Sếu Đầu Mùa

Định dạng khác: 📖 Chữ 📕 Epub
Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5

❊ ❊ ❊

Và những ngày ấy đang đến gần…

Người ta gọi những con ngựa cày Akxai theo nhiều cách khác nhau - người thì gọi là ngựa Akxai - nhưng sự thật hiển nhiên mà ai cũng thấy rõ là sau hai tuần được chăm sóc, chúng đã khác hẳn so với những con ngựa khác trong chuồng. Những chú ngựa Akxai được ăn uống đầy đủ xếp thành một hàng dài dọc theo mảng cỏ của đội quân đổ bộ. Ai cũng cảm thấy vui mắt khi nhìn những bắp thịt lại nổi cuồn cuộn trên mình các chú tuần mã, những cặp mắt lanh lợi, những đôi tai rất thính luôn luôn ve vẩy. Tư chất ngựa trong các con vật này được phục hồi và chúng trở thành những con ngựa tử tế. Những tính nết, những thói quen đã bị quên lãng từ lâu, nay lại xuất hiện. Những chú ngựa đã quen dần với chủ mới của mình. Chỉ cần một giọng nói, một bước chân quen thuộc là những chú ngựa sẽ lẳng lặng tiến đến với chủ, khe khẽ hí lên đầy vẻ âu yếm, dụi dụi cặp môi có những cái lông tơ xúc giác mượt mà vào chủ ra vẻ tin tưởng. Còn lũ trẻ cũng quen với bầy ngựa đến mức cũng đã bắt đầu quát tháo chúng như những ông chủ và đôi khi còn chui cả xuống bụng ngựa: “Nào, nào, nhấc chân lên, lùi lại! Đứng lại, đứng lại, ôi cái đầu ngu ngốc, vẫn còn kịp cơ mà! Ái chà, cũng biết xáp đến gần, cũng biết âu yếm cơ đấy, đồ ranh ma! Ông lại cho quả đấm bây giờ, đâu phải chỉ có mình mày!”.

Những ngày đầu, khi lũ ngựa được dẫn ra sông uống nước, chúng lê bước uể oải như đang mơ ngủ, nhưng dạo này chúng bắt đầu đùa nghịch, nhất là sau khi uống nước xong trở về. Bọn trẻ thường cưỡi trên lưng những con ngựa chiến của mình xua cả đàn ra sông. Xuntanmurat cưỡi con Chabdar, Anatai cưỡi con Oktora, Erkinbec cưỡi con Akbaipak, Erges cưỡi con Antyntuiak và Kubatkun cưỡi con Zhibekzhan. Cả bọn quây xung quanh đàn ngựa và dồn chúng ra sông.

Vào mùa đông, điều quan trọng cần phải lưu ý là chỗ uống nước cho ngựa phải thuận tiện, lối đi không được trơn trợt, nhất là khi có nhiều con cùng uống một lúc. Muốn vậy, trước đó phải đập hết những tảng băng bám ở mép nước, rải rơm vào những chỗ nguy hiểm, còn vào những ngày giá lạnh phải đục những lỗ băng trên mặt sông để lấy nước. Xuntanmurat đã phân công rất cụ thể, mỗi người phải trực một ngày, làm những công việc chuẩn bị cho ngựa uống nước.

Những chú ngựa chậm rãi, không bao giờ chen lẫn nhau vục mõm xuống dòng nước mát lạnh, trong vắt dưới sự giám sát của những chàng thợ cày. Dòng nước chảy lặng lờ dưới lớp băng dọc theo bãi bồi phủ đầy đá. Dưới lớp băng cứng nước vẫn chảy róc rách, đập vào những đám tuyết dày xốp…

Đôi lúc những con ngựa ngừng uống, lắng tai nghe tiếng nước chảy, đắm mình dưới những tia nắng vàng yếu ớt, sau đó lại tiếp tục vục mõm xuống nước. Khi đã uống no nê, chúng chậm rãi quay trở về chuồng, thỉnh thoảng lại nhảy cẫng lên đùa giỡn ầm ĩ, thở phì phì qua lỗ mũi, ve vẩy đuôi và chạy lồng lên. Bọn trẻ cưỡi ngựa vờn xung quanh, la hét om sòm.

Chỉ sau một thời gian ngắn, mọi người hay ghé vào trại ngựa để nhìn ngắm những chú ngựa của đội quân đổ bộ. Chúng thay đổi đến mức không ai có thể nghĩ rằng chính những con ngựa này lại là những bộ xương “nghẽo” cách đây hơn một tháng. Các già làng trong bản không bỏ lỡ cơ hội bắt đầu bàn tán về sự kiện này, họ cho rằng trên đời không có giống vật nào nhạy cảm hơn những con ngựa nên chúng được trao vào tay những người tốt bụng và cần cù. Chỉ cần anh đối xử tốt với nó, cho dù đó chỉ là một sự việc rất nhỏ như cái móng tay là nó sẽ trả ơn anh gấp trăm lần. Rồi các cụ lại bắt đầu kể ra những câu chuyện về các giống ngựa khác nhau từ thời xa xưa.

Chỉ riêng ông chủ tịch Tynaliev là còn tiết kiệm lời khen. Với cặp mắt nghiêm khắc, xoi mói, ông chú ý xem xét bầy ngựa còn kỹ hơn cả chính những người lính đổ bộ. Ông còn kiểm tra từng chiếc cày, từng bộ đai thắng. Ngay cả những chiếc quần bị rách đầu gối, ông cũng hỏi tại sao không vá lại. Nếu mẹ có bận thì chẳng lẽ tự mình không biết cầm lấy cây kim hay sao? Ông còn hỏi cả về chăn phủ mình ngựa, khi nào thì những chiếc chăn ấy làm xong? Không thể mang theo cả chuồng ngựa đi Akxai được, mà ở đó, giữa thảo nguyên, ban đêm sẽ rất lạnh. Ông chủ tịch thúc giục, nhắc nhở, nhấn mạnh rằng thời gian còn lại rất ít, rằng có những việc nếu bây giờ không hoàn thành thì khi đến Akxai sẽ không kịp làm nữa. Đôi khi ông còn la hét, quát tháo, trách mắng cả ông đội trưởng Sekis khi những người đánh xe không kịp đưa xe tải chở cỏ chẽ ba dự trữ về cho ngựa cày, mà chủ yếu là ưu tiên cho những con ngựa Akxai.

