“Thứ Sáu, ngày 13; mình đã đoán trước mà. Nếu Bob đã nhúng tay vào thì thể nào cũng có chuyện lôi thôi to, nhưng tôi sẽ xem mình có thể làm gì được.”
Khi tôi buông ống nghe xuống, âm thanh giọng nói của chính tôi dường như xé tan màn sương mù của năm năm đày ải, đưa tôi trở lại thế giới của “Quá khứ” cứ như thể khoảng thời gian ấy chưa từng trôi qua.
Tôi đang ngồi trong văn phòng, để dải băng ghi máy chạy qua kẽ tay trong khi từng thước giấy đều lặp đi lặp lại từ “hoảng loạn” với một âm vực ngày càng dâng cao, thì họ báo rằng Brownley đang ở sảnh Giao dịch muốn tôi nghe điện thoại, và phải “nhanh lên”. Brownley là cộng sự trẻ tuổi đồng thời là nhân viên giao dịch tại sàn của chúng tôi. Cậu ấy nói với giọng gấp gáp. Các nhân viên sàn Giao dịch Chứng khoán trong những phen hoảng loạn chẳng bao giờ nói năng ấp úng.
“Ông Randolph, ở đây đang nóng bỏng tay rồi, và mọi thứ còn đang leo thang từng giây. Chính là Bob — điều đó ai cũng thấy rõ. Nếu gã cứ tiếp tục đà này thêm hai mươi phút nữa, ngọn lửa địa ngục sẽ tràn ngập ‘Phố Wall’, lan tới các ngân hàng và ra cả vùng ngoại ô, và chẳng ai dám chắc ngày mai sẽ còn lại bao nhiêu vùng đất bị thiêu rụi. Mọi người đã nài nỉ tôi gọi ông hãy lao vào vũng lừa để chặn gã lại. Họ đồng thuận rằng ông là hy vọng duy nhất lúc này.”
“Cậu có chắc, Fred, đây là trò của Bob không?” Tôi hỏi. “Cậu đã gặp nó chưa?”
“Rồi, tôi vừa từ văn phòng của gã ra đây, và thật sự mừng vì đã thoát thân được. Gã đang nổi giận lôi đình, ngài Randolph ạ — trông đáng sợ hơn bất cứ lần nào tôi từng thấy. Lần trước gã lồng lộn lên cũng chỉ như trò trẻ con so với tâm trạng ngày hôm nay. Sáng nay mẹ có gửi tin nhắn cho tôi rằng ngụ ý cơn điên ấy đã manh mún từ tối qua. Gã đã đến thăm mẹ và các em gái, và qua giọng điệu của gã, mẹ nghĩ gã sắp sửa biến mất một lần nữa. Khi mẹ kể cho tôi nghe về tâm trạng của gã, kết hợp với việc nhớ lại hôm nay là ngày gì, tôi đã vô cùng sợ rằng gã sẽ tìm cách trút giận ở đây. Hơn nữa, tôi còn nghe nói gã la cà khắp thị trấn tận mười hai giờ đêm qua. Ngay phút tôi đẩy cửa văn phòng gã sáng nay, gã đã chồm tới như một con báo đen. Tôi bảo rằng mình chỉ ghé qua nhân tiện đi tuần xem có lệnh nào không, vì tình hình đang trôi tuột đi khá nhanh, và biết đâu gã lại muốn vớt vát vài món hời. ‘Món hời ư!’ gã gầm lên, ‘Cậu không biết hôm nay là ngày gì à? Không biết hôm nay là thứ Sáu ngày 13 sao? Cút ngay về cái hố địa ngục ấy mà bán, bán, bán đi.’ ‘Bán cái gì và bao nhiêu?’ tôi hỏi. ‘Bất cứ thứ gì, tất cả mọi thứ. Cứ tống cho đám quân cướp ấy mọi cổ phiếu chúng muốn, và khi chúng không thèm nhận nữa, cứ nhét ngập cổ họng chúng cho đến khi chúng nôn ra hết những gì đã mua trong suốt ba tháng qua!’ Lúc bước ra ngoài, tôi đụng mặt Jim Holliday và Frank Swan đang hớt hải lao vào. Rõ ràng họ đang thi hành lệnh của Bob, và đã xả hàng Anti-People’s suốt một tiếng đồng hồ nay. Chỉ vài phút nữa thôi họ sẽ lại có mặt trên sàn, nên tôi nghĩ gọi điện cho ông trước khi bắt đầu bán tháo vẫn là an toàn nhất. Thưa ông Randolph, họ không thể kham thêm nổi thứ gì ở đây nữa đâu, và nếu tôi bắt đầu ném cổ phiếu ra, tiếng búa chủ tịch sẽ vang lên trong vòng chưa đầy mười phút; điều đó đồng nghĩa với việc thông báo một tá vụ phá sản. Bây giờ còn hai mươi phút nữa là đến một giờ và chỉ Chúa mới biết điều gì sẽ xảy ra trước ba giờ. Mọi việc đều trông cậy vào ông đấy, ngài Randolph, và nếu tôi không đoán sai, ông chẳng còn nhiều thời gian để chần chừ đâu.”
Chính khoảnh khắc ấy tôi đã đặt ống nghe xuống cùng câu nói: “Tôi đã đoán trước mà!” Trong lúc dán mắt vào dải băng ghi máy, chứng kiến năm tới mười triệu đô-la bốc hơi khỏi giá trị thị trường chỉ trong vài phút ngắn ngủi, tôi thừa biết đây là kiệt tác của Bob Brownley. Chẳng ai khác trên Phố Wall lại có đủ quyền lực, gan lì và sự tàn độc đến rợn người để quấy tung mọi thứ lên như cách chúng vừa bị xé nát trong hai mươi phút vừa qua. Tối hôm trước, tôi vô tình chạm mặt Bob ở sảnh nhà hát. Tôi đã quan sát gã thật kỹ và nhận ra cái ánh nhìn mà hơn ai hết, tôi là kẻ hiểu rõ ý nghĩa nhất. Đôi mắt nâu to lớn đờ đẫn nhìn vào hư vô; khóe ngoài của cái miệng đẹp đẽ mím chặt và căng cứng như thể đang oằn mình chịu nặng. Vì đi cùng vợ nên tôi không thể bám theo gã, nhưng khi về đến nhà, tôi đã gọi điện đến nhà riêng lẫn các câu lạc bộ của gã, định mời gã ghé qua làm điếu xì-gà với tôi, ngặt nỗi chẳng thể dò ra tung tích gã ở đâu. Sáng ra tôi lại gọi lần nữa nhưng vẫn bặt vô âm tín, và rồi khi tiếng chuông và băng giấy bắt đầu nhảy múa, lóe sáng cùng gầm rít vào lúc gần trưa, tôi sực nhớ đến tâm trạng tồi tệ của Bob cùng nhữngềm gở mà nó báo hiệu.
