Buổi chiều, sau khi bữa trưa đã qua đi, có tiếng chuông reo ở cửa sau, và người ta xướng tên ông Montagu Blake. Đã có một chút sự cố hoặc rắc rối nhỏ xảy ra. Thói quen của ông Blake khi đến Croker's Hall là cưỡi ngựa vào sân, giao con vật lại cho Hayonotes, rồi đi lối cửa sau vào nhà. Vào dịp này, Hayonotes đã bị xao lãng đáng kể trong công việc, và đang bàn tán về tình trạng đáng thương của ông Baggett với Thornybush ngay bên chiếc cổng vườn rau. Do đó, ông Blake đã tự dẫn con ngựa của mình vào chuồng, và khi toan dắt nó vào ô chuồng, ông đã bị cản trở và lúng túng bởi chiếc chân gỗ đang thò ra của Trung sĩ Baggett.
“Ô kìa! Có chuyện gì thế hả?” một giọng nói vang lên, cất lời với ông Blake từ đống rơm. “Anh xuống dưới kia đi, lão bạn, và mua cho chúng tôi ba xu rượu kem thung lũng ở quán Cock xem nào.”
Bấy giờ ông Blake mới nhận ra rằng vị khách đến trước này không ở trong trạng thái có thể giúp ích gì cho mình, bèn buộc con ngựa của mình vào một ô chuồng khác. Thế nhưng khi bước vào nhà, ông Blake liền báo tin có một kẻ lạ mặt đang ở trong chuồng ngựa, và bóng gió rằng vị quý ông một chân nọ đã ngắm nghía ai đó đang uống một ly gin. Ngay lập tức, bà Baggett bật lên một tiếng thét vang trời đầy thống khổ. “Cái đồ say sưa tởm lợm ấy! Lẽ ra hắn phải bị nhốt vào cái xó tối tăm nhất mà họ có ở cái đất Alresford này mới phải.”
“Nhưng quý ông đó là ai vậy?” ông Blake hỏi.
“Chồng tôi đấy, thưa ngài; tôi chẳng buồn chối cãi làm gì. Hắn chính là cái ách mà tôi phải gánh chịu, và nó nặng nề làm sao. Chắc chắn ngài đã từng nghe danh Trung sĩ Baggett;—tên khốn nạn nát rượu nhất, bỉ ổi nhất, lười biếng nhất mà Nữ hoàng từng có trong quân ngũ, và là kẻ gây khó chịu nhất cho một người đàn bà khi phải chung sống dưới danh nghĩa một người chồng! Dù một người phụ nữ có đoan trang đến đâu đi nữa, hắn cũng sẽ nốc sạch cả váy áo của cô ta, cho đến tận cả đồ lót bên trong. Ngài sẽ thấy thế nào, thưa ngài, nếu phải vướng vào một con quái vật như thế, sau khi đã sống cả đời sung sướng như bất kỳ một phu nhân nào trên cõi đời này? Chẳng phải đó là một sự sụt giảm tồi tệ hay sao, thưa ông Blake? Và rồi lại bị khóa cả tráp đựng đồ, bị bảo rằng chìa khóa cửa phòng ngủ của mình đang nằm trong túi của chủ nhà.” Cứ thế, bà Baggett tiếp tục than van cho số phận của mình.
Sau khi đã dứt ra khỏi bà lão ném đá giấu tay ấy, và nghĩ ngợi về những rắc rối khó chịu mà một quý ông có cơ ngơi đồ sộ hơn ông có thể gặp phải, ông Blake liền tiến vào phòng khách, nơi ông tìm thấy một mình Mary Lawrie; và sau khi ngỏ lời xin lỗi về cách thức đột nhập của mình, cùng vài câu nói đùa cợt có ý trêu chọc về đôi chân của vị chiến binh trong chuồng ngựa, ông lập tức đặt câu hỏi về John Gordon.
“Ông Gordon ư!” Mary nói. “Sáng nay anh ấy có đến đây cùng ông Whittlestaff, nhưng từ đó đến nay tôi không hề hay biết gì về anh ấy nữa.”
“Anh ấy không quay lại London sao?”
“Tôi không biết anh ấy đã đi đâu. Đêm qua anh ấy ngủ ở Alresford, nhưng từ đó đến nay tôi không rõ tung tích.”