Chỉ còn những bà mẹ của đám trẻ là chưa ai tỏ ý hoan hỉ cả. Bà này nặng lời, bà kia đay nghiến, nào là bịa đặt ra cách trừng phạt con cái người ta, vẽ vời ra chuyện đội quân đổ bộ mà từ khi cha sinh mẹ đẻ đến nay, chưa ai thấy bao giờ, nào là bố chúng đã ở ngoài mặt trận, bây giờ lại đến lượt con nữa chẳng khác gì những người lính, nào là chúng chẳng còn lúc nào để giúp đỡ gia đình, chẳng còn lúc nào để mẹ con tâm sự, chuyện trò, suốt ngày từ sáng đến tối chỉ lăn lóc ở chuồng ngựa… và các bà còn nói nhiều điều khác, nghĩ lại cho đến cùng cũng có điều nghe ra hợp lý.

Tất cả những lời phàn nàn ấy phần lớn trút xuống đầu Xuntanmurat, bởi lẽ nó là người chỉ huy. Nó phải chịu trách nhiệm về tất cả các bạn. Nhưng khó hơn cả là việc thuyết phục cho các mẹ yên lòng. Về việc này, mẹ cậu chỉ phẩy tay rồi nói, giọng mệt mỏi: “Chỉ mong sao bố trở về, khi ấy bố sẽ phán xử. Còn mẹ, thế là đủ lắm rồi. Con sẽ tỉnh ngộ ra khi nào phải nằm liệt ra đấy, nhưng lúc ấy chắc sẽ muộn…”. Tội nghiệp cho mẹ, nhưng nó biết làm sao, người khác ở địa vị nó sẽ hành động thế nào? Mỗi đứa trong đội quân đổ bộ đều có bốn con ngựa phải chăm sóc, ngoài ra còn bao nhiêu việc khác nữa. Nào cho ăn, cho uống, nào tắm rửa, chuẩn bị thức ăn rồi lại cho ăn, cho uống, lại tắm rửa, dọn phân, công việc cứ thế lặp đi lặp lại liên tục… Rồi còn công việc lau rửa và chữa chạy các vết hắc lào cũ, các vết lở loét trên vai, trên cổ những con ngựa. Người thú y khu vực cấp đủ các loại dung dịch, thuốc mỡ, nhưng công việc chữa chạy thì chính bọn trẻ phải đảm nhiệm. Mà việc ấy phải làm hàng ngày nếu không sẽ chẳng khỏi. Dù lũ ngựa có được ăn uống tốt đến đâu đi nữa nhưng cũng không thể đặt vòng cổ lên những vết thương của chúng được. Công việc như vậy đấy, biết làm sao đây! Đàn ngựa chẳng có con nào nguyên vẹn cả. Con nào cũng đầy những vết lở loét trên vai, những vết sây sát ở chân. Nhưng con ngựa đâu có hiểu là người ta đang chữa chạy cho nó, đố mà giữ được nó đấy.

Khi những con ngựa đã trở nên có da có thịt, lại phải cho chúng vận động, chạy nhảy để giãn gân, giãn cốt. Hàng ngày phải cho mỗi con ngựa chạy nước kiệu khoảng một tiếng rưỡi, nếu không, như ông đội trưởng Sekis lắm lời: “Công ấy cũng biến thành công cốc”. Và đến đây một chuyện không may đã xảy ra…

Cả bọn mỗi đứa cưỡi trên lưng một con “ngựa chiến” lùa đàn ngựa đi tập luyện. Xuntanmurat trên lưng con Chabdar, Anatai cưỡi con Oktora, Erkinbec cưỡi con Akbaipak, Erges cưỡi con Antyntuiak và Kubatkun cưỡi con Zhibekzhan. Như đã thỏa thuận từ trước, ban đầu chúng cho ngựa phi nước kiệu chạy vòng quanh sân, sau đó sẽ phi dọc theo đường cái ra ngoài bản. Ở đây, chúng cho ngựa phi nước kiệu nhanh trên cánh đồng ngập tuyết.

Hôm ấy là một ngày nắng ấm. Không khí tràn ngập ánh sáng lấp lánh, thấm đượm hương vị của mùa xuân. Những đỉnh núi phủ đầy tuyết sừng sững hiện rõ trên nền trời, người ta có cảm giác nếu như có một con ruồi xuất hiện trên sườn núi trắng tinh ấy thì chắc hẳn ở đây cũng nhìn thấy và nghe rõ cả tiếng vo ve của nó.

Mùa đông đang lui dần, vạn vật bắt đầu được mặt trời sưởi ấm.

Những chú ngựa được phi thoải mái. Chính bản thân chúng cũng muốn chạy nhảy, đùa giỡn. Nới lỏng dây cương ra, phi nhanh hơn nữa, nhanh hơn nữa! Đàn ngựa muốn chuyển sang phi nước đại. Xuntanmurat đang chạy dẫn đầu thì Anatai thúc sau lưng:

– Sao chậm thế? Phóng nhanh lên đi!

Nhưng Xuntanmurat với cương vị của người chỉ huy không cho phép phóng nhanh hơn nữa. Đây là chạy tập luyện chứ đâu phải là cuộc đua, mục đích là rèn luyện cho đàn ngựa để sau này chúng có thể kéo cày dễ dàng hơn. Đội quân vẫn tiếp tục cho đàn ngựa chạy như cũ. Một lát sau chúng ngoặt ra phía cánh đồng và chuẩn bị quay trở về thì bỗng nghe thấy tiếng người vọng từ phía bên kia đồi sang. Đám học sinh tan học đang lũ lượt kéo nhau về. Khi chúng nhìn thấy những chú lính đổ bộ liền giơ tay vẫy lia lịa. Các chú lính cũng giơ tay vẫy lại, to mồm la hét. Đó là các bạn học sinh lớp bảy cũ của các cậu cùng học sinh các lớp khác. Bọn học sinh đi thành một đám đông, cười nói ầm ĩ. Xuntanmurat nhận ra ngay Myrzagun trong đám đông ấy. Không hiểu tại sao cậu lại nhận ngay ra được, nhưng đúng là cô ấy. Có thể cậu nhận ra Myrzagun qua khuôn mặt của cô lấp ló trong chiếc khăn choàng nhỏ, qua vóc dáng, bước đi, giọng nói. Và Myrzagun có lẽ cũng nhận ra cậu. Cùng với các bạn, từ trên đồi cô chạy xuống giơ cặp lên vẫy vẫy, mồm cũng kêu la. Hình như cô kêu: “Xuntanmurat-at!”, hình như cô đang chạy thẳng đến chỗ cậu, hai tay dang rộng. Và ngay lúc ấy, trong óc Xuntanmurat một tia sáng bỗng lóe lên và cậu chợt hiểu ra rằng cậu vẫn thường xuyên nghĩ đến Myrzagun, vẫn thương nhớ cô trong suốt những ngày qua… niềm sung sướng giống như một đợt sóng bỗng dâng lên, choán ngợp tâm hồn, cuốn cậu quay tròn trong cơn xoáy…

Và thế là cả bọn chẳng ai bảo ai đều phi nước đại về phía ngọn đồi, nơi có các bạn học của mình đang ùa xuống. Các cậu phi vùn vụt, băng qua cánh đồng lên đến sườn đồi. Chúng có thể phóng dọc theo sườn đồi, diễu qua trước những cặp mắt thán phục của các bạn như một đoàn kỵ sĩ sau cuộc ngao du rồi sau đó phóng thẳng về chuồng. Xuntanmurat đã tính toán như vậy. Nhưng bỗng nhiên Anatai phóng vọt lên trước. Con ngựa Oktora của nó là một chú ngựa chạy khá nhanh.

