"Hôm nay có giấy mời chúng ta đến ăn tối ở Little Alresford đấy." Ông Whittlestaff nói với Mary Lawrie ngay sau bữa sáng, vào ngày tiếp theo sau khi ông Gordon tới. "Anh nghĩ chúng ta sẽ đi."
"Anh không thể để em ở nhà sao?"
"Tuyệt đối không. Anh muốn em làm quen với mấy cô gái ở đó, họ đều là những người tốt."
"Nhưng có cả ông Gordon ở đó mà."
"Chính xác. Đó đúng là điều anh muốn. Sẽ tốt hơn nếu em và cậu ta gặp nhau mà không phải làm rùm beng lên." Từ điều này, có thể hiểu rằng ông Whittlestaff đã giải thích cho Mary những gì ông thấy cần thiết về những chuyện đã xảy ra giữa ông và John Gordon, và những câu trả lời của Mary đã làm ông thỏa mãn. Mary đã nói với ông rằng cô hài lòng với số phận của mình, đúng như những gì ông Whittlestaff đã định đoạt cho cô. Cô không hề tỏ ra quá phấn khích; nhưng ngặt nỗi ông cũng chẳng mong đợi điều đó. Cô không đoan chắc với ông rằng cô sẽ quên được John Gordon. Ông cũng chẳng đòi hỏi điều đó ở cô. Cô chỉ đơn giản nói rằng nếu ông đã thấy mãn nguyện—thì cô cũng vậy. "Anh nghĩ rằng ở bên anh, chí ít thì cưng ạ, em sẽ được bình yên." "Em hoàn toàn chắc chắn mình sẽ được bình yên," cô đã đáp lời như thế. Và bấy nhiêu là đủ.
Nhưng qua đó, độc giả cũng sẽ hiểu rằng ông đã không đi tìm câu trả lời cho những câu hỏi đầy sức nặng mà John Gordon đã đặt ra cho ông. Liệu cô có yêu John Gordon lâu hơn không? Liệu cô có yêu anh ta nhiều hơn không? Chắc chắn có một sự ích kỷ cẩn trọng nhất định trong cách mà ông đã hành sự. Thế nhưng, thật không thể buộc tội ông là kẻ ích kỷ nói chung. Ông sẵn sàng dâng hiến cho cô mọi thứ—làm tất cả vì cô. Hơn nữa, trước tiên ông đã cầu hôn cô với tất cả sự trân trọng. Và rồi ông luôn có thể tự bảo vệ mình bằng viện dẫn rằng ông đang làm những điều tốt nhất có thể cho cô. Tài sản của ông rất vững chắc—được đầu tư vào công trái ba phần trăm, như bà Baggett đã gợi ý; trong khi tài sản của John Gordon toàn là kim cương. Kim cương thường hay bay biến và tan thành mây khói biết nhường nào? Chúng là thứ mà một người có thể đút túi, rồi đánh mất hoặc đem cho người khác. Chúng không thể—ông Whittlestaff nghĩ vậy—được đem ra lập quỹ tín thác, hay giao phó cho người thi hành di chúc quản lý. Chúng không thể được chứng thực. Ai dám chắc rằng, khi mưu tính cho tương lai của một người phụ nữ, thứ đá quý kia sẽ không biến thành một mảnh thủy tinh tầm thường? "John Gordon có thể là một chàng trai rất vững vàng; nhưng chúng ta chỉ có lời nói của chính cậu ta để làm bằng chứng cho điều đó,"—như ông Whittlestaff đã tự nhủ với bản thân. Chẳng có gì phải nghi ngờ khi chính ông Whittlestaff mới là chỗ dựa an toàn hơn trong hai người để một tiểu thư có thể nương tựa. Ông tự biện hộ cho mình đủ điều, và quả quyết rằng những lý lẽ ấy đủ vững chắc để ông hoàn toàn tin tưởng. Thế nhưng thẳm sâu trong lòng ông vẫn nhói đau—một nỗi đau thầm kín—cứ thì thầm với ông rằng ông không phải là người được yêu thương nhiều nhất. Dù vậy, ông đã cương quyết không đem câu hỏi đó ra gặng hỏi Mary. Nếu cô không muốn thổ lộ tình cảm của mình, ông cũng chẳng muốn. Thật đáng tiếc, thật tiếc vô cùng khi sự thể lại nông nỗi này. Tuy nhiên, trái tim cô rồi sẽ có lúc đổi thay. Rồi sẽ đến ngày cô nhận ra rằng ông mới là chỗ dựa vượt trội hơn để nương thân. John Gordon có thể biến mất giữa những mỏ kim cương và chẳng còn tăm tích gì nữa. Dẫu sao đi nữa, ông cũng sẽ làm những gì tốt nhất cho cô, để cô không phải hối hận vì lời hứa của mình. Nhưng ông quyết tâm rằng giao ước ấy, một khi đã được thiết lập, thì phải được thực hiện đến cùng. Do đó, khi thông báo cho Mary về lời mời mà ông nhận được từ Little Alresford, ông thấy không cần phải đưa ra lời giải thích đặc biệt nào để đáp lại câu hỏi của cô về John Gordon.