“Anh ấy đã gửi túi xách nhờ người phục vụ ở quán trọ mang ra ga xe lửa khi đến đây. Tôi đã tìm thấy túi xách của anh ấy ở đó, nhưng chẳng nghe ngóng được gì về con người anh ấy. Ở quán trọ, người ta bảo tôi rằng anh ấy sẽ lên đây, và tôi cứ nghĩ mình sẽ tìm thấy anh ấy ở đây hoặc gặp anh ấy dọc đường.”
“Anh có việc gì đặc biệt muốn tìm anh ấy sao?”
“À, vâng.”
“Anh có quen ông Gordon không?”
“À, vâng; tôi có quen. Nghĩa là, tối qua anh ấy đã dùng bữa tối với tôi. Chúng tôi từng học chung ở Oxford, và tối qua chúng tôi đã trò chuyện về những chuyến phiêu lưu của mình từ dạo ấy.”
“Anh ấy kể với anh rằng mình từng ở các mỏ kim cương chứ?”
“Ồ, vâng; tôi biết rõ mọi chuyện về các mỏ kim cương. Nhưng ông Hall đặc biệt muốn gặp anh ấy trên Công viên.” (Ông Hall là vị điền chủ có bốn cô con gái sống ở Little Alresford.) “Ông Hall nói rằng ông ấy từng quen biết cha của anh ấy từ nhiều năm trước, và đã phái tôi đi tìm anh ấy. Tôi sẽ rất áy náy nếu anh ấy bỏ đi mà không ghé qua Nhà Little Alresford. Anh ấy không thể quay lại London trước bốn giờ chiều nay, vì không có chuyến tàu nào khác. Cô có biết gì về lịch trình của anh ấy không?”
“Hoàn toàn không. Đã mấy năm nay, ông Gordon hoàn toàn xa lạ với tôi.” Ông Blake nhìn vào khuôn mặt nàng, và nhận ra có điều gì đó đang khiến nàng phiền muộn. Nhìn nét mặt nàng, ông lập tức đoán ra rằng ông Whittlestaff cũng giống như chú chó ngậm chặt khúc xương của mình, còn John Gordon thì giống như con chó kia — kẻ phải chịu cảnh hụt hẫng — và đã bị đuổi xéo khỏi khu vực nhà chó. “Tôi đinh ninh rằng ông Gordon đã đi rồi, nếu không về London thì cũng đi theo một hướng nào đó.” Rõ ràng là thiếu nữ này ngầm ra hiệu cho ông hiểu rằng nàng không thể nói gì và cũng chẳng biết gì về tung tích của ông Gordon.
“Chắc tôi phải ra ga để lại lời nhắn cho anh ấy vậy,” ông Blake nói. Cô Lawrie chỉ lắc đầu. “Ông Hall sẽ rất tiếc nuối nếu bỏ lỡ anh ấy. Hơn nữa, tôi lại có một vài tin vui đặc biệt muốn báo cho anh ấy.”
“Tin vui đặc biệt!” Liệu có phải đã xảy ra chuyện gì khiến ông Whittlestaff thay đổi ý định hay không. Đó là đề tài duy nhất vào thời điểm này có ý nghĩa như một tin tức đặc biệt tốt lành đối với nàng.
“Vâng, quả thực vậy, thưa cô Lawrie; có thể nói là tin vui nhân đôi. Cuối cùng thì cụ ông Harbottle đã qua đời ở San Remo rồi.” Mary thừa biết ông Harbottle là ai — hoặc đã từng là ai. Ông Harbottle từng là vị mục sư tại Little Alresford, người mà ông Blake vẫn đang mòn mỏi chờ đợi qua đời để có thể vừa bước chân vào chốn hôn nhân hạnh phúc vừa nhận lấy bổng lộc xứ đạo. Ông ấy là một con người vô cùng mãn nguyện, và thường xuyên bàn tán về những điều tốt đẹp mà Vận Mệnh sắp ban phốt cho mình, đến nỗi tin tức về vận may của ông ta đã lọt đến cả tai của Mary Lawrie.