– Dừng lại, đi đâu thế kia! - Xuntanmurat hét lên cảnh cáo, nhưng Anatai không thèm quay lại.

Một ý nghĩ kỳ lạ bỗng lóe lên làm Xuntanmurat nóng ran cả người: “Chắc cậu ta làm như vậy là để Myrzagun nhìn thấy cậu ta!”. Xuntanmurat điên tiết, không chịu thua bạn. Cậu điên cuồng thúc con Chabdar phóng theo Anatai, vừa phóng vừa la thét ầm ĩ, cúi rạp người trên lưng ngựa, Anatai càng ra roi mạnh hơn. Thế là hai chàng ganh đua xem ai thắng ai và chàng nào đến trước với cô gái, chàng nào dũng mãnh và hơn tài. Chà, chúng phi mới khiếp làm sao! Nói gì thì nói, con Chabdar vẫn khỏe hơn, chả thế mà bố nó đã từng nói Chabdar có khả năng trở thành một con ngựa đua kỳ diệu. Với vẻ đắc thắng Xuntanmurat đuổi kịp Anatai trong một cơn lốc. Cậu liếc sang và nhìn thấy tất cả lũ bạn học đang chạy ào ào bỗng dừng lại theo dõi cuộc đo sức cuồng nhiệt và cậu cũng nhìn thấy, nhìn thấy rất rõ Myrzagun giữa đám bạn ấy. Mà có lẽ là cậu cũng chỉ nhìn thấy có cô ấy thôi. Chính vì cô ấy mà cậu đã xông vào cuộc đọ sức tay đôi và đã chiến thắng. Xuntanmurat vượt qua Anatai và phóng thẳng lên sườn dốc để đến gần Myrzagun hơn và may sao là cậu đã cho ngựa vượt qua sườn đồi một chút nếu không thì ai mà lường trước được sự việc này sẽ kết thúc ra sao. Bởi vì ngay vào khoảng khắc ấy, sau khi Xuntanmurat đuổi kịp Anatai và vừa vượt được nửa thân ngựa, cậu nhận thấy hình như có chuyện gì đó xảy ra với Anatai. Thấy mọi người bỗng kêu thét lên, Xuntanmurat ghìm cương, quay đầu lại và không nhìn thấy Anatai đâu nữa. Khó khăn lắm cậu mới hãm được con ngựa đang quá đà và quay lại, bây giờ cậu mới nhìn thấy ngựa của Anatai đã bị ngã, trượt theo sườn dốc, cày trên mặt tuyết một vệt rộng nham nhở, còn chính Anatai đã bị hất văng sang một bên. Lũ trẻ chạy đến chỗ Anatai lúc ấy đang khó nhọc chậm chạp đứng dậy.

Xuntanmurat hoảng hồn. Khi nhảy xuống ngựa cậu nhìn thấy máu trên tay Anatai và càng hoảng sợ hơn. Trong một giây ánh mắt của cậu và Myrzagun gặp nhau, trông vẻ mặt cô gái tội nghiệp và bối rối, nhưng cô vẫn đẹp nhất…

Vừa hoàn hồn, Anatai liền chạy xuống ngay chỗ con ngựa đang giãy giụa trong đống tuyết chưa đứng dậy được vì bị vướng víu trong đám yên cương. Vừa lúc ấy những chú lính đổ bộ còn lại cũng kịp xô tới. Cả bọn xúm lại mỗi người một tay nâng con ngựa dậy. Lúc ấy Xuntanmurat loáng thoáng nghe thấy các bạn nói gì đó với nhau và nó hiểu rằng hình như sự việc không đến nỗi nghiêm trọng lắm.

Việc khoe mẽ trước mắt Myrzagun-bikets của các chàng hiệp sĩ đã kết thúc một cách sượng sùng như vậy. Bây giờ mà nhìn thấy Myrzagun thì xấu hổ chết. Cả bọn lặng lẽ quay về vì đã đến lúc phải đưa ngựa về chuồng. Chỉ khi về gần đến bản, Erges mới thấy con Oktora của Anatai đi khập khiễng.

– Dừng lại đã! - Nó kêu lên. - Cậu không thấy con ngựa của cậu đi khập khiễng à!

– Khập khiễng thật không? - Anatai hốt hoảng hỏi lại.

– Cậu thúc ngựa cậu vượt lên một tí xem nào! - Xuntanmurat ra lệnh. - Đi đi, để chúng tớ nhìn xem có đúng không.

Quả thật đúng như vậy. Con Oktora nghiêng hẳn sang phía chân trước bên phải. Bọn trẻ xúm lại sờ nắn và thấy khớp xương ở cổ chân con ngựa đã bắt đầu sưng lên. Thật là tai hại. Biết làm thế nào bây giờ? Bao nhiêu công lao chuẩn bị cho đàn ngựa cày vậy mà bây giờ cơ sự lại như thế. Sao lại có thể chạy đua trên sườn đồi ngập tuyết như vậy cơ chứ, vì bất cứ lúc nào ngựa cũng có thể bị trượt chân và lăn xuống chân đồi. Sự việc đã xảy ra đúng như thế. Còn may là không chết người đấy.

– Tại cậu đấy. - Bất ngờ Anatai thốt lên, mặt đỏ bừng, tức giận. - Tại cậu đã đuổi theo!

– Thế không phải chính mình đã bảo cậu: “Dừng lại, đi đâu thế kia?” hay sao?

– Thế thì đừng vượt tớ có hơn không nào!

– Thế tại sao cậu lại phóng đi?

Lũ trẻ bắt đầu cãi cọ ầm ĩ, thiếu chút nữa là đánh nhau nhưng chúng đã kịp tự kiềm chế. Thế là sau cuộc chạy tập dượt đàn ngựa trở về với một con bị khập khiễng. Cả bọn lặng lẽ đi tiếp, lặng lẽ đưa ngựa vào chuồng. Con Oktora cũng được buộc vào cạnh máng cỏ. Mà chúng còn biết làm gì hơn? Đứa nào cũng bối rối, cố tránh mặt nhau. Chúng hiểu rằng thế nào rồi cũng phải trả lời về việc này. Mấy đứa khuyên Anatai nên đến chỗ người coi ngựa và trình bày sự việc đã xảy ra, nói rằng con Oktora bị khập khiễng, bây giờ phải làm gì? Nhưng nó cứ khăng khăng:

– Tại sao mình phải đi? Mình đâu có lỗi. Chúng ta có người chỉ huy, cứ để cậu ấy đi báo cáo.

