Tuần tiếp theo, Bob trở lại văn phòng. Anh không thay đổi gì nhiều, mà thực ra lại thay đổi rất nhiều. Kỳ nghỉ dường như đã giúp ích rất nhiều cho anh. Sắc diện anh hồng hào, dáng đi nhanh nhẹn như xưa, và đầu ngẩng cao như thể đang sẵn sàng lao vào trận chiến và muốn cho tất cả mọi người đều biết điều đó. Thế nhưng, ẩn trong ánh mắt, trong cái bặm môi, trong vẻ bình thản chực chờ nhưng ẩn chứa một sự hung hãn sục sôi lúc anh siết chặt đôi bàn tay khỏe mạnh vào tay ghế, lại mách bảo tôi rõ hơn ngàn lời nói rằng đây không còn là một Bob Brownley lạc quan và mềm lòng mà tôi từng biết và yêu quý nữa. Tôi không tài nào kìm được suy nghĩ rằng, giả sử tôi là một thủ lĩnh khủng bố người Nga, và người đàn ông đang ngồi trước mắt tôi đây lọt vào tầm mắt khi tôi đang tuyển chọn những kẻ ném bom, thì tôi chắc chắn sẽ chọn ngay lấy anh giữa muôn người làm kẻ ám sát Sa hoàng hoặc những tay sai đắc lực của lão. Quả thực, vết nhơ đã hằn sâu vào tâm hồn Bob từ một tuần trước đã làm biến đổi toàn bộ con người anh. Tôi nghĩ Beulah Sands cũng có đôi chút suy nghĩ tương tự. Bởi tôi đã nhìn thấy một bóng mây hoang mang thoáng qua chiếc trán rộng và thấp của cô sau cuộc gặp đầu tiên với anh, một nỗi bận tâm vốn chưa từng xuất hiện ở đó trước kia.
Trong suốt những ngày sau khi Bob trở lại, tôi ít có dịp gặp anh. Tôi nghĩ Beulah Sands còn gặp ít hơn. Trong giờ giao dịch của Sở Giao dịch Chứng khoán, anh dành phần lớn thời gian ở sàn giao dịch, nhưng lại thực hiện rất ít lệnh của chúng tôi. Anh chỉ lướt qua rồi giao lại chúng cho các trợ lý của mình. Theo những gì tôi có thể tìm hiểu, anh dành phần lớn thời gian để hoài niệm về những hy vọng đã tàn lụi—một trò tiêu khiển không hề hiếm gặp đối với những thành viên tích cực trên sàn giao dịch khi những chuyến tàu tốc hành đầu tiên của họ bị bẻ hướng bởi nhân viên gác chắn của “Hệ thống”. Thói quen lang thang từ trụ này sang trụ khác với cái đầu cúi thấp và ánh nhìn xăm xăm cõi xa xôi ấy đã trở nên sâu đậm đến mức các đồng nghiệp bắt đầu thông cảm và tôn trọng nó. Tất cả bọn họ đều biết Bob đã chịu một cú đòn chí mạng trong cơn hoảng loạn của cổ phiếu Đường. Không ai biết mức độ nặng nề ra sao, nhưng qua diện mạo và thói quen đã thay đổi của anh, ai nấy đều đoán rằng đó phải là một cú đánh xương tan thịt nát. Không gì có thể lay động tình cảm của một người môi giới chứng khoán dành cho đồng nghiệp nhanh chóng và sâu sắc bằng việc biết rằng “Bọn chúng” đã đánh chìm chuyến tàu kỳ vọng của anh ta—đến tận cùng, sổ sách không cho thấy bất kỳ sự thay đổi nào trong tài khoản của Beulah Sands. Vẫn chỉ là khoản số dư nghèo nàn 30.000 đô-la đó; không có thêm bút toán nào khác. Một buổi chiều nọ, Beulah Sands đã đề nghị một cuộc gặp giữa Bob và tôi tại văn phòng của cô ấy. Cô ấy khó mà có thể mời Bob đến mà không có tôi, nhưng tôi thừa hiểu người cô ấy thực sự muốn gặp chính là Bob, và tôi cảm thấy điều tốt nhất mình có thể làm cho họ lúc bấy giờ là để họ ở lại một mình với nhau. Thế nên tôi viện cớ chần chừ lại bàn làm việc của mình trong chốc lát, dặn Bob cứ vào văn phòng cô ấy trước và hứa sẽ theo sau ngay. Anh bước vào, để ngỏ hé cánh cửa. Tôi nghĩ rằng kể từ khoảnh khắc anh bước chân vào phòng, cả hai người họ đã hoàn toàn quên mất sự tồn tại của tôi. Từ bàn làm việc của mình, Beulah không thể nhìn thấy tôi, còn Bob ngồi quay lưng một nửa về phía tôi.
“Tôi rất ngại khi phải làm phiền anh chuyện tài khoản của mình,” tôi nghe cô bắt đầu bằng một giọng hơi run rẩy, “nhưng vì tôi phải trở về với Cha vào tuần lễ Giáng sinh, tôi muốn xin lời khuyên của anh xem có nên viết thư báo cho ông rằng, dù vẫn còn cơ hội làm nên những kỳ tích, tôi không nghĩ chúng ta sẽ có thể cứu vác được ông ấy hay không. Dĩ nhiên tôi sẽ không nói một cách cụ thể và phũ phàng như thế, nhưng có vẻ như tôi nên bắt đầu chuẩn bị tinh thần cho ông đối mặt với cú sốc này. Tôi đã không bàn bạc thêm bất kỳ thương vụ liều lĩnh nào với anh kể từ lần thất bại tồi tệ với cổ phiếu Đường, anh Brownley, và——”
“Cô Sands, tôi hiểu ý cô,” Bob cắt lời, “và tôi nên xin lỗi vì đã không bàn bạc với cô về các vấn đề kinh doanh của cô. Thực ra là thế này, tôi vẫn chưa hoàn toàn chắc chắn về việc gì là tốt nhất nên làm. Tôi hy vọng cô không nghĩ rằng tôi đã quên. Kể từ giây phút tôi tiếp quản công việc của cô, chưa một khoảnh khắc nào tôi quên đi lời hứa sẽ đảm bảo chúng luôn được duy trì hoạt động. Thật lòng tôi vẫn luôn cố gắng suy tính để tìm ra một thương vụ mạo hiểm thành công, nhưng—nhưng—” giọng anh nghẹn ngào—“tôi đã đánh mất sự tự tin vốn có vào bản thân kể từ ngày định mệnh trong vụ cổ phiếu Đường, ngày mà tôi đã dập tắt hy vọng của cô và phá hủy cơ hội cứu lấy cha cô—không, tôi không còn sự tự tin mà một người đàn ông buộc phải có ở bản thân mình để chiến thắng trong trò chơi này nữa.”