Fred Brownley là em út của Bob, kém anh mình mười hai năm. Cậu đã làm việc cho hãng Randolph & Randolph kể từ ngày rời ghế nhà trường, và hơn một năm nay đã trở thành nhân viên giao dịch chứng khoán được tin tưởng nhất của chúng tôi. Khi ở trạng thái bình thường, Bob Brownley cưng chiều “cậu em út” — theo cách gọi của gã — chẳng kém gì người mẹ miền Nam xinh đẹp yêu quý cả hai; nhưng một khi con quỷ đã ám lấy Bob — và thâm niên "ngựa quen đường cũ" trong suốt năm năm qua của gã không phải là ít — thì cả mẹ lẫn em đều phải lùi xuống hàng sau cùng phần còn lại của thế giới, bởi lúc ấy Bob chẳng màng họ hàng thân thích hay bạn bè gì nữa. Cả thế giới rộng lớn đối với gã trong những khoảng thời gian đó chẳng khác nào một khu rừng rậm đầy rẫy thú dữ và loài bò sát để gã săn lùng, chiến đấu, cắn xé và tiêu diệt.
Thật chẳng cần thiết phải giải thích thêm Randolph & Randolph là ai. Hơn sáu mươi năm qua, cái tên ấy đã tự khẳng định vị thế của mình ở bất cứ xó xỉnh nào trên thế giới nơi những cỗ máy in tiền vận hành. Chẳng có dự án đường sắt nào được tài trợ, chẳng có "tập đoàn công nghiệp" lớn nào được dựng lên, mà lại không theo thói quen cung kính nón trên tay xin phép một câu với Randolph & Randolph; và mọi quốc gia khi bước chân vào thị trường vay vốn đều hiểu rằng sự ưu ái của những chủ ngân hàng hàng đầu nước Mỹ là một thế lực buộc phải dè chừng. Tôi tự hào rằng ở tuổi bốn mươi hai, sau mười năm lèo lái con thuyền Randolph & Randolph, tôi chưa từng làm hoen ố cái tên lẫy lừng mà cha và chú tôi đãầy công tạo dựng, mà trái lại còn góp phần bồi đắp thêm cho danh tiếng vàng son về sự sòng phẳng trong kinh doanh, phương pháp cổ điển không chùn bước cùng sự chính trực toàn diện. Tạp chí Bradstreet’s cùng các cơ quan thương mại khác khi viết về Randolph & Randolph đã nhận định rằng: “Tài sản từ năm mươi triệu trở lên, tín dụng vô hạn.” Tôi chẳng dám nhận lấy chút công trạng nào cho điều này, bởi bản báo cáo cũng y hệt như thế vào ngày tôi rời ghế nhà trường và bước chân vào văn phòng để “học việc”. Nhưng với tư cách là người kế thừa duy nhất của người cha và người chú vĩ đại, tôi xin lấy Đấng Tạo Hóa làm chứng rằng Randolph & Randolph chưa từng cho vay dù chỉ một đô-la với lãi suất vượt mức hợp pháp là 6 phần trăm một năm; chưa từng làm gia tăng khối tài sản của mình bằng bất cứ phương thức nào ngoài việc kinh doanh minh bạch, sòng phẳng; và cái tai họa của mọi tai họa — tài chính cuồng loạn — vẫn chưa hề tìm được một chỗ đứng dưới tấm biển vàng viền đen mà chính tay cha và chú tôi đã tự mình đóng lên lối ra vào.
Mười chín năm trước, tôi tốt nghiệp đại học Harvard. Bạn cùng lớp kiêm bạn thân chí cốt của tôi, Bob Brownley, đến từ Richmond, bang Virginia, đã tốt nghiệp cùng đợt với tôi. Cậu ấy là nhà thơ của khóa, còn tôi là quản ngục — ý tôi là trật tự viên của sân trường. Chúng tôi đã có bốn năm gắn bó bên nhau tại trường St. Paul trước khi bước chân vào Harvard. Chẳng có cặp đôi nam nữ nào thắm thiết hơn chúng tôi.
Gia đình tôi có tiền, thậm chí dư dả, đi kèm với đó là cái đầu lạnh và sự thực tế sắc sảo mang chất miền Bắc. Nhà Brownleys thì nghèo rớt mồng tơi, nhưng họ lại mang dòng máu hào hoa, mãnh liệt của giới quý tộc miền Nam cũ cùng niềm kiêu hãnh lãng mạn “không cúi đầu trước bất kỳ ai” của vùng đất Dixie thời trước chiến tranh — nơi sự phóng khoáng và lòng hiếu khách của người miền Nam hiện diện ở bất cứ đâu có những người phụ nữ kiều diễm và những chiếc ly bạc đựng rượu julep đọng sương.
Cha của Bob, một trong những trụ cột vững chãi của tầng lớp quý tộc miền Nam, từng trải qua những năm tháng tại Quốc hội và Thượng viện với châm ngôn “Cứ tiêu xài chẳng phải tiếc”, để rồi khi qua đời, ông để lại người vợ góa, ba cô con gái nhỏ cùng một cậu con trai út sống phụ thuộc vào Bob — người con trai cả.
Không biết bao nhiêu buổi chiều hè ấm áp khi Bob cùng tôi khua mái chèo trên dòng Charles, hay những đêm đông lạnh buốt giá khi chúng tôi ngồi trong nhà săn bắn của mình trên bờ biển Cape Cod, chúng tôi đã từng phác thảo cho tương lai của mình. Tôi sẽ nắm giữ quyền điều hành cốt lõi trong đế chế ngân hàng của Randolph & Randolph, còn Bob cuối cùng sẽ đại diện cho hãng của cha tôi trên sàn Giao dịch Chứng khoán. “Tôi sẽ chết ngột trong văn phòng mất,” Bob từng nói, “còn sàn Giao dịch Chứng khoán chính là cái ống khói hoàn hảo để tôi nướng bánh ngô của mình.” Thế nên khi quãng đời sinh viên vừa khép lại, việc cha tôi khéo léo trao lên vai tuổi trẻ của Bob trách nhiệm nặng nề là gánh vác và quản lý tài chính eo hẹp của gia đình đã khiến cậu lao vào kinh doanh tự nhiên như loài én chao liệng giữa bầu trời. Chúng tôi bước chân vào văn phòng của Randolph & Randolph cùng một ngày, và vào ngày kỷ niệm một năm sau đó, cha tôi đã triệu tập chúng tôi vào phòng làm việc để có một buổi trò chuyện tổng kết. Cả hai chúng tôi đều chẳng đoán trước được điều gì sắp xảy ra, và tim đã đập rộn ràng vì sung sướng khi ông cất lời:
“Jim, các con đã làm vượt xa mọi kỳ vọng của ta. Ta đã dõi theo cả hai đứa và muốn các con biết rằng sự siêng năng cùng trí tuệ kinh doanh mà các con thể hiện ở đây đủ sức giúp các con giành được sự thừa nhận ở bất kỳ ngân hàng nào trên Phố Wall. Ta muốn cả hai gia nhập công ty — Jim sẽ học hỏi mọi ngóc ngách để có thể kế vị ta; còn con, Bob, sẽ nắm giữ một ghế thành viên của hãng tại sàn Giao dịch Chứng khoán.”
Khuôn mặt Bob tái đi rồi hân hoan đỏ bừng lên khi cậu vươn tay nắm lấy tay cha tôi.
“Con vô cùng biết ơn ngài, thưa ngài, nhiều hơn bất cứ lời nào có thể diễn tả, nhưng con muốn thảo luận trước về lời đề nghị này với Jim. Cậu ấy là người hiểu rõ con hơn bất kỳ ai trên cõi đời này và con có một số ý tưởng muốn trao đổi kỹ càng với cậu ấy.”