Và thế là bọn trẻ lại cãi nhau, thiếu chút nữa là đánh lộn. Điều làm cho Xuntanmurat bực mình nhất là Anatai cứ khăng khăng cho mình là không có lỗi.

– Cậu là đồ đàn bà! - Xuntanmurat nói đầy vẻ khinh bỉ. - Cậu chỉ anh hùng cái mồm! Hơi một tí là chui ngay vào bụi! Cậu tưởng mình sợ à? Nếu đã vậy thì mình sẽ đi và sẽ nói.

– Thì cứ đi đi! Cậu là chỉ huy cơ mà. - Anatai vẫn không chịu thua.

Xuntanmurat lấy hết sức can đảm kể cho người coi ngựa nghe toàn bộ sự việc đã xảy ra. Người coi ngựa hoảng hốt chạy lại xem xét con ngựa què. Mọi việc thế là ầm ĩ cả lên. Đâu phải chuyện đùa, làm ảnh hưởng đến sức kéo ngay sát vụ làm đất. Và ngay lúc ấy ông đội trưởng Sekis bỗng xộc đến. Hình như có người đã kịp nói với ông. Lúc ấy người coi ngựa vừa xem xét chân đau của con Oktora, cố xác định xem tại sao khớp xương bị sưng - bị bong gân hay bị rạn xương - thì bỗng có tiếng vó ngựa lộp cộp phía sau. Mọi người ngoái cổ lại thì thấy ông đội trưởng lù lù ngồi trên lưng ngựa đứng ngay sau lưng họ. Ông đội trưởng lặng lẽ xuống ngựa tiến lại phía bọn trẻ, mặt hầm hầm, mái tóc rối bù:

– Có chuyện gì ở đây?

– Chúng tôi nghĩ mãi mà không biết là bị bong gân hay rạn xương.

– Nghĩ, nghĩ cái gì? - Ông đội trưởng Sekis gầm lên, đỏ bừng mặt vì tức giận. - Phải đưa ngay tất cả bọn chúng ra tòa! Tôi sẽ bắn ngay tại chỗ!

Ông Sekis vung roi xông vào đám thợ cày. Bọn trẻ bỏ chạy tán loạn. Ông đuổi theo, nhưng chẳng bắt được đứa nào, chỉ tái mặt thêm vì thở dốc và lại càng tức giận hơn, tay vung mạnh chiếc roi ngựa, miệng la hét ầm ĩ:

– Chúng tôi giao những con ngựa cày ấy cho bọn nào cơ chứ! Đúng là đồ phá hoại! Đồ phát xít! Cần phải bắn hết không chừa đứa nào! Bao nhiêu công sức, bao nhiêu thức ăn trở thành công cốc! Bây giờ biết cày bằng cái gì?

Ông lão la hét, chửi toáng lên khắp sân và bỗng đụng phải Xuntanmurat. Khi các bạn bỏ chạy, Xuntanmurat vẫn đứng nguyên một chỗ. Nó đứng yên, mặt tái mét, hoảng sợ nhìn thẳng vào mặt ông đội trưởng nhưng vẫn không dám lẩn trốn trách nhiệm.

– Á à, mày đây hả! Mày vẫn còn dám nhìn mặt tao à! - Không kìm nổi, ông Sekis quất cho người chỉ huy một roi chéo từ vai xuống. Nhưng khi giơ roi lên lần thứ hai ông sực nghĩ lại, thở khò khè, giậm chân thình thịch: - Chạy đi! Đồ chó đẻ! Tao bảo mày chạy đi cơ mà! Chạy đi! Tao quật chết bây giờ!

Xuntanmurat né người sang một bên, bất giác giơ hai tay lên che mặt nhưng vẫn đứng im như cũ nhìn ông lão bằng cặp mắt sợ hãi. Nó chờ ngọn roi thứ hai quất xuống vắt chéo sau lưng, xoắn da xoắn thịt. Nó cố tập trung mọi sức lực để không bỏ chạy, để chịu đựng…

– Thôi được rồi! - Bỗng dưng ông hạ giọng sau khi đã chứng kiến sự ngang bướng của thằng bé. - Phần còn lại sau này mày sẽ nhận tiếp khi bố mày từ mặt trận trở về. Lúc ấy tao sẽ nện thêm cho mày một trận nữa vì chuyện này!

Xuntanmurat vẫn im lặng, còn ông Sekis vẫn chưa nguôi cơn giận. Ông dẫm bạch bạch hai chân, đi đi, lại lại, hai tay giơ lên:

– Người ta nói với nó là chạy đi thế mà nó cứ đứng trơ trơ! Mày thử nghĩ xem, chẳng lẽ tao đuổi kịp mày à! Sức đâu mà tao đuổi kịp chúng mày! Ít ra thì mày cũng phải chạy đi vì kính trọng tao chứ và tao cũng đỡ đau lòng hơn! Còn đánh mày, quần áo thì mỏng dính, người thì gầy như mõ làng. Cái xác mày đâu phải để cho roi vọt. Giá mà mày có da có thịt thì tao cũng nện tiếp rồi! Thôi được rồi! Mày tha lỗi cho lão già này. Khi bố mày về, hai cha con mày đánh lại tao cũng được! Còn bây giờ thì nói đi, chúng mày đã làm cái trò ngu ngốc gì vậy?

Tất cả đầu đuôi câu chuyện không may ngày hôm ấy là như vậy. Xuntanmurat là người phải hứng chịu cả. Thật đáng đời! Lúc ấy thì làm sao mà ngăn được ông đội trưởng khỏi đánh. Bao nhiêu công lao, bao nhiêu mồ hôi vất vả đổ hết xuống sông, xuống ao cả. Con ngựa què thì còn làm gì được nữa? Họa chăng chỉ để làm thịt. Mà ai nỡ lòng nào ăn thịt súc vật cày kéo! Hy vọng duy nhất, như sau này ông lão Sekis và những người am hiểu ngựa đã nói, là chỗ bị thương không nguy hiểm lắm. Con ngựa của Anatai được dẫn đến nhà một ông lão biết chữa chạy cho ngựa. Thế là hàng ngày phải chở cỏ đến, rồi lúa kiều mạch, phải cử người trực nhật ở đó. May mắn làm sao, năm ngày sau con Oktora được dẫn trở lại chuồng ngựa, nó đã khỏi.

