Sếu Đầu Mùa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 4

❊ ❊ ❊

– Xuntanmurat, em làm sao thế? - Cô giáo Inkaman-apai bước đến gần bàn cậu và mãi đến lúc ấy cậu mới biết.

– Thưa cô, không có gì ạ. - Xuntanmurat đứng dậy, ấp úng trả lời.

Lớp học vẫn yên lặng và lạnh lẽo như trước. Một vài tiếng cười khúc khích, những tiếng ho quen thuộc.

– Tại sao lúc thì em vô cớ cất tiếng ho, lúc thì không nghe cô hỏi? - Cô giáo Inkaman-apai nói với vẻ không hài lòng, hai vai co ro vì lạnh. - Thôi em ra ngoài hiên ôm rơm vào rồi đốt lò lên cho ấm.

Xuntanmurat nhanh nhẹn đứng dậy đi lấy rơm. Kể ra cũng trái lệ, ít khi trong giờ học cô giáo cho làm những việc như vậy. Thường thì đến giờ ra chơi các bạn trực nhật có nhiệm vụ mang rơm vào lớp và nhóm lò.

Xuntanmurat chạy ra hành lang. Gió tuyết ập ngay vào mặt cậu. Chà, đây chẳng phải là Sri Lanka đâu! Nó chạy băng qua sân đến nhà chứa cỏ và bỗng nhìn thấy ông chủ tịch nông trang Tynaliev đang vội vã xuống ngựa. Ông chủ tịch vốn là một thương binh từ mặt trận trở về, ông còn trẻ lắm, dáng đi vẹo sang một bên vì thiếu mất mấy cái xương sườn. Ông đã từng nhảy dù, những người như vậy gọi là lính dù đổ bộ. Nghe nói trước chiến tranh ông là kỹ sư nông nghiệp. Chuyện ấy Xuntanmurat không nhớ rõ lắm. Đối với cậu, tất cả những gì trước chiến tranh giống như là một chuyện xa lạ của hành tinh khác, cậu không thể tin nổi là có một cuộc sống như vậy trước chiến tranh…

Xuntanmurat quơ bó rơm thật to rồi nhanh chóng quay lại. Cậu lấy chân đẩy cửa ra rồi ôm bó rơm lách vào lớp. Lớp học trở nên ồn ào, náo nhiệt.

– Trật tự, các em chú ý vào đây! - Cô giáo Inkaman-apai nhắc lớp. - Còn em, Xuntanmurat, cứ tiếp tục công việc của mình nhưng đừng có làm ồn.

Trong lò, giữa đám tro vẫn còn một đốm lửa cháy leo lét giống như hơi thở phập phồng của một đứa trẻ nhỏ. Xuntanmurat bỏ một nắm rơm nữa rồi một nắm nữa. Lửa trong lò cháy phừng phừng, lem lém ngốn những nắm rơm nhanh đến nỗi không kịp bỏ vào. Lớp học náo nhiệt hẳn lên.

Xuntanmurat muốn quay về phía các bạn, giả bộ nhăn mặt với một đứa nào đó làm cho nó phải bật cười hoặc dứ dứ quả đấm cho một đứa khác, nhất là đối với thằng Anatai ngồi ở bàn cuối. Anatai là đứa lớn nhất lớp. Nó đã mười lăm tuổi rưỡi và cũng là đứa hay gây gổ nhất. Đã có lần nó cứ lẵng nhẵng bám theo Myrzagun. Thằng ấy thì phải gí nắm đấm vào mặt nó mới đáng: Này, coi chừng đấy! Nhưng Xuntanmurat hiểu rằng không thể làm thế được. Cô giáo rất nghiêm, mà hơn nữa nó cũng không muốn làm cho cô giáo phiền lòng. Thời gian gần đây không hiểu tại sao cô lại không nhận được thư của người con trai duy nhất đang ở ngoài mặt trận, Anh ấy là chỉ huy pháo binh. Cô giáo rất tự hào về anh ấy. Còn chồng cô trước chiến tranh không hiểu tại sao cũng biến đi đâu mất. Hình như có chuyện gì đó không may xảy ra với ông ấy, nhưng cụ thể là chuyện gì thì không ai nói ra. Chính vì vậy mà cô giáo đã đến bản này dạy học. Dạo ấy, anh con trai của cô đang học trường trung cấp sư phạm ở thành phố Dzhambul và từ trường anh đi thẳng ra mặt trận. Chỉ cần thoáng nhìn thấy người đưa thư cưỡi ngựa lấp ló ngoài cửa sổ là cô giáo Inkaman-apai lập tức cho ngay một đứa ra nhận thư. Thằng bé ấy phóng ra sân và nếu có thư nó phóng ngay vào lớp. Về việc đứa nào được vinh dự ra nhận thư cho cô giáo, lớp đã đặt ra luật lệ lần lượt từng đứa một.

Mỗi lần cô giáo có thư là cả một ngày hội lớn! Cô vội vã đọc lướt qua bức thư ngắn ngủi và khi cô ngẩng đầu lên khỏi tờ giấy mọi người đều có cảm tưởng như đó là một người khác hẳn. Không ai có thể dửng dưng khi thấy cô giáo của mình với mái tóc hoa râm quấn gọn gàng trong chiếc khăn choàng bỗng trở nên sung sướng đến thế và cũng không có trái tim nào không đau thắt lại khi nhìn thấy những giọt nước mắt lăn trên khuôn mặt cô.

– Con trai cô gửi đến các em lời thăm hỏi nồng nhiệt nhất. Agai của các em vẫn sống, vẫn mạnh khỏe và vẫn đang chiến đấu. - Cô cố giữ cho giọng khỏi run nhưng không thể giấu nổi niềm vui của mình. Cả lớp mỉm cười với cô như muốn chia sẻ cùng cô niềm hạnh phúc. Nhưng chỉ một phút sau cô đã nhắc:

– Còn bây giờ, các em ạ, chúng ta tiếp tục học thôi.

