Tình Già

Lượt đọc: 17 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1

❊ ❊ ❊

Ông William Whittlestaff đang thong thả dạo bước qua lại trên lối đi dài tại dinh cơ của mình ở hạt Hampshire, tâm trí bận suy tính về nội dung bức thư đang vo viên trong túi quần. Ông luôn ăn sáng đúng chín giờ, và các thư từ thường được mang đến vào lúc chín giờ mười lăm phút. Người đưa thư thực ra phải có mặt trước cửa lớn lúc Tám giờ bốn mươi lăm phút; nhưng dẫu đã sống ở ngôi nhà này hơn mười lăm năm, và dẫu là một người rất mong mỏi nhận thư từ, ông vẫn chưa bao giờ nắm được giờ giấc chính xác của họ. Ông đành bằng lòng trong sự mù mờ với mốc chín giờ mười lăm phút sáng, thế nhưng vào hôm nay, người phát thư lại chậm mất mười phút so với giờ đó. Ông Whittlestaff đã dùng xong tách trà thứ hai, đang ngồi thừ người trên ghế chẳng có việc gì làm, trước mặt là tách và đĩa trống không suốt hai phút liền; và hậu quả là, sau khi truyền đi một lời nhắn đầy giận dữ cho gã đưa thư, rồi đọc bức thông điệp duy nhất vừa đến trong sáng hôm nay, ông đã trút nỗi lòng rằng: "Ta có bị quất roi đi nữa cũng chẳng thèm dính líu gì đến cô ta đâu."

Nhưng điều này không thể xem là biểu hiện cho tâm trạng thực sự của ông, mà chỉ phản ánh cơn thịnh nộ mà gã đưa thư đã chuốc lên người ông. Nếu sau đó có ai giải thích rằng ông từng thốt lên như thế về một vấn đề quan trọng nhường ấy, chính ông cũng sẽ tuyên bố rằng bản thân mình mới là kẻ đáng bị quất roi. Để thực sự định đoạt được tâm tư về vấn đề này, ông đội mũ, cầm gậy bước ra con đường dạo, rồi suy ngẫm sự việc cho đến ngọn ngành. Bức thư ông cầm trong túi có nguyên văn như sau:

St. Tawell's, Norwich,

Ngày 18 tháng 2—.

ÔNG WHITTLESTAFF KÍNH MẾN,—Tội nghiệp bà Lawrie cuối cùng đã ra đi. Bà ấy từ trần lúc bảy giờ sáng nay, và tội nghiệp Mary giờ chỉ có một mình trên cõi đời này. Tôi đã mời con bé đến ở với chúng tôi vài ngày, chí ít là cho đến khi tang lễ qua đi. Nhưng nó đã từ chối, chắc là vì biết nhà chúng tôi chật chội và đông đúc thế nào. Nó phải làm sao đây? Ông rõ mọi hoàn cảnh còn hơn cả tôi. Con bé tự nói rằng từ trước tới nay nó vẫn được định hướng để làm gia sư, và tất nhiên nó sẽ tiếp tục theo đuổi dự định mà nó và người cha quá cố từng thống nhất. Nhưng đó là một tương lai vô cùng nhọc nhằn, nhất là đối với một người chưa từng qua trường lớp đào tạo chuyên môn nào cho mục đích ấy. Con bé đã tận tụy chăm sóc bà Lawrie suốt mười hai tháng qua chẳng khác nào mẹ ruột. Ông vốn chẳng ưa gì bà Lawrie, tôi cũng thế; và thực ra, tội nghiệp Mary cũng chẳng mấy yêu thương bà ta. Dù vậy, con bé vẫn trọn bề hiếu đạo với mẹ kế. Tôi biết rằng xét về tiền bạc, ông sẽ rất hào phóng; nhưng xin ông hãy suy tính kỹ càng và cố gắng tìm kiếm một tương lai nào đó cho tội nghiệp cô bé.—Thân kính,

Emma King.