“Đương nhiên nghe cách nói đó hơi kỳ quặc,” ông Blake tiếp lời; “nhưng ngặt nỗi cụ đã quá già lại bị suyễn nặng, và không tài nào quay trở lại được nữa. Tất nhiên là tôi vô cùng thương tiếc cho cụ — xét theo một khía cạnh nào đó; nhưng mặt khác thì tôi lại rất vui mừng. Thật là điều tuyệt vời khi có sẵn ngôi nhà trong tay, để có thể bắt tay vào việc sơn sửa ngay lập tức, sẵn sàng cho ngày cô ấy về đây. Cha cô ấy không chịu gả cô ấy cho tôi cho đến khi tôi nhận được chức mục sư này, và tôi nghĩ ông ấy đã đúng, bởi tôi chẳng dại gì mà bỏ tiền ra sơn sửa và làm những việc tương tự cho một thứ chưa chắc chắn. Đã thế thì cụ ông cứ việc mà đi, hà cớ gì tôi phải che giấu sự thật? Dù nghe có vẻ phũ phàng thật đấy, nhưng đương nhiên là tôi phải vui mừng rồi.”
“Nhưng tin vui nhân đôi là gì thế ạ?”
“Ồ, tôi chưa kể với cô sao. Cô Forrester sắp đến Công viên đấy. Cô ấy đến không phải vì ông Harbottle qua đời đâu. Đó chỉ là sự trùng hợp thôi. Chúng tôi chưa kết hôn ngay lập tức đâu — không phải kiểu cưới liền tay đâu nhé. Tôi sẽ phải tới Winchester vì chuyện đó. Nhưng giờ đây khi cụ Harbottle đã ra đi, tôi sẽ ấn định ngày cưới; cứ chờ mà xem. Nhưng tôi thực sự phải đi đây, cô Lawrie. Ông Hall sẽ nổi giận lôi đình nếu tôi không tìm thấy Gordon, và chẳng thể biết được anh ta sẽ lang thang đi đâu trong lúc tôi cứ đứng đây trò chuyện thế này.”
Rồi ông chào từ già, nhưng lại quay lại trước khi kịp khép cánh cửa phía sau. “Cô không thể cử ai đi cùng tôi sao, cô Lawrie? Tôi cứ ngấm ngầm sợ gã đàn ông chân gỗ ngoài chuồng ngựa kia, nhỡ hắn chồm dậy rồi mắng mỏ tôi thì sao. Hắn vừa đòi tôi mua cho một ít rượu gin — thật là vô lý hết sức.” Nhưng sau khi được trấn an rằng mình sẽ gặp lại người hầu ngựa quanh khu vực đó, ông liền bước ra, và tiếng vó ngựa của ông chẳng mấy chốc đã vang lên lộp cộp trên đường.
Ông đã thực sự tìm thấy John Gordon, người đang thẫn thờ chờ đợi tại quán Claimant's Arms để đón chuyến tàu lúc bốn giờ đưa anh trở về London, trên con đường — như anh tự nhủ — quay lại các mỏ kim cương. Anh đã dồn hết tâm can, toàn bộ sinh lực mà anh có thể huy động, vào những lời lẽ khẩn khoản cho chính mình và cho Mary trước mặt ông Whittlestaff. Thế nhưng anh lại cảm thấy sự yếu thế của bản thân ở chỗ không thể tiếp tục túc trực tại hiện trường để chứng kiến tác dụng từ những lời mình nói. Một khi đã giãi bày tâm sự, anh chỉ còn cách ra đi; và thật khó lòng mong đợi người ta mảy may màng đến sự hùng biện của một kẻ vắng mặt, của một kẻ vừa tuyên bố sắp sửa lên đường sang Nam Phi. Anh biết những điều mình nói là sự thật, và vì là sự thật, chúng lẽ ra phải giành phần thắng; nhưng một khi đã thốt lên điều đó, anh chẳng còn việc gì khác ngoài việc cất bước ra đi. Anh không thể gặp lại chính Mary một lần nữa, và dẫu có gặp đi chăng nữa, nàng cũng khó lòng nhún nhường trước anh hơn là ông Whittlestaff. Anh sẽ chẳng còn chút cớ gì để tiếp tục đeo bám người thiếu nữ sắp trở thành vợ của người khác. Thế nên anh cứ ngồi đó trong phòng khách nhỏ của quán Claimant's Arms với vẻ bồn chồn, thẫn thờ và khốn khổ, thầm nghĩ rằng chuyến hành trình dài đằng đẵng mà anh thực hiện đã trôi qua trong vô vọng, và trên cõi đời này chẳng còn gì vương vấn với anh ngoài việc quay trở lại Kimberley, để gom góp thêm vài viên kim cương vào gia tài mưu sinh của mình.