Một khoảng lặng trùm xuống, và rồi tôi nghe thấy một tiếng sột soạt lao xao khó tả, rõ mồn một như tận mắt chứng kiến cảnh một người phụ nữ đang đáp lại tiếng gọi của trái tim mình. Vô thức ngẩng lên, tôi chứng kiến một cảnh tượng giữ chặt ánh mắt tôi trong một khoảnh khắc dài đằng đẵng như thể tôi bị thôi miên. Đó là hình ảnh Bob cúi rạp người về phía trước, hai mặt úp vào lòng bàn tay, và bên cạnh anh, trong tư thế quỳ gối, là Beulah Sands với đôi tay ôm lấy cổ anh, kéo đầu anh tự vào lồng ngực mình. “Bob, Bob,” cô nức nở nghẹn ngào, “em không thể chịu đựng thêm được nữa. Trái tim em đang tan nát vì anh đây. Anh từng hạnh phúc biết bao khi bước vào cuộc đời em, thế mà niềm hạnh phúc ấy giờ đã biến thành đau khổ và tuyệt vọng, và tất cả đều vì em, một kẻ xa lạ. Ban đầu em chẳng nghĩ gì ngoài người cha và cách cứu lấy ông, nhưng kể từ ngày những kẻ đó giáng đòn vào trái tim anh, em đã tràn ngập một nỗi khát khao, ôi! một khao khát được nói cho anh biết, được thổ lộ với anh, Bob——”
“Cái gì? Beulah, cái gì thế? Vì tình yêu của Chúa, đừng dừng lại; hãy nói cho anh biết đi, Beulah, nói cho anh nghe đi.” Anh vẫn không ngẩng đầu lên. Gương mặt vùi sâu vào ngực cô, vòng tay anh ôm chặt lấy người con gái ấy. Cô cúi đầu, áp đôi má mềm mại xinh đẹp, nơi những dòng lệ đang tuôn rơi, lên mái tóc nâu của anh. “Bob, xin hãy tha thứ cho em, nhưng em yêu anh, yêu anh, Bob ạ, bằng tình yêu sâu sắc chỉ có thể có ở một người phụ nữ chưa từng biết đến tình yêu là gì, chưa từng biết gì ngoài bổn phận khắc nghiệt. Bob ơi, hết đêm này đến đêm khác khi tất cả mọi người đã rời đi, em đã lẻn vào văn phòng của anh và ngồi vào chiếc ghế của anh. Em đã úp đầu lên bàn làm việc của anh và khóc nghẹn ngào cho đến tận khi tưởng chừng như mình không thể sống nổi qua đến sáng mai nếu không được nghe anh nói rằng anh yêu em, và rằng anh không bận lòng vì sự sụp đổ mà em đã mang đến cho cuộc đời anh. Em đã vuốt ve phần tựa lưng của chiếc chiếc ghế nơi đầu thân yêu của anh từng tựa. Em đã phủ đầy những nụ hôn lên đôi tay ghế từng bị bàn tay mạnh mẽ và dũng cảm của anh bấu chặt. Hết đêm này qua đêm khác, em đã quỳ gối bên bàn làm việc của anh và cầu xin Chúa che chở cho anh, bảo vệ anh khỏi mọi tổn hại, quét sạch đám mây đen tối mà em đã mang đến cuộc đời anh. Em đã khẩn cầu Ngài hãy cứ đoạt lấy em, vâng, hãy lấy đi cả cha và mẹ em, làm bất cứ điều gì, miễn là Ngài đem trả lại cho anh niềm hạnh phúc mà em đã cướp mất. Bob ơi, em đã chịu đựng, đã đớn đau, bằng nỗi đau tột cùng mà chỉ một người phụ nữ mới có thể gánh chịu.”
Cô nức nở như thể trái tim đang vỡ vụn, khóc oà lên từng hồi co giật, hệt như đứa trẻ nhỏ giữa đêm khuya chạy đến bên giường người mẹ để kể về những tên yêu tinh đen tối vẫn đang đuổi theo mình. Từ lâu trước khi cô dứt lời—và dòng thác từ ngữ ấy chỉ mất có vài nhịp đập của trái tim—tôi đã phá vỡ được sức mạnh thôi miên đang giam giữ mình, rời mắt đi và cố gắng không nghe nữa. Vì sợ làm đứt đoạn bầu không khí kỳ lạ ấy, tôi không dám bước qua phòng để khép cánh cửa của Beulah lại hay đi ra cửa ngoài của văn phòng mình, vốn nằm gần cửa cô ấy hơn là bàn làm việc của tôi. Tôi chờ đợi—trải qua một khoảng lặng, chỉ bị phá vỡ bởi tiếng khóc của Beulah, dài dằng dặc tưởng chừng như đã kéo dài cả tiếng đồng hồ. Rồi cất lên từ giọng Bob là một tiếng nức nở nghẹn ngào vì hạnh phúc:
“Beulah, Beulah, Beulah của đời anh!”
Tôi nhận ra anh đã đứng dậy. Tôi cũng đứng lên theo, nghĩ rằng giờ đây mình có thể khép cửa lại được rồi. Nhưng một lần nữa, tôi lại chứng kiến một khung cảnh khiến tôi chết lặng. Bob đã giữ lấy đôi vai của Beulah, đẩy cô ra một chút để nhìn thẳng vào mắt cô một cách dài lâu và khẩn khoản. Chưa bao giờ trong đời, trước đây hay sau này, tôi lại nhìn thấy trên gương mặt con người niềm hạnh phúc rạng ngời đến thế—thứ ánh sáng mà các bậc thầy hội họa từng tìm cách khắc họa trên khuôn mặt những tín đồ khi họ quỳ gối trước Chúa Jesus, cố gắng gửi gắm đến Ngài qua ánh mắt lòng biết ơn và tình yêu thương từ tận đáy tâm hồn mình. Tôi đứng chết trân như bị bỏ bùa mê. Chậm rãi và đầy cung kính hệt như một người tình đang chạm vào trán người vợ đã khuất, Bob cúi đầu đặt lên trán cô một nụ hôn. Hết lần này đến lần khác, anh kéo cô vào lòng và in lên vầng trán, đôi mắt cùng đôi môi cô những nụ hôn sâu lắng. Tôi không thể chịu đựng thêm cảnh tượng này được nữa. Tôi bước nhanh về phía cửa hành lang, và rồi, như thể đó là lần đầu tiên cả hai nhận ra có người đang ở trong tầm nghe, họ quay phắt lại và trân trân nhìn tôi. Cuối cùng, Bob thở dài một hơi thật dài và sâu, rồi bật lên một tiếng cười ngượng ngùng của niềm hạnh phúc vẫn còn đẫm lệ.
