“Đã em thích ăn trái cây như vậy, thế thì đem phần trái cây thập cẩm của anh ăn luôn đi! Thế mà lúc ở nhà, sao em lại không làm thế này?” Kishimoto Masayoshi bình tĩnh nói.
“Bắt em dùng tiền mua trái cây để ăn, thật sự rất tiếc tiền. Nếu không phải vì anh, em mới không thèm mua ấy chứ! Huống chi trái cây thứ này là ăn cũng được mà không ăn cũng chẳng sao.” Tabi Makoto thẳng thừng đáp.
“Qua lời em nói thì trái cây ở đây cứ như không mất tiền vậy nhỉ. Trái cây cùng chất lượng, ở đây còn đắt hơn loại em mua mang về nhà cơ.” Kishimoto Masayoshi cười nói.
Tabi Makoto đương nhiên hiểu rõ cái đạo lý quá đỗi hiển nhiên này. Chỉ là, về mặt tâm lý sẽ tạo ra hiệu ứng khác biệt, cũng giống như sự khác biệt về cảm quan mang lại giữa việc thanh toán tiền mặt và quẹt thẻ.
Cô không khách khí chút nào, một tay cầm lấy phần của anh để ngay trước mặt rồi bắt đầu ăn. Chính vì cô biết đối phương không thiếu thứ này, nên mới có hành động như vậy.
Bản thân cô vốn xuất thân từ nhà nghèo, từ nhỏ đến lớn có thể nói là thiếu thốn đủ điều. Cô chính là người lớn lên trong môi trường thiếu thốn vật chất.
Kishimoto Masayoshi nhìn vẻ mặt hạnh phúc và say sưa hiện tại của cô là biết ngày thường cô đúng như những gì đã nói, bản thân sẽ không chủ động mua trái cây để ăn.
Trái cây dự trữ trong tủ lạnh cũng là vì anh đến, cô mới lấy ra mang dùng. Bằng không, Tabi Makoto không thể có biểu hiện này được.
Phản ứng này của cô giống y như các thế hệ ông bà của không ít người sinh sau năm 80 ở Trung Quốc, dù có nhiều tiền đến đâu, cũng tiếc không nỡ tiêu nhiều, vẫn duy trì lối sống giản dị. Họ là những người từng thực sự trải qua cơn đói, thứ cắm rễ sâu trong xương tủy chính là tiêu xài phung phí cũng giống như phạm tội, trong lòng sẽ sinh ra cảm giác tội lỗi.
“Đợi em ăn xong, chúng ta ra ngoài đi dạo, tham quan, ngắm nghía trước, hay là trực tiếp bắt đầu ngâm suối nước nóng luôn?” Kishimoto Masayoshi giao quyền lựa chọn vào tay cô và nói.
“Thành thật khai đi, có phải anh lại muốn làm chuyện xấu gì với em không?” Tabi Makoto nhìn anh rồi thốt lên.
“Anh là loại người đó sao? Ngâm suối nước nóng xong, rồi lại ăn món Kaiseki, đó mới là sự tận hưởng hiếm có trong đời. Em cứ suy diễn vớ vẩn thế này, e là chính em mới muốn làm chuyện mờ ám với anh đấy chứ!” Kishimoto Masayoshi vừa kiên quyết không thừa nhận, vừa tung ra một đòn phản công giống như Trư Bát Giới dùng đinh ba đánh ngược lại.
Tabi Makoto không nói gì, tiếp tục ăn trái cây. Ở Nhật Bản, việc nam nữ tắm chung từng được xem là chuyện bình thường, đó đều là chuyện trước thời kỳ Minh Trị Duy Tân.
Sau thời kỳ Minh Trị Duy Tân, người Nhật dần tiếp nhận tư tưởng phương Tây, tiếp đó ****, cũng bắt đầu cảm thấy phong tục nam nữ tắm chung này vô cùng dã man và lạc hậu.
Thế nên, chính phủ đã ban hành một loạt quy định rõ ràng nhằm đảo ngược truyền thống không tốt này của dân tộc, kể từ đó phân chia rõ ràng khu tắm nam và khu tắm nữ, nghiêm cấm nam nữ tắm chung.
Việc tắm chung giữa người yêu, vợ chồng, người một nhà thì lại thuộc về một chuyện khác. Tắm chung giữa những người trong gia đình được gọi là tắm thân tử.
Còn về việc tắm chung giữa người yêu và vợ chồng thì bất cứ quốc gia, dân tộc nào trên thế giới cũng có. Trung Quốc gọi đó là uyên ương dục.
Kishimoto Masayoshi chủ động đứng dậy đi sang căn phòng khác để thay trang phục dùng khi tắm. Điểm khác biệt lớn nhất giữa áo Yukata và Kimono chính là Yukata không rườm rà và lộng lẫy bằng Kimono khi mặc.
Thực ra, Yukata chính là một phiên bản đơn giản hóa của Kimono, thuộc về trang phục thường ngày. Mặc Yukata lên người sẽ vô cùng đơn giản và nhẹ nhàng, cho dù có cởi ra cũng tiện lợi.
Kimono là lễ phục được người Nhật dùng trong những dịp trang trọng, cả việc mặc lẫn cởi đều rắc rối. Nếu không qua một quá trình học hỏi nhất định và có người khác giúp đỡ, không mặc không được thì cũng sẽ mặc thành nửa nửa mỡ.
Một bộ Kimono truyền thống tiêu chuẩn cần phải mặc rất nhiều lớp lên người cùng lúc. Ngoài ra, còn có cả một đống phụ kiện đi kèm.
Sau khi mặc xong, Kishimoto Masayoshi lúc này mới bước ra. Anh giơ hai tay lên, xoay một vòng để cho Tabi Makoto xem qua, cười hì hì nói: “Thế nào, được chứ?”