Và nói chung là tuần lễ ấy đã trôi qua một cách nặng nề. Ở nhà, mẹ lại bị ốm. Lúc đầu mẹ chỉ cảm thấy khó chịu trong người, sau đấy thì nằm hẳn và sốt cao. Xuntanmurat đành phải ở nhà để chăm sóc mẹ và mấy đứa em. Chỉ đến khi ấy nó mới nhận thấy căn nhà của mình quả là tuềnh toàng, thiếu thốn. Khi bố ra mặt trận, trong nhà vẫn còn chục cừu, thế mà bây giờ không còn lấy một con. Hai con đã làm thịt, số còn lại đã phải bán đi để trả nợ và đóng thuế quốc phòng cùng những thứ thuế khác. Rất may là họ vẫn còn một con bò cái, bầu vú đã căng, chắc là sắp đẻ. Ngoài ra, chú lừa Bờm Đen của Adzhimurat cũng đã lớn. Đấy, tất cả gia súc của họ chỉ vậy. Mà ngay chỉ từng ấy thôi cũng chẳng biết lấy gì cho chúng ăn. Trên nóc nhà kho vẫn còn giữ lại được một số bắp khô, may ra cũng chỉ đủ cho con bò cái đến kỳ sinh nở nếu như mùa đông không kéo dài, còn nếu mùa đông kéo dài, ai mà biết được sự thể sẽ ra sao. Riêng chú lừa con phải tự kiếm lấy thức ăn. Nó có thể gặm cỏ dại mọc quanh sân. Về chuyện củi đốt, lại còn gay hơn nữa - phân khô sắp hết mà củi cành còn lại cũng chỉ đủ cho vài ngày. Còn sau đó? Con chó Aktos cũng đói rã. Xuntanmurat buồn bã, chán nản. Nó cảm thấy hổ thẹn cho chính bản thân mình. Suốt ngày cắm đầu vào công việc ở trại ngựa chuẩn bị cho đội quân đổ bộ Akxai, nó không để ý thấy nhà cửa đã lâm vào tình trạng hoang vắng. Khi bố còn ở nhà có khi nào lại như vậy đâu? Bao giờ bố cũng dự trữ cỏ khô đủ cho mùa đông và mùa xuân. Củi đốt cũng chuẩn bị đầy đủ. Nói gì nữa, khi bố còn ở nhà cuộc sống của gia đình được sắp đặt khác hẳn, hợp lý, đầy đủ, đâu ra đấy. Mà chẳng phải chỉ ở nhà, ở đâu bố cũng làm được như thế. Chỉ nói riêng cái sân thôi, bây giờ trông cũng đã khác. Có cảm giác, như thiếu thiếu một cái gì, cứ như là lá trên cây vào mùa thu vậy. Bản làng vẫn ở nguyên chỗ cũ, đường sá và những ngôi nhà vẫn như cũ, thế mà không biết tại sao trông vẫn không giống như hồi bố còn ở nhà. Ngay cả những tiếng gõ lọc cọc của những chiếc xe tải đi trên đường cái bên cạnh sân, nghe cũng không còn có vẻ háo hức, thích thú như dạo bố còn ở nhà, bố cũng đi trên những chiếc xe ấy, trên con đường ấy…

Những người có dịp đi Dzhambul về kể lại rằng mọi thứ ở đấy đều trở nên đắt đỏ, dân chúng cũng bị đói kém, lo âu và ai đến đấy cũng muốn về cho mau. Nghĩa là thành phố cũng không còn như xưa nữa, như hồi hai cha con đã tới.

Tại sao lại thế nhỉ? Hắn là vì không có bố nên mọi chuyện đã trở nên tồi tệ… Không biết bố đang ở đâu, có chuyện gì xảy ra với bố không? Bức thư cuối cùng gia đình nhận được cách đây đã một tháng rưỡi. Mẹ thở dài, an ủi rằng thư từ hay bị thất lạc, nhất là những bức thư từ mặt trận. Hơn nữa, chắc ở ngoài ấy chẳng ai còn thời gian đâu mà nghĩ đến chuyện viết thư. Mẹ nghĩ như vậy cũng có lý. Hồi bố đi công trường thủy lợi đào kênh Chuiski, thư về chậm là một chuyện, còn đằng này là những bức thư từ mặt trận. Ai cũng phải suy nghĩ về điều ấy, cả mẹ và đám con cái trong nhà.

Hôm kia, lúc trời còn sớm, bỗng nhiên con chó sủa rộ lên một lát sau đó nó thôi sủa và rên ư ử tỏ vẻ mừng rỡ. Có tiếng gõ vào cửa sổ. Mẹ đang ốm nằm trên giường liền nhỏm dậy vẻ mặt tươi tỉnh. Xuntanmurat chạy ngay lại chỗ cửa sổ. Có người đang đứng ngoài cửa. Mẹ là người đầu tiên nhận ra người đó.

– Cậu Nurgazy đến. - Mẹ nói với nó. - Con ra đón cậu đi. - Sau đó mẹ lại vào giường, hai hàm răng đánh lập cập vì lạnh.

Người anh ruột của mẹ là cậu Nurgazy sống ở trên núi, cả đời làm nghề chăn cừu cho nông trang bên cạnh. Có lần người ta đã gọi cậu nhập ngũ mặc dù cậu đã quá tuổi tòng quân từ lâu rồi, nên sau đó từ Dzhambul người ta lại trả cậu về cùng với một số người chăn cừu khác. Cậu đi, đàn cừu chẳng có ai chăm sóc, không lẽ lại bỏ mặc. Đã lâu cậu Nurgazy không đến, vì vậy khi thấy cậu xuất hiện cả nhà rất mừng. Lần này, khi nghe tin em gái bị ốm, cậu tranh thủ xuống núi từ tối, lúc đàn cừu đang giữ trong bãi chăn. Cậu không ở chơi được lâu chỉ đến thăm một chút xem mọi chuyện ra sao rồi phải về ngay.