Chính để đáp lại một bức thư thế này mà ông Whittlestaff đã tuyên bố rằng "Ông có bị quất roi đi nữa cũng chẳng thèm dính líu gì đến cô ta." Nhưng câu nói đó, vốn thực ra không mang một ý nghĩa đích thực nào, thì cũng chẳng thể xem là ẩn chứa dù chỉ một chút bóng gió mờ nhạt như vẻ bề ngoài của nó. Trong suốt ba tháng qua, ông vẫn luôn tự hỏi bản thân xem số phận của Mary Lawrie rồi sẽ trôi dạt về đâu khi mẹ kế qua đời, và vẫn chưa thể hạ hồi phân giải xem mình có nên hay có thể đón về nhà, dường như với tư cách một người con gái, một thiếu nữ chẳng có chút họ hàng máu mủ nào với ông. Ông vẫn thường bắt đầu chuỗi suy tưởng ấy bằng cách tự nhủ rằng thói đời là một lão già hay xoi mói, và ông muốn biến bất kỳ cô gái nào thành con mình thì cứ việc tùy ý. Thế nhưng rồi, trước bữa tối, ông thường đi đến kết luận rằng bà Baggett sẽ không đời nào chấp thuận. Bà Baggett là quản gia của ông, và đối với ông, bà đích thực là một nhân vật quan trọng. Ông thậm chí còn chưa hé lộ ý định ấy với bà Baggett, và thừa biết bà sẽ chẳng đời nào ưng thuận. Còn về việc đẩy Mary Lawrie ra ngoài xã hội làm nghề gia sư;—ý định đó ông chắc chắn là không khả thi.

Cách đây hai năm, người bạn chí thiết nhất của ông, Đại úy Patrick Lawrie, đã qua đời. Chúng ta không cần bận tâm đến ông ấy làm gì, ngoại trừ việc phải nhắc rằng trong số tất cả mọi người, ông ta là kẻ khánh kiệt nhất. Khi luống tuổi, ông ta tái giá với một người đàn bà khô khan, sắc sảo và có sẵn một khoản tiền trợ cấp. Tương lai của đứa con gái độc nhất từng là niềm đau đớn tột cùng đối với ông; nhưng từ ông Whittlestaff, ông đã nhận được những lời cam kết phần nào xoa dịu tâm can. "Nó sẽ không phải chịu thiếu thốn đâu. Tôi chỉ có thể nói được vậy thôi." Đó là sự an ủi mà ông Whittlestaff đã trao gửi. Kể từ khi người bạn qua đời, ông Whittlestaff vẫn luôn rộng lượng ban những món quà—mà dưới sự chỉ bảo của mẹ kế, Mary đã miễn cưỡng đón nhận. Sự tình là thế khi ông Whittlestaff nhận được bức thư. Sau khi đi qua đi lại trên lối đi dài thêm trọn một tiếng đồng hồ, ông Whittlestaff đã cất tiếng nói lên kết luận mà ông đúc rút được. "Ta chẳng màng mảy may đến bà Baggett." Cần phải hiểu rằng câu nói này hoàn toàn trái ngược với lời khẳng định ban đầu của ông rằng "Ông có bị quất roi đi nữa cũng chẳng thèm dính líu gì đến cô ta." Trong khoảng thời gian đó, ông đã quyết định rằng Mary Lawrie sẽ đến sống với ông, và với tất cả sự vinh danh trọn vẹn của quyền chủ nhân, cùng toàn bộ những đặc quyền lẫn trách nhiệm đi kèm, cô sẽ trở thành bà chủ của dinh cơ này. Và ông cũng tự định đoạt rằng từ trước đến nay ông vẫn luôn nung nấu quyết tâm ấy. Ông đã năm mươi tuổi còn Mary Lawrie mới hai lăm. "Ta muốn làm gì với con bé thì làm," ông tự nhủ, "tựa như nó là con ruột của mình vậy." Ý ông muốn nói là ông sẽ chẳng phải bận tâm việc đem lòng yêu đương cô, và chuyện cô đem lòng yêu ông là điều hoàn toàn không thể xảy ra. "Hãy đi bảo bà Baggett rằng tôi sẽ rất biết ơn nếu bà ấy chịu đội mũ và ra đây với tôi." Ông dặn một cậu bé làm vườn, và mệnh lệnh ấy chẳng có gì là bất thường cả. Những khi muốn biết bà Baggett định nấu món gì cho bữa tối, ông thường cho gọi nữ quản gia già lên và cùng dạo bước với bà trong mười phút. Thói quen đã khiến bà Baggett hoàn toàn quen thuộc với việc này, và nhìn chung thì bà rất thích thú. Giờ đây bà xuất hiện với chiếc mũ trùm đầu và chiếc áo choàng lót bông mà ông chủ đã tặng. "Chắc là chuyện bức thư đó phải không, thưa ngài?" bà Baggett lên tiếng.

