Trước Lúc Ngủ Say

Lượt đọc: 10 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Thứ Tư. Ngày 14 Tháng Mười Một
Thứ Tư. Ngày 14 Tháng Mười Một

❊ ❊ ❊

Sáng nay tôi hỏi Ben có khi nào anh ta để ria mép không. Tôi hãy còn cảm thấy hoang mang, chẳng rõ cái nào trúng và cái nào trật. Tôi thức dậy rất sớm và, không giống những ngày trước đó, tôi cảm thấy mình đã trưởng thành. Đầy nhục dục. Chứ không nghĩ mình hãy còn là một đứa trẻ. Trong phòng tắm tôi kinh hoảng nhìn hình ảnh phản chiếu của mình trong gương, nhưng tôi thấy tên người đàn ông - Ben - trong bức ảnh dán ở gương có vẻ quen thuộc, chẳng hiểu tại sao.

Bác sĩ Nash đã gọi cho tôi gần như ngay sau khi Ben đi làm. Cậu ta nhắc tôi về cuốn nhật ký. Có vài thứ trong đó tôi có thể nhớ lại, và có hẳn những đoạn tôi có thể nhớ đã viết gì, như thể có chút ký ức còn dư lại đã tồn tại qua đêm.

Có lẽ đó là lý do tại sao tôi phải chắc chắn về những thứ chứa sự thật ở trong nó. Tôi gọi Ben.

‘Ben.’ tôi bắt đầu, khi anh ta đã nghe máy và bảo là không bận rộn gì. ‘Anh đã bao giờ để ria mép chưa?’

‘Một câu hỏi hơi quái đó!’ Ben thốt lên. Tôi nghe tiếng thìa chạm lanh canh vào cốc và hình dung Ben đang cho đường vào cốc cà phê, một tờ báo trải rộng trước mặt. Tôi cảm thấy khó xử.

‘Em chỉ...’ tôi bắt đầu. ‘Em nghĩ mình vừa nhớ ra một kỷ niệm.’

Im lặng. ‘Một kỷ niệm à?’

‘Vâng,’ tôi đáp. Trí óc tôi chợt nháng lên về những điều mình đã viết - Ben với bộ ria mép và thân hình trần trụi... Hai chúng tôi ở trên giường. Những nụ hôn. Chúng bừng sáng ngắn ngủi, trước khi chìm trở lại xuống đáy sâu. Đột nhiên tôi cảm thấy sợ hãi. ‘Em dường như vừa nhớ ra là anh có để ria mép.’

Ben bật cười, và tôi nghe tiếng anh ta đặt ly nước xuống. Tôi cảm thấy nền đất cứng dưới chân bắt đầu chuội đi. Có lẽ mọi thứ tôi đã viết ra đều là xạo sự. Sau rốt, tôi là một tiểu thuyết gia mà, hoặc đã từng là vậy.

‘Có không anh,’ tôi thốt lên tuyệt vọng. ‘Nó thật sự... rất quan trọng...’

‘Xem nào,’ Ben nói. Tôi tưởng tượng anh ta đang nhắm mắt lại, chu môi trong bộ dạng tập trung đầy hài hước. ‘Hình như anh có để ria mép, một lần thì phải,’ Ben nói. ‘Ngắn thôi. Cách đây nhiều năm rồi. Anh đã quên bẵng đi... Đúng vậy. Thực sự là có. Có lẽ anh đã để cỡ một tuần hoặc hơn. Cách đây lâu lắm rồi...’

‘Cảm ơn anh,’ tôi thốt lên nhẹ nhõm. Khoảnh đất tôi đứng chân có vẻ đã an toàn hơn một chút.

‘Em không sao chứ?’ Ben hỏi, và tôi đáp mình vẫn ổn.

Bác sĩ Nash đón tôi lúc giữa ngày. ‘Chúng ta sẽ gặp một đồng nghiệp của tôi,’ cậu ta nói lúc ở trong xe. ‘Bác sĩ Paxton.’ Tôi chẳng nói gì cả. ‘Ông ấy là chuyên gia về những bệnh nhân với các vấn đề giống cô. Chúng tôi đang làm việc cùng nhau.’

‘Vâng,’ tôi đáp. Xe của bác sĩ Nash đang chết dí trong đám xe cộ tắc cứng. ‘Hôm qua tôi có gọi cho anh không?’ tôi hỏi và bác sĩ Nash đáp là có.

‘Cô đọc nhật ký chưa?’ bác sĩ Nash hỏi.

‘Đọc phần lớn thôi. Tôi nhảy cóc nhiều đoạn. Nó cũng khá dài.’

‘Cô bỏ qua những phần nào?’

Tôi ngẫm nghĩ một lát. ‘Có những phần dường như quen thuộc với tôi rồi. Chúng gây cảm giác như thể chúng vừa nhắc tôi nhớ lại những thứ mình đã biết. Đã nhớ...’

‘Nghe hay đấy.’ bác sĩ Nash nói, mắt liếc qua chỗ tôi.

Tôi cảm thấy người râm ran một cảm giác dễ chịu. ‘Vậy tôi đã gọi về chuyện gì? Hôm qua ấy?’

‘Cô muốn biết có phải cô đã từng viết tiểu thuyết không.’ ‘Và tôi đã từng viết, đúng không?’

Bác sĩ Nash mỉm cười. ‘Đúng thế, cô đã từng viết.’

Xe cộ nhúc nhích trở lại và chúng tôi đã thoát ra được. Tôi cảm thấy nhẹ cả người vì biết điều mình đã viết là sự thật.

Bác sĩ Paxton già hơn tôi tưởng, mái tóc bạc xỉa ra loạn xạ từ sau tai. Trông ông như sắp nghỉ hưu đến nơi.

‘Chào mừng đến Trung tâm chẩn trị hình ảnh Vincent.’ ông nháy mắt và bắt tay tôi sau khi bác sĩ Nash đã giới thiệu xong. ‘Đừng lo, nó không hoành tráng như cái tên đâu. Nào, lại đây. Để tôi đưa cô đi tham quan một vòng.’

Chúng tôi vào trong tòa nhà. ‘Ở đây, chúng tôi gắn bệnh viện chung với trường đại học,’ ông nói khi chúng tôi đi qua cổng chính. ‘Một dạng kết hợp cả hạnh phúc lẫn tai ương.’ Tôi mỉm cười.

‘Mọi người muốn chúng tôi làm được mọi chuyện,’ ông phá ra cười. ‘Nhưng chẳng ai muốn trả cho chúng tôi một tí gì.’

Chúng tôi bước vào một phòng đợi lỏng chỏng mấy cái ghế, tạp chí cùng một số cốc nhựa bỏ đi. Trông như thể một buổi tiệc dã chiến vừa tàn chưa kịp dọn. Bác sĩ Paxton dừng trước một cánh cửa khác. ‘Cô có muốn xem phòng tầm soát không?’

‘Có,’ tôi đáp. ‘Làm ơn cho xem.’

‘Kỹ thuật chụp MRI[2] chức năng còn khá mới mẻ.’ ông nói, khi chúng tôi bước vào phòng. ‘Cô đã nghe nói đến MRI bao giờ chưa?’

Trong căn phòng nhỏ chỉ sáng nhờ những quầng sáng như ma trơi từ dãy màn hình máy tính, có một cái cửa sổ choán hết cả bức tường, bên kia cửa sổ là một căn phòng khác, chễm chệ trong đó là một cỗ máy hình trụ to tướng, một cái giường thòi ra khỏi nó như cái lưỡi thè lè. Tôi bắt đầu thấy sợ. Tôi chẳng biết gì về cỗ máy này cả.