Với vóc dáng to lớn, chắc nịch, khuôn mặt dãi dầu mưa nắng lấm tấm những hạt sương muối, trong chiếc áo choàng bằng lông dày, đầu đội mũ rộng bằng lông cáo, chân đi ủng bằng dạ ống cao tới đầu gối, cậu bước vào nhà mang theo cả hơi lạnh lẫn mùi cừu. Ngay lập tức căn phòng trở nên chật chội và náo nhiệt. Cậu bỏ mũ ra, ngồi xuống cạnh giường mẹ, cầm lấy bàn tay nóng bỏng của mẹ trong bàn tay chắc nịch của mình rồi xem mạch. Cậu nghe rất kỹ. Cổ tay xương xẩu của mẹ nằm lọt thỏm trong bàn tay cứng cáp với những ngón màu nâu sẫm co lại một cách vụng về của cậu. Hình như cậu đã xác định được một điều gì đó. Cậu ho khẽ một tiếng và sau khi suy nghĩ một lát cậu đưa tay lên cằm vuốt râu, mỉm cười nói với Xuntanmurat:

– Không có gì đáng ngại cả! Mẹ cháu chỉ bị cảm lạnh, hơi nặng một chút thôi. Chắc là bị nhiễm lạnh quá lâu. Cậu cũng đoán thế nên có mang về ít thịt và mỡ cừu ướp muối. Chỉ cần húp một bát surba[1] nóng với mỡ cừu ướp muối, cho thêm hành, hạt tiêu để mồ hôi toát ra là khỏi ngay thôi. Cậu dặn mẹ như vậy. Còn cháu, Xuntanmurat, cháu hãy mang cái túi đồ trên lưng ngựa vào đây, lấy hết các thứ trong đó ra… Cậu ngồi chơi một lát rồi phải đi ngay, không thể bỏ đàn cừu được.

Trong lúc mẹ nói chuyện với cậu về mọi chuyện sinh hoạt, đời sống, Xuntanmurat đã kịp nhóm lò, pha trà. Lúc ấy mấy đứa em cũng vừa thức dậy. Chưa kịp mặc quần áo, chúng nhảy xuống giường, sà ngay vào lòng cậu. Cậu ủ chặt lũ trẻ trong chiếc áo choàng để ngồi cạnh mình, nhưng chúng cứ leo lên đùi, lên cổ cậu. Nhất là thằng Adzhimurat - đứa cháu cưng của cậu - dở trò nũng nịu, hệt con nít. Nó cứ quấn quýt, rúc rúc đầu vào người cậu, cứ như một chú bê con, mặc dù đã học lớp ba rồi chứ ít đâu. Nó lấy mũ lông cáo của cậu đội lên đầu, với lấy chiếc roi da của cậu rồi leo phắt lên cổ cậu và nhún nhảy làm điệu bộ của người đang cưỡi ngựa vậy.

– Mày không biết xấu hổ à? Xuống ngay! - Xuntanmurat giật nó xuống hai lần, nhưng chính cậu Nurgazy lại bảo:

– Đừng động đến nó, cứ để nó nghịch một tí.

Sáng hôm ấy ồn ào, vui vẻ làm sao! Song đã đến giờ Adzhimurat đi học nhưng nó chẳng chịu sửa soạn gì. Khi ấy mẹ buộc phải quát nó một tiếng, thế mà nó vẫn cứ lì ra và tiếp tục quấn quýt quanh cậu nó. Cậu Nurgazy đành phải nhắc nó nhanh nhanh lên. Khó khăn lắm mới bắt được nó mặc quần áo. Rồi sau đó, chính Xuntanmurat phải lôi nó ra cửa. Thằng bé bướng bỉnh cự lại và khi đã bị lôi ra khỏi cửa nó liền hét toáng lên. Thật tội nghiệp cho nó, cuối cùng nó cũng vẫn đi học, nhưng vừa đi vừa ấm ức khóc.

Cậu Nurgazy bênh đứa cháu cưng:

– Cháu làm gì thằng bé thế? - Ông nhìn Xuntanmurat vẻ trách móc.

– Có gì đâu, taiake[2], cháu có động đến người nó đâu.

– Sao nó lại khóc?

– Anh ơi, Xuntanmurat không làm gì em nó đâu. - Mẹ như hiểu ý, nhấc đầu dậy nói chen vào. - Không phải đâu, anh Nurgazy ạ, nó nhớ bố nó đấy thôi. Chính vì thế mà lũ trẻ cứ bám lấy anh. Thật là khốn khổ. Cả nhà chờ tin bố nó hết cả hơi anh ạ, giá mà biết được dù chỉ một tin nhỏ. Đã gần hai tháng rồi mà chẳng nghe ngóng được gì…

Cậu Nurgazy an ủi mẹ, khuyên giải đừng khóc và giữ sức khỏe để chăm sóc cho bọn trẻ. Cậu kể những trường hợp đôi khi người ta cứ tưởng là đã chết rồi, thế mà nửa năm sau lại bỗng nhận được thư. Chiến tranh là như vậy…

Chính lần ấy, bên cạnh người mẹ đau yếu, Xuntanmurat đã cảm nhận được một cách đầy đủ sự trống vắng trong cuộc sống khi thiếu bố. Giá còn bé như Adzhimurat, nhất định nó sẽ gào khóc lên cho thỏa nỗi thương nhớ. Và nó sẽ lao ra ngoài đường khóc cho mọi người thấy. Chỉ cần một chút hy vọng mong manh nào đó thôi. Cho dù bố không về ngay bây giờ cũng được, miễn là bố vẫn còn sống, khi ấy chắc sẽ dễ thở hơn và sẽ chịu đựng được, sẽ đợi được. Lúc này Xuntanmurat mới thông cảm được một cách sâu sắc nỗi lòng của cô giáo Inkaman-apai của mình.

Có lần cô giáo đến trại ngựa để chờ xe đi nhờ lên huyện. Vẫn trong chiếc khăn len đan sợi thô, cô đứng bên cái cổng xiêu vẹo, dáng vẻ đơn độc, khuôn mặt già hẳn đi với cặp mắt buồn tê tái. Nhưng chỉ một ngày sau khi cô ở trên huyện về, cô trở nên một người khác hẳn, cô trẻ lại nhiều đến mức khó nhận ra cô giáo hôm qua. Hay nói cho đúng hơn, cô đã trở lại như xưa. Ngay cả những nếp nhăn trên mặt cô cũng biến đi đâu mất cả. Cô niềm nở, quan tâm đến công việc của những đứa học trò của mình. Xuntanmurat dẫn cô đi xem khắp chuồng ngựa, chỉ cho cô xem những con ngựa của đội quân đổ độ.

– Đây là những bộ tứ của chúng em, cô Inkaman-apai ạ! Chúng đứng dọc theo máng cỏ ấy.

– Những con ngựa đẹp thật, nhìn là biết ngay chúng được chăm sóc cẩn thận. - cô giáo khen.