Kẻo bà biết trước thế nào?

Chẳng phải tôi đã thấy nét chữ và đường viền đen trên phong bì sao? Bà Lawrie nay đã qua đời rồi còn gì.

Bà Lawrie đã đi về cõi vĩnh hằng rồi.

Tôi e rằng, thưa ngài, bà ấy sẽ chẳng dễ dàng gì mà thanh toán nổi món nợ đời đâu," bà Baggett đáp, với giọng điệu sắc sảo và đầy vẻ châm biếm để bày tỏ sự bất bình.

Bà Baggett này, đừng phán xét để rồi khỏi bị phán xét. Bà Baggett bĩu môi và hếch mũi hít một hơi. "Người đã khuất, và sẽ không một ai ở đây được phép nói lời cay đắng về bà ấy nữa. Cô gái thì vẫn còn đó. Giờ thì ta sẽ nói cho bà nghe dự tính của ta."

Không lẽ cô ta sắp đến đây thật sao, thưa ông Whittlestaff?

Nơi này sẽ là chốn cô ấy đến, nơi này sẽ là chốn cô ấy ở lại, và tại đây cô ấy sẽ có phần trong mọi thứ cứ như thể là con ruột của ta vậy. Và, chẳng kém gì phần nhỏ mọn nhất trong những điều tốt đẹp sắp sửa đến với cô ấy, cô ấy cũng sẽ chiếm một vị trí trong trái tim bà nữa đấy, bà Baggett.

Tôi chẳng biết gì về trái tim mình sất, thưa ông Whittlestaff. Kẻ nào muốn chạm đến trái tim tôi thì phải tự bỏ công sức mà bước vào đấy chứ. Cô Lawrie là cái thá gì mà tôi phải hạ mình chìu chuộng một kẻ mới chân ướt chân ráo bước chân vào cửa?

Cô ấy đơn giản là Mary Lawrie.

Tôi đã già chừng này rồi nên chẳng có hứng thú gì với việc có một cô chủ trẻ tuổi leo lên đầu lên cổ mình đâu. Và điều đó cũng chẳng tốt đẹp gì cho ngài đâu, ông Whittlestaff ạ. Ngài chẳng còn trẻ trung gì nữa—mà cũng chẳng phải lão già lẩm cẩm; và cô ta lại chẳng có chút họ hàng máu mủ nào với ngài cả. Đó mới là điều tồi tệ nhất. Chừng nào cái tên Dorothy Baggett này hãy còn, thì ngài chắc chắn sẽ đổ đứ đừ cô ta cho mà xem. Đoạn, với nỗi sợ hãi trước sự táo tợn trong lời mình vừa thốt, bà nhìn thẳng vào mặt ông và lắc đầu nguây nguẩy.

Bây giờ hãy vào trong đi," ông bảo, "và thu xếp hành lý cho tôi đi vắng ba đêm. Tôi sẽ đến Norwich, và sẽ không dùng bữa tối ở nhà đâu. Hãy bảo John chuẩn bị chiếc xe ngựa, cậu ta phải sẵn sàng đưa tôi ra ga lúc hai giờ mười lăm phút."

Lẽ ra tôi nên tự cắt đứt cái lưỡi của mình đi thì hơn," bà Baggett lẩm bẩm khi quay bước vào nhà, "vì lẽ ra tôi phải dư sức biết rằng làm thế chỉ tổ giục ngài ấy lên đường ngay tức khắc."