Những lúc như vậy giờ học bỗng trở nên thú vị biết bao. Mỗi lời cô nói như được tiếp thêm sức mạnh, những ý nghĩ này làm nảy sinh những ý nghĩ khác và tất cả những gì cô giáo kể hoặc giải thích, chứng minh, đều thấm sâu vào trí nhớ và tâm hồn của tất cả học sinh. Mỗi khi cô hứng thú lên như vậy cả lớp học ngồi im phăng phắc như bị bỏ bùa…

Trong những ngày gần đây có điều gì đó làm cô lo lắng. Đúng là có chuyện gì đó… Có thể chính vì thế mà khi ông chủ tịch nông trang Tynaliev cùng với ông trưởng phòng giáo dục xuất hiện ở ngưỡng cửa, cô giáo Inkaman-apai chậm chạp lùi về phía sau bảng đen. Tuy vậy cô vẫn còn đủ sức nói:

– Các em đứng dậy. Còn em, Xuntanmurat, về chỗ.

Xuntanmurat đóng cửa lò sưởi lại rồi vội trở về bàn của mình.

Những người mới đến chào cả lớp.

– Chào hai bác ạ! - Cả lớp đáp lại.

Tiếp đó là một sự im lặng căng thẳng đến nỗi không một ai dám ho cả.

– Có chuyện gì thế ạ? - Cô giáo Inkaman-apai hỏi bằng một giọng run run.

– Không có chuyện gì đâu, Inkaman-apai à! - Ông chủ tịch Tynaliev nói ngay cho cô giáo yên tâm. - Tôi đến vì chuyện khác, tôi có việc cần nói với các em. Cô tha lỗi vì đã đột ngột cắt ngang giờ học, nhưng tôi đã xin phép. - Vừa nói ông vừa quay đầu về phía ông trưởng phòng giáo dục, một người đứng tuổi.

– Vâng, có chuyện rất quan trọng. - Ông trưởng phòng giáo dục nhấn mạnh thêm. - Xin cô giáo cho các em ngồi xuống.

Cả lớp đồng loạt ngồi xuống

Mọi người trong lớp đều biết ông chủ tịch nông trang tuy ông mới làm chủ tịch từ dạo mùa thu sau khi từ mặt trận trở về. Có lẽ ông cũng đã kịp biết mặt hầu hết các em học sinh ngồi đây rồi, chắc chắn không phải ông đến để làm quen với các em. Mà làm quen để làm gì kia chứ! Bọn học sinh lớp bảy thì ai mà chẳng biết. Vả lại, muốn nói chuyện với từng em một thì thiếu gì chỗ: Ở nhà, ở văn phòng ban quản trị, trên đường đi, chỗ nào chả được. Nhưng việc ông chủ tịch nông trang đến trường vào giữa giờ học để nói một cậu chuyện quan trọng với học sinh thì chưa bao giờ xảy ra. Mà chuyện gì mới được chứ! Nếu mùa hè thì lại khác, lúc ấy đứa nào chẳng làm việc trong nông trang, còn bây giờ ông đến nói chuyện gì nhỉ!

– Tôi đến đây vì có một việc như thế này. - Ông chủ tịch Tynaliev bắt đầu, đưa mắt nhìn khắp lượt những khuôn mặt đang chờ đợi căng thẳng, trong khi nói ông cố gắng giữ tư thế đứng thẳng cho khỏi lộ vẻ của người bị thương tật: - Lớp học của các em lạnh thật đấy, nhưng tôi không có cách nào khác hơn ngoài việc cung cấp rơm để sưởi. Mà rơm thì các em biết đấy, cháy vèo vèo rồi tắt ngấm. Còn phân khô như vẫn dùng để sưởi ở trường, trước đây ta phải dùng bao bố hoặc xe kéo thồ từ trên núi về, tốn công lắm. Vả lại từ năm ngoái đến nay, ta không lấy đâu ra nhân công và thời gian để đi thồ về cho các em sưởi nữa. Đành phải chịu vậy thôi các em ạ. Bây giờ thì tiền tuyến là trên hết, mà trong kho của tôi chỉ còn hai tấn than đang được giữ gìn cẩn thận. Số than này ta phải mua lại của bọn đầu cơ ở chợ Dzhambul. Nhưng than đó là để cho lò rèn. Cả sắt cho lò rèn nữa, ta cũng phải mua của bọn đầu cơ đấy. Sẽ đến lúc chúng ta phải tính sổ với bọn ấy, còn bây giờ tình hình rất khó khăn, ở ngoài mặt trận cũng khó khăn như vậy. Năm ngoái chúng ta đã không hoàn thành kế hoạch, không kịp gieo hai trăm héc-ta lúa mì thu. Chẳng ai có lỗi cả. Tất cả chỉ do chiến tranh, có thể đổ lỗi quanh co như vậy đấy. Nhưng nếu khắp nơi trong tất cả các nông trang và nông trường đều để xảy ra tình trạng không hoàn thành việc gieo hạt, việc thu hoạch và những công việc khác như ở nông trang chúng ta thì chúng ta sẽ không thể nào thắng được kẻ thù. Mà muốn thắng được một kẻ thù như vậy chúng ta cần phải có lúa mì và đạn dược. Tôi đến đây để nói với các em rằng, có lẽ một số trong các em phải nghỉ học. Thời gian không chờ đợi ta đâu, chúng ta phải cấp tốc chuẩn bị sức kéo để cày ải ngay cho vụ xuân, mà súc vật của chúng ta, quả thật, nhìn mà đau lòng, tệ hại đến mức không còn đứng nổi nữa. Cũng cần phải chuẩn bị cả những bộ đai thắng, yên cương, mà những thứ đó hiện nay đều hỏng hết rồi. Ngoài ra, còn phải sửa chữa máy cày, máy gieo hạt, những máy móc, dụng cụ ấy đang nằm dưới lớp tuyết… Tôi nói tất cả những điều ấy để làm gì? Để khẳng định rằng, số diện tích của vụ thu, chúng ta nhất quyết phải gieo lại bằng lúa xuân. Phải hoàn thành vô điều kiện công việc này, bằng bất cứ giá nào, giống như ở ngoài mặt trận vậy! Như thế có nghĩa là chúng ta phải hoàn thành vượt mức kế hoạch. Chúng ta phải tự lực bằng chính sức mình, cày và gieo bù hai trăm héc-ta lúa xuân. Hai trăm! Các em hiểu chứ? Nhưng lấy đâu ra nhân lực, chúng ta trông chờ vào ai? Và chúng tôi đã quyết định cùng với tất cả những gì chúng ta có, đã chuẩn bị cho vụ lúa xuân, cần phải thành lập thêm một đội cày hai lưỡi nữa. Lãnh đạo đã suy nghĩ, bàn đi tính lại rất kỹ. Phụ nữ thì chúng ta không thể đưa đi được vì khu đất ấy khá xa, mãi trong vùng Akxai. Ở đấy lại không có người. Vậy là chúng tôi có ý nhờ đến các em, học sinh của trường ta.