“Chà, Jim, Jim thân mến của tôi, cậu từ đâu tới vậy? Giống như mọi kẻ nghe lén khác, cậu chẳng nghe được điều gì tốt đẹp về bản thân mình đâu. Thú nhận đi, Jim, cậu chẳng nghe nổi dù chỉ một lời tốt hay xấu về chính mình, bởi giờ tôi mới chợt nhớ ra rằng chúng ta quá ích kỷ, khi đã gạt bỏ hoàn toàn cậu ra khỏi cuộc họp bàn công việc này.”
Cả ba chúng tôi cùng cười vang, và Beulah Sands, với khuôn mặt bừng đỏ vì ngượng ngùng, lên tiếng: “Ông Randolph, chúng tôi vẫn chưa định đoạt được việc đâu mới là cách tốt nhất để giải quyết rắc rối của cha tôi.”
Chỉ một lát sau, chúng tôi thực sự bắt đầu bàn chuyện làm ăn, và cuối cùng thống nhất rằng Beulah sẽ viết thư cho cha mình, lựa lời thật cẩn trọng để tránh mọi tuyên bố trực tiếp, nhưng ngầm cho ông thấy cô chỉ mới đạt được rất ít tiến triển trong công việc mà cô cất bước đến miền Bắc để thực hiện. Bob lúc này đã là một con người hoàn toàn khác; Beulah Sands cũng vậy. Cả hai cùng bàn thảo về những niềm hy vọng và nỗi sợ hãi với một sự thẳng thắn hoàn toàn trái ngược với thái độ trước đây của họ. Nhưng có một điểm mà Bob cho thấy anh vẫn đang giữ kín. Cuối cùng tôi đã hỏi thẳng anh: “Bob, cậu có đang âm mưu điều gì mang lại sự giải thoát thực sự cho cô Sands và cha cô không?”
“Tôi không biết phải trả lời cậu thế nào đây, Jim ạ. Tôi chỉ có thể nói rằng mình có vài ý tưởng, có lẽ là những ý tưởng rất triệt để, nhưng—thôi được, tôi đang suy tính theo một số hướng đi nhất định.”
Tôi nhận ra anh vẫn chưa sẵn sàng để bày tỏ hết tâm can với chúng tôi. Chúng tôi chia tay nhau, Bob lên chiếc xe cab đi cùng cô Sands.
Hai ngày sau, cô gửi người gọi cả hai chúng tôi đến ngay khi chúng tôi vừa đặt chân tới văn phòng.
“Tôi vừa nhận được bức điện này từ cha—nó làm tôi thấy bất an: ‘Đã gửi thư quan trọng trong ngày hôm nay. Hãy trả lời ngay khi nhận được.’”
Chiều hôm sau, lá thư đã đến. Nó cho thấy Thẩm phán Sands đang ở trong một trạng thái vô cùng căng thẳng và lo lắng. Ông viết rằng ông đang phải sống trong nỗi kinh hoàng đày ải mỗi ngày, bởi một số bạn bè của ông—những người mà ông đứng tên làm người ủy thác tài sản—đã nhận được những bức thư nặc danh, khuyên họ nên xem xét lại các vấn đề ủy thác của vị thẩm phán; rằng phe nhóm Reinhart đang gia tăng áp lực hòng ép ông phải buông bỏ toàn bộ số cổ phiếu Seaboard mà chúng muốn thâu tóm với mức giá rẻ mạt bị chúng hạ thấp xuống, nhằm tái tổ chức và thực hiện kế hoạch mà chúng đã ấp ủ bấy lâu nay. Thẩm phán Sands viết tiếp rằng vào ngày ông buộc phải bán số cổ phiếu Seaboard đó, ông sẽ phải công khai tình trạng của mình, bởi sẽ không thể có bất kỳ cuộc giao dịch nào diễn ra nếu không có sự đồng ý của tòa án. Đoạn kết lá thư là những dòng tâm sự:
“Ái nữ thân yêu của cha, không ai thấu hiểu hơn cha sự vô vọng đến cùng cực của việc trông chờ bất kỳ sự cứu rỗi nào từ các hoạt động của con. Nhưng gần đây cha đã trở nên tuyệt vọng biết bao, cha quá đỗi trông cậy vào con, đứa con gái bé bỏng của cha, và niềm hy vọng vĩnh hằng vẫn luôn trỗi dậy trong lòng mỗi chúng ta khi đối mặt với những nghịch cảnh lớn lao, khiến cha đã hy vọng và vẫn tiếp tục hy vọng rằng con sẽ là đấng cứu thế cho gia đình chúng ta; rằng chính con, dẫu chỉ là một thiếu nữ mong manh, lại nhờ vào những diệu kỳ của Chúa mà trở thành người cứu vạn danh dự của dòng họ mà cả hai cha con ta đều yêu quý hơn sinh mệnh; người duy nhất giữ cho bóng tối nghèo đói không bước qua cánh cửa mà từ trước đến nay chưa từng đón nhận điều gì ngoài ánh dương của thịnh vượng và hạnh phúc; người con gái, Beulah thân yêu của cha, sẽ cứu lấy người cha già của con khỏi một nấm mồ nhơ nhuốc. Con gái yêu dấu, xin hãy tha thứ cho cha vì đã đặt lên đôi vai yếu ớt của con thêm gánh nặng phải biết rằng giờ đây cha đã bất lực và buộc phải hoàn toàn phó mặc vào con. Sau khi đọc xong bức thư này, nếu không còn chút hy vọng nào, cha ra lệnh cho con hãy nói cho cha biết ngay lập tức, bởi dẫu cho giờ đây ta đã hoàn toàn suy sụp về tài chính và gần như cả tinh thần, ta vẫn mang dòng máu của gia đình Sands, và chưa từng có một ai mang họ này lại dám trốn tránh bổn phận của mình, dù cho nó có khắc nghiệt và đau đớn đến nhường nào.”