‘Chưa.’ tôi thú thật.

Bác sĩ Paxton mỉm cười. ‘MRI là một thủ thuật khá chuẩn xác, gần giống với việc chụp X quang cơ thể. Ở đây chúng tôi sử dụng cùng một số kỹ thuật nhưng là để quan sát chức năng hoạt động thực sự của cơ thể.’

Bấy giờ bác sĩ Nash mới mở lời, giọng nhỏ xíu, gần như thều thào. Tôi chẳng rõ cậu ta đang e ngại bác sĩ Paxton, hay đang liều mạng gây ấn tượng với ông ấy.

‘Nếu cô có một khối u não thì bấy giờ chúng tôi cần chụp cắt lớp cả đầu để tìm xem khối u nằm ở đâu, phần não nào bị ảnh hưởng. Bằng cách quan sát cấu trúc. Việc MRI chức năng cho phép chúng tôi xem cô sử dụng phần não nào khi làm một số công việc nhất định. Chúng tôi muốn xem trí óc cô xử lý phần ký ức ra sao.’

‘Những phần sáng lên là phần đang hoạt động,’ bác sĩ Paxton giải thích. ‘Nơi các dịch chất đang chảy.’

‘Nó sẽ có ích chứ?’ tôi hỏi.

‘Hy vọng nó sẽ giúp chúng tôi nhận biết thương tổn ở đâu.’ bác sĩ Nash đáp lại. ‘Cái nào đi trật nhịp. Cái nào không vận hành đúng cách.’

‘Và chuyện đó sẽ giúp tôi có lại trí nhớ của mình?’

Bác sĩ Nash khựng lại rồi đáp, ‘Chúng tôi mong là thế.’

Tôi tháo nhẫn cưới, bông tai và bỏ chúng vào một khay nhựa. ‘Bỏ luôn giỏ xách của cô vào đây nữa,’ bác sĩ Paxton nhắc. ‘Nào, nó hơi ồn ỹ một chút. Cô sẽ cần mấy thứ này.’ Ông đưa cho tôi mấy cái nút tai màu vàng, ‘sẵn sàng chưa?’ ông hỏi.

Nỗi sợ bắt đầu râm ran khắp người tôi. Căn phòng dường như tóp lại và sụp tối, và qua lớp kính cái máy nội soi cắt lớp hiện ra lờ mờ. Tôi có linh cảm mình đã nhìn thấy nó trước đây, hoặc một thứ gì đó gần giống nó. ‘Tôi không chắc lắm,’ tôi thú thật.

Bác sĩ Nash tiến đến, đặt tay lên tay tôi trấn an.

‘Nó hoàn toàn không đau. Chỉ hơi ồn thôi.’

‘Nó an toàn chứ?’ tôi hỏi lại.

‘Cực kỳ an toàn. Tôi ở đây, ngay bên cạnh lớp kính này thôi. Chúng tôi có thể thấy cô suốt trong lúc chụp mà.’

Hẳn là trông tôi đầy vẻ bất an, thế nên bác sĩ Paxton cất giọng, ‘Đừng lo. Cô đang ở trong những vòng tay an toàn, bạn thân mến ạ. Chẳng có gì không ổn đâu.’ Tôi nhìn ông trân trối, còn ông mỉm cười và nói, ‘Có lẽ cô nên nghĩ về những ký ức của mình đang lạc mất đâu đó trong trí óc. Tất cả những gì chúng tôi làm với cái máy này là thử tìm xem chúng ở đâu.’

Thật là lạnh, dù đã có chăn quấn quanh người, và tối, trừ một ngọn đèn đỏ lự nhấp nháy đâu đó trong phòng; và một tấm gương máng trên khung cách đầu tôi vài xăng-ti-mét, treo nghiêng và phản chiếu một màn hình máy tính đặt ở đâu đó. Ngoài cặp nút tai tôi còn mang thêm headphone, họ bảo là sẽ nói chuyện với tôi qua đó, nhưng giờ thì hoàn toàn yên lặng. Tôi chẳng nghe thấy gì ngoại trừ tiếng thở của tôi, giật cục và nặng nhọc, tiếng nhịp tim của tôi thình thịch tẻ ngắt.

Tôi nắm trong tay phải một quả bóng cao su đầy căng hơi. ‘Hãy bóp mạnh nó, nếu cô cần báo gì đó cho chúng tôi,’ bác sĩ Paxton đã dặn thế. ‘Nếu cô nói chúng tôi cũng sẽ không nghe được.’ Tôi mân mê lớp vỏ cao su của quả bóng và đợi. Tôi muốn nhắm mắt lại, nhưng họ đã bảo tôi phải mở mắt nhìn vào màn hình. Mấy miếng mút chêm giữ đầu tôi yên vị tuyệt đối; tôi chẳng thể cục cựa, dù có muốn đi nữa. Tấm chăn phủ lên tôi như một tấm vải liệm.

Có tiếng tách nhẹ rồi tiếng ồn inh ỏi khiến tôi giật mình, dù đã có mấy miếng nút tai. Tiếng ồn bí ẩn từ trong cỗ máy, hoặc từ cái đầu tôi, chẳng phân biệt được. Nó như một con thú ì ạch đang thức dậy. Tôi nắm quả bóng cao su, quyết định là sẽ không bóp nó và rồi một tiếng ồn, giống như chuông báo động hoặc tiếng máy khoan, cứ trở tới trở lui, ồn ã không chịu nổi, ồn đến mức toàn thân tôi rung nảy với mỗi đợt chấn động mới. Tôi nhắm nghiền mắt lại.

Một giọng nói vang lên trong tai tôi. ‘Christine,’ nó gọi. ‘Làm ơn mở mắt ra được không?’ Hóa ra họ vẫn có thể thấy tôi. ‘Đừng lo, mọi thứ tốt đẹp mà.’

Tốt đẹp? Họ thì biết gì về tốt đẹp chứ? Họ thì biết gì về tình cảnh giống như tôi, phải nằm ở đây, trong một thành phố tôi chẳng nhớ ra, với những con người tôi chưa hề gặp. Mình đang trôi nổi, tôi nghĩ, hoàn toàn chẳng có neo, phó mặc cho gió trời đưa đẩy.

Một giọng khác. Giọng bác sĩ Nash. ‘Cô có thể nhìn vào những bức ảnh không? Nghĩ xem chúng là gì, nói ra, nhưng chỉ với cô thôi. Đừng nói thành tiếng.’

Tôi mở mắt ra. Phía trên tôi, trong những cái gương nhỏ xíu, là những bức vẽ, cái này nối tiếp cái kia, hình trắng trên nền đen. Một người đàn ông. Một cái thang. Một cái ghế. Một cái búa. Tôi nói từng cái khi chúng xuất hiện, và rồi bức ảnh hiện lên mấy chữ Xin cảm ơn! Giờ hãy thư giãn! và tôi cũng tự nói thế với mình, để khiến mình bận rộn, cùng lúc tự hỏi liệu có ai biết thư giãn thế nào cho phải cách trong bụng một cỗ máy như vậy không.

Thêm những chỉ dẫn hiện lên trên màn hình. Nhớ lại một sự kiện trong quá khứ, nó nói thế, và rồi bên dưới nó chạy chữ Một bữa tiệc.

Tôi nhắm mắt lại.