Tabi Makoto dùng lòng bàn tay phải che miệng cười thầm: “Đồ tự mãn.”
“Các cô gái các em lúc nào cũng thích nói một đằng nghĩ một nẻo. Ví dụ như, rõ ràng là muốn, nhưng cứ nhất định phải ngoài miệng bảo là không.” Kishimoto Masayoshi hạ hai tay xuống, cười đùa không ngớt nói.
“Con gái chúng tôi mà biểu lộ lòng mình một cách trực tiếp, các anh đàn ông lại chê tụi tôi không đủ đoan trang, quá dễ dãi.” Tabi Makoto phản bác.
“Cho nên, tâm tư của các em mới khó đoán làm sao! Một số người cảm thấy yêu đương rắc rối, thế là dứt khoát không yêu đương nữa cũng bắt nguồn từ đây.” Kishimoto Masayoshi thong thả nói.
“Tâm tư của tụi tôi khó đoán cực kỳ, cứ làm như tâm tư của các anh dễ đoán lắm vậy.” Tabi Makoto bĩu môi nói.
Kishimoto Masayoshi ngồi khoanh chân lại trên chiếu tatami, cúi gằm đầu nói: “Hỏi em một câu, tại sao phụ nữ Nhật Bản cũng rất chung thủy với việc đối tượng kết hôn phải có nhà?
Người nước ngoài không rõ tình hình quốc tình Nhật Bản còn tưởng rằng các em không cần nhà, chỉ có phụ nữ Trung Quốc và phụ nữ Hàn Quốc mới chấp niệm với điều đó đến thế.”
“Anh như thế này chính là đang vơ đũa cả nắm rồi. Dù em công nhận đây là tình hình thực tế của nước Nhật, đại đa số các cô gái đều có yêu cầu về nhà đối với đối tượng kết hôn, nhưng chuyện gì cũng có ngoại lệ.
Ví dụ như em. Ngày trước, lúc em chính thức qua lại với anh đâu phải vì anh có nhà hay không. Thực ra, em cảm thấy những cô gái đòi có nhà cũng có lý do thực tế của họ.
Tiền thuê nhà ở Tokyo đắt đỏ như vậy, không có nhà của riêng mình, luôn thiếu cảm giác an toàn. Đã là đối tượng kết hôn, thì chính là có dự định ở bên nhau suốt đời.
Sau này có con cái, cũng thuận tiện cho việc nuôi dưỡng. Cho dù là cô gái không có yêu cầu về nhà, thì cũng sẽ có yêu cầu với nửa kia về mặt thực lực kinh tế mà bản thân không muốn nhượng bộ.
Chăm sóc con cái là một việc rắc rối, nếu bố mẹ sẵn lòng giúp đỡ thì là tốt nhất. Bố mẹ không sẵn lòng giúp đỡ, cơ bản là mọi việc đều trút hết lên một mình người vợ nội trợ.
Không có sự chống đỡ ổn định về kinh tế gia đình, cuộc sống này làm sao duy trì tiếp được? Nỗi khổ nghèo tiền bạc này, em là người thấm thía hơn ai hết.” Tabi Makoto có lý có cứ đứng từ góc độ phụ nữ để phân tích.
Kishimoto Masayoshi biết bố mẹ người Nhật tuy không giúp con cái chăm sóc thế hệ sau với tỷ lệ cao như bố mẹ Trung Quốc, nhưng cũng có không ít người sẵn lòng giúp đỡ. Chỉ cần con cái mở lời, họ cũng rất vui vẻ vươn tay viện trợ. Không chỉ góp sức mà còn góp cả tiền.
Anh bất giác nhớ đến bộ phim truyền hình Nhật Bản đạt điểm 9.1 trên Douban mang tên “Căn nhà trên dốc”. Dù chỉ vỏn vẹn sáu tập ngắn ngủi, nhưng lại phản ánh phụ nữ khó khăn thế nào trong việc nuôi dạy con cái, cùng với muôn vàn mâu thuẫn mà gia đình phải đối mặt trước áp lực kinh tế.
“Xem ra, phụ nữ các em cần là một cuộc hôn nhân rủi ro thấp.” Kishimoto Masayoshi tất nhiên biết tình yêu được xây dựng trên bánh mì, mà hôn nhân lại càng là như vậy.
“Ly hôn, rốt cuộc cũng không phải là chuyện tốt đẹp gì. Con người ta phổ biến đều hướng về ước nguyện nắm tay nhau, cùng nhau đầu bạc răng long.” Tabi Makoto nghiêm túc nói.
Kishimoto Masayoshi hoàn toàn công nhận cách nói này của cô. Tỷ lệ kết hôn của người Nhật giảm từng năm, chẳng phải vì nguyên nhân kinh tế trong nước đã tạo cho giới trẻ quá nhiều áp lực hay sao.
Không ít người trong số họ không dám yêu đương, không dám kết hôn, không dám sinh con, thậm chí đến chết cũng không dám (chết không nổi), dẫu sao giá nghĩa địa cũng đang tăng lên từng năm.
Đất nước Nhật Bản này thuộc kiểu người bình thường một khi mất việc, sẽ rất khó sinh tồn. Thu nhập của phụ nữ chỉ bằng một nửa, thậm chí là một phần ba thu nhập của nam giới. Điều này dẫn đến tỷ lệ nghèo đói ở nữ giới cao hơn nam giới rất nhiều.
Anh một cách tự nhiên lại liên tưởng đến nguyên nhân tỷ lệ sinh ở vùng Đông Bắc Trung Quốc còn thấp hơn cả Nhật Bản và Hàn Quốc, chẳng phải cũng bắt nguồn từ áp lực kinh tế đó sao.