Khi tôi trao lại bức thư cho cô Sands, cô nói:
“Ông Randolph, xin hãy để tôi kể cho ông và anh Brownley nghe đôi điều về cha tôi và mái ấm của chúng tôi, để các ông có thể nhìn thấu hoàn cảnh thực tế của chúng tôi. Cha tôi là một trong những người cao quý nhất từng sinh ra trên đời. Không chỉ riêng tôi nói thế—nếu các ông hỏi người dân bang ta để chọn ra một người đã cống hiến nhiều nhất cho tiểu bang với tư cách là một vùng đất, cống hiến nhiều nhất cho sự tiến bộ của nơi đây, nhiều nhất cho người dân của họ dù cao sang hay thấp hèn, da trắng hay da màu, câu trả lời họ nhận được sẽ là ‘Thẩm phán Lee Sands’. Ông từng là, và vẫn đang là, thần tượng trong lòng người dân chúng tôi. Sau khi tốt nghiệp Đại học Harvard, ông bước chân vào văn phòng luật sư của ông nội tôi, Thượng nghị sĩ Robert Lee Sands. Khi chưa tròn ba mươi tuổi, ông đã bước chân vào Quốc hội và thậm chí khi ấy đã nổi danh là nhà hùng biện vĩ đại nhất của bang ta, nơi sản sinh ra rất nhiều bậc kỳ tài hùng biện. Ông kết hôn với mẹ tôi, người em họ đời thứ hai của ông, Julia Lee ở Richmond, khi mới hai mươi lăm tuổi, và từ khoảng thời gian đó cho đến trước khi vấp phải sự tấn công của gã ác thú tài chính nhẫn tâm kia, ông đã sống một cuộc đời mà bất kỳ người đàn ông chân chính nào cũng muốn vạch ra cho chính mình nếu được Đấng Tạo Hóa ban cho đặc ân ấy. Các ông phải đến thăm nhà chúng tôi mới có thể trân trọng phẩm cách của cha tôi và thấu hiểu nỗi đau đớn khủng khiếp này đang hành hạ ông đến nhường nào. Mỗi buổi sáng trong đời, ông đều dành ra một tiếng sau bữa ăn sáng bên người mẹ thân yêu của tôi, người bị tàn tật do căn bệnh viêm khớp hông. Ông bồng bà trên tay và đưa bà từ phòng ngủ xuống thư viện nhẹ nhàng hệt như một đứa trẻ. Sau đó ông đọc sách cho bà nghe—và ông am hiểu sách hay chẳng kém gì những người bạn tri kỷ. Khi đưa mẹ trở lại phòng riêng, ông dành một tiếng đồng hồ cho người dân của chúng ta, những người da đen ở đồn điền và những tá điệu da trắng của ông trên khắp hạt. Ông là người cha chung của tất cả mọi người. Ông giải quyết mọi rắc rối lớn nhỏ cho họ. Rồi trong nhiều giờ liền, hai cha con tôi cùng xem xét các công việc kinh doanh của ông. Mỗi buổi chiều từ bốn đến năm giờ, ông dành trọn cho các điền trang và những người đàn ông lẫn phụ nữ mà ông đứng ra đại diện với tư cách người ủy thác. Ông từng nhiều lần nói với tôi: ‘Chúng ta có tròn một triệu tiền mặt và tài sản, và đó là tất cả những gì một con người nên có ở nước Mỹ. Đó là tất cả những gì cậu ta được hưởng theo thể chế chính phủ của chúng ta. Bất kỳ khoản tiền nào vượt quá số đó, một người thiện lương phải bằng cách này hay cách khác trả lại cho những người dân đã làm ra nó. Cha chưa bao giờ muốn gia đình chúng ta sở hữu nhiều hơn một triệu đô-la.’ Khi bước chân vào thương vụ Seaboard, ông đã giải thích với tôi rằng đó là để hỗ trợ gia đình nhà Wilson—họ là những người bạn cũ, và ông đã làm cố vấn pháp lý cho họ trong nhiều năm—nhằm xây dựng và phát triển miền Nam. Ông đã bàn bạc với tôi về tính đúng đắn cũng như sự khôn ngoan khi đưa các Quỹ Ủy thác vào đó. Ông nói ông coi đó là bổn phận của mình khi sử dụng chúng giống như cách ông dùng tài sản cá nhân vào những dự án nhằm giúp ích cho toàn thể người dân miền Nam, thay vì gửi chúng ra miền Bắc để bị lợi dụng ở Phố Wall như những chiếc dây curoa cho cỗ máy xay thịt của “Hệ thống”. Những khối tài sản đó được tạo ra ở miền Nam bởi những con người yêu vùng đất này hơn cả sự giàu có, vậy tại sao chúng lại không được tận dụng để mang lại lợi ích cho chính mảnh đất mà những người tạo ra và sở hữu chúng hằng yêu quý? Tôi vẫn nhớ như in ông đã bối rối thế nào khi vào thời điểm ban đầu, nhà Wilson cho ông thấy những khoản đầu tư đang mang lại lợi nhuận lớn bất thường.
‘Thật không phải đạo chút nào, Beulah,’ ông nói với tôi vào một buổi sáng sau khi nhận được bức thư từ Baltimore thông báo rằng cổ phiếu và trái phiếu Seaboard đã tăng giá đến mức khoản đầu tư của ông sinh lời trên năm mươi phần trăm, ‘chúng ta không nên kiếm số tiền này. Không một người đàn ông nào ở nước Mỹ nên kiếm được nhiều hơn mức lãi suất hợp pháp và một khoản lợi nhuận công bằng từ một khoản đầu tư, ý cha là một khoản đầu tư tư bản thuần túy và đơn thuần, đặc biệt là trong một công ty vận tải, nơi mà từng đô-la lợi nhuận đều rút ra từ chính túi tiền của những người dân ủng hộ các tuyến đường đó. Cha đã tính toán kỹ lưỡng mọi khía cạnh, và điều này không hề đúng đắn; nó sẽ là hành động phi pháp nếu người dân—những người tự đặt ra luật pháp để cải thiện cuộc sống cho chính mình—hiểu rõ về các vấn đề của họ như lẽ ra họ phải thế.’