“Ồ, Gordon!” Blake vừa xông vào phòng vừa kêu lên, “anh chính là người mà tôi đang đỏ mắt tìm kiếm đây. Anh không thể về London vào ngày hôm nay được đâu.”
“Không được sao?”
“Hoàn toàn không thể bàn cãi. Ông Hall từng quen biết thân thiết với cha anh khi anh mới chỉ là một chú nhóc tì.”
“Việc đó có ngăn cản nổi chuyện tôi về London không?”
“Chắc chắn là có chứ. Ông ấy muốn nối lại mối thâm tình. Ông ấy là một con người vô cùng hiếu khách và đôn hậu; và ai mà biết được chứ, biết đâu một trong bốn cô con gái vẫn còn cơ hội cho anh thì sao.”
“Ông Hall là ai vậy?” Chắc chắn là anh đã từng nghe cái tên này vào tối hôm trước; nhưng cái tên Hall quá đỗi phổ biến nên anh đã quên bén mất.
“Ông Hall là ai ư? Chà, ông ấy là điền chủ của Little Alresford, và là người bảo trợ của tôi. Tôi quên mất là anh chưa nghe tin cụ Harbottle cuối cùng đã qua đời rồi. Đương nhiên là tôi rất thương tiếc cụ ông xét theo một nghĩa nào đó; nhưng mặt khác thì đó lại là một phúc lớn. Tôi mới tròn ba mươi tuổi, và việc tôi may mắn vớ được xứ đạo này theo cách thế này thực sự là một điều quá lớn lao.”
“Tôi chẳng cần phải ở lại chỉ vì ông Harbottle chết.”
“Nhưng Kattie Forrester sắp đến Công viên rồi. Tối qua tôi đã nói với anh rồi đấy, nhưng chắc là anh quên sạch rồi; hơn nữa lúc đó tôi đâu có biết ông Hall quen biết với anh, hay là ông ấy lại tha thiết muốn tỏ lòng hiếu khách đến thế. Ông ấy dặn tôi phải bảo anh mang ngay túi xách lên dinh thự. Chẳng có gì lịch sự hơn thế được nữa đâu. Đương nhiên là tôi đã cho ông ấy biết chúng ta từng học chung ở Oxford rồi. Thế mới có trọng lượng chứ.”
“Kết hợp cả trường đại học lẫn hội nhóm của anh vào đấy cơ à,” Gordon châm chọc.
“Đừng có cợt nhả, vì tôi đang nói chuyện nghiêm túc đấy. Kattie Forrester sẽ đến trên chính chuyến tàu lẽ ra đưa anh đi tiếp về London, và tôi phải đợi để đưa cô ấy lên xe ngựa của ông Hall. Tôi dám cá là một trong các cô con gái cũng sẽ có mặt ở đó, và anh có thể nán lại gặp mặt nếu thích. Nếu anh chuẩn bị sẵn sàng hành lý, người đánh xe sẽ tiện tay chở nó cùng với đống hành lý của Kattie. Kìa, xe ngựa của Công viên đang chạy xuống phố kìa. Tôi phải ra chặn lão Steadypace người đánh xe lại đã; chỉ là anh đừng có dây dưa lâu quá đấy, vì tôi không muốn Kattie lên đến sân ga mà chẳng có ai ra đón tiếp lo liệu đâu.”
Dường như trong chuyện này đang mở ra cho John Gordon một cơ hội để ở lại vùng lân cận của Mary Lawrie thêm ít nhất một ngày nữa, và anh quyết tâm nắm bắt lấy thời cơ đó. Do đó, cùng với người bạn Blake, anh ra gặp người đánh xe, dặn dò chu đáo về việc tìm chiếc túi xách ở sân ga, rồi chuẩn bị cất bước đi bộ ra Công viên.
“Anh cứ ra ga đi,” anh nói với Blake, “rồi có thể ngồi xe ngựa quay ngược trở lại.”