Ông chủ tịch nông trang Tynaliev là một con người nghiêm nghị, kín đáo, thường mặc chiếc áo ca-pốt bộ đội màu xám - tất nhiên là chỉ mặc độc một chiếc áo ấy cùng chiếc mũ có vành che tai trên đầu thôi thì cũng vẫn lạnh lắm. Khuôn mặt ông hốc hác, lúc nào cũng có vẻ lo lắng mặc dù ông vẫn còn trẻ, dáng đi xiêu vẹo vì thiếu mất mấy cái xương sườn cùng với chiếc xắc-cốt lúc nào cũng kè kè bên hông… Ông đã nói như thế đấy!

Ông chủ tịch nông trang Tynaliev đã nói như thế ngay cạnh cái bảng đen có tấm bản đồ địa lý. Tờ bản đồ mà trong đó người ta đã khéo léo xếp đặt tất cả đất đai và biển cả, kể cả những miền đất ấm áp và kỳ diệu như Sri Lanka, Java, Sumatra, Australia, nơi người ta sống xa hoa, chẳng phải lo lắng gì…

Ông chủ tịch nông trang Tynaliev đã nói như thế khi ông đứng trong lớp học được sưởi ấm bằng rơm mà khi đốt xong chỉ làm bẩn lớp nhiều hơn là mang lại hơi ấm. Và khi ông nói rằng trên vùng đất Akxai xa xôi kia, cần phải gieo thêm hai trăm héc-ta lúa xuân cho tiền tuyến thì hơi nước trong miệng ông bay ra như khói, chẳng khác gì đứng ngoài sân…

Ông chủ tịch nông trang Tynaliev đã nói như thế…

Ngoài trời gió vẫn gào rít, quay cuồng và lọt qua những khe hở cửa sổ lớp học. Xuntanmurat ngồi cạnh nên nó thấy rõ con ngựa của ông chủ tịch nông trang buộc nơi chiếc cọc đang dậm chân cố tránh những cơn gió mạnh thổi thốc vào mặt, nhưng gió vẫn thổi tung dải bờm và hất chiếc đuôi đang thõng xuống của nó sang một bên. Con ngựa bị rét cóng…

Đúng thế, đây đâu phải là Sri Lanka…

– Tôi không muốn gián đoạn việc học tập của các em và cũng không muốn các em phải sống vất vả. Đây là một biện pháp bất đắc dĩ. Các em nên tự hiểu điều đó. Sau khi chiến tranh kết thúc, mà cũng có thể là sớm thôi, nếu tôi còn sống tôi sẽ đích thân đưa các em trở lại trường và xin cho các em được học tiếp. Còn hiện nay tình hình là như vậy đấy, các em ạ!

Sau đó ông trưởng phòng giáo dục nói vài lời rồi ông chủ tịch nông trang lại nói tiếp. Lớp học sôi nổi hẳn lên, các em tranh nhau giơ tay xung phong, miệng la lớn: Em, em muốn được đi làm ạ. Ông chủ tịch nói rõ hơn:

– Nếu em nào nghĩ rằng tôi sẽ tuyển bất kỳ ai là không hiểu đúng tinh thần đâu. Thứ nhất, em nào học kém là không làm được việc đâu, thứ hai là chỉ lấy những em giỏi để sau này có điều kiện trở lại để học tiếp. Đấy, vấn đề là như thế. Xuntanmurat, hình như em là người lớn nhất lớp…

Các bạn nhao nhao lên:

– Anatai là người lớn nhất ạ. Bạn ấy sắp mười sáu tuổi rồi.

– Tôi không nói về tuổi mà nói về tầm vóc. Kể ra thì điều ấy cũng chẳng quan trọng cho lắm. Em Xuntanmurat, - ông chủ tịch nông trang lại hướng về phía nó. - Năm ngoái em đã cày đất ở trong vườn phải không?

– Vâng ạ. - Xuntanmurat đứng dậy trả lời. - Em cày khu đất cạnh đường Aranski.

– Loại cày hai lưỡi, bốn ngựa?

– Vâng ạ, loại cày hai lưỡi, bốn ngựa, em cày hộ cho người khác, đó là cày của anh Xarbai, khi đó anh ấy được gọi nhập ngũ, mà thời vụ thì đã muộn, thế là Akxakan Sekis nhờ em cày giúp.

– Tôi cũng biết về việc ấy. Chính vì thế mà tôi bắt đầu danh sách từ em. - Ông chủ tịch nói.

Tất cả các bạn đều quay về phía Xuntanmurat. Cậu bắt gặp ánh mắt của Myrzagun. Cô bé nhìn nó bằng một ánh mắt đặc biệt, không giống như các bạn khác và đỏ bừng mặt lên cứ như là mọi người đang nói về chính cô ta vậy. Nó cảm thấy bồi hồi, tim đập thình thịch.

– Em cũng đã cày được ạ! - Anatai bật dậy kêu lên.

– Em cũng thế ạ! - Erkinbek tiếp ngay.

Ngay sau đó là hàng loạt những tiếng nói khác vang lên.

Nhưng ông chủ tịch yêu cầu giữ trật tự.

– Nào các em, chúng ta phải tiến hành cho có trật tự chứ! Bắt đầu từ việc học tập. Em học thế nào? - Ông chủ tịch lại quay về phía Xuntanmurat.

– Dạ cũng không đến nỗi ạ. - Xuntanmurat ấp úng.

– Không đến nỗi là thế nào?

– Không đến nỗi kém ạ.

– Và cũng không khá lắm. - Từ đầu đến giờ cô giáo Inkaman-apai vẫn im lặng, bỗng xen vào. - Tôi đã nói với em ấy bao nhiêu lần, em có thể học khá hơn, khá hơn rất nhiều, em là một học sinh có khả năng. Thế mà đầu óc còn lông bông lắm ạ!

– Hừm-ừm!.. - Ông chủ tịch kéo dài giọng vẻ phân vân. - Vậy mà tôi cứ hy vọng… Thôi được rồi. Bố em đang ở ngoài mặt trận cho nên chính em phải tự làm ra lúa mì cho bố. Còn em, thế nào Anatai?

– Dạ, cũng thế ạ. - Anatai đứng dậy nhăn mặt trả lời.