Ông vẫn luôn viết thư giục nhà Wilson điều hành công việc của Seaboard sao cho mỗi năm chỉ giữ lại khoản lợi nhuận vừa đủ để duy trì đường ray, giữ gìn các bến tàu ở trạng thái tốt, đồng thời trả tiền lãi hàng năm và một khoản cổ tức hợp pháp. Và khi nhà Wilson đến nhà chúng tôi để trình bày lời đề nghị của Reinhart cùng bè lũ cướp bóc của y về việc trả mức lợi nhuận khổng lồ để đổi lấy quyền kiểm soát Seaboard, ông đã vô cùng phẫn nộ và tranh luận với họ rằng lời đề nghị đó là một sự sỉ nhục đối với những con người lương thiện. Chính ông là người đã khuyên nên áp dụng hình thức kiểm soát ủy thác đối với số cổ phiếu Seaboard nhằm ngăn chặn Reinhart nắm quyền chi phối. Tôi đã ngồi trong thư viện khi ông trò chuyện với ông Wilson cha và các giám đốc.
Ông đã kêu gọi trực tiếp John Wilson hãy nỗ lực chặn đứng xu hướng ngày càng gia tăng là lợi dụng người dân như những con tốt thí để biến chính họ và con cháu họ thành nô lệ. Ông nói rằng một người đàn ông có uy tín, địa vị và tài sản không tì vết, một người được nhân dân tin tưởng, phải đứng lên phát động cuộc chiến chống lại những con quỷ dữ ở New York này, những kẻ chỉ biết chăm chăm vun vén sự giàu có. Và ông đã bảo với John Wilson rằng chính ông ta là người thích hợp nhất, bởi ông ta sở hữu khối tài sản kếch xù được tích lũy một cách lương thiện bởi cha và ông nội; sẽ chẳng ai dám buộc tội ông ta là kẻ đạo đức giả đang tìm kiếm sự nổi tiếng, và địa vị của ông ta trong thế giới tài chính lâu đời và vững chắc đến mức họ buộc phải lắng nghe ông. Tôi nhớ rõ cha đã nhấn mạnh biết bao: ‘Cha nói cho cậu nghe này, hỡi John, ngay cả việc bàn luận về một đề nghị như kẻ vô lại Reinhart đưa ra cũng là một sự hạ thấp danh dự của một công dân Mỹ.’ Ông nói rằng sẽ chẳng có chút khác biệt nào nếu Reinhart đếm tiền triệu của y bằng xấp, là giám đốc của ba mươi hay bốn mươi thể chế lớn, và năm nào cũng quyên góp một gia tài cho các hoạt động từ thiện và nhà thờ—thì y vẫn cứ là một tên lừa đảo bịp bợm mà thôi. Và bất kỳ kẻ nào dám tuyên bố rằng y sẽ lấy cổ phiếu của một công ty vận tải, vốn đại diện cho một lượng tiền đầu tư nhất định, rồi nhân đôi hoặc nhân năm, nhân mười nó lên đơn thuần vì y có quyền ép người dân phải trả mức giá vé và cước vận chuyển cắt cổ để thu lợi nhuận trên số vốn được thổi phồng một cách gian lận đó, thì kẻ ấy cũng đều là một tên bịp bợm y hệt.
Chính quyết định mà cha và nhà Wilson đã đạt được trong cuộc họp này—một quyết định trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng nhất quyết từ chối để cho người dân miền Nam của chúng ta bị bóp nát dưới bàn tay của “Hệ thống” Phố Wall—đã khiến Reinhart và bè lũ khát máu ấy nổi giận lôi đình và xách gươm ra trận. Các ông có thể thấy qua những gì tôi kể về cha mình tình cảnh khủng khiếp đến nhường nào mà ông đang phải gánh chịu hiện nay. Ban đêm, khi tôi nghĩ về ông, nuôi hy vọng giữa muôn vàn tuyệt vọng, khi chẳng có lấy một ai giúp đỡ, chẳng một ai để ông có thể cùng bầu bạn tâm sự về những rắc rối của mình, khi nghĩ đến sự cao thượng của ông khi dành trọn thời gian chăm sóc mẹ và dùng ý chí tuyệt đối để giấu kín khỏi bà nỗi đau đớn tột cùng của mình, điều đó gần như khiến tôi phát điên lên được.”
“Cô Sands, tại sao cô lại nhất quyết không để tôi cho cô vay số tiền cần thiết để giúp cha cô vượt qua giai đoạn khó khăn này trong một thời gian?” tôi hỏi.
“Anh tốt thật đấy, anh Randolph, nhưng anh vẫn chưa thực sự hiểu về cha tôi bất chấp những gì tôi vừa kể. Ông sẽ không bao giờ chịu giải tỏa nỗi đau đớn của mình trên mồ hôi nước mắt của người khác đâu, dù cho nó có trầm trọng gấp trăm lần đi nữa. Anh không thể hiểu được niềm kiêu hãnh cổ kính và bám rễ sâu xa của dòng họ Sands đâu.”
“Nhưng chẳng lẽ cô không thể, chí ít là tạm thời, che giấu khỏi ông cách thức mà cô đã sắp xếp để cứu nguy sao?”
Đôi mắt xanh to tròn của cô nhìn tôi đầy hoang mang.
“Anh Randolph, tôi không thể lừa dối cha. Tôi không thể nói dối ông ngay cả để đổi lấy mạng sống của mình. Điều đó là bất khả thi. Cha tôi căm ghét lời dối trá tột cùng. Ông tin rằng một người đàn ông hay đàn bà nói dối chính là kẻ thấp kém nhất trong những thứ thấp kém trên đời. Khi tôi trở về bên cha, ông sẽ cất lời: ‘Hãy kể cho cha nghe những gì con đã làm đi.’ Tôi như có thể nhìn thấy hình ảnh ông lúc này, đang đứng giữa những chiếc cột trắng sừng sững ở cuối lối đi dẫn vào nhà. Tôi như nghe thấy giọng nói bình thản của ông vang lên: ‘Beulah, con gái của cha, chào mừng con đã trở về. Mẹ đang đợi con ở phòng kìa. Đừng lãng phí chút thời gian nào mà hãy mau đến với bà đi.’ Sau đó ông sẽ dẫn tôi đi dạo quanh đồn điền để chỉ cho tôi xem tất cả những khung cảnh quen thuộc, và ông sẽ không cho phép tôi thốt ra dù chỉ một lời về chuyện làm ăn cho đến khi bữa tối kết thúc, cho đến khi những vị láng giềng đã ra về, bởi không một thành viên nào của gia đình Sands đi xa trở về mà lại không nhận được một sự chào đón ấm cúng đúng nghĩa tại quê nhà. Khi tôi đã chúc ngủ ngon mẹ và em gái, và khi ông kéo chiếc ghế bập bênh của tôi lại gần chiếc ghế lớn của ông trong góc thư viện, đồng thời tôi châm điếu xì-giar cho ông, ông sẽ nhìn thẳng vào mắt tôi và nói: ‘Con gái, hãy kể cho cha nghe mọi việc con đã làm.’ Tôi thà chết còn hơn là nghĩ đến chuyện giấu giếm ông điều gì, chẳng khác nào tự tay đâm một nhát dao vào trái tim ông vậy. Không đâu, anh Randolph, hoàn toàn không có khả năng nào để giải cứu tình hình ngoài việc tận dụng một cách sòng phẳng số tiền 30.000 đô-la đó, và đàng hoàng giành lại những gì Phố Wall đã cướp đoạt từ tay cha. Ngay cả việc đó cũng sẽ khiến cả hai chúng tôi phải dằn vặt khôn nguôi, và bất kỳ điều gì vượt quá giới hạn ấy đều là điều không tưởng. Nếu điều này không thể thực hiện được, cha tôi, và tất cả chúng tôi, buộc phải trả giá cho hành động tàn nhẫn của Reinhart.”