Tôi thử nghĩ về bữa tiệc mình đã nhớ ra khi cùng Ben ngắm pháo hoa. Tôi thử hình dung mình đang ở trên mái nhà bên cạnh cô bạn thân, nghe tiếng ồn ào của bữa tiệc đang diễn ra bên dưới, cảm nhận mùi pháo hoa lan trong không khí.

Những hình ảnh xuất hiện nhưng dường như không thật tí nào. Tôi có thể nói không phải mình đang nhớ ra mà là đang sáng tác ra chúng.

Tôi thử mường tượng ra Keith, thử nhớ lại cách hắn ngó lơ tôi, nhưng chẳng có gì xảy ra. Những ký ức đó lại mất rồi. Bị chôn chặt, dường như mãi mãi, dù bây giờ ít nhất thì tôi cũng biết rằng chúng có tồn tại, rằng chúng ở đó, ở đâu đó, và bị khóa chặt rồi.

Trí óc tôi chuyển sang những bữa tiệc thời ấu thơ. Những tiệc sinh nhật với mẹ, dì và cô em họ Lucy. Trò chơi chuyền khăn. Trò mở nhạc giành ghế. Mẹ với những túi kẹo làm quà thưởng. Bánh sandwich đã bỏ vỏ cứng với thịt muối và patê cá. Bánh xốp kem và rau câu.

Tôi nhớ ra bộ váy trắng có tay viền đăng ten, đôi giày đen. Tôi với mái tóc vàng hoe đang ngồi trước một cái bánh kem cắm nến, hít một hơi thật sâu, nghiêng người về phía trước và thổi. Khói lan trong không khí.

Rồi những ký ức về một bữa tiệc khác ập đến. Tôi thấy mình ở nhà, đang ngó chừng ra cửa sổ phòng ngủ. Tôi khoảng mười bảy, trên người không một mảnh vải. Ngoài phố có những cái bàn tạm, sắp thành hàng dài, chất đầy các khay bánh thịt xúc xích và sandwich, những bình nước cam ép. Khắp nơi đều thấy quốc kì’ Anh và cờ trang trí treo trên mọi cửa sổ. Xanh. Đỏ. Trắng.

Trẻ con trong những trang phục ngộ nghĩnh - cướp biển, phù thủy, người Viking - còn người lớn thì cố lập nhóm để chơi trò rước trứng bằng muỗng. Tôi có thể thấy mẹ ở bên kia đường đang thắt áo choàng quanh cổ chú Matthew.

Soper và ngay bên dưới cửa sổ phòng tôi, cha tôi đang ngồi trên ghế bố với một ly nước ép trong tay.

‘Trở lại giường nào,’ một giọng nói vang lên. Tôi ngoái lại. Dave Soper đang ngồi trên cái giường đơn của tôi, bên dưới tấm poster của ban nhạc Slits. Tấm ra trắng nhàu nhĩ quanh cậu ta vương vãi vệt máu. Tôi đã không bảo cậu ta đây là lần đầu tiên của mình.

‘Không.’ tôi đáp. ‘Đứng dậy đi! Cậu phải mặc quần áo vào trước khi ba mẹ tớ về!’

Cậu ta bật cười, dù chẳng ác ý. ‘Thôi mà!’

Tôi dứt khoát với lấy chiếc áo T-shirt và tròng vào chiếc quần jeans. ‘Đứng dậy đi. Làm ơn?’

Cậu ta có vẻ thất vọng. Lúc này tôi chỉ thích được ở một mình.

‘Thôi được.’ cậu ta nói thế rồi đứng dậy. Thân hình cậu ta xanh xao, gầy nhẳng và cái ấy ngó thật lố bịch. Tôi ngoảnh nhìn ra ngoài cửa sổ trong lúc cậu ta mặc quần áo. Thế giới của tôi đã thay đổi. Tôi đã vượt qua một lằn ranh, và không thể quay trở lại. ‘Vậy thì bye nhé,’ cậu ta chào, nhưng tôi không mở miệng, không cả nhìn lui cho đến khi cậu ta đi khỏi.

Một giọng nói vang lên trong tai mang tôi trở về với thực tại. ‘Tốt lắm. Giờ thì thêm vài hình nữa nhé, Christine.’ bác sĩ Paxton nói. ‘Chỉ cần nhìn vào từng cái và tự nói đó là cái gì hoặc ai thôi. Được chứ? sẵn sàng chưa?’

Tôi nuốt khan. Họ sẽ cho tôi xem gì nhỉ? Xem ai? Nó có thể tệ đến cỡ nào?

Sẵn sàng, tôi tự nhủ và chúng tôi bắt đầu.

Bức đầu tiên là ảnh trắng đen, chụp một bé gái chừng bốn, năm tuổi trong vòng tay một người phụ nữ. Bé gái đang chỉ trỏ gì đó, và cả hai cùng cười, hậu cảnh, hơi nhòa nét, là một con hổ đang nằm nghỉ sau hàng rào chấn song. Bà mẹ, tôi tự nhủ. Cô con gái. Vườn thú. Và rồi tôi bị sốc, hơi thở chẹn ngang cuống họng khi nhìn kỹ gương mặt đứa trẻ và nhận ra bé gái đó chính là mình, còn bà mẹ chính là mẹ tôi. Là mình, tôi lặng lẽ nói, nhớ cái điều tôi được bảo làm. Mẹ. Tôi nhìn trân trối vào màn hình, cố gắng khắc sâu hình ảnh của bà vào trong ký ức, nhưng bức ảnh nhòa đi và được thay bằng một tấm khác, cũng là mẹ tôi, giờ thì già hơn, dù dường như chưa đủ già đến mức cần cây gậy chống mà bà đang tựa vào. Bà đang mỉm cười nhưng trông có vẻ mệt lử rồi, đôi mắt trũng sâu trên khuôn mặt gầy gò. Mẹ mình, tôi lại nghĩ, và những từ khác tự động kéo đến: đang ốm. Tôi nhắm mắt lại một cách vô thức. Phải ép chúng mở ra lại thôi. Tôi bắt đầu bóp mạnh quả bóng trong tay.

Rồi những hình ảnh đến rất nhanh, và tôi chỉ kịp nhận ra vài bức. Một bức là cô bạn trên mái nhà, hệt như tôi đã mường tượng trong ký ức. Tôi thấy rùng mình khi nhận ra cô ấy gần như ngay lập tức trong cái áo T-shirt và quần jeans xanh bợt, đang hút thuốc, mái tóc đỏ buông xõa tự do. Một bức khác chụp cô với mái tóc ngắn đã nhuộm đen, và cặp kính mát đẩy cao trên đỉnh đầu. Tiếp đó là bức ảnh cha tôi đang đọc báo trong phòng khách, mỉm cười đầy hạnh phúc, kế đó là bức chụp tôi và Ben, đứng cùng một cặp khác mà tôi không nhận ra.

Những bức ảnh khác toàn người xa lạ. Một phụ nữ da đen bận đồng phục y tá, một phụ nữ mang cặp kính hình bán nguyệt ngồi trước một tủ sách với vẻ mặt nghiêm nghị. Một người đàn ông tóc hoe. Một cậu bé chừng sáu, bảy tuổi đang ăn kem và rồi, sau đó, vẫn là cậu bé ấy, đang ngồi bên bàn vẽ. Một người đàn ông trông khá hấp dẫn, với mái tóc đen hơi dài, cặp kính gọng tối hẹp rí viền quanh đôi mắt và một vết sẹo chạy xuống một bên mặt... Trong lúc những bức ảnh này diễu hành, tôi ngó chằm chặp vào chúng, cố nhớ ra tên tuổi và nơi chốn gặp gỡ những người đó, cố nhớ ra họ đã được dệt như thế nào hoặc có được dệt hay không vào tấm thảm cuộc đời tôi.