– Có nghĩa là cả hai cậu này chẳng ai hơn ai cả. - Ông chủ tịch Tynaliev mỉm cười, im lặng một lát ông tiếp: - Sau này khi các em quay trở lại trường, các em mới thấy được ý nghĩa của việc học tập. Tôi biết điều ấy qua kinh nghiệm bản thân. Hơi có chuyện gì một tí thế là nghĩ, cóc cần học nữa, bỏ học đi làm luôn. Chả lẽ con người sinh ra chỉ để làm một công việc nào đó thôi hay sao. Em nghĩ thế nào, Anatai?

Anatai bắt đầu giải thích lằng nhằng một lát rồi sau đó nó đành phải thú nhận.

– Em không biết ạ.

– Tôi cũng không biết được tất cả mọi thứ đâu. - Ông chủ tịch Tynaliev nói. - Nhưng nếu không có chiến tranh, chắc chắn tôi cũng đã đi học rồi, mà chưa biết chừng lại còn được nên người nữa cơ.

Những tiếng cười hồn nhiên vang lên trong lớp. Buồn cười thật. Một người đã lớn tuổi như thế, lại là chủ tịch nông trang nữa vậy mà còn định đi học. Trong khi chúng nó đã chán ngấy việc học tập, chán ngấy ngồi trong lớp!

– Có chuyện gì buồn cười đâu? - Ông chủ tịch cười theo và nói tiếp: - Đúng như thế đấy các em ạ. Tôi rất muốn đi học. Sau này chính các em sẽ hiểu được điều đó.

Lợi dụng lúc ấy một đứa cắt ngang lời ông chủ tịch:

– Baskarma agai[1], có đúng là bác đã nhảy dù phải không?

Ông chủ tịch Tynaliev gật đầu.

Thằng kia vẫn chưa chịu thôi:

– Ồ, ghê thật! Thế có sợ không hả bác? Một lần cháu nhảy từ nóc nhà kho thuốc lá xuống đống rơm mà hai chân cứ run bần bật!

– Đúng, tôi đã nhảy rồi, chỉ có điều tất nhiên là nhảy bằng dù. - Ông chủ tịch giải thích. - Chiếc dù sẽ mở thành cái vòm lớn, giống như cái lều của ta vậy…

– Chúng cháu biết rồi, chúng cháu biết rồi! - Cả lớp nhao nhao hét lên.

– Chúng tôi là lính dù đổ bộ và công việc chính của chúng tôi là nhảy dù.

– Lính dù đổ bộ là thế nào, hả bác? - Tiếng ai đó chen vào.

– Lính dù đổ bộ hả? Đấy là một đội quân chiến đấu cơ động, thường được thả xuống hoặc được phái đến một nơi nào đó để thực hiện những nhiệm vụ chiến đấu quan trọng đặc biệt. Rõ chưa?

Cả lớp im lặng.

– Trong đội quân lính dù đổ bộ có thể có từ vài người đến hàng nghìn người. - Ông chủ tịch Tynaliev giải thích tiếp. - Điều quan trọng là đội quân đổ bộ thường hoạt động trong vùng hậu phương quân địch và chiến đấu độc lập. Nếu các em vẫn chưa hiểu hết thì tôi sẽ kể vào một dịp khác. Còn bây giờ chúng ta lại tiếp tục công việc. Anatai, em ngồi xuống, sao cứ đứng mãi thế! Bố em cũng đang chiến đấu ngoài mặt trận phải không?

– Bố em cũng thế ạ!

– Bố em cũng thế ạ!

– Cả bố em nữa!

– Cả bố em nữa!

Ông chủ tịch giơ tay lên:

– Tôi biết, tôi biết hết, các em ạ. Các em đừng nghĩ rằng từ sáng đến tối tôi chỉ biết đến công việc của nông trang. Tôi biết tất cả mọi người, ai đang chiến đấu, ai đang điều trị ở quân y viện. Tôi biết tất cả các em. Chính vì vậy mà tôi mới đến đây nhờ đến các em. Thôi, thế này, Anatai à, em cũng sẽ tham gia làm ra lúa mì cho bố, em sẽ dừng việc học tập lại trong một năm, mà có thể lâu hơn.

– Em cũng thế! Cả em nữa! Cả em nữa ạ! - Một số đứa khác cũng bắt đầu nhao nhao lên. Trong những trường hợp như thế này đứa nào cũng muốn trở thành anh hùng. Hơn nữa lại có lý do chính đáng khỏi phải đến trường, lại được làm việc trên lưng ngựa, đứa nào chả muốn!

– Khoan đã, từ từ xem nào! - Ông chủ tịch yêu cầu trật tự. - Không thể làm như thế được. Chúng ta chỉ nhận những em đã biết cày thôi. Nào Erkinbek, em cũng đã cày vườn rau rồi phải không? Bố em đã hy sinh tại ngoại ô Moskva, tôi biết. Có rất nhiều cha anh ta đã hy sinh ngoài mặt trận. Tôi cũng yêu cầu em, Erkinbek ạ, hãy giúp nông trang một tay nhé. Thay vì được học tập em cũng phải cày ruộng, không còn cách nào khác hơn. Còn mẹ em thì để tôi sẽ giải thích…

Sau đó ông chủ tịch Tynaliev gọi tên thêm hai đứa nữa, đó là thằng Erges và thằng Kubatkun. Ông dặn sáng mai tất cả số học sinh nói trên phải có mặt ở trại ngựa trong giờ giao ban buổi sáng của các đội trưởng sản xuất.

Tối hôm ấy, trước khi đi ngủ, Xuntanmurat kể lại cho mẹ nghe chuyện ông chủ tịch nông trang đến trường. Mẹ im lặng nghe, mệt mỏi đưa tay lên lau trán. Suốt ngày mẹ làm việc ở trại chăn nuôi của nông trang, chỉ đến tối mới trở về với lũ trẻ. Vừa lúc ấy thằng ngốc Adzhimurat lại la hét ầm ĩ lên chẳng đúng lúc tí nào.

– Ôi, thích thật! Không phải học nữa, lại được làm thợ cày, cưỡi trên lưng ngựa! Con cũng muốn đi!

Mẹ quay lại, nghiêm khắc hỏi nó:

– Con đã học thuộc bài chưa?

– Học rồi ạ. - Adzhimurat trả lời.