Bob đã chăm chú lắng nghe nhưng không đưa ra bất kỳ bình luận nào cho đến khi cô dứt lời; rồi anh cất giọng: “Tôi thấy thị trường đang có những chuyển biến theo hướng có lẽ chúng ta sẽ có thể làm được điều gì đó trong thời gian sớm thôi.” Cả hai chúng tôi đều nhận thấy anh đang ấp ủ một kế hoạch nào đó trong đầu.
Không lâu sau, chúng tôi được biết rằng tối hôm đó Beulah đã viết cho cha mình một bức thư dài, tường thuật lại những việc cô đã làm; rằng cô đã thu về khoản lợi nhuận gần hai triệu từ các thương vụ của mình, rằng số tiền ấy đã mất sạch, và viễn cảnh trước mắt không hề khả quan chút nào. Cô khẩn khoản xin ông hãy chuẩn bị tinh thần cho thảm họa cuối cùng; đồng thời hứa hẹn rằng nếu không có bất kỳ chuyển biến tốt đẹp nào trước ngày 1 tháng 12, cô sẽ trở về nhà để ở bên ông khi cơn bão âp đến. Cô nài nỉ ông hãy chuẩn bị đối mặt với nó như một người mang dòng họ Sands thực thụ, và quả quyết với ông rằng nếu tình hình chuyển biến theo chiều hướng tồi tệ nhất, cô sẽ tự kiếm đủ tiền để xua đuổi bóng đóm nghèo đói. Thẩm phán Sands sẽ nhận được bức thư này vào ngày thứ hai sau đó, thứ Sáu, ngày 13 tháng 11. Lạy Chúa tôi! Sao tôi có thể quên được ngày đó chứ. Nó đã hằn sâu vào tâm can tôi hệt như thể bị khắc bởi một thanh sắt nung đỏ.
Sau cuộc trò chuyện với Beulah Sands, tôi nài nỉ Bob cùng ăn tối và bàn bạc kỹ lưỡng các vấn đề để xem liệu chúng ta có thể tìm ra lối thoát để giải cứu tình hình hay không.
“Không, Jim, tối nay tôi có việc phải làm, một công việc không thể trì hoãn. Dự luật Thuế quan đó đã được thông báo chốt hạ trong hôm nay, và người ta vừa loan tin rằng ban giám đốc công ty Đường đã công bố khoản cổ tức bằng cổ phiếu bổ sung vô cùng lớn. Mọi chuyện diễn ra đúng như những gì tôi đã tiên đoán với cậu, và giá cổ phiếu đang leo thang từng ngày hôm nay. Người ta đồn rằng nó sẽ chạm mốc 200 vào ngày mai và ‘Phố’ đang dự báo con số 250 trong vòng mười ngày tới. Barry Conant đã liên tục gom mua trong suốt cả ngày và các cơ quan thông tấn công bố rằng Camemeyer và ‘Standard Oil’ đã bỏ túi khoản lợi nhuận lên tới hai mươi triệu. Họ bảo rằng những kẻ cờ bạc ở Washington, các nghị sĩ, thượng nghị sĩ và các thành viên nội bộ chính phủ cùng đám tay sai và vận động viên hành lang của họ đã vớ bẫm. Dường như bất kỳ ai cũng được vỗ béo, hỡi Jim, ngoại trừ cậu, tôi, Beulah Sands và công chúng. Công chúng vẫn luôn là kẻ chịu trát rìu từ cả hai phía như thường lệ. Họ đã bị rũ bỏ khỏi số cổ phiếu của mình, và họ sẽ buộc phải trả thêm hàng triệu đô-la mỗi năm cho lượng đường tiêu thụ nhiều hơn so với mức lẽ ra họ phải trả nếu đạo luật này không được ban hành vì lợi ích của họ. Jim, không thể chối cãi một thực tế rằng người dân Mỹ cũng hoàn toàn bất lực trong tay những tên côn đồ của ‘Hệ thống’ hệt như thể họ đang sống dưới vương quốc của Sultan, nơi một nhúm băng cướp cắt cổ được cấp phép cướp bóc và áp bức tùy theo sở thích của chúng. Jim Randolph, cậu hiểu rõ trò chơi tài chính này mà. Cậu biết rõ nó được vận hành thế nào và những kẻ đứng sau vận hành nó ra sao. Hãy nói cho tôi biết liệu Phố Wall cùng đám đồ tể chuyên móc tim móc phổi người khác có xứng đáng nhận được bất kỳ sự nương tay nào từ những con người lương thiện hay không.”
“Tôi không hiểu cậu đang nói gì cả, Bob. Cậu đang ám chỉ điều gì vậy?”
“Đừng bận tâm đến việc tôi đang ám chỉ điều gì. Tôi chỉ hỏi cậu rằng, nếu một người đàn ông lương thiện biết cách đánh bại Phố Wall bằng chính trò chơi của bọn chúng, liệu anh ta có nên do dự khi đánh bại nó hay không—do dự chỉ vì bất kỳ điều gì liên quan đến lương tâm hay đạo đức? Cậu đã thấy những gì Barry Conant có thể làm với chúng ta vào ngày hôm đó chỉ bằng cách đứng trên sàn Giao dịch Chứng khoán và kiên trì hơn tôi trong việc mở và ngậm miệng lại. Cậu đã thấy hắn có thể bán cổ phiếu Đường xuống mức giá thấp đến mức tôi buộc phải buông bỏ 150.000 cổ phiếu của chúng ta với giá ít hơn từ tám đến mười triệu đô-la so với số tiền chúng ta lẽ ra có thể thu về nếu có thể giữ chúng cho đến ngày hôm nay. Chính vì thủ đoạn này mà khách hàng của hắn, tức ‘Hệ thống’, chứ không phải chúng ta, đã đút túi từ năm đến bảy triệu.”