Chợt, tiếng máy ro ro dường như cao vống lên cho tới lúc nó trở thành chuông báo động, và dạ dày tôi thắt lại, cả người bất động. Không thở được nữa, tôi nhắm mắt lại, và sức nặng của tấm chăn bắt đầu đè lún tôi xuống, nặng như một phiến đá cẩm thạch, đến nỗi tôi ngỡ mình đang chìm.

Tôi bóp chặt tay phải, nhưng nó vo tròn lại thành một nắm đấm, những móng tay cấu vào da thịt; tôi đã thả rơi quả bóng mất rồi. Tôi bật la như tiếng khóc không thành lời.

‘Christine,’ một giọng nói vang lên trong tai tôi. ‘Christine.’

Tôi khóc và bắt đầu đá cái chăn ra khỏi người.

‘Christine!’

Lúc này tiếng gọi to hơn, kế đó cái tiếng inh ỏi như còi hụ kêu o o rồi ngưng bặt, một cánh cửa cạch mở, và có những giọng nói trong phòng, những cánh tay đặt trên người, trên tay, trên chân và choàng sang ngực tôi, tôi mở mắt ra.

‘Mọi việc ổn rồi.’ bác sĩ Nash nói vào tai tôi. ‘Cô không sao đâu. Tôi ở đây mà.’

Sau khi đã trấn tĩnh và nhận lại giỏ xách, bông tai, nhẫn cưới, bác sĩ Nash và tôi đến một coffee bar nhỏ xíu nằm dọc theo hành lang, với bàn formica vàng và ghế nhựa màu cam, tủ kính nhựa trong veo bày các loại bánh quen thuộc.

Tôi chẳng có đồng nào trong ví cả, nên đành để bác sĩ Nash mua cho mình ly cà phê và miếng bánh cà rốt, rồi chọn chỗ ngồi cạnh cửa sổ trong khi cậu ta trả tiền và mang mọi thứ đến. Ngoài trời đang nắng, những cái bóng đổ dài trên sân cỏ lác đác những bông hoa màu tím.

‘Mời cô,’ bác sĩ Nash nói khi đặt cái khay trước mặt tôi. ‘Hy vọng là ổn.’

Cậu ta đã chọn cho mình món trà túi lọc. Tôi nhấp ly cà phê của mình và nhăn mặt. Nó đắng nghét và nóng phỏng. ‘Ổn mà.’ tôi thốt lên. ‘Cảm ơn anh.’

‘Tôi xin lỗi.’ cậu ta nói sau cả giây lâu, làm tôi cứ ngỡ cậu ta nói về ly cà phê. ‘Tôi không nghĩ là cô sẽ thấy rất khổ sở ở trong đó.’

‘Nó ồn quá thể và giống như bị giam cầm ấy,’ tôi phân trần. ‘Tôi đã làm rơi mất nút khẩn cấp.’

Bác sĩ Nash nhấc túi trà ra và đặt nó lên khay, rồi nhấp một ngụm.

‘Chuyện gì đã xảy ra vậy?’ tôi hỏi.

‘Cô dường như phát hoảng. Điều đó không lạ. Chẳng dễ chịu gì khi ở đó...’

Tôi nhìn xuống lát bánh của mình. Còn nguyên. Khô khốc. ‘Những người trong mấy bức ảnh đó là ai vậy? Anh lấy chúng ở đâu?’

‘Một số tấm lấy từ hồ sơ bệnh án của cô, có mấy tấm tôi đã đề nghị cô mang từ nhà theo từ đám hình dán quanh cái gương ở nhà cô. Vài tấm khác do tôi cung cấp - về những người cô chưa gặp bao giờ, để làm vật đối chứng. Chúng tôi trộn tất cả lại với nhau. Vài hình là những người cô đã biết hồi còn rất trẻ, những người mà cô sẽ, hoặc có thể, nhận ra. Gia đình. Bạn hồi đi học. Còn lại là những người mà xét từ thời cô sống chắc chắn cô không thể nhớ ra. Bác sĩ Paxton và tôi đang cố gắng quan sát xem có sự khác nhau nào không trong cách cô thử truy cập vào ký ức từ những giai đoạn khác nhau này. Phản ứng mạnh nhất là với chồng cô, dĩ nhiên rồi, sau đó là với vài người khác nữa...’

‘Người phụ nữ tóc đỏ là ai vậy?’ tôi hỏi.

Bác sĩ Nash mỉm cười. ‘Một người bạn cũ của cô, có lẽ vậy?’

‘Anh có biết tên cô ấy không?’

‘E là không. Những bức đó lấy từ hồ sơ của cô. Chúng không ghi nhãn.’

Tôi gật đầu. Một người bạn cũ. Dĩ nhiên là tôi đã nhận ra điều đó - chỉ có điều tôi rất muốn biết tên cô ấy thôi.

‘Anh nói là dẫu sao thì tôi cũng đã có phản ứng với các bức ảnh à?’

‘Vâng, với vài bức.’

‘Điều đó tốt chứ?’

‘Cần xem các kết quả chi tiết hơn trước khi có thể đưa ra kết luận. Công việc này quá mới mẻ,’ bác sĩ Nash giải thích. ‘Nó đầy tính thử nghiệm.’

‘Tôi hiểu.’ Tôi mời bác sĩ Nash ăn bánh nhưng cậu ta từ chối, tay vỗ vỗ vào bụng. ‘Phải canh chừng cái này!’ Cậu ta nói vậy, mặc dù bụng hãy còn khá phẳng, và tuổi tác chỉ vừa mới chạm nhẹ đến cậu ta thôi.

Tôi xắn một góc bánh cà rốt. Nó cũng đắng nữa, lại thêm lớp kem phết quá ngọt. Tôi ngả người về phía trước với lấy cái ly của mình và ngực tôi nẩy nhẹ trong lần áo lót, như thể muốn nhắc tôi nhớ rằng chúng vẫn đang tồn tại. Tôi thu mình lại và cảm thấy làn da dưới cánh tay run nhẹ. Tôi không còn là một bé gái còi cọc, thậm chí cũng không còn là một thiếu nữ, cơ thể tôi bắt đầu sắp từng lớp mỡ.

Tôi nhìn chòng chọc vào miếng bánh và tự hỏi chuyện gì sẽ xảy ra trong tương lai. Có lẽ tôi sẽ tiếp tục phình to lên, mập hơn, lùn đi và nung núc mỡ. Hoặc vẫn cân nặng như bây giờ, nhưng những nếp nhăn hằn sâu trên mặt còn da tay dần mỏng lét như vỏ hành và tôi dần biến thành một bà lão, từng chút một, ở trong tấm gương phòng tắm.

Bác sĩ Nash cúi xuống gãi đầu. Có một mảng da đầu tròn tròn hiện rất rõ ở ngay đỉnh chóp. Giờ chắc cậu ta chưa chú ý đến nó đâu, cho đến một ngày nhìn thấy bức ảnh chụp mình từ phía sau, hoặc khi bạn gái hay thợ cắt tóc cho cậu ta có lời bình phẩm. Tuổi tác sẽ tóm được tất cả chúng ta trong những cách rất khác nhau.