– Vậy thì đi ngủ đi và đừng ho he gì nữa. Rõ chưa!

Còn đối với đứa con trai cả, mẹ không nói gì, chỉ mãi đến lúc đặt hai đứa em gái ngủ xong, trước khi tắt đèn, mẹ buồn bã ngồi xuống cạnh cây đèn, hai tay ôm đầu và bật khóc. Chắc mẹ nghĩ, Xuntanmurat đã ngủ. Mẹ khóc âm thầm, rất lâu, hai vai rung lên. Xuntanmurat cảm thấy đau nhói trong lòng. Nó muốn ngồi dậy an ủi, xoa dịu, nói với mẹ một câu gì đó. Nhưng nó không dám làm phiền mẹ, cứ để mẹ ngồi một mình như vậy có lẽ lại tốt hơn. Chắc là mẹ đang nghĩ đến bố (không biết bây giờ bố đang làm gì ngoài mặt trận), nghĩ đến những đứa trẻ (chúng nó bốn đứa cả thảy) và nghĩ đến tình cảnh trong nhà cùng những thiếu thốn cơ cực này khác.

Dù sao thì mẹ cũng là một người phụ nữ, mà phụ nữ thường hay khóc. Cả cô giáo Inkaman-apai cũng thế. Khi ông chủ tịch nông trang Tynaliev ra khỏi lớp rồi, cô cũng trở nên bần thần, bối rối mãi. Tiếng kẻng báo giờ ra chơi đã vang lên, thế mà cô vẫn ngồi im bên bàn giáo viên. Và cả lớp cũng ngồi lại, không đứa nào chạy ra ngoài, chờ cho cô giáo đứng dậy bước ra cửa. Ra đến ngưỡng cửa, cô giáo không cầm nổi nước mắt, cô khóc. Chắc cô đã cố nén lại nhưng không được. Cô bước đi, nước mắt đầm đìa. Myrzagun xách tờ bản đồ cô giáo để quên lên đến phòng giáo viên cho cô, khi quay lại trên mặt cũng đầm đìa nước mắt. Đúng, tất nhiên là như vậy, phụ nữ bao giờ cũng là phụ nữ, không thể khác được. Họ thương tất cả mọi người và chính vì thế mà họ hay khóc. Mà thực ra thì có chuyện gì ghê gớm lắm đâu. Ừ thì cứ cho là một năm hoặc hai năm đi nữa, chiến tranh sẽ kết thúc, khi đó chúng nó sẽ quay lại, về trường học tiếp… Với những ý nghĩ như thế Xuntanmurat thiếp đi, bên tai văng vẳng tiếng bão tuyết gầm rít ngoài cửa sổ.

Sáng hôm sau bão tuyết vẫn tiếp tục thổi mạnh, gió vẫn cứ ào ào mang theo những bông tuyết bồi thêm lên mặt đất một lớp tuyết cứng. Những đám mây đen vần vũ trên bầu trời. Xuntanmurat bị lạnh cóng trên đường đến trại ngựa.

Công việc mà ông chủ tịch nông trang Tynaliev nói, hóa ra khó khăn hơn nhiều so với những gì Xuntanmurat nghĩ. Đầu tiên, chúng cùng đi với ông chủ tịch và ông đội trưởng Sekis - một ông lão gầy guộc có bộ râu màu hung hung, ngay từ đầu đã phát cho mỗi đứa bốn bộ dây thắng - đến chỗ bãi chăn cạnh chuồng ngựa cũ. Ở đây, trên mảnh sân đất ngập đầy tuyết, những con ngựa kéo ủ rũ đi đi, lại lại, cố tìm trong những chiếc máng cỏ những sợi rơm còn sót lại. Ai cũng biết, vào mùa hè lũ ngựa thường khỏe mạnh hơn, đến mùa đông chúng sẽ gầy đi, nhưng ở đây bọn chúng chỉ còn da bọc xương. Làm việc suốt cả mùa hè, đến khi mùa đông ập xuống, chúng bị bỏ mặc ở sân nuôi tập thể, chẳng có người nào chăm sóc, nuôi nấng. Thức ăn cho chúng cũng chẳng nhiều nhặn gì, trong khi đó lại phải còn để dành đến vụ cày xuân.

Lũ trẻ dừng lại bối rối.

– Thế nào, đã thấy rõ cả rồi chứ! - Ông lão Senkis càu nhàu. - Chắc các cháu nghĩ, đến đây sẽ được cầm cương những con tuấn mã của Manas[2] chứ gì. Cứ chọn đi, các cháu không lầm đâu. Chỉ sau hai mươi ngày thôi là con nào cũng sẽ béo mọng lên như con bò mộng. Bác nói thật đấy, không có gì phải nghi ngờ cả! Đó là những con ngựa rất tốt, chỉ cần chăm sóc và cho ăn uống đầy đủ là được! Những việc còn lại thì tự các cháu cũng biết.

– Các cháu hãy đi nhận những dụng cụ cần thiết và bắt đầu công việc đi. - Ông chủ tịch khuyên. - Mỗi người chọn lấy bốn con ngựa mà mình thích.

Ngay lúc ấy, một sự bất ngờ bỗng xảy ra. Giữa những con ngựa gầy còm, bị bỏ rơi đang đứng trong sàn, Xuntanmurat nhìn thấy cặp ngựa của bố - con Chabdar và con Chontoru. Đầu tiên là nhờ bộ lông màu xám tro mà Xuntanmurat nhận ra con Chabdar, sau đó là con Chontoru. Hai chú ngựa ốm yếu, lông lá bù xù, bốn chân gầy guộc, có lẽ chỉ cần đẩy một cái là ngã lăn kềnh. Xuntanmurat cảm thấy sung sướng nhưng đồng thời bối rối lo lắng. Nó nhớ lại lần đi cùng với bố vào thành phố. Dạo ấy, trong tay bố, những con ngựa mới tuyệt làm sao. Còn bây giờ? Dạo ấy, Chabdar và Chontoru vừa khỏe mạnh vừa nhanh nhẹn, chạy song song bằng một bước kiệu đều đặn, tin tưởng. Thế mà bây giờ…

– Các bác nhìn xem đây là cặp ngựa của bố cháu! - Xuntanmurat quay về phía ông chủ tịch và ông đội trưởng kêu lên. - Chính chúng đấy! Con Chabdar và con Chontoru!

– Đúng thế, đúng thế. Đây là cặp ngựa của Becbai. - Ông lão Sekis xác nhận.