Cô hiểu hết thảy, và tận sâu trong đáy lòng, cô không thể đưa ra lời phán xét chống lại ông. Cô thừa nhận rằng ông đang làm những gì mà ông tin là tốt nhất cho hạnh phúc của cô. Quá choáng ngợp trước món nợ ân nghĩa, cô đã ưng thuận lời đề nghị của ông và sau đó không thể rút lại lời nói của mình. Cô đã nói rằng mọi chuyện sẽ là như vậy, và cô không thể quay lưng phản lại ông để rồi tuyên bố rằng khi trao tay cho ông, cô vẫn chưa dứt bỏ bóng hình của người tình cũ. Làm thế là bất công, tàn nhẫn, vô ơn và ích kỷ, và điều đó khiến cô không thể chấp nhận nổi việc chính mình lại là kẻ gây ra chuyện ấy. Thà rằng cô phải chịu đựng đau khổ, dẫu cho nỗi đau ấy kéo dài suốt cuộc đời, còn hơn là để ông phải thất vọng. Chắc chắn người đàn ông kia cũng sẽ đau khổ—người hùng của cô, người tình của cô—người mà cô sẵn sàng đánh đổi tất cả, có hay không có kim cương đi chăng nữa. Dẫu vậy, cô không thể chịu được ý nghĩ rằng ông Whittlestaff lại phải sống quá đỗi thận trọng và khôn ngoan chỉ vì lợi ích của cô. Cô sẽ đến gặp ông, nhưng là vì những lý do khác. Khi đi dạo quanh khu đất suốt nửa ngày, lên xuống con đường mòn dài dặc, cô tự nhủ rằng việc chống lại tình yêu của chính mình là vô ích. Cô thực sự yêu John Gordon; cô biết rằng cô yêu anh bằng cả trái tim; cô biết mình phải chung thủy với anh—nhưng cô vẫn sẽ kết hôn với ông Whittlestaff, và làm tròn bổn phận của mình trong hoàn cảnh sống mà Thượng đế đã an bài. Sẽ có một sự hy sinh—sự hy sinh của hai con người—nhưng dẫu sao đó vẫn là lẽ công bằng.
Chẳng phải cô đã đồng ý đón nhận mọi thứ từ ông Whittlestaff hay sao: bánh mì, thịt thà, quần áo, mái nhà che chở, và cả địa vị trong xã hội mà cô đang tận hưởng? Giá như người đàn ông kia xuất hiện sớm hơn chỉ một ngày thôi, thì mọi chuyện đã tốt đẹp biết bao. Cô đã thổ lộ tình cảm của mình trước khi ông Whittlestaff ngỏ lời muốn cưới cô. Hoàn cảnh trớ trêu đã sắp đặt khác đi, và cô buộc phải nhẫn nhục chịu đựng. Nhưng cô thừa nhận rằng sẽ tốt hơn cho cô nếu không bao giờ phải gặp lại John Gordon nữa. Giá như anh lập tức khởi hành đi Luân Đôn rồi từ đó đến các mỏ kim cương mà không gặp lại cô lần nào nữa, thì cô sẽ cảm thấy mình đã trở thành nạn nhân của định mệnh nghiệt ngã; khi ấy sẽ chẳng còn hy vọng—và cũng chẳng còn sợ hãi. Giá như anh lên đường sang Nam Phi một lần nữa, cô sẽ coi mọi nỗ lực quay trở lại vì lợi ích cá nhân của cô là điều bất khả thi. Nhưng giờ đây, mọi chuyện đối với cô sẽ ra sao? Ông Whittlestaff đã điềm tĩnh đến lạnh lùng bảo cô rằng cô sẽ phải gặp lại người đàn ông này một lần nữa, ngồi cùng bàn với anh ta như những người bạn cũ, và lại chịu ảnh hưởng từ anh ta. "Sẽ tốt hơn nếu em và cậu ta gặp nhau," ông đã nói, "mà không phải làm rùm beng lên." Làm sao cô có thể quả quyết với ông rằng mọi chuyện sẽ trôi qua trong êm thắm đây?