“Đương nhiên tôi sẽ gặp lại anh trên nhà lớn rồi,” Blake nói. “Thậm chí tôi còn được mời ở lại đó trong suốt thời gian Kattie làm khách ở nhà họ nữa kìa. Không có sự đón tiếp nào nồng hậu bằng của ông Hall và bốn cô con gái của ông ấy đâu. Tôi cũng muốn cho anh vài lời khuyên lắm, ngặt nỗi thú thật là tôi chẳng biết anh sẽ chấm cô nào hơn. Bọn họ có chút gì đó hao hao giống nhau; nhưng nét đó sẽ phai nhạt dần khi anh quen thân hơn. Tôi từng nghe người ta đồn rằng hai cô chị lớn trông rất giống nhau. Nếu quả thực vậy, có lẽ anh sẽ ưng cô thứ ba hơn đấy. Cô thứ ba là người dễ mến nhất, vì mái tóc của cô ấy có phần sẫm màu hơn mấy người kia một chút. Thôi tôi phải đi thật đây, chứ tôi thà chết chứ không để tàu vào ga trước khi tôi kịp đặt chân lên sân ga đâu.” Nói xong, hắn chạy ù ra khu chuồng ngựa và lập tức quất ngựa phi đi mất hút.
Gordon thanh toán tiền phòng, rồi bắt đầu cất bước đi bộ đến Công viên Little Alresford. Nhìn ngược về những ký ức thuở thơ ấu, anh chỉ láng thoáng nhớ ra mình từng nghe cha nhắc đến ông Hall. Chỉ có vậy mà thôi. Cha anh giờ đây đã qua đời, và quả thực, anh thầm nghĩ, đã nhiều năm nay chẳng còn ai nhắc đến cái tên ấy nữa. Thế nhưng lời mời mawhf rất lịch sự, và đằng nào anh cũng phải ở lại vùng này, biết đâu anh lại có cơ hội gặp lại Mary Lawrie hoặc ông Whittlestaff một lần nữa thì sao. Anh nhận ra Công viên Little Alresford nằm xen giữa thị trấn và nhà thờ của ông Blake, thế nên anh đã đến cổng sớm hơn dự kiến. Anh bước vào, và vì vẫn còn dư dã thời gian, anh liền rẽ khỏi con đường chính để leo lên một ngọn đồi, thực chất là một vùng đồi trọc dù vẫn nằm trong hàng rào của công viên. Tại đây, anh nhìn thấy đàn hươu đang gặm cỏ, và một lúc sau thì đi tới một cánh rừng sồi. Giờ thì anh đã đi xuống sườn đồi bên kia, và thấy mình đứng sát rễ một ngôi nhà người làm đẹp nhất mà anh từng nhớ là mình từng thấy. Lúc bấy giờ hãy còn là tháng Sáu, trời oi bức, và đôi chân anh đã phải càn quét suốt cả buổi sáng. Rồi anh bắt đầu cẩu thả trò chuyện, hay đúng hơn là tự lẩm bẩm trong đầu. “Quả là một gã may mắn cái tay Montagu Blake này! Hắn có trong tay mọi thứ — không phải những gì hắn cần, mà là những gì hắn nghĩ là mình cần. Công việc trong đời hắn đơn giản chỉ là cuộc dạo chơi. Hắn sắp cưới một người vợ — không phải người hoàn hảo, mà là người mà hắn tưởng là hoàn hảo. Trông hắn lúc nào cũng khỏe mạnh như thể chưa từng ngã bệnh dù chỉ một ngày trong đời. Hắn sẽ xoay sở ra sao nếu phải mò mẫm bới tìm kim cương giữa bùn đất bụi bặm của Kimberley? Thay vào đó, hắn lại có thể ngả mình thảnh thơi tại một chốn như thế này, và ngẫm nghĩ về bài giảng đạo của mình giữa những tán sồi.” Rồi anh bắt đầu tò mò liệu bài giảng ấy có thể thấm đượm chút hương vị của những tán sồi hay không, và nếu thế thì sẽ tuyệt vời đến mức nào, và trong lúc mải miết suy tư như vậy, anh đã chìm vào giấc ngủ lúc nào không hay.