– Cháu lấy hai con ngựa ấy đi, hai con ngựa của bố ấy. Ông chủ tịch ra lệnh.

Ngoài hai con ngựa của bố ra, Xuntanmurat chọn thêm một đôi nữa - con đuôi trắng và con nâu sẫm. Thế là đã có một bộ tứ cho dàn cày loại hai lưỡi. Những đứa khác cũng chọn cho mình những con ngựa theo ý thích.

Từ ngày hôm ấy, một công việc mới mẻ bắt đầu mà vì nó bọn trẻ đã phải rời trường học vào mùa đông năm 1943…

Công việc rất nhiều, nhiều hơn là chúng nghĩ. Sáng phải đến trại ngựa thật sớm, rồi hàng ngày phải chạy đến lò rèn giúp đỡ ông già Barpy cùng với người giúp việc của ông - anh thợ phụ thọt chân chuyên quai búa - để sửa chữa các dàn cày mà sau này sẽ dùng đến. Mọi thứ trước kia bị vứt lăn lóc như một đống sắt vụn bây giờ phải tháo ra sửa chữa rồi ráp lại, cọ sạch đất cát, han gỉ. Ngay cả những chiếc lưỡi cày cũ mòn vẹt đã hết thời cũng còn được việc. Những người thợ rèn lôi chúng ra đập chan chát, kéo dài lưỡi ra rồi tôi lại trong lửa và nước. Không phải tất cả các lưỡi cày cũ đều có thể rèn lại được, nhưng mỗi khi sửa được một chiếc, ông Barpy tỏ ra đắc ý lắm. Những lúc như thế ông thường bắt anh thợ quai búa trèo lên nóc lò gọi bọn trẻ từ trại ngựa lại:

– Này, các chú thợ cày! - Từ trên nóc lò, anh thợ quai búa thọt chân gọi bọn trẻ. - Lại đây, ustake[3] gọi các cậu đấy!

Bọn trẻ chạy lại. Và lúc ấy ông lão Barpy trịnh trọng bê từ trên giá để đồ xuống chiếc lưỡi cày còn nóng, nặng trịch, ánh lên màu thép xám xanh vừa được rèn lại.

– Này cầm lấy. - Ông nói với một đứa trong bọn chúng đến lượt được nhận lưỡi cày dự trữ. - Cầm lấy, cầm lấy. Sao, có đẹp không? Ướm thử xem nào, vừa khít với diệp cày chứ? Thế nào? Cứ như là chú rể với cô dâu ấy. Khi làm việc trên đồng ruộng nó sẽ sáng bóng lên, hơn cả những chiếc gương Tashkent đấy. Có thể tha hồ ngắm dung nhan bằng những chiếc lưỡi cày này đấy! Hay là ta tặng cho cô gái nào đó chiếc lưỡi cày này thay cho chiếc gương, hả các cậu? Một món quà vĩnh cửu, không bao giờ hỏng! Còn bây giờ thì để vào cái giá kia, ở chỗ của nó ấy, khi nào ra đồng hãy mang đi. Thế đấy! Những đứa khác chờ lưỡi sau. Đứa nào cũng có phần cả. Chẳng ai để cho chúng mày thiếu lưỡi cày đâu. Bác sẽ chuẩn bị cho mỗi đứa ba bộ. Chỉ có mỗi việc bác không làm được là rèn cho mình những chiếc răng mới, còn thì việc gì bác cũng làm được tất. Các cháu sẽ còn nhiều lần phải nhớ đến chúng ta, bởi vì bộ phận quan trọng nhất của cái cày là lưỡi cày! Chỉ cần có lưỡi cày là mọi thứ sẽ đâu vào đấy cả. Lưỡi cày mà sắc thì luống cày sẽ sâu, lưỡi cày cùn thì anh thợ cày chẳng làm được tích sự gì đâu. Đấy, câu chuyện cổ tích của bác là như vậy đấy, các cháu ạ…

Ông lão Barpy là người rất tốt. Suốt đời ông làm việc ở lò rèn. Tính tình ông có vẻ hơi khoe khoang một chút, nhưng công việc thì rất thành thạo.

Lũ trẻ cũng phải thường xuyên có mặt trong xưởng làm yên cương. Ông đội trưởng Sekis bắt phải như vậy. Cần phải giúp họ một tay, ông nói, để họ sửa chữa cho xong các bộ dây thắng, yên cương. Không có dây thắng với yên cương thì đừng hòng đi đâu. Có cày, có ngựa đấy mà không có dây thắng thì cũng như không. Ông nói cũng đúng. Vì vậy, đứa nào cũng chạy ngược, chạy xuôi, cố gắng giúp đỡ những người thợ để họ làm cho mình trước.

Nhưng công việc quan trọng nhất chính là việc chăm sóc lũ ngựa. Suốt ngày từ sáng đến chiều, có hôm đến tận tối, chúng làm việc ở trại ngựa. Sau khi ném cho lũ ngựa suất cỏ khô cuối cùng lũ trẻ trở về nhà thì trời đã tối. Phải khẩn trương, khẩn trương lắm.

Thời gian còn lại rất ít. Đã cuối tháng Giêng. Chỉ còn khoảng ba mươi ngày, cùng lắm là ba mươi lăm ngày nữa để vỗ béo lũ ngựa. Liệu những con ngựa kéo ấy có kịp bình phục, đảm bảo sức khỏe để bắt đầu vụ cày không? Việc ấy bây giờ hoàn toàn phụ thuộc vào chính những người thợ cày. Lũ ngựa đang ngủ, nhưng đối với loại súc vật ấy thì trước mặt chúng, trong máng cỏ bao giờ cũng phải có thức ăn, cả đêm lẫn ngày…

Theo tính toán của ông chủ tịch Tynaliev, đến cuối tháng Hai, sau khi tuyết vừa tan, phải đưa tất cả dụng cụ cày bừa lên vùng đất Akxai. Ngày xưa, lâu lắm rồi, có thời kỳ người ta đã từng cày bừa và gieo hạt trên khu đất Akxai ấy. Nhưng sau đó, không hiểu vì sao vùng đất lại bị bỏ hoang. Cũng có thể vì Akxai là một nơi quá xa lại không có dân cư. Hơn nữa, ở đấy lại không có nước tưới, các đám ruộng phần lớn nằm trên các sườn đồi… Ông đội trưởng Sekis kể là cụ thân sinh ra ông đã từng nói với ông rằng, từ mảnh đất Akxai ấy người nông dân có thể hoặc là phải đi tha hương khắp trái đất hoặc là phải gọi người khác đến để giúp mình chở thóc. Điều quan trọng nhất là phải gieo hạt đúng thời vụ, còn mùa màng sẽ phụ thuộc vào lượng mưa. Chính ông lão Sekis đã nói như thế.