Chẳng phải ba ngày, mà trước khi tuần lễ kết thúc, ông Whittlestaff đã trở về nhà, dắt theo một thiếu nữ có nước da ngăm đen, dáng người cao ráo, đương nhiên là đang khoác trên mình bộ tang phục đen tuyền từ đầu đến chân. Đối với bà Baggett, cô là một chủ thể đầy sức hút mãnh liệt; bởi vì, dẫu cho bà chưa hề đồng thuận với đề xuất mà ông chủ đưa ra cho tiểu thư trẻ tuổi, và dẫu cho trong suốt thời gian ông Whittlestaff vắng nhà, bà đã tự nhủ hết lần này đến lần khác rằng mình chắc mẩm Mary Lawrie chỉ là một đứa lẳng lơ xấc láo, nhưng sâu thẳm trong tim, bà thừa hiểu rằng mình không tài nào tiếp tục sống trong căn nhà này mà lại không đem lòng yêu mến một người được chủ nhân yêu quý. Đối với hầu hết những người hầu kẻ hạ trong gia đình, bà đều có cách xử lý riêng. Trừ khi bà chịu ưu ái gã thợ săn cừu, gã làm vườn, cậu bé sai vặt và mấy cô hầu gái dưới quyền, bằng không ông Whittlestaff khó lòng mà bằng lòng với những kẻ bề dưới ấy. Ông là vị chủ nhân dễ chịu nhất mà bất kỳ người hầu nào có được. Thế nhưng sự sủng ái của ông lại phải giành được thông qua những nụ cười của bà Baggett. Tuy nhiên, trong suốt hai năm qua, đã có không biết bao nhiêu cuộc tranh luận xoay quanh Mary Lawrie đủ để bà Baggett đinh ninh rằng, đối với "kẻ xen vào" này—từng được bà Baggett gọi như thế một lần—ông Whittlestaff nhất định sẽ làm theo ý mình. Đã thế thì bà Baggett càng thêm bồn chồn muốn biết liệu tiểu thư trẻ tuổi ấy có phải là người mà bà có thể đem lòng yêu thương hay không.

Thật kỳ lạ làm sao, khi tiểu thư ấy vừa bước chân đến, suốt mười hai tháng trời bà Baggett vẫn không tài nào định đoạt nổi tâm tư của mình. Tiểu thư hoàn toàn khác xa so với những gì bà từng tưởng tượng. Chẳng hề có chút chuyện xen vào quấy rối việc gia đình nào xảy ra cả. Mary rõ ràng đã nghe nhiều về những đức tính—cũng như tật xấu—của bà Baggett, và dường như hiểu rằng trong rất nhiều việc, cô cũng phải đặt bản thân dưới sự sai bảo của bà. "Chúa nhân từ phù hộ cho cô, thưa cô Mary," người ta từng nghe bà nói thế; "cứ như thể tất cả chúng tôi đều không hiểu rằng cô sẽ là bà chủ của mọi thứ ở Croker's Hall này vậy"—đó là tên dinh cơ của ông Whittlestaff. Thế nhưng những ai nghe thấy đều hiểu rằng những lời ấy được thốt ra trong một trạng thái vô cùng hoan hỉ, và qua đó phỏng đoán rằng trái tim bà Baggett đã bị thu phục. Dù vậy, bà Baggett vẫn mang trong lòng những nỗi âu lo; và vẫn chưa dám chắc rằng liệu có khi nào mình phải quay sang chống lại Mary Lawrie với tất cả sự cay nghiệt mà mình có thểm hay không. Trong một hoặc hai tháng đầu tiên sau khi tiểu thư đặt chân đến, bà suýt chút nữa đã đinh ninh rằng Mary Lawrie sẽ chẳng bao giờ đồng ý trở thành vợ ông Whittlestaff. Một ông già hiếm khi nào lại đem lòng yêu mà không nhận được chút khích lệ nào; hay ít ra, sẽ chẳng dám thổ lộ tình cảm của mình. Mary Lawrie đối xử với ông lạnh nhạt cứ như thể ông đã ở tuổi bảy mươi lăm chứ không phải năm mươi. Và cô cũng tỏ ra vô cùng mực thước—qua đó cô còn cho bà Baggett thấy rõ hơn cả sự lạnh nhạt ấy rằng mọi ý định kết hôn đối với cô là điều hoàn toàn không tưởng.