“Cứ nói đi, Bob,” cha tôi bảo.
“Vâng, thưa ngài, con sẽ cảm thấy thoải mái hơn nhiều nếu được tự mình xông pha vào chốn cuồng phong ấy và tự tay làm nên cơ đồ. Ngài thấy đấy, nếu con có thể tự chiến thắng, tự trả tiền mua chiếc ghế thành viên, rồi sau đó tự kiếm lấy một gia tài cho riêng mình, để rồi nhỡ mai sau ngài thấy con xứng đáng có thêm cơ hội gia nhập hãng, thì khi ấy con sẽ không bị mang tiếng là kẻ ăn bám vào lòng tốt của ngài. Ngài hiểu ý con mà, và chắc sẽ không nghĩ con mang nặng thứ tự ái vặt vãnh nào đâu; nhưng nếu ngài cho phép con mua một ghế giao dịch bằng giấy nhận nợ, và cho con cơ hội — khi con đã quen thuộc với mọi ngóc ngách — được xử lý một số lệnh của hãng, con sẽ vẫn biết ơn ngài và Jim sâu sắc, đồng thời tự thấy lòng mình thanh thản hơn rất nhiều.”
Tôi hiểu Bob muốn gì; cha tôi cũng vậy, và chúng tôi vô cùng sẵn lòng chiều theo ý cậu, dẫu cha tôi nhất quyết đòi tặng không tiền mua ghế sau khi giải thích cho chúng tôi nghe rằng quy định nền tảng của Sở giao dịch cấm một ứng viên vay tiền mua suất thành viên. Bốn năm sau khi bước chân vào Sở giao dịch, Bob Brownley không những đã trả sạch bốn mươi nghìn đô-la kèm tiền lãi, mà còn tích lũy được một khoản năm mươi nghìn ngoạn mục trong sổ sách của Randolph & Randolph, đồng thời gửi về quê sáu nghìn mỗi năm trong khi vẫn duy trì lối sống mà cậu nói đùa là “tiêu chuẩn của một người lương thiện”. Nhân tiện tôi cũng xin nói thêm, tiêu chuẩn của một gã đàn ông Phố Wall thường khiến thu nhập sáu nghìn mỗi năm trở nên vô cùng khiêm tốn mỗi dịp Giáng sinh về. Bob là đứa con cưng của Sở giao dịch, hệt như cậu từng là cưng chiều ở trường phổ thông lẫn đại học, và bận rộn ngập đầu với công việc ba trăm ngày trong năm. Bên cạnh những mối ủy thác béo bở nhất của Randolph & Randolph, cậu còn nắm giữ các đơn hàng tuyệt mật của hai phe đầu cơ sừng sỏ nhất.
Tôi vừa bước qua sinh nhật lần thứ ba mươi hai thì người cha kính yêu đột ngột qua đời. Sáu năm trước đó, tôi đã ráo riết chuẩn bị cho một biến cố như thế; nghĩa là tôi đã quen với việc nghe cha dặn dò: “Jim, đừng để cỏ mọc rễ trong việc nắm bắt mọi ngóc ngách công việc của chúng ta, để khi có chuyện gì xảy ra với cha thì Phố Wall sẽ không hề xao động về các vấn đề của Randolph & Randolph. Cha muốn cho thiên hạ biết ngay lập tức rằng sau khi cha ra đi, công việc của chúng ta vẫn vận hành trơn tru như trước. Vì vậy, cha sẽ đưa con vào các hội đồng quản trị của những công ty mà chúng ta có cổ phần và dần trao cho con các ủy thác khác nhau của cha.”
Thế nên khi cha mất, nội bộ công ty chẳng hề có lấy một gợn sóng và không một cổ phiếu nào được mệnh danh là “Cổ phiếu nhà Randolph” bị sụt giảm dù chỉ một điểm vì sự kiện chấn động đối với giới tài chính ấy. Tôi thừa hưởng toàn bộ gia sản của cha ngoại trừ bốn triệu đô-la được ông chia cho họ hàng và các tổ chức từ thiện, rồi chính thức tiếp quản một cơ ngơi mang lại nguồn thu nhập hai triệu rưỡi đô-la một năm.
Một lần nữa, tôi khẩn khoản mời Bob gia nhập công ty.
“Chưa phải lúc đâu, Jim,” cậu đáp. “Tôi đã có chiếc ghế của mình và khoảng một trăm nghìn vốn lận lưng, tôi muốn cảm thấy tự do quẫy đạp cho đến khi gom đủ đúng một triệu đô-la do chính tay mình làm ra; khi ấy tôi sẽ yên bề gia nhập với cậu, anh bạn già, cùng nắm chắc cày bừa, và nếu có cô gái tốt nào vô tình bước đến vào thời điểm đó — ừ thì khi ấy sẽ là ‘một mái tranh nghèo phủ đầy dây thường xuân’ dành cho tôi.”
Cậu cười, và tôi cũng cười theo. Trong mắt bạn bè, Bob là một trường hợp nan giải vì tội... sợ đàn bà. Chẳng có người phụ nữ nào, dù trẻ hay già, từng lướt qua quỹ đạo của Bob mà không cảm nhận được thứ sức hút mê hồn vốn dĩ luôn ngự trị ở một người:
Mang tâm hồn rèn giũa bởi danh dự,
Và trái tim dẫn lối bởi đam mê —
nhưng dường như cậu chẳng bao giờ mảy may để ý. Đúng như vợ tôi — bởi chúng tôi đã kết hôn được ba năm và có hai nhóc tỳ nhà Randolph để chứng minh rằng cả Katherine Blair lẫn tôi đều hiểu rõ hôn nhân là gì — vẫn thường không tiếc lời cảm thán: “Tội nghiệp Bob! Anh ấy bị ‘mù’ trước phụ nữ, và có vẻ như chẳng bao giờ chịu mở mắt ra về hướng đó cả.”
“Rồi thì, Jim,” cậu tiếp tục với giọng điệu vô cùng nghiêm túc, “có một bí mật nhỏ này tôi chưa từng hé lộ với cả cậu. Sự thật là tôi vẫn chưa đủ an toàn — chưa đủ an toàn để đại diện cho cội nguồn danh giá của Randolph & Randolph. Ừ, cứ cười đi — cậu đấy, kẻ vẫn luôn vững vàng và kiên định như bức tượng đồng John Harvard ngoài sân trường, kẻ biết rõ vào sáng thứ Hai mình sẽ làm gì vào tối thứ Sáu cùng mọi ngày đêm ở giữa, và luôn làm đúng như thế. Jim, từ khi bước chân lên sàn giao dịch, tôi nhận ra cái dòng máu cờ bạc miền Nam từng khiến ông nội tôi trong một chuyến đi từ New York về, dẫu đang sở hữu nhiều ruộng đất và nô lệ hơn mức có thể dùng, vẫn đem thế chấp cả điền trang lẫn nô lệ — ừ, và cả của bà nội nữa — vào một ván bài, để rồi trắng tay và xoay chuyển toàn bộ vận mệnh dòng họ Brownley — những mầm bệnh cờ bạc y hệt như thế đang chảy trong huyết quản tôi, và khi chúng cào cấu, gặm nhấm, tôi chỉ muốn làm điều gì đó; và, Jim” — đôi mắt nâu lớn đột ngột lóe lên những tia lửa — “nếu những con vi trùng đó thực sự xổng chuồng, sẽ có tai họa giáng xuống sàn giao dịch đấy — chắc chắn là thế!”