Lúc đầu cô định viện cớ đau đầu, một cái cớ phụ nữ rất đỗi thông thường; nhưng nếu làm vậy chẳng khác nào cô thú nhận toàn bộ sự thật với người chủ nhà; cô sẽ thừa nhận rằng mình yêu người đàn ông kia sâu đậm đến mức không thể chịu nổi khi đối diện với anh ta. Bây giờ cô đành để mọi chuyện diễn ra theo đúng ý ông. Cô phải đến nhà ông Hall, và ở đó đối mặt với người cô yêu bằng tất cả vẻ lạnh lùng mà cô có thể cố gắng gượng gạo bày ra.
Nhưng điều tồi tệ nhất trong tất cả nằm ở chỗ—cô cứ đinh ninh rằng anh lưu luyến ở lại khu này là để tìm cách xoay chuyển tình thế. Cô đã tự nhủ hết lần này đến lần khác rằng điều đó là bất khả thi, rằng cô buộc phải đưa ra quyết định như cô đã làm, và ông Whittlestaff cũng đã quyết định như vậy. Anh đã dùng đến mọi sự hùng biện mà anh có, nhưng tất cả đều vô ích. Giờ đây anh chỉ có thể kêu gọi chính cô, và trước lời kêu gọi ấy chỉ có thể có một câu trả lời duy nhất. Và làm sao một lời khẩn cầu như thế có thể được thốt ra trong phòng khách nhà ông Hall chứ? Quả thực John Gordon thật dại dột khi cứ quẩn quanh ở vùng này. Sẽ chẳng có gì ngoài rắc rối sinh ra từ chuyện đó.
"Thế là cô lại sắp đi gặp cái tay thanh niên ấy đấy à!" Lời này thốt ra từ miệng bà Baggett, người đã trải qua một buổi sáng đầy náo động. Viên Trung sĩ đã ngủ lại ngoài chuồng ngựa suốt cả đêm, và được chính vợ mình mang bữa sáng ấm nóng ra tận nơi; nhưng ông ta cứ ngồi xổm giữa đống rơm, nháy mắt với bà, và nài nỉ bà cho xin chút rượu gin pha vào nước cháo. Bà đã đồng ý, có lẽ vì nghĩ rằng mình không thể tước bỏ hoàn toàn những thứ đồ uống quen mà ông ta hay dùng nếu không muốn ông ta ngã bệnh. Sau đó, dưới tác động của hơi men và lời hứa về một chiếc vé tàu đi Portsmouth mà bà đảm bảo sẽ mua cho ông ta ở nhà ga, ông ta đã chịu theo bà đi xuống, và cuối cùng đã thực sự bị tống đi. Chiếc rương của chính bà vẫn bị khóa lại, và bà đã phải ngủ chung với một trong hai cô hầu gái. Tất cả những chuyện đó diễn ra đã gây ra một sự xáo trộn không nhỏ trong gia đình. Bản thân bà rất tức giận với ông chủ vì cái rương; bà rất giận Mary, vì bà nghĩ Mary đang lạnh nhạt với người tình cũ; bà rất giận ông Gordon, bởi bà thừa hiểu rằng ông Gordon đang cố tình phá rối sự sắp đặt mà gia đình đã vun vén. Bà rất giận chồng mình, không phải vì ông ta vốn là một lão già nát rượu đốn mạt, mà vì ông