– Giá cô nhìn thấy trước kia chúng như thế nào. - Xuntanmurat kể: - Con nào cũng kiệt sức, lở loét đầy mình, vai bị trầy da, mưng mủ, chân cẳng xây xước. Còn bây giờ thì chính chúng em cũng không nhận ra ngựa của mình nữa. Con Chabdar của em đây, cô Inkaman-apai ạ. Cô thấy có tuyệt không? Con này bố em để lại đấy. Còn đây là con Akabakai, đây là con Gientaman…

Sau đó, nó chỉ cho cô giáo xem những bộ đai thắng chuẩn bị cho vụ cày đã làm gần xong, rồi đi xem những chiếc cày. Tất cả đã được chuẩn bị đâu vào đấy, ngay bây giờ có thể thắng ngựa, cày ngay được…

Cô giáo tỏ ra rất hài lòng. Đến lúc chia tay, cô mới thú nhận rằng lúc đầu cô rất đau khổ vì chuyện này, trong thâm tâm cô không đồng ý với việc bắt lũ trẻ phải bỏ học. Còn bây giờ cô đã nhận thấy sự hy sinh ấy không phải là vô ích. Điều quan trọng nhất hiện nay,cô nói, là chúng ta phải chiến thắng để mọi người từ mặt trận sớm trở về, còn sau đó chúng ta sẽ làm bù lại những công việc đã bị bỏ qua. Nhất định chúng ta sẽ làm được…

Té ra là cô giáo Inkaman-apai vừa đến gặp một bà thầy bói nổi tiếng. Bà này có cái lệ là nếu như quẻ bói là điềm tốt thì bà sẽ không lấy một xu tiền công, vì bà có thói quen bao giờ cũng mừng cho hạnh phúc của người đi cầu may như hạnh phúc của chính mình, bởi vậy mà bà không bao giờ bà nói láo. Sau khi đã rút bài ba lần, bà thầy bói nói với cô rằng con trai cô vẫn còn sống, không bị bắt mà cũng chẳng bị thương, chỉ có điều anh đang đảm nhận nhiệm vụ không được phép viết thư. Còn lúc nào người ta cho phép thì lúc ấy cô sẽ thấy, thư về liên tục… Không biết chuyện ấy có thật hay không nhưng chính người đánh xe đã chở cô lên huyện kể cho Xuntanmurat nghe lúc họ ở trong trại ngựa.

Xuntanmurat rất ngạc nhiên khi biết rằng chính cô Inkaman-apai lại đi xem bói, nhưng bây giờ khi hiểu được những nỗi lo lắng và đau khổ của cô, nó thầm nghĩ, khi nào mẹ đỡ hơn nó cũng sẽ khuyên mẹ đi xem bói để hỏi về tin tức của cha xem sao.

Mỗi khi nghĩ về tất cả những chuyện ấy quả thật là nặng nề và đáng sợ. Tuy nhiên, vẫn có những giây phút mà những ý nghĩ của Xuntanmurat trở nên tươi sáng và dễ chịu hơn giống như những dòng nước từ sâu dưới lòng đất vẫn lặng lẽ tuôn trào lên qua những mạch ngầm. Đó là những ý nghĩ về Myrzagun. Mặc dù cậu dường như cố tình không nghĩ đến chuyện ấy nhưng những ý nghĩ như vậy cứ tự nhiên kéo đến giống như cây cỏ tự vươn lên khỏi mặt đất. Chính điều ấy từ trong bản chất của nó đã chứa đựng một niềm sung sướng ngọt ngào và vì vậy mà Xuntanmurat không muốn chia tay với những ý nghĩ ấy, vẫn cứ muốn nghĩ mãi về Myrzagun. Và mỗi khi nghĩ đến cô, cậu lại muốn làm một việc gì đó, không hề run sợ trước bất kỳ chuyện gì, bất cứ một tai họa hoặc một khó khăn nào. Nhưng điều cậu mong muốn hơn cả là Myrzagun sẽ phải biết tất cả những điều đó, tất cả những gì mà cậu nghĩ về cô.

Xuntanmurat không thể hiểu được một cách rõ ràng, tất cả những điều đang xảy ra với mình gọi là gì. Tuy nhiên, cậu cũng lờ mờ đoán ra rằng có lẽ đấy chính là tình yêu mà cậu vẫn thường nghe người khác nói hoặc đã từng đọc trong sách. Không chỉ một lần các chàng kỵ sĩ trước khi lên đường ra mặt trận đã từng nhờ cậu chuyển những bức thư dán kín cho một cô gái hay một phụ nữ nào đó. Cậu hãnh diện thực hiện những nhiệm vụ bí mật ấy mà không hề lộ ra một lời nào với bất cứ ai. Chẳng lẽ đàn ông lại đem nói ra những chuyện như vậy! Lại còn có cả chuyện một anh người họ hàng xa đã nhờ cậu viết thư. Giamankun là một thanh niên còn trẻ, chữ nghĩa ít lắm, sống lang thang ở trên núi với đàn cừu, từ nhỏ không được học hành tử tế. Anh nhận được giấy gọi nhập ngũ. Chàng thanh niên muốn chia tay với người yêu của mình bằng cách giãi bày trên giấy những tình cảm chân tình đối với cô gái, vì việc gặp gỡ trực tiếp với một cô gái chưa chồng ở trong bản là điều không được chấp nhận. Và thế là anh chàng ít chữ Giamankun phải nhờ đến cậu con trai người họ hàng. Giamankun đọc và Xuntanmurat ghi lại tất cả những lời của anh nói. Khi đó Xuntanmurat cảm thấy tức cười vì cái sáng kiến ấy, vì nỗi Giamankun tỏ ra rất hồi hộp và xúc động khi chọn từng lời để cho cậu em viết hộ. Khi anh ta đọc xong bức thư, cậu có cảm giác như cổ họng anh ta khô rát. Trước đó, Xuntanmurat đã một mực từ chối món quà tặng của anh ta là một con dao nhỏ có cán bằng sừng cừu nhưng không được, cuối cùng cậu đành phải nhận. Giờ đây, cậu đâu có ngờ rằng chỉ sau đó một năm chính cậu cũng phải trải qua tất cả những gì đã làm hộ cho người anh họ Giamankun tội nghiệp kia.

Bây giờ, bỗng cậu nhớ lại những câu thơ của Giamankun tự sáng tác trong những giây phút tâm hồn cô đơn ở trên núi. Cậu lẩm nhẩm đọc:

Akxai, Kokxai, Xaryxai.

Ta đi khắp nơi,

Nhưng chẳng tìm đâu ra mảnh đất nào giống như người…

Và Xuntanmurat chợt nảy ra ý nghĩ: Cậu cũng sẽ viết thư cho Myrzagun! Và khi đã tìm ra cách để có thể diễn đạt những tình cảm của mình trong lúc hai đứa xa nhau mà không sợ xấu hổ, cậu cảm thấy trong lòng dâng lên một khát vọng muốn thực hiện ý nghĩ tốt đẹp nào đó để tất cả mọi người cũng được hạnh phúc như mình. Trước hết, cậu cần phải giúp đỡ mẹ để mẹ chóng bình phục, để mẹ ít phải lo lắng hơn về bố, để mẹ lại có thể tiếp tục làm việc ở trại chăn nuôi, để căn nhà trở nên ấm cúng, để mẹ có thể đoán biết được phần nào chuyện thằng con trai của mẹ đang yêu đứa nào đó và vì vậy tất cả mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp hơn….