“Tôi không theo kịp ý cậu, Bob. Tôi chỉ biết rằng Barry Conant có thể làm được điều đó vì hắn có tiềm lực tài chính mạnh hơn cậu.”
“Cậu nghĩ vậy phải không, Jim? Đó là cách nhìn nhận của cậu, nhưng tôi khẳng định với cậu rằng tiền bạc chẳng dính líu gì đến chuyện này cả. Chẳng có gì dính líu ngoài hệ thống lừa đảo và bịp bợm tàn độc mà toàn bộ cấu trúc cờ bạc chứng khoán được dựng lên trên đó. Không có gì tham gia vào toàn bộ câu chuyện này ngoài sự bịp bợm của cờ bạc chứng khoán được tiến hành ngày nay. Đơn giản chỉ là vấn đề một người mở và ngậm miệng lại rồi thốt ra những từ ngữ, hỡi Jim. Kể từ phút Barry Conant bước vào đám đông đó cho đến khi hắn rời đi và chúng ta khánh kiệt, hắn chẳng hề trưng ra một đồng vốn nào, chẳng trưng ra bất cứ thứ gì mà tôi không có. Do chính bản chất của ngành kinh doanh này, hắn không thể làm khác được. Hắn chỉ liên tục và lặp đi lặp lại từ ‘Bán’ nhiều hơn và lâu hơn tôi nói từ ‘Mua’. Hắn có thể có tiền hậu thuẫn đằng sau, hoặc hắn cũng có thể chỉ có sự liều lĩnh. Chỉ có Thượng đế toàn năng mới biết được điều đó, bởi khi Conant kết thúc, hắn đã có thể mua lại với giá 90 đối với số 50.000 cổ phiếu mà hắn đã bán cho tôi ở mức 175, chính 50.000 cổ phiếu đã bẻ gãy sống lưng tôi. Jim, nếu ngày hôm đó tôi hiểu biết nhiều như bây giờ, tôi đã đứng sững trong đám đông đó và mua sạch số cổ phiếu hắn bán ra ở mức 180 và tôi sẽ đứng đó mua cho đến khi địa ngục đóng băng hoặc hắn chịu đầu hàng thì thôi; khi đó tôi sẽ buộc hắn phải mua lại với giá 280 hoặc 2.080, và tôi sẽ đánh gục hắn cùng toàn bộ bè lũ Camemeyer và những kẻ chống lưng thuộc ‘Standard Oil’ của hắn; đánh cho chúng thân bại danh liệt đến tận đồng tiền dính đầy tội ác cuối cùng.”
“Bob, cậu đang nói nhảm gì thế? Đối với tôi tất cả những thứ đó chẳng khác nào tiếng Trung Quốc cả. Tôi chẳng tài nào hiểu nổi đầu đuôi câu chuyện cậu đang ám chỉ là gì.”
“Tôi biết cậu không thể hiểu được, Jim, và Phố Wall cũng sẽ chẳng tài nào hiểu nổi nếu nó đang lắng nghe tôi lúc này. Nhưng cậu sẽ hiểu, và Phố Wall rồi cũng sẽ hiểu, trước khi nhiều ngày trôi qua. Giờ thì tôi phải đi đây. Tôi còn việc phải làm.”
Anh đội mũ lên và rời đi, để lại tôi một mình cố gắng vắt óc suy ngẫm xem rốt cuộc ý anh là gì.
Ngày hôm sau, phe đánh lên cổ phiếu Đường đã làm chủ hoàn cảnh trên sàn Giao dịch Chứng khoán. Suốt cả ngày dài, họ chuyền tay nhau những lô cổ phiếu Đường hệt như thể mỗi nghìn cổ phiếu chỉ là một nhúm cỏ khô thay vì trị giá tới 200.000 đô-la—bởi chẳng lâu sau giờ mở cửa, giá của nó đã vọt lên mức 200. Đám tay chân của “Hệ thống” nắm quyền kiểm soát tuyệt đối, với Barry Conant chưa từng rời khỏi trụ giao dịch Đường dù chỉ một phút, luôn túc trực để điều hướng giá cả khi chúng có nguy cơ bùng nổ theo chiều hướng tăng hoặc giảm. Đối với những bậc thầy đọc băng giấy ticker, rõ ràng là “Hệ thống” đang chải chuốt cho con chiến mã của mình để chuẩn bị cho một cuộc đua huy hoàng chưa từng thấy. Ike Bloomstein, gã cuồng Số liệu Trung bình, kẻ trong suốt bốn mươi năm qua đã bám sát từng biến động trên sàn, và sẵn sàng cá cược bất cứ thứ gì, từ dinh thự trên Đại lộ Fifth cho đến chiếc mũ rơm nhàu nhĩ trong phòng họp hội đồng của mình, rằng mọi cổ phiếu và biến động đều tuân thủ nghiêm ngặt quy luật trung bình hệt như thủy triều tuân theo mặt trăng và mặt trời, đã lẩm bẩm với Joe Barnes, chuyên gia cho vay:
“‘Cam’ cồng đám Kerosene đang bơm thêm mấy thanh ray phụ cho cái chuồng cừu mà bọn chúng đã dựng lên kể từ lúc gom bố con Prownlee và nhà Rantolph vào tròng. Trừ phi cái bảng thống kê của tôi hỏng hóc, còn không thì lần đầu tiên trong suốt bốn mươi năm qua, chúng ta sẽ được chứng kiến một kỷ lục bị phá trước khi tuần này kết thúc.”