Cái đầu kiêu hãnh của Bob ngẩng cao; đôi cánh mũi mỏng phập phồng như thể đang hít thở bầu không khí của trận mạc. Đôi môi mím lại trên hàm răng trắng để lộ vừa khít phần rìa, và trong tận cùng đáy mắt là một ngọn lửa đỏ sậm mang lại cảm giác hệt như khi người ta nhìn xuống một đại lộ tối thẳm vào khoảnh khắc ánh đèn pha đầu tàu lượn qua khúc cua giữa đêm đen.
Hai lần trước đó, tận thời sinh viên, tôi đã từng thoáng thấy bóng dáng tên cá cược chuyên dụ dỗ này trong con người Bob. Một lần trong ván bài xì-phé tại phòng chúng tôi, khi một đám bạn học người New York cố dồn ép cậu ra khỏi ván bài bằng sức mạnh tiền tài. Và một lần khác tại khách sạn Pequot ở New London ngay trước thềm cuộc đua thuyền giữa các trường đại học, khi một đám sinh viên Yale vung vẩy những xấp tiền lớn kèm theo những lời khiêu khích cho đến khi Bob gầm lên phá bỏ cái dáng vẻ điềm tĩnh thường ngày, khiến tôi — kẻ có tiền tiêu vặt tính bằng đô-la trong khi Bob tính bằng xu — phải hoảng hốt trước tổng số tiền trên những tấm vé cá cược mà cậu đã ký nhận trước khi quét sạch tiền của đám sinh viên Yale ra khỏi phòng với một gương mặt trắng bệch đầm đìa mồ hôi lạnh. Những sự kiện ấy từng phai mờ trong trí nhớ tôi như những bồng bột tuổi trẻ thông thường mà bất kỳ chàng trai máu nóng nào cũng có thể mắc phải trong hoàn cảnh tương tự. Khi ngắm nhìn Bob ngày hôm ấy, trong lúc cậu cố thuyết phục tôi rằng công việc kinh doanh của Randolph & Randolph sẽ không được an toàn nếu đặt vào tay cậu, tôi đành phải thừa nhận rằng mình thực sự bối rối. Tôi vẫn luôn xem người bạn đại học cũ không chỉ là người có tư duy sắc bén nhất mà mình từng gặp, mà còn đinh ninh cậu là hiện thân của danh dự — thứ danh dự trong những trang sách cổ — và tôi không tài nào tin nổi cậu lại bị cá cược xúi giục làm tổn hại một cách bất công đến quyền lợi hay tài sản của người khác. Nhưng vì đã quen nhượng bộ để Bob được làm theo ý mình, tôi không ép cậu gia nhập hãng với tư cách là một đối tác toàn quyền.
Năm năm sau, khoảng thời gian mà mọi việc cả trong kinh doanh lẫn xã hội vẫn trôi chảy suôn sẻ đúng như những gì tôi và Bob có thể mong đợi, tôi đang chuẩn bị cho một cuộc ngồi lại khác để chứng minh cho cậu bạn thân thấy rằng đã đến lúc cậu nên xắn tay áo giúp tôi một cách nghiêm túc, thì một chuyện kỳ lạ xảy ra — một trong những biến cố khó lý giải mà Chúa đôi khi định đoạt rắc xuống đường đời của những đứa con Ngài, những con đường vốn dĩ thẳng tắp và nhìn rõ tận chân trời hệt như cao tốc mà người ta chẳng cần phải liếc mắt lần thứ hai để biết mình đang đi đâu; một trong những sự kiện mà khi nhìn lại, vượt ra ngoài mọi sự hiểu biết của con người.
Đó là một buổi trưa thứ Bảy tháng Bảy tuyệt đẹp và Bob với tôi vừa “thu dọn” xong xuôi mọi việc trong tuần để chuẩn bị nhập hội với phu nhân Randolph trên chiếc du thuyền của tôi cao chạy xa bay đến điền trang của chúng tôi ở Newport. Khi chúng tôi vừa bước ra khỏi phòng làm việc, một nhân viên thông báo có một vị khách nữ vừa ghé qua và đặc biệt nài nỉ muốn gặp ông Brownley.
“Quái quỷ thật, cô ta là ai mà mò đến vào cái giờ này trưa thứ Bảy, ngay lúc mọi gã đàn ông đang vắt giò lên cổ trốn cái nóng và bụi bặm của thương trường để tìm chút đồ ăn và hít thở không khí trong lành ngoài trời chứ?” Bob làu bàu. Rồi cậu bảo: “Mời cô ấy vào.”
Chỉ một phút sau, cậu đã có câu trả lời.
Một người phụ nữ bước vào.
“Ông Brownley đấy ư?” Cô dừng lại một thoáng để chắc chắn đó đúng là chàng trai người Virginia.
Bob cúi đầu chào.
“Tôi là Beulah Sands, đến từ Sands Landing, Virginia. Người nhà anh và người nhà chúng tôi vốn quen biết nhau, ông Brownley, có lẽ đủ thân để anh nhận ra tôi.”
“Con gái của Thẩm phán Lee Sands phải không?” Bob hỏi trong lúc vươn tay ra.
“Tôi là con gái lớn của Thẩm phán Lee Sands,” cất lên một giọng nói ngọt ngào nhất mà tôi từng được nghe, một thứ âm thanh êm dịu, róc rách gợi tưởng đến tiếng hót của loài chim nhại, để rồi dẫn dắt tâm trí ta dừng chân bên dòng suối nhỏ ngập tràn rêu phong và cải xoong đang róc rách thả những giọt ca dao sủi tăm vào các dòng xoáy. Có lẽ chính chất giọng miền Nam đã lướt nhẹ qua các góc cạnh của một số từ ngữ rồi lơ đễnh quyện chúng vào nhau, tạo nên một sức lan tỏa đầy đê mê — dù thế nào đi nữa, đó vẫn là giọng nói không-ngày-hôm-qua-không-ngày-mai kỳ lạ nhất mà tôi từng nghe. Trước khi tôi kịp ý thức trọn vẹn vẻ đẹp kiều diễm của thiếu nữ ấy, giọng nói của cô đã len lỏi vào đại não tôi hệt như hương thơm của một loài tinh dầu phương Đông huyền ảo. Thiên nhiên, hoàn cảnh sống, sự an yên của một cuộc hôn nhân hoàn mỹ vốn luôn kết hợp lại để tôi mãi trung thành với người bạn đời lựa chọn của mình, thế nhưng khi tôi đứng lặng như trời trồng, ngắm nhìn từng đường nét kiều diễm của vị khách lạ vừa bất ngờ quét qua văn phòng tôi, một ý nghĩ bỗng lóe lên trong đầu rằng đây chính là người sinh ra để thức tỉnh những ai từng hoài nghi về mũi tên xuyên thủng trái tim và tâm hồn đàn ông tự ngàn đời nay — tiếng sét ái tình. Giả sử không có Katherine Blair, người vợ, người mẹ — Katherine Blair Randolph, người đã lấp đầy thế giới tình yêu của tôi hệt như cái nắng tháng Tám ban trưa sưởi ấm chiếc giếng cổ bằng thứ hơi ấm ôm ấp và bóng râm tĩnh lặng — thì qua khoảng thời gian này, nhìn lại quá khứ, tôi dám tự hỏi — ai mà biết được, khéo tôi cũng đã trôi dạt khỏi bến bờ an toàn của dòng máu Yankee chậm chạp để sa chân vào vùng nước sâu thẳm ấy rồi?