Điều kỳ lạ là bà Baggett lại cảm thấy khó chịu vì chuyện đó. Bởi vì dẫu cho bà chắc chắn cảm thấy, như bất kỳ mụ quản gia thông thường nào ở vị trí của bà, rằng một người vợ sẽ hoàn toàn gây tổn hại đến quyền lợi của bà trong cõi đời này, thế nhưng bà không sao chịu đựng nổi ý nghĩ rằng "một con ranh con kiêu kỳ được vớt vát từ chúa cứu thế" lại dám đi ngược lại bất kỳ mong muốn nào của ông chủ. Có một vài lần bà đã đem chuyện tiểu thư ra bàn tán với ông Whittlestaff và bị ông phũ phàng mắng mỏ cho một trận. Điều này tất nhiên chẳng thể mang lại tâm trạng tốt đẹp gì cho bà, và bà bắt đầu tự huyễn hoặc rằng mình đang nổi giận chỉ vì cô tiểu thư quá ư khách sáo với ông chủ. Thế nhưng khi những tháng ngày trôi qua, bà cảm nhận được rằng Mary đang dần cởi mở hơn, và ông Whittlestaff thì ngày càng trở nên trìu mến hơn. Dĩ nhiên cũng có những khoảng thời gian tâm tư bà lại quay ngoắt đi nơi khác. Nhưng vào cuối năm đó, bà Baggett thực sự mong mỏi cô tiểu thư sẽ kết hôn với ông chủ già của mình. "Tôi có thể dọn về Portsmouth," bà nói với gã thợ bánh mì—một lão ông vô cùng đáng kính và là người được bà tin tưởng nhất chỉ sau mỗi ông chủ, "và chôn vùi phần đời còn lại ở đó." Khi nhắc đến việc "chôn vùi phần đời còn lại," người bạn của bà hiểu thừa rằng bà đang ám chỉ quãng thời gian sống còn lại của cuộc đời mình trên cõi thế, cùng với chuỗi ngày khốn khổ cùng cực nơi hậu vận, hệ quả tất yếu từ việc bà từ bỏ nếp sống hiện tại. Bà Baggett vốn được cho là sinh ra ở Portsmouth, và do đó, bà chỉ viện dẫn đúng một cái nơi chốn duy nhất ấy mà bà tường tận trên đời này, ngoài những tư gia mà ông chủ và gia tộc ông từng sinh sống.

Trước khi tiếp tục miêu tả tính cách của ông Whittlestaff và cô Lawrie, tôi phải dành dăm ba câu để kể về thuở thiếu thời của bà Baggett. Dorothy Tedcaster vốn cất tiếng khóc chào đời tại tư dinh của Đô đốc Whittlestaff, vị quan chức chỉ huy tại xưởng đóng tàu Portsmouth. Tại đó, cha mẹ bà có họ hàng thân thích, và để thăm hỏi những người này, Dorothy khi còn là một thiếu nữ đã rời khỏi dinh cơ của người chủ nhân yêu quý khi ấy là bà Whittlestaff. Bà đã gắn bó với bà Whittlestaff kể từ giây phút chào đời, và tâm trí bà ngập tràn hình bóng bà Whittlestaff đến mức bà đinh ninh rằng bà chủ của mình vượt trội hơn hẳn, nếu không phải về tước vị, thì ít ra cũng ở mọi nét tao nhã và ân huệ trên đời này, so với Nữ hoàng cùng toàn bộ hoàng tộc. Trong một phút lầm lỡ, Dorothy quay trở lại Portsmouth, để rồi chạm trán với kẻ tồi tệ nhất trong số những gã anh hùng quân ngũ—Trung sĩ Baggett. Giữa những giọt nước mắt vắn dài và những lời thú nhận về sự yếu mềm của bản thân, bà đã viết thư cho chủ nhân, thừa nhận rằng mình có ý định kết hôn với "B." Bà Whittlestaff chẳng thể làm gì để ngăn cản, và cuối cùng Dorothy đã kết hôn với "B." Những nỗi khổ đau, sự ngược đãi, cùng cảnh bần hàn nghèo đói mà tội nghiệp Dorothy Baggett phải chịu đựng trong suốt năm tháng ấy, thiết nghĩ chẳng cần phải nhắc lại ở đây. Chắc hẳn giữa bà và người chủ cũ đã có những lời qua tiếng lại khi bà quay về với bà ấy. Thế nhưng về cuộc đời hôn nhân trong những năm tháng sau đó, bà Baggett chưa bao giờ hé răng nửa lời. Ngay cả gã thợ bánh mì cũng chỉ lờ mờ biết rằng từng có một gã Trung sĩ Baggett tồn tại trên đời. Đã bao năm trôi qua kể từ mười lăm phút tồi tệ đó trong cuộc đời bà, trước khi bà Baggett được trao lại cho người chủ hiện tại. Và ông, dẫu có lẽ cũng láng máng biết ít nhiều về gã Trung sĩ gớm ghiếc ấy, chưa từng thấy cần thiết phải nhắc đến tên hắn. Vì điều này mà bà Baggett vô cùng biết ơn, và thường tuyên bố với tất cả mọi người, kể cả gã thợ bánh mì, rằng "đã là quý ông đích thực thì chẳng có vị quý ông nào sánh được với quý ông" là chủ nhân của bà.