“Tôi đồng ý với ông điểm đó, Ike,” Joe đáp lời. “Nếu hàm răng sắc như dao cạo của Barry Conant mà báo hiệu một vụ mổ thịt, thì chắc chắn hôm nay chính là ngày đó. Tôi vừa nhận được lệnh từ đâu đó hạ lãi suất cho vay qua đêm từ bốn xuống còn hai rưỡi phần trăm, và chúng giao cho tôi tận mười triệu để thực hiện việc hạ mức lãi đó kèm theo chỉ thị ưu tiên cổ phiếu Đường làm tài sản thế chấp. Hình như có ai đó đang vô cùng sốt sắng tạo điều kiện cho đám cừu non kiếm tiền xu để mua toàn bộ số cổ phiếu Đường mà chúng muốn. Ike, ông với tôi có thể kiếm được khoản tiền hậu hĩnh cho Lễ Tạ ơn nếu chúng ta biết chắc liệu Barry cùng băng nhóm của hắn có định đẩy vọt nó lên thêm ba mươi hoặc bốn mươi điểm trước khi lật úp cái túi lại, hay liệu chúng sẽ chôn vùi họ từ mức 200 xuống 150 đây. Ông nghĩ sao?”
“Tôi chẳng tài nào đoán nổi, dù cho tôi đã dán mắt theo dõi bọn chúng sát sao cả ngày nay. Bọn chúng rõ ràng đã xếp hàng sẵn đám cừu non ngay lúc này theo bất kỳ hướng nào chúng muốn bẻ lái. Tôi chưa từng thấy thị trường nào thuận lợi hơn cho một trận cuồng phong lũ lụt cả. Dựa theo mọi hành động của Barry suốt cả ngày nay, tôi dám cá là bọn chúng sẽ tiếp tục kéo giá lên cho đến tận khoảng trưa ngày mai, và rằng chúng có thể đẩy nó lên mức hai mươi ba mươi hoặc thậm chí hai trăm rưỡi. Nhưng trên bảng tin lại có một hoặc hai chỉ dấu đi ngược lại hướng đó. Đầu tiên là thực tế rằng ông không thể xua đuổi đi được, đó là hiện trên cỗ xe ngựa cổ phiếu Đường lúc này đang chở số lượng ‘con gà béo’ mọng nước lớn nhất từng mò đến từ các vùng ngoại ô. Sharley Pates nói rằng nếu bất kỳ ai lén nghe đường dây điện thoại Washington của anh ta hoặc bất kỳ đường dây điện thoại Quốc hội nào khác trong tuần này, anh ta sẽ tưởng chừng như đang có cuộc điểm danh tại Thượng viện, Hạ viện và Nội các. Các chỉ báo cho hay ‘Cam’ sẽ không bao giờ đời nào để cho lũ quan tham béo ú đó thoát thân với tiền thật trong tay nếu hắn có thể ngăn cản điều đó và toàn bộ trò chơi đang nằm gọn trong tầm kiểm soát của hắn.”
“Tôi đồng ý với ông, Ike. Nếu tôi là kẻ cầm lái cuộc thanh trừng này, tôi nghĩ mình sẽ chẳng dại gì mạo hiểm cá cược bằng cách kéo nó vượt quá mốc 200 để rồi cám dỗ bọn chúng bán tháo và vơ vét lợi nhuận. Nhưng cậu chẳng thể nào đoán trước được ‘Cam’ và đám nha sĩ bốn mắt ở số 26 phố Broadway sẽ giở trò gì đâu.”
“Ừ, nhưng còn một chuyện nữa, Cho ạ, khiến tôi cứ phải ngồi ngẩn người suy nghĩ về việc liệu nó có vượt qua mốc hai trăm hay không. Ngày mai chính là thứ Sáu ngày 13 đấy.”
“Dĩ nhiên rồi, Ike, đó là một yếu tố cần phải tính đến, và mọi tay môi giới trên sàn cũng như ở Phố Wall đều đang dán mắt vào nó. Thứ Sáu ngày 13 đủ sức bẻ gãy bất kỳ thị trường đầu cơ giá lên nào đang hoạt động tốt nhất. Ông với tôi đều thừa hiểu điều đó, Ike, và các tài liệu thống kê cũng đã chứng minh rõ ràng, nhưng ông phải đối chiếu nó với thực tế này trong chuyến đi này: chẳng có tay môi giới nào trên sàn hiểu rõ ý nghĩa của ngày thứ Sáu ngày 13 hơn Barry Conant. Hắn đã tận dụng nó thành công mỹ mãn không biết bao nhiêu lần rồi. Cả ngày hôm nay Barry thậm chí còn chẳng dám ăn uống gì vì sợ thức ăn nghẹn ở cổ họng. Hắn chưa từng rời khỏi trụ giao dịch lấy một phút; nhưng giả sử, Ike, Barry đã đánh tiếng cho ‘Cam’ rằng tất cả đám trẻ con sẽ buông xuôi các thương vụ của chúng, và phần lớn trong số chúng sẽ giữ một vị thế bán khống qua đêm để đón đầu cú sụt giảm mang tính mê tín dị cực vào lúc mở cửa; và giả sử ‘Cam’ đã bảo hắn gom sạch bọn chúng vào tròng rồi đẩy giá lên chạm nóc nhà vào lúc mở cửa, thì khi đó ngày thứ Sáu ngày 13 già cỗi sẽ rơi vào đâu trên các bảng chỉ số tương lai đây? Nó sẽ kéo mức trung bình tăng vọt lên chứ gì, đúng không? Tôi nói cho ông hay, Ike, lần chạy đà này quá thâm sâu đối với tôi, và tôi sẽ kệ thây nó để tự tậu gà tây từ tiền hoa hồng cho vay hoặc cứ trung thành với món ăn ngày thường giản dị thôi.”
“Tôi cũng thế, Cho. Này Cho, cậu có để ý đến cụ Prownlee ngày hôm nay không? Lão ta cứ bám chặt lấy cái rìa của đám đông cổ phiếu Đường hệt như thể có ai đó vừa giật mất chiếc khăn quàng cổ và lão đang rình vồ lấy kẻ đó khi hắn bước ra ngoài. Lão chẳng thực hiện một giao dịch nào trong ngày hôm nay vậy mà cứ bám dính như tem thuế. Tôi vẫn luôn để mắt đến lão vì nghĩ rằng lão đang ủ mưu trò gì đó có thể làm bay bụi tung mù lên khi thả nó ra. Tôi nghĩ Barry cũng có chung ý tưởng đó. Hắn chẳng bao giờ rời mắt khỏi lão, thế mà cụ Prownlee vẫn chẳng thực hiện một giao dịch nào trong ngày hôm nay, và kìa, hiện tại chỉ còn cách giờ đóng cửa hai mươi phút và Barry lại đang đứng giữa trung tâm hô hào đẩy giá vượt qua mức hai trăm linh bốn.”