‘Ô,’ bác sĩ Nash thốt lên, vẻ phấn khởi đượm chút gượng gạo. ‘Tôi đã mang cho cô một thứ. Cũng không hẳn là một món quà, chỉ là thứ có lẽ cô sẽ thích cũng nên.’ Cậu ta với tay xuống chiếc cặp đang để dưới sàn, mở cặp và lấy ra một phong bì xốp, dán kín bằng băng dính, bên ngoài có ghi tên tôi bằng bút dấu màu đen đậm. Christine. ‘Đây, tặng cô.’ Tôi biết đó là cái gì ngay khi nó hiện diện nặng trĩu trong tay tôi. ‘Đó là tiểu thuyết của cô,’ cậu ta tuyên bố. ‘Tác phẩm mà cô đã viết.’

Tôi lấy từ trong phong bì ra một cuốn tiểu thuyết không còn mới nữa, các mép giấy đã ố vàng, trên mặt bìa loang lổ vệt cà phê. Khi cầm nó tôi thấy lại mình những ngày còn rất trẻ, nỗ lực hoàn thành cuốn tiểu thuyết này để dọn đường cho cuốn tiếp theo. Nhưng việc đó đã không trở thành hiện thực - cuốn tiểu thuyết thứ hai đã không bao giờ được hoàn tất.

‘Cảm ơn anh,’ tôi thốt lên. ‘Cảm ơn.’

Bác sĩ Nash mỉm cười. ‘Đừng bận tâm.’

Tôi đặt nó bên trong áo khoác, và ở đó, trên suốt đường về, nó cứ thổn thức đập như một trái tim.

*

* *

Trang bìa cuốn tiểu thuyết của tôi là một bức phấn màu vẽ cái bàn, trên có đặt máy đánh chữ. Một con quạ đậu trong lồng đang hếch đầu sang như thể đang đọc tờ giấy đã lắp vào máy chữ. Trên đầu con quạ là tên tôi, và trên đó nữa là tựa sách.

Những con chim đón sáng, nó ghi. Christine Lucas.

Tay tôi run run khi lật mở những trang sách. Lời đề tặng bên trong ghi, Tặng cha tôi, và tiếp theo là mấy chữ, con nhớ cha.

Tôi nhắm mắt lại. Ký ức trào lên nỗi xốn xang. Dưới những luồng sáng trắng lóa, cha đang nằm trên giường, làn da mờ đạc phủ một lớp mồ hôi bóng nhẫy. Cái ống gắn ở tay ông nối với túi chất lỏng trong suốt máng trên giá. Một y tá đang bắt mạch, đo huyết áp cho cha mà ông thì không hề tỉnh lại...

Rồi mùi sực lên. Mùi những bông hoa bị cắt và đất bẩn. Ngọt dịu và tang tóc. Cái ngày chúng tôi hỏa táng cha. Tôi vận đồ đen. Mẹ ngồi kế bà. Những tấm màn mở ra, quan tài trượt đi, và tôi khóc, hình dung cha biến thành tro bụi. Mẹ nắm chặt tay tôi, rồi chúng tôi về nhà, uống vang sủi rẻ tiền và ăn bánh sandwich trong khi mặt trời chìm dần trong ánh sáng nhập nhoạng.

Tôi thở dài. Hình ảnh vụt mất và tôi mở mắt ra. Cuốn tiểu thuyết của tôi đang nằm ngay trước mặt.

Chính lúc đó, trong dòng mở đầu tôi đã viết, với bàn chân phải nhấn chặt cần ga và động cơ đang gầm rú, cô thả tay khỏi vô lăng và nhắm mắt lại. Cô biết chuyện gì sẽ xảy ra. Cô biết nó sẽ dẫn tới đâu...

Tôi lật tới đọc đoạn giữa cuốn tiểu thuyết, và một đoạn khác ở gần cuối.

Cuốn tiểu thuyết của tôi dường như bắt rễ từ một cuộc chiến, với nhân vật nữ tên Lou và nhân vật nam tên George. Chẳng phải tự truyện, nên bất cứ câu trả lời nào mà cuốn tiểu thuyết này có thể đưa ra cho tôi đều hạn hẹp. Nhưng chí ít thì tôi cũng đã sáng tác ra nó và nó đã được xuất bản.

Ở bìa cuối không có ảnh tác giả, thay vào đó là một tiểu sử ngắn.

Christine Lucas sinh năm 1960, ở miền bắc nước Anh, nó ghi. Cô học Ngữ văn Anh tại University College ở London, nơi cô hiện đang sống. Đây là tiểu thuyết đầu tay của cô.

Tôi mỉm cười với chính mình, cảm thấy tự hào lẫn hạnh phúc trào dâng. Tôi muốn đọc nó để giải mã những bí mật, nhưng cùng lúc lại không muốn làm thế. Tôi lo rằng sự thật có thể lấy đi niềm hạnh phúc của mình. Hoặc tôi sẽ thích cuốn tiểu thuyết và cảm thấy buồn vì mình sẽ không bao giờ viết được một cuốn khác nữa, hoặc tôi sẽ không ưa nó, và cảm thấy nản lòng vì tài năng của mình chưa đến độ. Tôi chẳng thể nói mình thích cái nào hơn, nhưng biết rằng sẽ có một ngày, không thể cưỡng lại sức lôi cuốn từ cái thành tựu duy nhất ấy của mình, tôi sẽ làm cái việc phát hiện ấy.

Nhưng không phải hôm nay. Hôm nay tôi đã có việc khác cần khám phá, một việc còn tệ hơn cả nỗi buồn. Một việc có thể khiến tôi tan nát.

Tôi cố nhét gọn cuốn sách trở vô phong bì. Trong đó còn có một thứ khác nữa. Một tờ giấy gấp làm bốn, có mấy chữ của bác sĩ Nash trên đó: Tôi nghĩ cái này có thể khiến cô quan tâm!

Tôi mở nó ra. Ngang đầu giấy bác sĩ Nash viết Standard, 1988. Bên dưới nó là bản in một bài báo, có ảnh kèm. Tôi nhìn chằm chặp cả mấy giây rồi mới nhận ra đó là bài phê bình cuốn tiểu thuyết của tôi và bức ảnh đó chụp tôi.

Tôi bàng hoàng cầm tờ giấy. Nó là đồ cổ rồi; dù hay, dù dở, bất kể tác động ấy ra sao thì nó cũng đã trôi qua từ lâu, đã thành lịch sử, sức gợi của nó đã hoàn toàn tan biến. Nhưng với tôi nó cực kỳ quan trọng. Tôi muốn biết tác phẩm của mình đã được đón nhận thê nào, nhiều năm trước.

Tôi lướt qua bài báo. Những con chữ nhảy múa trước mặt. Phần lớn có vẻ tích cực. Cẩn trọng. Sâu sắc. Khốc liệt. Đầy tính nhân văn.

Tôi nhìn bức ảnh trắng đen chụp tôi đang ngồi bên bàn viết, thân hình nghiêng về phía ống kính, trong một tư thế đầy ngượng nghịu. Có gì đó khiến tôi không thoải mái, chẳng rõ là vì cái người đứng đằng sau ống kính, hay tại cái vị trí tôi đang ngồi. Mặc dù vậy tôi vẫn cười tươi. Tóc tôi dài, buông lơi và đen thẫm. Sau lưng tôi là những cánh cửa mở ra hàng hiên, và trong góc cửa có một cái cây trụi lá. Bên dưới bức ảnh là lời chú thích. Christine Lucas, tại ngôi nhà ở Bắc London của cô.