Anh chìm vào giấc ngủ chưa được bao lâu, có lẽ chỉ chừng năm phút, thì trong cơn mơ màng, anh bỗng nhận thức được rằng có một bóng người lớn tuổi đang đứng sừng sững ngay trên đầu mình. Người ta thường có sự mẫn cảm với vạn vật trước khoảnh khắc tỉnh giấc, một cách rõ mồn một đến mức mang lại cho kẻ đang ngủ một cảm giác sai lệch về sự tồn tại thực tế. “Ta tự hỏi không biết có phải ngài là ông Gordon không nhỉ,” cụ già cất tiếng hỏi.
“Chính là cháu đây ạ,” Gordon đáp. “Cháu tự hỏi làm sao bác lại nhận ra cháu cơ chứ.”
“Bởi vì ta đang ngóng đợi cậu mà.” Có điều gì đó vô cùng bí ẩn trong câu nói này — tuy nhiên, sự huyền bí ấy lập tức tan biến ngay khi anh vừa đủ tỉnh táo để suy xét sự tình. “Cậu là bạn của ông Blake.”
“Vâng; cháu là bạn của ông Blake.”
“Còn ta là ông Hall. Ta không ngờ lại tìm thấy cậu đang lăn ra ngủ ở Rừng Gar này đâu. Nhưng khi bắt gặp một vị khách lạ đang ngủ say sưa trong Rừng Gar, ta cứ xâu chuỗi mọi thứ lại với nhau, và đi đến kết luận rằng không trật đi đâu được, chắc chắn cậu phải là ông Gordon.”
“Cháu nghĩ đây là nơi đẹp nhất trên trần gian này.”
“Phải; chúng ta khá tự hào về Rừng Gar đấy — đặc biệt là khi đàn hươu đang gặm cỏ trên sườn đồi phía bên trái kìa, giống hệt như lúc này đây. Nếu cậu không có ý định ngủ tiếp nữa, chúng ta hãy đi bộ lên nhà lớn nhé. Xe ngựa kìa. Ta nghe thấy tiếng bánh xe rồi đấy. Mấy đứa con gái đã đi xuống để đón cô dâu của bạn cậu rồi. Ông Blake vốn rất sủng ái cô dâu của mình — ta dám cá là cậu cũng đã nhận ra điều đó.”
Rồi, trong lúc cả hai cùng bước đi về phía dinh thự, ông Hall giải thích rằng giữa cụ ông Gordon và ông đã từng có chút xích mích nhỏ về tiền bạc vào những năm về trước. “Ta rất lấy làm tiếc, nhưng ta phải lo cho bản thân mình trước. Chắc là cậu chẳng hay biết gì về chuyện đó đâu.”
“Cháu chỉ từng nghe qua tên bác — thế thôi ạ.”
“Ta không cần phải nói thêm gì về chuyện đó nữa,” ông Hall tiếp lời; “chỉ là khi nghe tin cậu có mặt ở vùng này, ta rất vui mừng vì có được cơ hội để gặp mặt cậu. Blake nói với ta rằng cậu quen biết người bạn Whittlestaff của ta.”
“Cháu không hề quen ngài ấy cho đến tận sáng hôm qua.”
“Thế thì cậu hẳn biết cô thiếu nữ ở đó chứ; một thiếu nữ vô cùng duyên dáng. Các cô con gái của ta cực kỳ quý mến Mary Lawrie. Ta hy vọng chúng ta có thể kéo họ sang đây chơi trong suốt thời gian cậu lưu lại nơi này.”
“Cháu chỉ có thể ở lại một đêm — hoặc chậm lắm là hai đêm thôi, thưa ông Hall.”
“Nào nào,ớớ! Chúng ta vẫn còn những chốn khác trong vùng để cho cậu thưởng ngoạn, đẹp chẳng kém gì Rừng Gar đâu. Dù nói thế là ngoa đấy: Ta không nghĩ có mảnh đất nào tuyệt mỹ đến mức sánh được với Rừng Gar vào những mùa đàn hươu tụ tập. Cậu hẳn phải có một con mắt tinh đời lắm đấy, hỡi ông Gordon, khi có thể tự mình nhận ra nơi này ngay lập tức; nhưng rốt cuộc thì nó cũng chỉ chuốc cho cậu một giấc ngủ ngon mà thôi. Ta tự hỏi liệu Vườn Quạ có ru cậu chìm vào giấc ngủ nữa không đây. Chúng ta đi lối này nhé, để né cái sự trang trọng cứng nhắc của cửa chính, và ta sẽ giới thiệu cậu với các con gái ta cùng cô Forrester.”