Vẻ đẹp, thứ mà kẻ hoài nghi thường mỉa mai, vốn nằm trong mắt kẻ si tình, hoặc trong một góc nhìn nào đó — chỉ là sản phẩm của ánh đèn sân khấu, của điểm nhìn, của khát vọng — nhưng nhan sắc của Beulah Sands là vẻ đẹp vượt lên trên mọi sự soi mói, đứng ngoài mọi sự phân tích, rạch ròi hệt như ngôi sao mai lấp lánh giữa bầu trời chạng vạng. Chiều cao trung thể, dáng người thiếu nữ nhưng đã nảy nở đầy đặn và tròn trịa chín muồi, thế nhưng nhờ sự hoàn mỹ trong tỷ lệ nên hoàn toàn tránh được cảm giác “đẫy đà”. Mái tóc đậm màu uốn lượn vương miện trên đầu, ngự trị trên chiếc cổ đáng lẽ trông sẽ hơi ngắn nếu chiếc cột mảnh mai ấy không vươn lên một cách uyển chuyển từ những đường cong tuyệt mỹ của bầu ngực và bờ vai bên dưới. Dù vậy, gương mặt và cuối cùng là đôi mắt mới là nơi ánh nhìn của người ta lưu luyến chẳng rời — gương mặt ửng hồng với những lúm đồng tiền ẩn hiện nơi hai má đầy đặn, đang cười trừ phản đối cái nét u buồn kéo nhẹ khóe môi vốn có phần hơi rộng so với chuẩn mực cái đẹp, dẫu đường cong san hô của đôi môi ấy hoàn hảo đến mức khó lòng chê trách. Chiếc mũi thẳng với cánh mũi thon gọn, chiếc trán rộng, phần hàm vuông vức đầy đặn hạ thấp gần bằng dái tai hệt như phần cằm, tất cả toát lên vẻ uy nghiêm và quyết tâm cao độ đi kèm với ý chí kiên định hiếm thấy ở phụ nữ. Sự kết hợp giữa trán, hàm và mũi ấy cực kỳ hiếm thấy. Nếu thuộc về một người đàn ông, chắc chắn nó đã đưa anh ta ra chiến trường để lập công danh. Nhưng niềm kiêu hãnh lớn nhất của Beulah Sands chính là đôi mắt — to, tròn, vừa xám vừa xanh ngắt, sống động với mọi thứ ma lực toát ra từ nhân cách của cô, ngập tràn nụ cười, nước mắt, sự đằm thắm tâm linh cùng niềm đam mê; chỉ một thoáng, với vẻ ngây thơ rạng rỡ, chúng thắp sáng gương mặt của một Đức Mẹ đồng trinh tóc vàng; chớp mắt cái, ẩn khuất sau hàng lông mi đen nhánh dài bất thường dưới cặp chân mày mảnh mai được tỉa tót kỹ càng, chúng lại ve vãn, lúng liếng, mời gọi. Sau này tôi nhận ra phần lớn sức hút thuần túy thể chất của cô gái này nằm sự hòa quyện kỳ lạ giữa nét thanh tú của người Anh và sắc thái đậm chất Andalucía, dẫu phẩm chất bền bỉ trong sức hút của cô chắc chắn bắt nguồn từ một sự thăng hoa tâm hồn có thể khiến kẻ đần độn nhất cũng phải xao xuyến. Khi cô đứng nhìn Bob trong văn phòng tôi vào buổi trưa ngày hôm đó, uyển chuyển và thoải mái trong bộ đồ xám cùng chiếc khăn turban đính lông vũ xám trên đầu, điểm xuyết dải ren mỏng manh ở cổ tay và cổ áo, cô trông thật kiều diễm, vô cùng tinh tế, và dẫu ròng rã là một người con miền Nam, cô lại chẳng hề giống với hình mẫu thiếu nữ tóc nâu thường thấy xuất hiện từ vùng đất Dixie.
Cô gái bước vào văn phòng chúng tôi vào trưa thứ Bảy tháng Bảy ấy, vừa hay phá hỏng chuyến dã ngoại mà Bob Brownley và tôi đã lên kế hoạch, và là người định mệnh sẽ làm chệch hướng dòng chảy yên bình vốn có của người bạn thân tôi, biến nó thành những khúc sông khi thì gầm rú khi lại tĩnh lặng chết chóc, thực sự là tạo vật tuyệt mỹ nhất mà người ta có thể tưởng tượng ra. Tôi biết suy nghĩ của mình chắc cũng là suy nghĩ của Bob, bởi đôi mắt gã đã dán chặt vào gương mặt cô. Cô hạ hàng mi đen xuống như một tấm màn che trong khi tiếp tục cất lời:
“Ông Brownley, tôi vừa từ Sands Landing đến đây. Tôi rất sốt sắng muốn trao đổi với anh về một vấn đề kinh doanh. Tôi có mang theo bức thư giới thiệu từ cha tôi gửi cho anh. Nếu anh đang bận việc khác, tôi có thể chờ đến thứ Hai, dẫu cho,” và hàng mi che chở ấy ngước lên, để lộ đôi mắt nửa cười nửa bi thương, “tôi rất muốn trình bày công việc của mình với anh ngay phút giây sớm nhất có thể.”
Có một chút âm hưởng nài nỉ vương vấn trong giọng nói quyến rũ ấy khiến người ta không sao cưỡng lại được, và cả hai chúng tôi đều sẵn sàng quên đi bữa trưa đang chờ đợi trên chiếc Tribesman.
“Xin mời vào văn phòng tôi, cô Sands, và toàn bộ thời gian của tôi là dành cho cô,” Bob nói khi mở cánh cửa thông giữa phòng làm việc của cậu và của tôi. Sau khi tôi gửi một bức thư ngắn cho vợ, thông báo rằng chúng tôi có thể bị chậm lại một hoặc hai tiếng, tôi an vị chờ đợi Bob ở văn phòng chung, và đó là một quãng chờ đợi dài dằng dặc. Ba mươi phút trôi qua thành một tiếng rồi hai tiếng trước khi Bob và cô Sands bước ra ngoài. Sau khi tiễn cô lên chiếc xe hơi hướng về khách sạn, cậu cất giọng với một vẻ chăm chú kỳ lạ: “Jim, tôi phải nói chuyện với cậu, phải xin vài lời khuyên vàng ngọc của cậu đây. Hay là chúng ta nhanh chóng ra du thuyền rồi sau khi ăn trưa, cậu hãy nói lại với Kate rằng chúng ta có chút việc bận phải bàn. Tôi không muốn để cô gái ấy phải chờ đợi lâu hơn mức cần thiết cho một câu trả lời mà tôi chưa thể đưa ra cho đến khi nghe được ý kiến của cậu.” Sau bữa trưa, trên mũi boong tàu phía trên, Bob đã trút hết nỗi lòng. Trút nỗi lòng là từ chính xác, bởi kể từ phút đặt cô Sands lên xe bu-gy cho đến lúc đó, ngay cả vợ tôi cũng nhận thấy rõ ràng tâm trí gã đang bay bổng ở đâu chứ không hề nằm ở buổi dã ngoại.