“Người nông dân bao giờ cũng dám đánh liều với trời đất, song bao giờ họ cũng hy vọng”, ông chủ tịch Tynaliev lại nói như vậy. Ông cũng hy vọng và chính vì thế mà ông đã tổ chức những đội cày với niềm tin chắc chắn rằng trời sẽ có mưa và sẽ thu hoạch được lúa mì ở vùng đất Akxai…

Ngày lại ngày trôi qua. Đến cuối tuần, những chú ngựa đã tươi tỉnh hẳn và đầy đặn lên rõ rệt, sức khỏe của chúng đang hồi phục. Ban ngày mặt trời đã bắt đầu xuất hiện và sưởi ấm đất đai. Mùa đông đang chậm chạp rút lui. Chính vì thế mà hằng ngày lũ ngựa được dẫn ra sưởi nắng ở chỗ máng ăn ngoài trời. Ngoài nắng, lũ ngựa ăn được nhiều hơn và chóng lại sức. Năm bộ tứ gồm hai mươi chú ngựa của đội quân đổ bộ Akxai xếp thành một hàng dài bên máng cỏ dọc theo hàng rào.

Vào giờ kiểm tra buổi sáng, khi ông chủ tịch xuất hiện, bọn trẻ đã có mặt sẵn sàng bên các bộ tứ của mình. Chính ông chủ tịch Tynaliev đã gọi chúng là đội quân đổ bộ Akxai. Từ đó, các đội trưởng sản xuất, những người đánh xe và chăn ngựa cũng đều gọi chúng là đội quân đổ bộ, những người lính đổ bộ hoặc là những con ngựa Akxai, rơm Akxai, những chiếc cày Akxai. Bây giờ, mỗi khi có dịp đi ngang qua trại ngựa, mọi người đều ghé vào tìm hiểu công việc của đội quân đổ bộ ra sao. Cả bản đều nói đến đội quân đổ bộ Akxai. Và mọi người cũng đều biết rằng ông chủ tịch Tynaliev đã chỉ định Xuntanmurat, con trai của Becbai, làm người chỉ huy của đội quân đổ bộ ấy. Thật ra mà nói, việc chỉ định này cũng gặp phải sự phản đối của Anatai. Nó cằn nhằn:

– Tại sao người chỉ huy lại là Xuntanmurat? Có thể chúng cháu không đồng ý như vậy!

Câu nói làm Xuntanmurat đỏ bừng mặt. Nó không chịu nổi, liền nói ngay:

– Nói chung, mình cũng không muốn làm chỉ huy đâu! Nếu cậu muốn thì cậu làm đi.

Erkinbek và Kubatkun liền lên tiếng:

– Này Anatai, cậu ghen tị à?

– Cậu muốn gì, tiếc hả? Người ta đã chỉ định như vậy có nghĩa là Xuntanmurat sẽ làm chỉ huy.

Còn Erges lại bênh Anatai:

– Tại sao Anatai lại không làm được? Cậu ấy khỏe mạnh, chỉ thấp hơn Xuntanmurat một tí thôi. Ở trong lớp, chúng ta vẫn bầu lớp trưởng thì bây giờ chúng ta cũng bầu chỉ huy. Nếu không, hơi một tí cái gì cũng Xuntanmurat, Xuntanmurat.

Ông chủ tịch Tynaliev im lặng nghe tất cả, sau đó ông mỉm cười, lắc đầu rồi nói, giọng nghiêm trang,lạnh lùng:

– Thôi không bàn cãi nữa! Tất cả lại đây, xếp thành một hàng ngang. Thế! Nếu các cháu đã thừa nhận mình là những người lính đổ bộ thì hãy hành động như những người lính đổ bộ. Còn bây giờ thì nghe bác nói đây. Hãy nhớ rằng người chỉ huy không phải là do bầu lên. Người chỉ huy bao giờ cũng được cấp trên chỉ định.

– Thế người chỉ huy cấp trên ấy thì do ai chỉ định? - Erges xen ngang vào.

– Do cấp chỉ huy cao hơn nữa.

Mọi người im lặng.

– Thế đấy, các cháu ạ! - Ông chủ tịch nói tiếp: - Trong chiến tranh, chúng ta phải sống theo kiểu thời chiến. Hãy nhớ rằng, bác chịu trách nhiệm về các cháu. Hai cháu có bố đã hy sinh, còn ba cháu kia có bố đang chiến đấu ngoài mặt trận. Bác chịu trách nhiệm về các cháu trước những người đã mất và những người đang sống. Nhưng bác dám nhận trách nhiệm ấy vì bác tin ở các cháu. Các cháu sẽ lên đường đến vùng đất Akxai xa xôi cùng với dụng cụ cày bừa. Ở đấy, trong một thời gian, các cháu sẽ phải sống ngày đêm tự lập giữa thảo nguyên mênh mông giống như những người lính đổ bộ được giao một nhiệm vụ đặc biệt. Làm sao có thể sống và làm việc được ở đấy nếu như trong bất cứ chuyện gì các cháu cũng tranh luận, cãi cọ?

Đấy, ông chủ tịch nông trang Tynaliev đã nói như thế trước toàn đội ngay trong sân trại ngựa. Người cựu chiến binh lính dù đổ bộ đứng trước mặt chúng vẫn mặc chiếc áo ca-pốt bộ đội màu xám, vẫn đội chiếc mũ quân nhân có vành che tai cũng màu xám, với khuôn mặt hốc hác lúc nào cũng có vẻ lo lắng - mặc dù ông vẫn còn trẻ - dáng đi xiêu vẹo vì thiếu mất mấy cái xương sườn cùng với chiếc xắc-cốt lúc nào cũng kè kè bên hông.

Ông chủ tịch nông trang Tynaliev đã nói như thế trước đội quân đổ bộ Akxai với người chỉ huy do ông chỉ định là Xuntanmurat, con trai của Becbai.

