xuntanmurat vừa nghĩ, mùa đông lũ ngựa có thể bị rét cóng còn xe tăng thì chẳng sợ gì giá rét, nhưng dù sao ngựa vẫn hơn chứ!

…Chiều hôm ấy, mọi người được một bữa cười vỡ bụng, nhưng chỉ một lát sau con Bờm Đen đã phải chịu quy phục. Nó đã hiểu ra người ta muốn gì ở nó: Lúc nào thì đi bước một, lúc nào thì chạy nước kiệu, lúc nào thì đi vòng tròn, còn lúc nào thì đi thẳng…

– Nào, bây giờ mày ngồi lên đi. - Xuntanmurat gọi em. - Ngồi lên, không có chuyện gì nữa đâu!

Adzhimurat đỏ bừng mặt vì thích thú, nó dùng hai gót chân thúc con Bờm Đen đi loanh quanh. Bây giờ mọi người đều thấy rõ là agai[6] của nó tài ba đến thế nào. Sao lại không tự hào về một người anh như vậy được nhỉ!

Trời chiều hôm ấy trong vắt, mãi vẫn chưa tối, mọi người trở về nhà mệt mỏi nhưng rất hài lòng, Adzhimurat chễm chệ ngồi trên con Bờm Đen tiến thẳng vào sân khoe với mẹ.

Adzhimurat lăn ngay ra giường ngủ mê mệt, không hề nghi ngờ một điều gì. Nhưng Xuntanmurat không sao ngủ được. Cậu cứ nghĩ miên man đến việc ngày mai cậu đã có mặt trong thành phố, sẽ nhìn thấy những gì và những điều kỳ diệu nào đang chờ đón cậu ở đó. Khi bắt đầu mơ màng cậu còn nghe tiếng bố mẹ thì thầm với nhau:

– Tôi định mang cả thằng em đi nữa, có anh có em hai đứa sẽ vui hơn. - Bố nói. - Chỉ có điều là không đủ chỗ trên cái xe ngựa quái quỷ ấy. Phải ngồi ngay ở đằng trước, sát chiếc thùng phuy mà đường thì dài, thằng bé có thể ngủ quên, rơi xuống bánh xe thì khốn.

– Thôi, ông ạ! - Mẹ tỏ vẻ sợ hãi. - Lạy trời phù hộ, ông đừng nghĩ đến chuyện cho cả hai anh em nó đi làm gì, một đứa đi thôi. - Mẹ nói tiếp giọng thì thầm: - Để lần sau cho thằng cu em đi cũng được. Ông nhớ phải cẩn thận đấy, đừng có lúc nào rời mắt khỏi con. Con mình lớn xác thật đấy, nhưng ngoài thành thị nó khác…

Xuntanmurat thiếp đi trong một giấc ngủ ngọt ngào, văng vẳng bên tai giọng nói đầy sự quan tâm của bố mẹ. Thật là dễ chịu khi nghĩ rằng từ mờ đất sáng mai cậu sẽ lên đường cùng với bố…

Và khi đã thiếp đi rồi cậu vẫn còn cảm thấy như mình đang bay lên. Cảm giác ấy gây cho cậu một sự thích thú đến lặng tim. Thật kỳ lạ, không hiểu tại sao cậu lại biết bay nhỉ? Con người chỉ có thể biết đi, biết chạy, biết bơi, thế mà cậu lại bay được mặc dù cũng không hoàn toàn giống như chim. Chim thì phải đập cánh vậy mà cậu chỉ việc dang tay ra, hơi động đậy đầu ngón tay một tí. Cậu bay nhẹ nhàng, thoải mái, không hiểu là mình đã cất cánh từ đâu và sẽ bay về đâu trong khoảng không gian tĩnh lặng “như đang mỉm cười” với mình… Có thể đó là linh hồn của cậu đang bay hay có thể là cậu lớn phổng lên trong giấc mơ.

Xuntanmurat giật mình tỉnh dậy khi bố chạm vào tay, vào vai và nói nhỏ vào tai cậu:

– Dậy đi Xuntanmurat, chúng ta đi thôi.

Và trước khi tỉnh dậy hẳn, trong một khoảnh khắc ngắn ngủi, Xuntanmurat cảm thấy trong lòng bỗng dâng lên một tình cảm trìu mến và biết ơn đối với bố qua những lời bố nói, qua động tác bố khẽ dụi bộ râu cứng của mình vào tai cậu. Lúc ấy cậu đâu có ngờ rằng sẽ đến một lúc nào đó, cậu sẽ nhớ lại cảm giác khoan khoái khi bố nhẹ nhàng dụi bộ râu của bố vào tai cậu cùng với câu nói “Dậy đi, Xuntanmurat, chúng ta đi thôi”, với một nỗi đau đớn xót xa và một nỗi buồn da diết.