Tôi nhận ra đó đích thị là ngôi nhà tôi đã ghé thăm cùng bác sĩ Nash. Trong tích tắc người tôi tràn ứ nỗi khát khao được trở lại đó, mang theo bức ảnh này và tự thuyết phục mình rằng, vâng, đó chính là sự thật; tôi đã tồn tại lúc đó. Người trong bức ảnh đó đã là tôi.

Tôi mỉm cười và chạm tay vào bức ảnh, rê mấy đầu ngón tay khắp nó, tìm kiếm những manh mối còn ẩn giấu như cách của một người mù. Tôi lần theo rìa mái tóc của mình, rà tay lên mặt mình. Trong ảnh trông tôi không thoải mái, nhưng mặt mũi khá rạng rỡ. Như thể tôi đang nắm giữ một bí mật đầy mê hoặc. Cuốn tiểu thuyết của tôi đã được xuất bản, vâng, nhưng hãy còn thứ khác, một thứ còn hơn vậy nữa.

Trong lúc quan sát cái cách mình vắt tay ngang bụng, và gờ ngực phồng căng trong bộ váy trễ, tự dưng một ký ức chợt sủi lên trong đầu tôi. Tôi thấy mình đang lựa thế ngồi để chụp hình, nhiếp ảnh gia đang ở trước mặt, phía sau cái giá ba chân, còn cô nhà báo viết về tác phẩm của tôi đang đi loanh quanh trong bếp. Cô ấy gọi với ra, hỏi xem mọi việc tới đâu rồi, và cả hai chúng tôi cùng đáp ‘Tuyệt!’ đầy vẻ hân hoan rồi phá ra cười. ‘Không lâu đâu.’ nhiếp ảnh gia nói lúc thay phim. Cô nhà báo châm một điếu thuốc và gọi hỏi tôi nhà có gạt tàn thuốc không. Tôi cảm thấy hơi bứt rứt. Sự thật là tôi cũng đang thèm hút một điếu, nhưng tôi đã từ bỏ, kể từ khi phát hiện ra rằng...

Nhìn lại bức ảnh lần nữa tôi đã hiểu ra. Trong bức ảnh đó tôi đang mang thai.

Trong tích tắc, trí óc tôi khựng lại rồi rảo chạy. Nó tự vấp phải gờ nhận thức bén ngót rằng, lúc ngồi trong phòng ăn để chụp ảnh, tôi đã biết, mình đang hạnh phúc được mang trong người một mầm sống.

Chuyện gì đã xảy ra? Giờ này đứa bé ấy đã bao nhiêu tuổi? Mười tám? Mười chín? Hai mươi?

Nhưng chẳng có đứa trẻ nào cả. Con trai mình đâu rồi?

Tôi cảm thấy thế giới của mình ngả nghiêng lần nữa. Con trai. Tôi đã nghĩ về nó, đã tự nói với mình đầy chắc chắn. Chẳng hiểu sao, từ đâu đó sâu thẳm trong lòng, tôi biết rằng mầm sống mình mang là một cậu bé.

Tôi níu chặt thành ghế cố đứng vững, và ngay lúc đó một từ khác lại sủi lên bề mặt ký ức và vỡ toang ra. Adam. Thế giới của tôi tuột khỏi đường rãnh này và trượt sang đường rãnh khác.

Tôi đã có con. Chúng tôi gọi nó là Adam.

Tôi đứng lên, cái gói đựng cuốn tiểu thuyết rớt thẳng xuống sàn. Như một thứ động cơ kêu ậm ạch mãi cuối cùng cũng phát nổ, năng lượng đổ tóe ra trong tôi. Chẳng thấy thằng bé đâu trong cuốn album tự chế ở phòng khách. Hẳn là tôi đã nhớ ra nếu thấy ảnh con mình khi xem lướt cuốn album đó sáng nay, đã hỏi Ben thằng bé là ai, đã viết về nó trong nhật ký. Tôi nhét bài báo trở lại phong bì cùng với cuốn tiểu thuyết rồi chạy lên lầu, cắm mắt vào đám ảnh dán quanh tấm gương trong phòng tắm, những bức ảnh chụp quá khứ, những bức ảnh mà tôi phải dùng để định hình chính mình khi không còn ký ức.

Tôi. Ben. Tôi và Ben. Hai chúng tôi với một cặp khác, già hơn, chắc là cha mẹ của Ben. Tôi đang quàng khăn và nựng nịu một chú chó, trông trẻ trung và đầy hạnh phúc. Nhưng không có Adam. Không một ảnh trẻ con lúc sơ sinh hay đã biết đi lẫm chẫm. Chẳng có những bức ảnh chụp nó trong ngày đầu tiên đi học, đi hội thao ở trường, hay đi nghỉ. Cũng chẳng có bức nào chụp nó đang xây lâu đài cát. Chẳng có gì hết.

Thật vô lý. Chẳng phải đó đương nhiên là những bức ảnh mà mỗi bậc cha mẹ đều muốn chụp cho con mình và chẳng ai chịu bỏ đi sao?

Tôi nhấc những tấm ảnh lên để xem liệu có còn bức nào khác dán bên dưới chúng không, nhưng chẳng có gì cả. Chẳng có gì ngoại trừ những viên đá lát tường màu xanh nhạt và mặt gương trơn láng.

Adam. Cái từ đó cứ nhào lộn trong đầu. Mắt tôi nhắm lại. Những ký ức thụi vào, từng cái một nện kịch liệt, từng cái một bật sáng rồi biến mất. Tôi thấy mái tóc vàng hoe một ngày nào đó sẽ ngả nâu của Adam, thấy cái áo Người nhện đã chật cứng mà nó cứ khăng khăng đòi mặc mãi, thấy nó nằm ngủ trong xe đẩy như một tạo tác hoàn mỹ nhất, thấy nó cưỡi chiếc xe đạp ba bánh màu xanh dương - quà sinh nhật - trong công viên, đầu cúi gằm trên ghi-đông xe, miệng cười toe toét khi bay xuống một con dốc lao về phía tôi và chỉ giây sau đã ngã chổng kềnh. Tôi thấy mình ôm con vào lòng trong khi nó khóc nức, lau máu trên mặt con, tìm cái răng của con rớt trên mặt đất kế bên cái bánh xe hãy còn quay tít. Tôi thấy con khoe với tôi bức tranh nó vẽ - vệt xanh dương cho trời, xanh lá cho đất còn giữa chúng là ba hình hài như ba giọt nước và một ngôi nhà tí tẹo, tôi thấy cả con thỏ đồ chơi mà nó tha theo ở khắp mọi nơi.

Bị giật ngược về hiện tại, trong cái phòng tắm đang đứng, nhưng tôi vẫn ngoan cố nhắm mắt lại. Tôi muốn nhớ ra con trai lúc nó đi học, hoặc khi đã thiếu niên, hoặc đang ở bên tôi hoặc bên cha nó, nhưng không thể. Ký ức của tôi cứ dập dờn rồi lẩn khuất, giống như một cái lông chim được gió liên tục đổi hướng bất cứ khi nào có một bàn tay vồ lấy nó. Thay vào đó tôi thấy con đang cầm một que kem chảy nước, thấy con mặt mũi nhoe nhoét kẹo cam thảo, thấy con nằm ngủ ở băng sau xe. Tất cả những gì tôi có thể làm là dõi nhìn khi những ký ức này đổ đến rồi ra đi nhanh chóng.