“Jim,” cậu bắt đầu bằng một giọng nói run run dẫu đã cố gắng kìm nén để nghe thật bình tĩnh, “không thể chối cãi một thực tế rằng tôi đang vô cùng bấn loạn về vấn đề này, và tôi muốn làm mọi thứ có thể để giúp đỡ cô gái ấy. Chẳng cần tôi phải nói thì cậu cũng hiểu chúng ta phải giữ kín đáo đến mức nào những gì cô ấy vừa thổ lộ với tôi. Cậu sẽ thấy khi tôi kể tiếp rằng mọi chuyện thiêng liêng ra sao, và tôi biết cậu sẽ nhìn nhận nó giống như tôi. Cô Sands phải được cứu giúp ra khỏi vũng lầy này.
Thẩm phán Lee Sands, cha cô ấy, là người đứng đầu dòng họ Sands lâu đời ở Virginia. Dòng họ Sands ở Virginia không bao giờ phải ngả nón trước bất kỳ gia tộc nào trên đất nước này, hay bất cứ đâu đi nữa, về những giá trị thực chất thực sự đếm xỉa tới. Họ có trí tuệ, học thức, tiền tài và địa vị vững chắc kể từ khi vùng Virginia được khai hoang. Họ là những người ưu tú nhất bang chúng ta. Có một câu cửa miệng ở Virginia rằng một thành viên nhà Sands ở Sands Landing muốn leo lên ghế bồi thẩm đoàn, Thượng viện Mỹ, Hạ viện hay chiếc ghế thống đốc bang chỉ cần cất bước là tới, và gần như tất cả đàn ông trong nhà đều nắm giữ một hoặc toàn bộ những vinh dự ấy qua nhiều thế hệ. Vị thẩm phán đương nhiệm đã nắm giữ tất cả chúng. Tôi không quen biết ông ấy ngoài đời, dẫu cho gia đình tôi và gia đình ông ấy vốn rất thân thiết từ xa xưa. Sands Landing bên dòng James cách nhà chúng tôi chừng năm mươi dặm về phía thượng nguồn. Vị thẩm phán, cha của Beulah Sands, đã xấp xỉ bảy mươi, và như mẹ và cha tôi từng kể, ông là một cột trụ vững chãi, một người kiên định đúng chất Virginia. Vốn giàu có — nghĩa là theo cách gọi giàu có của người chúng tôi, tầm một triệu đô-la hoặc hơn — ông rất tích cực tham gia các hoạt động xã hội, và tôi đã biết trước khi cô con gái kể rằng ông là người ủy thác cho hầu như toàn bộ những điền trang danh giá nhất ở vùng chúng ta. Xem ra theo những gì cô ấy kể, thời gian gần đây ông rất hăng hái phát triển các mỏ than và đường sắt của chúng ta, đặc biệt là tham gia nổi bật vào Seaboard Air Line. Cậu biết con đường sắt ấy đấy, vì cha cậu từng là thành viên hội đồng quản trị, và tôi nghĩ hãng của chúng ta cũng có vai vế trong các hoạt động ngân hàng của nó. Giờ thì, Jim, tội nghiệp cô gái này, hóa ra thời gian gần đây cô ấy vẫn đóng vai trò thư ký riêng cho cha mình, vừa hay tin cú đánh úp của Reinhart cùng vây cánh của hắn ta đã chính thức đẩy cha cô vào bước đường cùng. Sự sụt giảm ấy đã cuốn phăng đi toàn bộ cơ ngơi của ông, và tệ hơn thế, cả một đến một triệu rưỡi đô-la quỹ ủy thác cũng bốc hơi theo, còn vị thẩm phán già — chà, cậu và tôi thừa sức hiểu tình cảnh của ông lúc này. Dẫu vậy tôi cũng chẳng chắc cậu thấu hiểu trọn vẹn đâu, vì cậu chưa nắm rõ nếp sống ở Virginia và cái vị thế được kính trọng nhường nào mà một người như Thẩm phán Sands đang nắm giữ. Cậu phải hiểu điều đó thì mới thấm thía hết cảnh lầm than hiện tại của ông và tình thế ngặt nghèo của cô con gái này, bởi có vẻ như từ khi bắt đầu lún sâu vào vùng nước xoáy, ông đã hoàn toàn dựa dẫm vào cô ấy để tìm kiếm lòng can đảm và những ý tưởng. Qua câu chuyện chúng tôi trò chuyện, tôi góp nhặt được rằng cô ấy sở hữu một kho tàng khổng lồ các khái niệm kinh doanh hiện đại, và tôi bị thuyết phục bởi những gì cô ấy vạch ra rằng tình hình của vị thẩm phán đã vô vọng rồi, và Jim, khi người đàn ông già cỗi ấy sụp đổ, đó sẽ là một cú chấn động rung chuyển bang chúng ta theo nhiều hơn một phương diện.
Đến tận bây giờ cô gái ấy vẫn kiên cường chống chọi lại đòn giáng phũ phàng và cố gắng trấn an vị thẩm phán để ông duy trì một vẻ bề ngoài che giấu được sự thật về tình trạng tài chính tồi tệ của mình, dẫu cô cho rằng Reinhart và tay luật sư người Baltimore của hắn, qua cách chúng nhẫn tâm vặn ốc siết chặt để tước đoạt số cổ phần của ông trong hãng Air Line, hẳn phải nắm được manh mối rằng vị thẩm phán đã rơi xuống nước rồi. Cụ ông có thể duy trì mọi thứ thêm sáu tháng nữa mà không làm tổn hại đến bất kỳ khoản quỹ ủy thác nào còn lại trong tổng số khoảng hai triệu đô-la mà ông đang nắm, và trong lúc người vợ vốn đang bệnh tật của ông chỉ biết rằng chồng mình đang gặp chút rắc rối chứ chưa hề ngờ ngợ về thực trạng của ông. Con gái ông kể rằng khi tai họa ập đến, đúng vào ngày hoảng loạn đó, khi Reinhart dìm giá cổ phiếu xuống đáy và hất cẳng các chủ ngân hàng lẫn đối tác của cha cô trong hãng đường sắt là nhà Wilsons ở Baltimore, cô đã phải trải qua một cuộc đấu tranh kinh hoàng để ngăn cha mình phát điên. Cô kể rằng suốt ba ngày ba đêm cô đã nhốt ông trong phòng khách sạn ở Baltimore để ngăn ông đi săn lùng Reinhart cùng tay luật sư Rettybone của hắn nhằm tước mạng cả hai, nhưng cuối cùng cô đã xoa dịu được ông và hai cha con đã cùng nhau lên kế hoạch.