Mẹ đã dậy từ lâu. Bà đưa cho đứa con trai chiếc áo sơ mi đã giặt sạch sẽ, đội lên đầu nó chiếc mũ lưỡi trai màu xanh lá cây hơi rộng mà bố mang về hồi năm ngoái sau chuyến đi dân công làm thủy lợi ở công trường kênh đào Chuiski. Chiếc mũ giống như các ông thủ trưởng vẫn hay đội. Sau đó, mẹ đưa cho nó đôi giày vải, đôi giày cũng do bố mang về từ chuyến đi ấy.

– Con đi đôi giày này xem nào, không bó chân chứ? Mẹ hỏi.

– Không, không bó đâu mẹ ạ. - Xuntanmurat trả lời, mặc dù đôi giày hơi chật một tí. - Cũng chẳng hề gì, nó sẽ giãn ra thôi.

Khi hai cha con ra khỏi sân và chia tay với mẹ và khi chiếc xe ngựa chở dầu kêu cọt kẹt băng qua con mương lớn hai bên bờ ốp đá, Xuntanmurat bỗng cảm thấy tim đập thình thịch. Nó rùng mình, co người lại vì thích thú và cũng bởi những giọt nước lạnh bắn lên. Nó hiểu rằng giờ đây không còn là giấc mơ nữa mà là nó đang được đi vào thành phố thật.

Rạng đông đang hửng dần, rọi những tia nắng vàng trong suốt lên cảnh vật mùa hạ. Mặt trời vẫn còn lấp ló đâu đó sau những đỉnh núi phủ đầy tuyết trắng, nhưng nó đang nhích dần lên, chuẩn bị nhô ra khỏi rặng núi. Sau đêm, con đường ẩm ướt, mát dịu và yên tĩnh. Tiếc là lúc này không có đứa bạn nào nhìn thấy nó đang cùng đi với bố ra khỏi bản. Chỉ có những con chó vẫn còn đang mơ ngủ sủa lăng nhăng theo tiếng gõ lọc cọc của bánh xe…

Con đường chạy men theo chân núi vươn thẳng ra thảo nguyên, mất hút dần sau những dãy núi chập chùng màu tím nhạt. Phía sau những rặng núi ấy là thành phố Dzhambul, cái đích cuộc hành trình của họ.

Những con ngựa no nê chạy nước kiệu nhẹ nhàng như không hề biết đến những sợi dây cương và cỗ xe, thỉnh thoảng theo thói quen lại khịt phì phì, lúc lắc túm bờm trán. Đối với chúng, con đường quá quen thuộc vì chúng đã bao lần đi lại. Ông chủ vẫn ngồi ở vị trí của mình, tay nắm chặt dây cương, còn chú bé ngồi bên cạnh cùng là người nhà và chẳng làm phiền chút nào.

Họ cứ đi như thế, bánh xe lăn đều đều phát ra những tiếng kêu cọt kẹt cũng giống như tất cả những chiếc xe ngựa khác trên trái đất này. Trong khi đó, mặt trời cứ lên cao dần giữa hai đỉnh núi, bình thản rọi những tia nắng vàng ấm áp xuống lưng những con ngựa ướt đẫm mồ hôi làm cho màu lông con Chabdar trở nên xám hơn giống như màu trứng chim cút, còn màu lông con Chontoru lại trở nên sáng hơn, biến thành màu hồng nhạt. Ánh nắng ấm áp chiếu lên gò má màu đồng hun của bố làm cho những vết nhăn nơi khóe mắt như sâu hơn, còn cánh tay đang cầm sợi dây cương nổi lên những bắp thịt gân guốc, rắn chắc; ánh nắng ấm áp như một dòng thác sống động ào ạt tỏa lên khắp con đường đang lùi dần dưới vó ngựa; ánh nắng ấm áp mang lại cuộc sống cho tất cả vạn vật trên trái đất.

Vào cái buổi sáng ngày lên đường ấy, một cảm giác khoan khoái, đễ chịu tràn ngập tân hồn Xuntanmurat.

– Thế nào, con tỉnh ngủ rồi chứ? - Bố hỏi đùa.