ta đã làm bà mất mặt trầm trọng trong dịp này bởi cái thứ âm thanh huyên náo mà ông ta gây ra ngoài đường cái. Chắc chắn bà đã bị đối xử bất công trong vụ cái rương, và hoàn toàn có thể kiện ông chủ ra tòa. Nhưng bà không thể trở mặt với ông chủ theo cách đó được. Bà có thể tạt vào mặt ông vài câu thật phũ phàng, và bà đã làm điều đó rất thoải mái; nhưng bà không tài nào nhẫn tâm cạy ổ khóa cửa nhà ông được. Hơn nữa, tình hình hiện tại khiến bà nghĩ rằng ở lại Croker's Hall thêm vài ngày nữa cũng chẳng sao. Dịp đám cưới của ông chủ sắp tới chính là nguyên nhân khiến bà phải rời đi. Bà không thể chịu được cảnh mình không phải là người đứng đầu trong số các phụ nữ ở Croker's Hall. Nhưng việc có ai đó dám xen vào chuyện của ông chủ là điều vượt quá sức chịu đựng đối với cảm xúc của bà; và bà nghĩ rằng, nếu cần thiết, bà có thể dùng cái lưỡi sắc bén của mình để phò trợ cho ông. Do đó, bà vẫn sẵn lòng ở lại vị trí cũ thêm vài ngày nữa, và sau khi đã mua được vé cho chồng—việc này đã được hoàn tất trước bữa sáng của ông Whittlestaff—bà liền đến thông báo quyết định của mình cho ông chủ. "Đừng có làm trò hề nữa," ông Whittlestaff đã nói.
"Tôi lúc nào chẳng là kẻ ngốc, dù đi hay ở, thế nên chuyện đó chẳng có gì là quan trọng cả." Đó là câu trả lời của bà, và rồi bà quay vào quát mắng lũ gia nhân.
Ngay khi nghe tin về bữa tiệc tối đã được định đoạt, bà liền châm chọc Mary Lawrie. "Thế là cô lại sắp đi gặp cái tay thanh niên ấy đấy à?"
"Ông Whittlestaff chuẩn bị đến ăn tối ở Little Alresford, và có ý định dẫn tôi đi cùng."
"Ồ vâng; chuyện đó hay ho thật đấy. Nếu theo ý tôi thì ông ấy đã bỏ xó cô ở nhà rồi. Nào là ông Gordon ở đây, ông Gordon ở đấy! Tôi tự hỏi cái ông Gordon ấy là cái thá gì cơ chứ! Chẳng khá khẩm hơn một tên thợ mỏ bình thường là mấy. Than đá với kim cương đối với tôi cũng thế cả thôi;—nếu được chọn thì tôi thà chọn than đá còn hơn." Nhưng Mary không có tâm trạng đôi co với bà Baggett, cô đành để mụ già giành phần thắng.
Khi đến giờ lên đường dự tiệc, ông Whittlestaff để Mary ngồi cùng xe ngựa kéo với ông. "Quanh đó lúc nào cũng có người làm vườn," ông nói, "thế nên chúng ta không cần dẫn theo thằng bé xà ích." Ý định của ông, như Mary phần nào hiểu được, là để ông có thể nói ra những lời cuối cùng mà ông ấp ủ mà không phải bận tâm đến đôi tai nào khác ngoài cô.