Tính đến nay đã ngót nghét hai mươi lăm năm kể từ ngày vị Đô đốc tạ thế, và mười lăm năm kể từ khi phu nhân của ông đi theo chồng. Suốt khoảng thời gian sau này, bà Baggett đã sống tại Croker's Hall cùng ông Whittlestaff, và trong quãng thời gian ấy, đôi chút thông tin về gã Trung sĩ cũng đã lọt ra ngoài. Nguyên do vì sao dinh cơ của ông Whittlestaff lại được trang hoàng ít những vật dụng phô trương giàu có hơn so với cha mẹ ông, sẽ được tường thuật trong chương tiếp theo; chỉ biết rằng bà Baggett, từ tận đáy lòng, vô cùng đau xót trước điều mà bà cho là sự nghèo túng của ông chủ. "Bà đúng là một mụ già ngốc nghếch, bà Baggett," ông chủ thường bảo thế, những khi những nỗi niềm tiếc nuối của bà được thổ lộ trong những khoảnh khắc riêng tư. "Chẳng lẽ bà không có đủ cơm ăn, không có giường để ngủ, hay giấu một chiếc bít tất đầy tiền ở xó xỉnh nào đó hay sao? Bà còn đòi hỏi gì hơn nữa?"

Một chiếc bít tất đầy tiền ư!" bà thường vừa nói vừa lau nước mắt; "làm gì có chuyện đó. Còn chuyện ăn uống thì dĩ nhiên là tôi ăn bao nhiêu tùy thích rồi. Thậm chí tôi còn ăn nhiều hơn mức cần thiết nếu ng Sếp cứ muốn xét nét."

Thế thì bà đúng là tham ăn rồi.

Nhưng thử nghĩ xem ngài lại chẳng có lấy nổi một gã hầu mặc áo đen đứng rót cho ngài một ly rượu vang, thưa ngài!

Tôi có bao giờ uống rượu vang đâu, bà Baggett.

Thì là whisky. Chắc là một tên hầu như thế sẽ không đến nỗi khinh miệt việc rót một ly whisky cho một quý ông đâu;—dẫu cho bây giờ chẳng thể biết chắc tụi nó sẽ bĩu môi chê bai cái gì nữa. Nhưng đó thực sự là một sự sa sút thảm hại, thưa ông Whittlestaff.

Nếu bà nghĩ rằng ta đã sa sút thảm hại thì tốt nhất hãy giữ lấy mà tự suy ngẫm, đừng có mang ra nói với ta. Ta chẳng thấy mình sa sút gì sảng cả.

Ngài vẫn hiên ngang chống chọi lại hoàn cảnh một cách vô cùng hào hiệp, thưa ngài; nhưng với một người đàn bà nghèo hèn như tôi, tôi thực sự thấy chạnh lòng." Bà Baggett và cuốn hồi ký cuộc đời bà là thế. Nhưng mẩu đối thoại nhỏ này diễn ra trước khi Mary Lawrie xuất hiện.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 29 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Anthony Trollope

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.