– Tỉnh lâu rồi bố ạ!

– Vậy thì cầm lấy! - Bố nói và đưa cho cậu sợi dây cương.

Xuntanmurat mỉm cười biết ơn, cậu đã nóng lòng chờ đợi việc này từ lâu. Có thể hỏi bố nhưng tốt hơn là để bố tự cảm thấy có thể tin tưởng trao cho cậu sợi dây cương, bởi lẽ đây chẳng phải là chuyện đùa mà là hai cha con đang tiến hành một cuộc hành trình dài. Dường như cảm thấy dây cương đã được trao cho một người khác, hai con ngựa vẫy vẫy tai, tỏ vẻ không hài lòng. Chúng vừa chạy vừa ép sát vào nhau như muốn nổi loạn có lẽ vì cho rằng quyền lực đã rơi vào tay một kẻ khác, yếu hơn. Nhưng Xuntanmurat lập tức cho chúng biết ngay uy quyền của mình - cậu giật mạnh dây cương và hét to:

– Nào, nào! Tao cho chúng mày biết tay bây giờ!

Nếu như hạnh phúc của con người chỉ có trong hiện tại chứ không hề biết đến quá khứ và tương lai thì chính trong ngày hôm ấy, trong chuyến đi vào thành phố, Xuntanmurat đã hưởng một niềm hạnh phúc trọn vẹn. Không có giây phút nào, không có một điều gì có thể làm cho tinh thần của cậu trở nên u ám. Ngồi bên cạnh bố, cậu cảm thấy một niềm tự hào chính đáng và niềm tự hào ấy không lúc nào mất đi trong suốt chặng đường. Tiếng động ầm ĩ của chiếc xe chở dầu có thể làm cho một đứa khác phát ngốt lên, nhưng đối với cậu thì đó là những tiếng chuông lảnh lót, ngọt ngào của hạnh phúc. Từng đám bụi cuộn lên phía sau lơ lửng trong không khí; con đường trải dài dưới hai vệt bánh xe, những con ngựa đều đặn gõ nhịp, bộ dây thắng đẫm mùi mồ hôi và mùi nhựa chưng; một đám mây trắng mỏng xốp lửng lơ rất cao trên bầu trời; những búi cỏ đã già đủ màu sắc: Vàng, xanh, tím nhạt, còn đẫm ướt sương đêm; những con mương và những dòng suối nhỏ nước dâng tràn lên cắt ngang đường; những chiếc xe ngựa và những kỵ sĩ phóng ngược chiều; đàn chim én chao lượn, bay đi bay lại quanh xe, có con suýt lao vào mõm ngựa - tất cả cảnh vật ấy tự thân nó đã chứa đựng một niềm hạnh phúc và một vẻ đẹp kỳ diệu. Nhưng Xuntanmurat không hề nghĩ đến những điều đó. Có mấy ai nghĩ đến hạnh phúc khi hạnh phúc đang ở trong tay. Cậu nghĩ rằng thế giới phải được tạo nên như vậy, không thể tốt hơn được nữa. Cũng như bố cậu, tất nhiên là phải như thế, không ai có thể tốt hơn.

Ngay cả những chú chim nhỏ hai bên cánh có nẹp vàng, đầu đen đậu trên những bụi cây dọc hai bên đường chẳng phải ngẫu nhiên cứ hót đi hót lại mãi một điệu nhạc thánh thót quen thuộc. Những con chim ấy biết rằng mình đang hót cho ai nghe. Chúng biết rằng Xuntanmurat rất yêu chúng. Đó là những chú chim xaraigyr. Chúng có tên như vậy bởi lẽ cả đời chúng cứ gọi mãi một con ngựa vàng nào đó bằng tiếng hót của mình: “Chu, chu, xaraigyr! Chu, chu xaraigyr!”[7] Những chú xaraigyr nhỏ xíu kỳ diệu! Nhưng té ra là ở mỗi vùng chúng lại hát bằng những ngôn ngữ khác nhau. Một lần, có một người thợ máy chiếu phim di động đến bản. Đó là một thanh niên người Nga vui tính. Xuntanmurat lẩn quẩn cạnh đấy giúp anh ta chuyển những hộp phim từ trên xe xuống và sau đó đến tối cậu là người đầu tiên được anh ta cho quay chiếc máy phát điện sinh ra dòng điện, còn dòng điện sẽ làm cho những bóng đèn sáng lên. Bóng đèn sẽ chiếu sáng bức tường dùng làm màn ảnh, khi ấy trên màn ảnh sẽ xuất hiện những hình thù chuyển động.