Jim, thật xót xa khi phải ngồi đó lắng nghe những mưu đồ vực dậy cơ ngơi mà cụ ông cùng cô gái này — bởi cô ấy mới chỉ hai mươi mốt tuổi — đã cố gắng nghĩ ra. Nước mắt thực sự đã tuôn rơi trên má tôi khi lắng nghe; tôi không tài nào kìm được; cậu cũng thế thôi, Jim. Nhưng cuối cùng trong số tất cả các kế hoạch được cân nhắc, họ chỉ tìm thấy duy nhất một phương án còn le lói chút hy vọng, và việc nhắc đến nghiêm túc ngay cả phương án đó thôi, Jim, nếu đặt vào bất kỳ hoàn cảnh nào khác ngoài hiện tại, sẽ khiến cậu tưởng rằng chúng ta đang đối phó với những kẻ mất trí. Thế nhưng cô gái ấy đã thành công trong việc khiến tôi tin rằng nó đáng để thử. Phải, Jim, cô ấy đã làm thế, và tôi đã nói với cô ấy như vậy, và tôi cầu Chúa rằng cái đầu lạnh thực tế của cậu sẽ không phủ nhận nó.
Bob Brownley đã đứng phắt dậy; cậu đang trút bỏ những xiềng xích của dòng máu miền Nam đầy cuồng nhiệt và lãng mạn mà những năm tháng đại học lẫn Phố Wall đã dạy cậu phải giam hãm. Đôi mắt cậu lóe lên những tia lửa. Cánh mũi phập phồng hệt như mũi của một con nai đực trong khu rừng mùa thu. Cậu quay mặt đối diện với tôi, đôi bàn tay siết chặt thành nắm đấm.
“Jim Randolph,” cậu tiếp tục, “khi lắng nghe câu chuyện của cô gái ấy về sự tàn ác khủng khiếp cùng sự phản bội quỷ quyệt được thực hiện bởi những con linh cẩu loài người mà cậu và tôi vẫn giao du — những con linh cẩu khi đi săn lùng những đồng đô-la dơ bẩn — thứ duy nhất chúng biết đến — đã làm hổ thẹn cả những dã thú thực sự trong rừng sâu — khi lắng nghe, tôi bảo với cậu rằng tôi chẳng mảy cảm thấy cắn rứt lương tâm chút nào khi ném một viên đạn xuyên qua kẻ đểu cá trơn tuột Reinhart đó. Đúng thế, và cả tên sai vặt khốn kiếp của hắn nữa, kẻ đang vấy bẩn một dòng họ danh giá cùng địa vị xã hội, cùng năng lực thừa hưởng mà Đấng Tối Cao ban cho những mục đích trung thực hơn thay vì đi giăng bẫy những nạn nhân mà gã chủ đẻ rác rưởi của hắn đang thèm thuồng dòm ngó ví tiền. Và, Jim, trong lúc lắng nghe, một loạt những người bạn cũ đã xâm chiếm ký ức tôi — những người bạn mà tôi chưa từng gặp lại từ trước khi đến Harvard, những người bạn cùng tôi trải qua biết bao giờ phút hạnh phúc tại quê nhà Virginia cổ kính, những người bạn sinh ra từ trí tưởng tượng của tôi, những hiệp sĩ kiên cường, hoang dã, mang theo thanh gươm, cây thánh giá cùng ngọn cờ thêu dòng chữ ‘Vì Danh Dự và Vì Chúa’. Những người bạn cũ ấy sẽ ùa vào tuổi thơ tôi và cất tiếng kèn vang: ‘Bob, đừng quên, khi anh trưởng thành, đích đến chính là danh dự, và châm ngôn là: Hãy đối xử với tha nhân như cách anh muốn họ đối xử với mình. Đừng quên rằng hàng triệu đô-la chỉ là mào của lũ dân đen.’ Và, Jim, tôi tưởng như những người bạn của mình đang nhìn tôi bằng ánh mắt trách cứ khi họ cất lời: ‘Anh đang tiến rất nhanh trên con đường ấy rồi, Bob Brownley, và rồi trái tim cùng tâm hồn anh sẽ mang dấu ấn của chữ S ngoằn ngoèo trên hai thanh dọc, và anh chẳng qua cũng chỉ là một gã cuồng loạn trong quân đoàn Đô-la Dơ Bẩn.’ Jim, hỡi Jim Randolph, khi lắng nghe câu chuyện đau đớn về việc biến thiên đường của cô gái ấy thành địa danh địa ngục, tôi chẳng hề thấy được thứ hào quang mà cậu và tôi từng nghĩ vẫn bao bọc quanh tấm bảng hiệu của Randolph & Randolph. Tôi không thấy nó, Jim, nhưng tôi lại nhìn thấy chính mình, và tôi chẳng thấy tự hào chút nào về bức tranh ấy. Chúa tôi ơi, Jim, có đời nào cậu và tôi lại gia nhập hàng ngũ quý tộc của những Đô-la Dơ Bẩn chứ? Lẽ nào chúng ta đang để lại những vết hằn dọc theo đường đời của mình hệt như cái cách Reinhart đã cày nát gia đình những người Virginia này, những vết hằn y hệt như những gì cô gái này vừa phơi bày cho tôi thấy?”
Bob đã tự đẩy mình vào trạng thái cuồng loạn. Tôi chưa từng thấy cậu kích động đến thế khi đứng trước mặt tôi và suýt thét lên những lời tự phán xét cay nghiệt này.
“Vì Chúa đấy, Bob, hãy tự trấn tĩnh lại đi,” tôi hối thúc. “Viên thuyền trưởng trên đài chỉ huy đằng kia đang trân trân nhìn cậu kìa, và Katherine sắp lên đây xem có chuyện gì xảy ra rồi. Nào, hãy là một anh chàng ngoan ngoãn, và chúng ta hãy thảo luận chuyện này theo một cách thật tỉnh táo đi. Với cái đà này của cậu, chúng ta chẳng thể làm gì để cứu vác bạn bè cậu đâu. Hơn nữa, cậu và tôi có gì phải tự trách cứ bản thân chứ? Chúng ta đâu phải những kẻ phá hoại và chẳng có đồng đô-la nào của chúng ta vấy bẩn bởi Tài chính Cuồng loạn cả. Cha tôi, như cậu biết đấy, căm ghét Reinhart và thể loại như hắn chẳng kém gì chúng ta. Hãy là chính mình đi. Cô gái này muốn cậu làm gì chứ? Nếu đó là điều gì hợp lý, cứ coi như xong đi, vì cậu thừa biết chẳng có việc gì tôi không làm cho cậu khi được hỏi xin.”
Cơn cuồng nộ của Bob dịu xuống. Cậu sụp xuống ghế băng bên mạn tàu sát cạnh tôi.
“Tôi biết chứ, Jim, tôi biết chứ, và cậu phải tha thứ cho tôi. Thực ra, câu chuyện của Beulah Sands đã khơi dậy hàng loạt suy nghĩ mà tôi đã giấu kín dưới tầng hầm những năm gần đây, bởi thú thật là thỉnh thoảng tôi vẫn cảm thấy những nhói đau cắn rứt trong lương tâm mỗi khi nghĩ đến trò chơi tiền bạc này của chúng ta.”