Ký ức hút cạn mọi sức lực đến độ tôi chẳng còn đủ sức để giật phăng mấy tấm ảnh trước mặt. Tôi muốn xé toạc chúng khỏi bức tường để tìm kiếm những vết tích về con trai mình, nhưng lại đứng gần như bất động trước tấm gương, mọi múi cơ trong người thảy đều căng cứng.

Chẳng có bức ảnh nào trên bệ lò sưởi. Chẳng có phòng ngủ kiểu teen với những poster về các ngôi sao nhạc pop dán đầy tường. Chẳng có cái áo T-shirt nào trong thùng giặt hay trong những chồng đồ đem ủi. Chẳng có đôi giày thể thao xơ xác nào trong tủ dưới cầu thang. Mà nếu thằng bé đã rời khỏi nhà đi nữa hẳn vẫn còn đâu đó vài dấu vết chứng tỏ sự tồn tại của nó chứ? Phải có vài dấu vết chứ?

Nhưng không, con trai tôi không có mặt trong ngôi nhà này. Tôi rùng mình nhận ra dường như thằng bé không hề tồn tại, chưa bao giờ tồn tại.

Tôi chẳng biết mình đã đứng bao lâu trong nhà tắm, ngó trân trân vào sự thiếu vắng của đứa con. Mười phút? Hai mươi phút? Một giờ? Đến tận lúc nghe có tiếng mở khóa ở cửa trưửc, tiếng sột soạt chà lên thảm chùi chân, tôi vẫn không nhúc nhích. Ben vào bếp, rồi vào phòng ăn, rồi gọi với lên lầu, hỏi xem mọi việc có ổn không. Trong giọng anh ta có thêm vẻ bồn chồn mà buổi sáng tôi chưa nghe thấy, nhưng tôi chỉ ậm ừ vâng, dạ. Tôi nghe tiếng Ben vào phòng khách, rồi tiếng tivi bật lên.

Đầu óc tôi chợt trống huếch. Mức độ nôn nóng muốn biết điều gì đã xảy ra với con trai mình ngang ngửa với nỗi sợ về điều có thể tôi sẽ khám phá ra.

Tôi giấu cuốn tiểu thuyết của mình vào trong tủ áo rồi xuống lầu.

Đứng ngoài khung cửa phòng khách, tôi thử kìm nhịp thở mà không thể; nó cứ hổn hển gấp gáp. Tôi chẳng biết phải nói với Ben thế nào về chuyện Adam. Nếu anh ta hỏi làm sao tôi biết được, tôi sẽ phải nói gì?

Dầu vậy, chẳng có gì cản được, chẳng có gì hơn được việc phải biết về con trai mình. Tôi nhắm mắt lại và, khi đã cảm thấy bình tĩnh như chưa bao giờ bình tĩnh đến thế, nhẹ nhàng đẩy cánh cửa trượt lên lớp thảm xù xì.

Ben đang ngồi trên sofa coi tivi, đĩa bánh quy đặt trong lòng. Tôi cảm thấy nổi giận. Trông Ben rất thư thái và hạnh phúc. Tôi muốn lao tới vồ lấy anh ta và thét lên cho tới khi anh ta chịu kể cho tôi nghe mọi thứ, kể tại sao anh ta đã giấu cuốn tiểu thuyết của tôi, giấu sự hiện diện của con trai tôi. Tôi muốn đòi anh ta trả lại cho mình mọi thứ mà tôi đã mất.

Nhưng tôi biết chuyện đó chẳng có ích gì. Thay vào đó, tôi bật ho khe khẽ. Một tiếng ho để thông báo Em chẳng muốn làm phiền anh đâu, nhưng...

Ben nhìn tôi và mỉm cười. ‘Em đó hả, cưng!’

‘Ben,’ tôi bước vào phòng và nói, giọng ráo hoảnh, nghe lạ lẫm cả với tôi. ‘Ben? Em cần nói chuyện với anh.’

Mặt Ben chùng lại vẻ băn khoăn. Anh ta đứng dậy bước về phía tôi, cái đĩa trượt xuống sàn. ‘Chuyện gì vậy, cưng? Em có sao không?’

‘Không,’ tôi đáp. Ben khựng lại cách tôi cả mét. Tôi ngoảnh khỏi vòng tay đang dang ra chờ đón của anh ta.

‘Có chuyện gì không ổn sao?’

Tôi ngó chằm chặp vào chồng mình, vào gương mặt của anh ta. Ben có vẻ tự chủ, như thể đã quen với những khoảnh khắc đầy kích động này rồi.

‘Adam đâu?’ tôi thốt lên. Từ ngữ thoát ra trong một luồng thở hổn hển. ‘Thằng bé đâu rồi?’

Mặt Ben biến sắc. Anh ta nuốt nước bọt.

‘Kể cho em đi!’ tôi thúc giục.

Ben ôm tôi trong tay mình. Tôi muốn đẩy anh ta ra, nhưng không được. ‘Christine, làm ơn bình tĩnh lại nào. Mọi việc đều ổn cả mà. Anh có thể giải thích mọi thứ. Được chứ?’

Tôi muốn bảo anh ta là mọi thứ chẳng ổn chút nào cả, nhưng chẳng mở miệng nổi. Tôi vùi mặt mình vào trong những nếp áo của Ben, cả người run rẩy.

‘Kể cho em đi.’ tôi nài nỉ. ‘Làm ơn kể liền bây giờ đi.’

Chúng tôi ngồi trên sofa. Tôi đầu này. Ben đầu kia. Đủ gần như tôi muốn thế.

‘Adam đã chết.’ Ben nói. Lời lẽ của anh ta nghe bén ngót như dao cạo.

Tôi rúm người lại, co chặt mình như một con ốc.

Tôi nghĩ tới con ruồi kẹt ở kính chắn gió trên đường từ nhà bà về.

‘Christine, anh rất xin lỗi.’

Tôi cảm thấy giận Ben phát điên, dù biết đó chẳng phải là lỗi của anh ta.

Tôi ép mình mở miệng. ‘Chuyện là thế nào?’

Ben thở dài, nói trong gắng gỏi đứt quãng. ‘Adam nhập ngũ. Thằng bé là lính Hải quân Hoàng gia. Nó đóng quân ở Afghanistan. Và hy sinh. Năm ngoái.’

Tôi chết lặng. Mọi thứ lùi xa, bỏ tôi lại cùng với nỗi đau. Nỗi đau. Gom lại thành độc điểm. Tôi nuốt nước bọt. Cổ họng khô khốc.

‘Chuyện thế nào? Em muốn biết... Em cần phải biết.’

Ben với sang nắm tay tôi. ‘Em không cần phải biết rõ mọi thứ đâu...’

Cơn giận trào lên không kìm lại được. Giận dữ và đau đớn. ‘Thằng bé là con em!’

Ben ngoảnh nhìn sang phía cửa sổ.

‘Thằng bé thuộc phân đội hộ tống, đang hành quân trong một chiếc xe bọc sắt,’ Ben kể chậm chạp, gần như thầm thì. ‘Có một quả bom, cài bên đường. Chỉ một người lính sống sót. Adam và người kia thì không.’

Tôi nhắm mắt lại và giọng tôi cũng rớt xuống thầm thì. ‘Nó có đi ngay không? Có đau đớn không?’

Ben thở dài, cả giây sau mới nói. ‘Không, thằng bé không bị đau đớn. Họ nghĩ chuyện đó diễn ra rất nhanh.’