Chính lần ấy, người thợ máy sau khi lắng tai nghe liền hỏi nó:

– Con chim gì đang hót sau hàng rào đấy, chú em?

– Đó là chim xaraigyr. - Xuntanmurat giải thích cho anh ta.

– Nó hót cái gì thế?

– Chu, chu, xaraigyr!

– Thế nghĩa là gì?

– Em không biết. Theo tiếng Nga có lẽ là: “Này, này, con ngựa vàng!”

– Thứ nhất, ngựa không bao giờ có màu vàng, nhưng điều ấy có thể bỏ qua, cứ cho là có đi. Nhưng tại sao lúc nào nó cũng: “Chu, chu, xaraigyr!”

– Tại vì con chim ấy cứ tưởng mình đang cưỡi con ngựa vàng đi dự đám cưới. Đi mãi, đi mãi mà chẳng tới nơi vì thế mà nó gọi: “Chu, chu, xaraigyr!”.

– Thế mà anh lại nghe khác đấy. Hình như con chim xaraigyr ấy đang đánh bài ở ngoài chợ. Suýt nữa thì nó ăn được ba rúp, nhưng chẳng ăn được. Chính vì vậy mà nó cứ hót: “Chút, chút, ăn ba rúp!” Và nó cứ kêu mãi như thế chừng nào chưa ăn được ba rúp.

– Nhưng đến bao giờ thì nó ăn được ba rúp ấy?

– Không bao giờ. Cũng như nó không bao giờ đến được chỗ đám cưới ấy.

– Buồn cười thật…

Quả thật, mới nhìn qua con chim ấy chẳng có gì đáng chú ý, thế mà lại rất trứ danh.

Những con chim xaraigyr hót suốt dọc đường. Xuntanmurat mỉm cười với chúng:

– Đi với chúng tôi ra chợ đi. Ở đấy chúng ta sẽ ăn được ba rúp.

Còn chúng thì cứ hót: “Chu, chu, xaraigyr!” Đôi khi lại hót: “Chút, chút, ăn ba rúp!”.

Xuntanmurat đang nóng ruột, muốn đi thật nhanh đến thành phố. Mặt trời đã lên cao trên đỉnh núi. Xuntanmurat thúc đôi ngựa!

– Chu, chu, xaraigyr! - Cậu nói với con Chabdar. - Chu, chu, toraigyr! - Còn câu này cậu nói với con Chontoru.

Bố liền ngăn nó lại:

– Con đừng thúc ngựa chạy nhanh quá. Chúng tự biết phải đi như thế nào. Chạy thì chạy nhưng phải giữ sức.

– Thế con nào giỏi hơn hả ata[8], Chabdar hay Chontoru?

– Cả hai con đều khá cả, kể cả bước chạy lẫn sức khỏe. Chúng làm việc như những cỗ máy ấy. Chỉ cần phải cho ăn đúng giờ, đầy đủ và chú ý đến bộ đồ thắng là chúng không bao giờ phụ lòng ta. Những con ngựa rất đáng tin cậy. Năm ngoái chúng đã làm việc ở kênh đào Chuiski ngay trên vùng sình lầy. Ở đấy những chiếc xe tải bị chất đầy, lún đến tận trục bánh xe. Đôi khi có những chiếc xe tải bị sa lầy không tiến, không lùi được, có quát tháo thế nào cũng chịu. Thế là họ lại chạy đến gặp bố xin giúp một tay. Chẳng nỡ nào từ chối được! Bố dắt con Chabdar và con Chontoru của mình đến, thắng vào cỗ xe bị lầy. Mà con thấy đấy, ta vẫn gọi chúng là súc vật thế mà chúng khôn ra phết. Chúng hiểu ngay là không phải tự nhiên mà người ta lại thắng chúng vào một cỗ xe lạ, cần phải giúp đỡ người khác. Bố chẳng phải dùng đến roi, chỉ quát một tiếng và thế là ơn Chúa phù hộ, miễn là sợi dây thẳng không đứt, hai con ngựa lết trên đầu gối lôi bật chiếc xe lên khỏi hố. Khắp công trường Chuiski ai cũng biết đến cặp ngựa nhà mình và ghen tị với bố. Họ nói “Anh thật là may, Becbai ạ!” Cũng có thể là may, chỉ có điều cứ chăm sóc chu đáo cho chúng thì sẽ gặp may thôi.