Sau hai, ba ngày ở nhà, Xuntanmurat đã làm được hàng núi công việc mà suốt cả năm chưa chắc nó đã làm nổi. Khắp trong nhà ngoài ngõ được dọn dẹp, sửa sang lau chùi sạch sẽ. Thỉnh thoảng cậu lại ngó vào giường mẹ nằm và hỏi:

– Mẹ thấy trong người thế nào? Mẹ có cần gì không?

Mẹ mỉm cười chua chát trả lời:

– Bây giờ có chết mẹ cũng chẳng sợ nữa. Đừng lo gì con ạ, nếu cần gì mẹ sẽ nói….

Đến tối, lúc mọi người đã ngủ cả, Xuntanmurat ngồi viết bức thư. Cậu cảm thấy bối rối mặc dù không có ai và chẳng có điều gì làm phiền cậu. Thế mà cậu vẫn cứ thấy hồi hộp. Đầu tiên cậu suy nghĩ xem nên bắt đầu bức thư như thế nào. Cậu cầm bút lên, rồi đặt bút xuống, ướm đi ướm lại cho vừa ý. Những ý nghĩ cứ lộn xộn giống như những quầng sóng trên mặt nước khi có hòn đá ném xuống, không theo một trật tự nào cả. Cậu muốn giãi bày tất cả những gì đang ấp ủ trong lòng, vậy mà khi ngòi bút vừa chạm xuống trang giấy là cậu cảm thấy những từ ngữ ấy chẳng ăn nhập chút nào với những điều mình muốn nói. Đầu tiên, cậu muốn nói với Myrzagun rằng cô là một người con gái xinh đẹp, đẹp nhất bản, chẳng những chỉ đẹp nhất bản thôi, mà còn đẹp nhất thế giới nữa. Cậu sẽ nói với cô rằng, đối với cậu trên đời này không có gì hạnh phúc bằng được ngồi trong lớp và ngắm nhìn cô, chiêm ngưỡng sắc đẹp của cô. Nhưng bây giờ cuộc sống của cậu đã thay đổi rồi, rằng cậu cùng với đội quân đổ bộ của mình không được đến trường nữa mà cũng chẳng biết đến bao giờ mới trở lại trường để học tiếp. Bây giờ cậu ít được nhìn thấy cô hơn và chính vì thế mà cậu rất đau khổ và thương nhớ, nhớ lắm, nhớ đến muốn khóc lên được. Cậu cũng không định thú nhận điều đó bởi lẽ một người đàn ông luôn luôn phải là đàn ông, nhưng đúng là có lần nước mắt cậu đã trào lên mi, chỉ chực rơi xuống. Trong lá thư này cũng cần phải giải thích cho Myrzagun hiểu rằng chẳng phải ngẫu nhiên hoặc vô cớ mà vào giờ ra chơi có lần cậu đã xán đến chỗ cô với dáng điệu có vẻ xấc xược như vậy. Và đáng lý ra cô không nên lảng tránh cậu như thế, vì cậu hoàn toàn không có một ý định xấu xa nào. Cậu cũng muốn giải thích với Myrzagun rằng trường hợp xảy ra trong lúc đua ngựa là do thằng Anatai đểu cáng đã nghĩ ra chuyện muốn tỏ ra mình là người mạnh nhất, dũng cảm nhất và nói chung là người quan trọng nhất trong đội quân đổ bộ. Nhưng kết quả như chính Myrzagun đã thấy, nó chẳng đạt được một thắng lợi nào cả. Chỉ tiếc một điều là con ngựa Oktora lại bị thương. Nhưng cái điều quan trọng nhất mà nó muốn nói là khi nó vừa nhìn thấy Myrzagun trên đỉnh đồi giữa đám bạn cùng lớp, nó bỗng hiểu ngay ra rằng nó đã yêu cô từ lâu lắm rồi, yêu tha thiết. Và khi cô chạy từ đỉnh đồi xuống, hai tay dang rộng, miệng kêu lên một tiếng gì đó, lúc ấy trông cô rất đẹp. Myrzagun chạy đến với cậu giống như giai điệu kỳ diệu của bản nhạc, như dòng thác, như ngọn lửa.

Ngọn đèn trên bệ cửa sổ đã hai lần phải đổ thêm dầu, bấc đã cháy gần hết. May là mẹ nằm ở buồng khác nên không nhìn thấy cậu đốt hết chỗ dầu hỏa cuối cùng. Vậy mà bức thư vẫn chưa đâu vào đâu và không phải vì chẳng có gì để nói mà ngược lại, chính vì cậu muốn nói tất cả mọi chuyện cùng một lúc.

Trong bản, tất cả các cửa sổ đã tối om, không một tiếng chó sủa, mọi người cũng đã ngủ từ lâu trong cái đêm tháng hai sâu lắng, dưới thung lũng, bên ngọn núi Manas phủ đầy tuyết trắng. Ngoài cửa sổ, màn sương dày đặc lan tỏa khắp nơi. Có cảm tưởng như trên khắp trái đất này chỉ còn mình cậu cùng với đêm đen là vẫn còn thức với những ý tưởng đang phiêu diêu về với Myrzagun.

Cuối cùng, Xuntanmurat quyết định dứt khoát. Sau khi đã mở đầu bức thư bằng hàng chữ “Ashyktyk kat”[3], cậu đề bức thư này dành cho cô gái kỳ diệu M hiện đang sống ở bản, sắc đẹp của nàng có thể thay thế cho ánh sáng của ngọn đèn trong căn nhà này. Tiếp theo, cậu viết: Ở ngoài chợ có hàng nghìn người vẫn thường gặp nhau nhưng chỉ có những người muốn bắt tay nhau mới dừng lại để chào hỏi. Tất cả những điều ấy cậu nhớ lại trong bức thư viết hộ người anh họ Giamankun. Sau đó, cậu cam đoan rằng cậu muốn hiến dâng tất cả cuộc đời mình cho đến hơi thở cuối cùng cho Myrzagun, rồi vân vân và vân vân… Kết thúc bức thư cậu nhớ lại mấy vần thơ của Giamankun:

Akxai, Kokxai, Xaryxai.

Ta đi khắp nơi,

Nhưng chẳng tìm đâu ra mảnh đất nào giống như người…

❀ ❀ ❀

[1] Surba: Súp thịt.

[2] Taiake: Cậu.

[3] Ashyktyk kat: Một bức thư tình.

Nguồn: vnthuquan
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 15 tháng 9 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.