Tôi thấy dòng máu bốc đồng đang nhanh chóng nguội đi, và chỉ còn là vấn đề thời gian ngắn ngủi trước khi Bob trở lại là một kẻ minh mẫn.
“Nào, rốt cuộc cô ấy muốn cậu làm gì?” tôi gặng hỏi. “Đó là một ca túng tiền, một việc chúng ta cố gắng giúp cha cô ấy vượt qua cơn hoạn nạn ư?”
“Không phải loại đó đâu, Jim. Cậu không hiểu dòng máu kiêu hãnh của người Virginia đâu. Cả cô gái ấy lẫn cha cô đều không đời nào chấp nhận sự giúp đỡ tiền bạc từ bất kỳ ai. Họ thà tan cửa nát nhà và chết đi còn hơn.”
Cậu ngừng lại một lát rồi tiếp tục với giọng đầy sức nặng:
“Cô ấy đặt vấn đề thế này. Cô ấy và cha mình đã gom góp các khoản thừa kế khác nhau và quy đổi thành tiền mặt, tổng cộng khoảng sáu mươi nghìn đô-la, và cô đã thuyết phục ông cho phép cô lên đây để xem liệu trong sáu tháng tới, qua một vài cú liều lĩnh tuyệt vọng trên thị trường, cô có thể nhân nó lên đủ để ít nhất là giành lại quỹ ủy thác hay không. Vâng, tôi biết đó là một ý tưởng điên rồ. Tôi đã nói với cô ấy ngay từ đầu rồi, nhưng chẳng cần thiết; chính cô ấy cũng thừa nhận, bởi cô không chỉ thông minh mà còn sở hữu tư duy kinh doanh nhạy bén nhất mà tôi từng thấy ở một người phụ nữ. Nhưng đó là cơ hội duy nhất của họ, Jim, và trong lúc lắng nghe lập luận của cô ấy, tôi đã ngả theo cách nghĩ của cô.”
“Nhưng sao cô ấy lại tình cờ tìm đến cậu với cái kế hoạch kỳ quặc này cơ chứ?” tôi ngắt lời.
“Chuyện là thế này — cha cô ấy, người từng biết đến Randolph & Randolph thông qua việc cha cậu xử lý các vấn đề của hãng Seaboard, đã hay biết về mối liên hệ của tôi với công ty, liền giao cho cô một bức thư, nhờ tôi làm bất cứ điều gì có thể để giúp con gái ông thực hiện các kế hoạch của cô ấy. Cô muốn xin vào làm việc tại công ty chúng ta, nếu có thể, ở một vị trí nào đó, thư ký, nhân viên cơ mật, hoặc như cô tự nhận, bất kỳ vị trí nào hợp lý để danh chính ngôn thuận có mặt ở văn phòng. Cô bảo cô rất giỏi tốc ký, đánh máy hay thư từ, đồng thời từng là cộng tác viên cho các tạp chí. Nếu việc này có thể sắp xếp ổn thỏa, cô nói cô sẽ tự chịu trách nhiệm chọn thời điểm cùng mã cổ phiếu, rồi ném phần còn lại của gia tài nhà Sands vào thị trường, và, Jim, cô ấy thực sự gan lỳ. Cú sốc dường như đã biến đứa trẻ này thành một sinh linh vô cùng gan góc, và, anh bạn già, tôi bắt đầu có cảm giác rằng biết đâu các quân bài sẽ lật theo hướng giúp vị thẩm phán thắng trận. Cậu và tôi đều biết những trường hợp vốn ít hơn sáu nghìn mà được đẩy vọt lên hàng triệu không chỉ một lần, và điều đó diễn ra ngay cả khi không có sự hậu thuẫn mà cô ấy sẽ nhận được, vì tôi chắc chắn sẽ làm tất cả những gì có thể để giúp cô lái cơ hội cuối cùng này vào những vùng nước an toàn.”
Trong niềm phấn khích tột độ, Bob hoàn toàn quên mất rằng cậu đang tán thành một dự án mà chỉ vài phút trước đó cậu vừa gọi là điên rồ, và tôi giật mình nhận ra sự chuyển biến đột ngột này báo hiệu điều gì. Chắc chắn một khi dự án mà cậu phác thảo được thực hiện, Bob và cô tiểu thư miền Nam xinh đẹp sẽ bị cuốn vào mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau, và sự gắn kết ấy chỉ có thể làm sâu sắc thêm sức ảnh hưởng kinh khủng mà Beulah Sands đã tạo ra đối với người đồng đội vốn bình tĩnh và tỉnh táo của tôi. Khi ngắm nhìn người bạn đang hừng hực một thứ nhiệt huyết vừa lạ lẫm vừa bồng bột, tôi cảm thấy một nhói đau ở tim khi nghĩ đến bước ngoặt rẽ ngang bất ngờ trong cuộc đời anh. Nhưng bản thân tôi cũng bị cuốn hút bởi vẻ đẹp kỳ diệu của cô gái ấy, và tình cảnh khốn cùng của cô tác động đến tôi mạnh mẽ gần như cách nó đã lay động Bob. Thế nên, dẫu biết rằng làm vậy sẽ tước đi mọi cơ hội để cậu cân nhắc sự việc bằng lý trí thông thường, tôi vẫn thốt lên:
“Bob, tôi không trách cậu vì đã hùa theo kế hoạch của cô gái ấy đâu. Nếu tôi ở vị trí của cậu, tôi cũng sẽ làm vậy thôi.”
Nước mắt rưng rưng trong khóe mắt Bob khi cậu chộp lấy tay tôi và nói:
“Jim, làm sao tôi có thể đền đáp hết những điều tốt đẹp mà cậu đã dành cho tôi — làm sao được đây!”
Bây giờ không phải lúc để chìm đắm trong những cơn bộc phát cảm xúc, và trong lúc Bob đang cố lấy lại sự bình tĩnh, tôi tiếp tục:
“Nào, hãy trở về thực tế đi, Bob; chúng ta hãy nhìn nhận vấn đề này thật sòng phẳng. Cậu và tôi, với vị thế của mình trên thị trường, có thể làm vô số thứ để giúp nâng con số sáu mươi nghìn ấy lên cao hơn, nhưng sáu tháng là một khoảng thời gian ngắn ngủi và một hoặc hai triệu đô-la lại là một núi tiền.”
“Cô ấy thừa nhận điều đó,” cậu đáp, “và thời gian còn ngắn hơn nhiều cùng chặng đường phải đi dài hơn những gì cậu tính toán. Cô gái này căng như sợi dây đàn E trên đàn Stradivarius, và cô tuyên bố sẽ không nhận bất kỳ sự bố thí hay đặc ân bất thường nào từ chúng ta hay bất kỳ ai khác. Nhưng thôi chúng ta đừng bàn về chuyện đó nữa kẻo lại đâm nản lòng. Hãy làm theo những gì cô ấy bảo và phó mặc kết quả cho Chúa. Cậu có đồng ý, Jim, nhận cô ấy vào văn phòng với tư cách là một kiểu thư ký cơ mật không? Nếu cậu đồng ý, tôi sẽ trực tiếp quản lý tài khoản của cô, và chúng ta sẽ cùng nhau làm mọi thứ mà hai người đàn ông có thể làm cho cô ấy và cha cô.”