Chabdar và Chontoru vẫn cứ đều chân chạy trước kiệu chẳng hề quan tâm đến những gì mà người ta nói về chúng. Chúng cứ chạy, mồ hôi ướt đẫm bụng và tai, vừa chạy vừa dựng bờm lên vừa xua nhưng con ruồi trên đường.

– Ata, thế con ngựa nào già hơn? - Xuntanmurat hỏi bố, Chabdar hay Chontoru?

– Chontoru lớn hơn ba tuổi. Bố để ý thấy Chontoru đã bắt đầu xuống sức rồi. Đôi khi nó tỏ ra sút hơn. Còn Chabdar đang ở độ sung sức. Nó là một con ngựa khỏe, chạy nhanh. Trong các cuộc đua nó có thể vượt qua nhiều con khác. Những con ngựa như thế này trước kia người ta gọi là kỵ mã.

Xuntanmurat thấy mừng cho Chabdar bởi lẽ nó vẫn thích con Chabdar hơn. Màu lông của nó vẫn đặc biệt - màu xám tro đốm trắng, vóc dáng đẹp đẽ, khỏe mạnh, tính nết cũng hiền.

– Con cũng thích Chabdar hơn. - Xuntanmurat nói với bố. Con Chontoru dữ lắm. Mắt nó nhìn cứ gườm gườm.

– Không phải là dữ mà thông minh. - Bố mỉm cười. - Nó không thích bị quấy rầy khi không có việc. - Im lặng một lát bố nói tiếp: - Cả hai con đều giỏi cả.

Cậu con trai đồng ý.

– Cả hai con đều giỏi cả. - Cậu nhắc lại, giơ roi, thúc ngựa.

Im lặng một lát bố lại nói:

– Thôi, kéo căng dây cương cho xe dừng lại đi. - Bố thản nhiên huýt một tiếng thật to, vẻ chờ đợi. - Lũ ngựa muốn đái rồi đấy, nhưng chúng dâu có nói được, cần phải để ý mới biết.

Y như rằng, ngay lúc ấy hai con ngựa thiến bắt đầu đái ồ ồ xuống đường. Một đám bụi nhỏ mịn như bột sủi bong bóng và dần dần ướt đẫm ngay dưới chân chúng.

Sau đó họ lại tiếp tục lên đường. Con đường vẫn trải về phía trước, còn những ngọn núi lại lùi về phía sau mỗi lúc một xa hơn.

Chẳng mấy chốc đã nhìn thấy những khu vườn của vùng ngoại ô. Đường sá ở đây đã nhộn nhịp hơn. Đến lúc này bố lấy lại dây cương và bố làm thế là đúng: Bây giờ Xuntanmurat chẳng còn để ý gì đến dây cương và lũ ngựa nữa. Thành phố đã dần dần hiện ra ồn ào, sặc sỡ và đủ mùi vị. Có cảm giác như cậu bị ném vào một dòng chảy cuồn cuộn, bị những đợt sóng vật qua vật lại và xoay tròn như chong chóng.

Chính ngày hôm ấy, cái ngày hạnh phúc nhất của đời mình, Xuntanmurat lại gặp may một lần nữa: Ở Atchaba, tại cái chợ lớn chuyên mua bán súc vật của thành phố Dzhambul có một vườn bách thú lưu động vừa mới chuyển đến. Quả là một sự trùng hợp lý thú: một kẻ lần đầu tiên vào thành phố lại đúng vào dịp có vườn bách thú lưu động với những con thú kỳ lạ. Ngoài ra lại còn có đu quay và trò chơi những chiếc gương soi biến dạng[9].

❀ ❀ ❀

[1] Eki asuk: Hai người yêu nhau.

[2] Ở một số vùng Trung Á, Liên Xô người ta thường dùng phân súc vật để đốt thay củi.

[3] Danh hiệu lao động xã hội chủ nghĩa mang tên người Anh hùng Lao động Xtakhanov.

[4] Atake: Bố yêu quý.

[5] Adzhike: Tên gọi âu yếm của Adzhimurat.

[6] Anh trai.

[7] Xaraigyr: Con ngựa màu vàng nhạt, đuôi và bờm màu sáng hơn.

[8] Ata: Bố (gọi âu yếm).

[9] Những chiếc gương lồi, lõm… làm cho hình phản chiếu trong gương bị biến dạng hẳn đi, trở nên rất kỳ quặc, tức cười.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.