– Cháu phải chịu trách nhiệm về tất cả mọi chuyện. - Ông nói. - Về con người, về súc vật, về dụng cụ cày bừa, về các bộ dây thắng. Cháu phải chịu trách nhiệm về công việc làm đất ở Akxai. Chịu trách nhiệm có nghĩa là phải hoàn thành nhiệm vụ. Nếu không hoàn thành, bác sẽ chỉ định người chỉ huy khác. Còn bây giờ bác sẽ không chấp nhận bất cứ một sự phản đối nào.

Ngày hôm ấy, trong sân trại ngựa, ông chủ tịch nông trang Tynaliev đã nói như vậy trước hàng quân ít ỏi của những người lính đổ bộ Akxai.

Những chú thợ cày nhìn ông tin tưởng, kính phục, sẵn sàng hoàn thành bất cứ một chỉ thị nào. Ông đứng trước mặt chúng giống như Manas với khuôn mặt hung dữ và bờm tóc màu xám, trong chiếc áo giáp sắt, còn chúng đứng trước ông giống như những hiệp sĩ đáng tin cậy, tấm lá chắn trong tay và thanh kiếm dắt ngang lưng. Những hiệp sĩ quang vinh ấy là ai mà Manas đã đặt tất cả hy vọng và sự nghiệp của mình vào tay họ?

Người hiệp sĩ quang vinh đầu tiên chính là Xuntanmurat. Cho dù nó không phải là đứa lớn tuổi nhất, nhưng do trí thông minh và lòng dũng cảm, nó - con trai của Becbai - vẫn được chỉ định là người chỉ huy. Còn bố nó là người bố tuyệt diệu nhất trong tất cả những người bố đang chiến đấu ngoài mặt trận, trong các cuộc hành quân quang vinh đầy gian khổ. Ông đã trao lại cho nó con ngựa chiến Chabdar của mình. Ngoài ra, nó lại còn một đứa em trai nữa - thằng Adzhimurat. Nó rất yêu em, mặc dù thằng nhóc đôi khi có làm cho nó bực mình. Ngoài tất cả những chuyện đó ra, Xuntanmurat còn thầm yêu cô bạn gái xinh đẹp Myrzagun-bikets. Myrzagun-bikets có nụ cười đẹp nhất thế gian, có thân hình cân đối như một cây phong Turkmenia, khuôn mặt trắng như tuyết, còn cặp mắt thì như hai đốm lửa nhấp nháy trong đêm trên sườn núi…

Người kỵ sĩ vinh quang thứ hai là Anatai-batyr. Đó là người lớn tuổi nhất trong hàng quân - gần mười sáu tuổi. Nó không hề thua kém ai trong bất cứ chuyện gì, chỉ có điều tầm vóc hơi thấp một chút, nhưng lại được cái khỏe nhất trong cả bọn. Con ngựa của nó tên là Oktora cũng tương xứng với người hiệp sĩ. Đó là con ngựa tía phóng nhanh như tên bay. Bố của Anatai cũng đang chiến đấu ngoài mặt trận, trong các cuộc hành quân quang vinh đầy gian khổ. Và Anatai cũng thầm yêu cô bé Myrzagun-bikets xinh đẹp, có khuôn mặt tròn như vầng trăng. Nó ước ao được một lần hôn lên má người đẹp.

Người hiệp sĩ thứ ba là chàng thanh niên dễ thương Erkinbec-batyr. Cậu là con lớn nhất trong gia đình. Erkinbec là một người bạn tốt và đáng tin cậy. Thỉnh thoảng nó có hay thở dài và khóc thầm vì bố nó đã hy sinh anh dũng trong cuộc hành quân quang vinh để bảo vệ Moskva. Con ngựa chiến của Erkinbec cũng xứng đáng với người hiệp sĩ có tên là Akbaipak-kuliuk. Tên ấy có nghĩa là “Tuấn mã đi tất trắng”.

Còn người hiệp sĩ thứ tư là Erges-batyr, cũng là một người bạn và một người đồng chí. Cậu vừa tròn mười lăm tuổi. Erges thích nói thẳng ra những ý nghĩ của mình và thích tranh luận, nhưng trong công việc thì nó là một người đáng tin cậy. Bố của Erges cũng đang chiến đấu ngoài mặt trận trong các cuộc hành quân đầy gian khổ. Con ngựa của Erges cũng xứng đáng với người hiệp sĩ tên là Antyntuiak. Đó là một con ngựa có bộ móng màu vàng.

Bên cạnh các hiệp sĩ nói trên còn hiệp sĩ thứ năm nữa, đó là Kubatkun-batyr! Cậu này cũng vừa tròn mười lăm tuổi và cũng là con lớn nhất trong gia đình. Bố của Kubatkun cũng có mặt trong các cuộc hành quân đầy gian khổ và đã anh dũng hy sinh trong những cánh rừng Belarus. Kubatkun là một người lao động không biết mệt mỏi. Và cũng như bất cứ một người hiệp sĩ nào, cậu cũng yêu quý con tuấn mã của mình tên là Zhibekzhan. Đó là một con ngựa có dải bờm mượt như tơ.

Đấy, những hiệp sĩ như thế đang đứng trước mặt ông chủ tịch Tynaliev. Còn đằng sau chúng, đằng sau những bả vai gầy gò, đằng sau những mái đầu và những chiếc cổ khẳng khiu là những bộ tứ đứng dọc theo máng cỏ ngoài trời. Có tất cả năm bộ tứ, gồm hai mươi chú “nghẽo” sẽ phải kéo những chiếc cày hai lưỡi trên mảnh đất Akxai xa xôi…

Tiến vào Akxai, tiến vào Akxai! Những cánh đồng đang kêu gọi. Tiến vào Akxai khi tuyết vừa tan! Tiến vào Akxai, tiến vào Akxai với những chiếc cày! Tiến vào Akxai khi mặt đất vừa lộ ra và bắt đầu nhịp thở!

Nhưng tuyết vẫn còn đang bao phủ khắp nơi thành những lớp dày chặt. Tuy nhiên, ngày ấy đang đến gần. Và tất cả mọi công việc đang được chuẩn bị cho ngày ấy…

❀ ❀ ❀

[1] Baskarma là tên ông chủ tịch, còn Tynaliev là họ.

[2] Tuấn mã của Manas: Những con ngựa thần trong truyền thuyết về người anh hùng dân tộc Manas.

[3] Ustake: Người thợ cả lành nghề.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.