Mary chắc hẳn sẽ ngạc nhiên nếu biết ông Whittlestaff đã dồn bao nhiêu tâm tư đau đớn vào chuyện này. Trong mắt cô, dường như ông đã đưa ra quyết định mà chẳng hề tốn chút công sức nào, và cứ thế kiên định tuân theo nó. Ông nghĩ việc kết hôn với cô là phải phép; và sau khi ngỏ lời rồi nhận được sự đồng thuận của cô, ông dự định sẽ nắm bắt lời hứa ấy. Đó là ý nghĩ của cô về ông Whittlestaff, và cô hoàn toàn không trách móc gì ông cả. Nhưng thực chất, cứ mỗi mười lăm phút là ông lại thay đổi ý định của mình—hoặc không thay đổi, mà cứ ngẫm nghĩ hết lần này đến lần khác suốt cả ngày trời xem liệu mình có nên từ bỏ bản thân và mọi niềm hạnh phúc để chiều theo ý tưởng lãng mạn là đem lại hạnh phúc tột cùng cho cô gái này hay không. Nếu làm vậy, ông sẽ phải từ bỏ tất cả. Thế gian sẽ chẳng còn lại gì có thể khiến ông mảy may bận tâm nữa. Những khoảnh khắc ấy gợi lên trong đầu ông những ý nghĩ điên rồ về mức độ hy sinh mà ông sẽ phải gánh chịu. Cô sẽ có mọi thứ—ngôi nhà của ông, gia tài của ông; và anh ta, John Gordon, với tư cách là một phần gắn liền với cô, cũng sẽ có được những thứ đó. Bản thân ông, Whittlestaff, sẽ tự xóa sổ chính mình nếu việc đó là khả thi. Ý nghĩ tự tử là điều ghê tởm đối với ông—nó thật đồi bại, hèn nhát và vô nhân tính. Nhưng nếu tình cảnh này xảy ra, ông thà chết đi còn hơn. Rồi ông lại tự an ủi bản thân bằng cách đinh ninh rằng giữa hai người, chắc chắn ông sẽ là một người chồng tốt hơn. Ông lớn tuổi hơn. Phải; thật đáng tiếc khi ông lại già hơn cô nhiều đến thế. Và ông biết rằng mình già trước tuổi—một người mà một cô gái như Mary Lawrie khó lòng có thể yêu say đắm. Ông tự lôi ra tất cả những sự thật phũ phàng để đay nghiến bản thân chẳng kém gì bất kỳ đối thủ trẻ tuổi nào. Ông soi mình trong gương hết lần này đến lần khác, và lần nào cũng tự đưa ra phán quyết chê bai ngoại hình của chính mình. Chẳng có điểm gì ở ông có thể thu hút được người khác. Ông tự nhủ như thế—khi tự đánh giá bản thân một cách vô cùng bất công. Ông coi những điểm nhỏ nhặt chẳng bao giờ có thể làm lung lay tâm trí và phán đoán của Mary là những khuyết điểm chí mạng của mình. Nhưng sự thật là trong thâm tâm, ông chỉ nghĩ đến hạnh phúc của cô. Dù vậy, trong đầu ông vẫn thường trực một ý nghĩ rằng ông hầu như chẳng biết làm thế nào để đối xử tốt với cô như lẽ ra ông có thể làm được nếu không vì Catherine Bailey. Đã từng thất bại hai lần, và cả hai lần đều thất bại một cách thê thảm! Đối với ông, việc phải nếm trải thất bại một lần trong chuyện tình cảm đã gần như là một nhát dao chí mạng. Làm sao ông có thể chịu đựng nó thêm lần thứ hai mà vẫn sống nổi cơ chứ? Dẫu vậy, ông vẫn nỗ lực để chỉ nghĩ đến hạnh phúc của cô. "Em không thấy lạnh chứ, mình?" ông hỏi.
"Lạnh sao! Chớ, thưa ông Whittlestaff, trời nóng lắm chứ ạ."
"Ý anh là nóng. Ý anh thực ra là muốn nói trời nóng."
"Em có mang theo ô che nắng rồi cơ mà."
"Ồ!—à!—vâng; anh thấy rồi. Đi đi, Tommy. Tôi nghĩ mụ già ngốc nghếch kia cuối cùng rồi cũng sẽ yên vị thôi." Mary không thể đáp lại lời này, bởi theo suy nghĩ của cô, việc bà Baggett có chịu yên vị hay không còn phải phụ thuộc vào cuộc hôn nhân của ông chủ cô. "Anh nghĩ việc ông Hall mời chúng ta theo cách này tỏ ra rất lịch sự."
"Chắc là vậy rồi."
"Bởi vì em có thể chắc chắn là ông ấy đã nghe gián phong thanh gì về mối quen biết trước kia của em với cậu ta rồi."
"Em nghĩ thế à?"
"Chắc chắn là vậy không thể nghi ngờ gì nữa. Ông ấy đã nói bóng nói gió với anh điều đó trong thư tay rồi. Vị mục sư trẻ tuổi của ông ấy hẳn đã thuật lại mọi chuyện. 'Percontatorem fugito nam garrulus idem est.' Anh đã dạy em đủ tiếng Latinh để hiểu câu đó. Nhưng này Mary, nếu em muốn đổi ý, đây sẽ là cơ hội cuối cùng của em đấy." Trái tim ông vào khoảnh khắc ấy vô cùng dịu dàng với cô, và cô đã tự nhủ rằng trái tim mình phải thật sắt đá với ông.