Tôi nhìn sang chỗ Ben ngồi. Anh đang nói dối.

‘Tại sao thằng bé lại ở Afghanistan?’ tôi hỏi.

Ben bảo vì nước chúng tôi đã tham chiến. Một cuộc chiến chống khủng bố. Anh ta nói đã có một vụ tấn công kinh hoàng ở nước Mỹ. Hàng ngàn người đã bị giết chết.

‘Em không hiểu tại sao con trai em lại chết ở Afghanistan?’ ‘Chuyện phức tạp lắm,’ Ben nói. Thằng bé muốn được nhập ngũ. Nó nghĩ nó phải làm bổn phận của mình...’ Trong một khoảnh khắc đáng sợ tôi gần như phá ra cười. ‘Để bị giết á? Đó là điều nó muốn ư...’

Một giọt lệ đơn độc lăn xuống má tôi, nóng bỏng như a-xít, rồi một giọt khác, rồi nhiều giọt nữa. Tôi quệt chúng đi và thổn thức. ‘Em thậm chí còn chưa biết mặt thằng bé...’

Ben đặt một cái hộp kim loại màu xám lạnh trên bàn cà phê trước mặt chúng tôi.

‘Anh cất những thứ này ở trên lầu,’ anh ta nói. ‘Cho an toàn.’

‘Cho an toàn à?’ tôi hỏi lại.

Ben thở dài, phân trần. ‘Có vài chuyện nếu để em tự mình bắt gặp sẽ không hay. Để anh giải thích cho em sẽ tốt hơn.’

‘Adam lúc nhỏ đấy,’ Ben nói lúc lấy một xấp ảnh trong hộp ra đưa cho tôi.

Đó là một bức ảnh chụp tôi đang đi trên phố, địu Adam trước ngực. Thằng bé đang ngoảnh đầu ngó người chụp hình, nụ cười trên khuôn miệng chưa có cái răng nào của nó rất giống tôi.

‘Anh chụp tấm này à?’

Ben gật đầu. Tôi nhìn tấm ảnh lần nữa. Mép ảnh ố sờn, còn màu ảnh đã phai trắng nhách.

Tôi. Đứa bé. Dường như chẳng thật tí nào. Tôi cô tự nhủ rằng mình là một người mẹ.

‘Chụp lúc nào thế?’ tôi hỏi.

Ben nhìn qua vai tôi. ‘Lúc thằng bé chừng sáu tháng. Khoảng năm một chín tám bảy.’

Năm tôi hai mươi bảy. Cách đây cả một cuộc đời rồi.

Cuộc đời của con tôi.

‘Nó sinh vào lúc nào?’

Ben lại xục tay vào hộp, rồi trao cho tôi một mảnh giấy. ‘Tháng Một.’ anh ta nói. Mẩu giấy vàng khè, giòn rụm. Một tờ khai sinh.

‘Adam Wheeler.’ tôi đọc lớn. Cho cả tôi và Ben cùng nghe.

‘Wheeler là họ của anh,’ anh ta giải thích. ‘Mình đã quyết định là thằng bé mang họ anh.’

Tôi áp tờ giấy lên mặt mình. Tôi muốn hít nó vào, để nó trở thành một phần của con người tôi.

‘Đưa anh nào.’ Ben nói và lấy tờ giấy khỏi tay tôi, rồi gấp lại. ‘Còn mấy hình nữa đấy, nếu em muốn xem...’

‘Bị mất nhiều lắm rồi...’ anh ta nói khi tôi xem ảnh. ‘Vâng.’ tôi đáp. ‘Em nhớ mà. Chúng ta đã dính vào một vụ cháy.’ tôi bật nói mà không hề suy nghĩ.

Ben nheo mắt nhìn tôi đầy lạ lẫm.

‘Em nhớ ra ư?’ anh ta hỏi.

‘Anh đã kể cho em chuyện đó mà.’

‘Anh kể ư?’ Ben hỏi lại.

‘Vâng.’

‘Khi nào?’

Khi nào nhỉ? Là sáng nay hay nhiều ngày trước đó? Tôi nghĩ tới cuốn nhật ký, nhớ ra là mình đã đọc nó sau khi Ben đi làm. Anh ta đã kể cho tôi về vụ cháy khi chúng tôi ngồi trên đồi Parliament, nhiều ngày trước.

Vừa định nói với Ben về cuốn nhật ký, thì có gì đó níu tôi lại. Ben dường như ít vui khi tôi nhớ ra điều gì đó. ‘Trước khi anh đi làm thì phải?’ tôi nói. ‘Khi chúng ta ngó qua cuốn sổ dán hình. Anh đã kể vậy mà...’

Ben cau mày. Thật là tệ khi phải nói dối, nhưng tôi cảm thấy mình khó đương đầu nổi nếu tiết lộ nhiều hơn. ‘Chứ nếu không làm sao em biết được?’ tôi phân trần.

Ben nhìn xói vào tôi. ‘Anh cũng nghĩ vậy.’

Tôi khựng lại, ngó lom lom vào vào xấp ảnh trên tay mình. Chúng ít ỏi một cách tội nghiệp.

‘Vụ cháy đó bắt đầu ra sao?’ tôi hỏi.

Đồng hồ trên bệ lò sưởi thong thả điểm chuông. ‘Lâu lắm rồi. Ở nhà cũ ấy. Ngôi nhà mình đã ở trước khi chuyển đến đây.’ Chẳng biết có phải Ben đang nói đến ngôi nhà mà tôi đã ghé thăm không nữa. ‘Mình đã mất rất nhiều thứ. Sách vở, giấy tờ. Những thứ đại loại thế.’

‘Nhưng nó đã bắt đầu ra sao?’ tôi hỏi gặng.

Ben chẳng nói gì cả một lúc lâu, rồi miệng anh ta mấp máy, ‘Đó là một sự cố. Chỉ là một sự cố thôi mà.’

Tôi không biết còn điều gì nữa mà anh ta chưa kể ra. Tôi đã bỏ quên một điếu thuốc đang cháy dở, cắm hoài bàn ủi trong ổ điện, hay mặc cho một cái nồi bị đun đến khô quéo? Tôi tưởng tượng ra mình nhiều năm trước, ở trong căn bếp đã đứng; ngày hôm kia, với bàn bếp bằng bê tông đúc và những món đồ trắng sáng. Tôi thấy mình đứng cạnh một cái chảo đang kêu xèo xèo, rảy cái mửng sắt đựng những lát khoai, ngó chúng nổi phồng trên mặt chảo trước khi chúi lủi xuống lớp dầu, chùi tay vào cái tạp dề thắt quanh eo rồi đi vào gian sảnh vừa vang lên tiếng chuông điện thoại.

Rồi chuyện gì tiếp theo đó nhỉ? Phải chăng chảo dầu bén lửa lúc tôi nghe cú điện thoại kia, hay lúc tôi lên phứt phòng tắm, chẳng hề nhớ rằng mình đang nấu dở bữa tối?

Tôi chẳng biết, chẳng bao giờ có thể biết được. Nhưng nó là thứ mà Ben chỉ có thể bảo tôi rằng đó là một sự cố. Việc nội trợ có rất nhiều nguy hiểm với người mất trí nhớ, và một ông chồng khác hẳn là đã khều ra cái lỗi đó của tôi kèm theo những tổn thất, với một cái giọng giáo huấn đầy cao ngạo.

Tôi giở qua xấp ảnh. Adam với khăn vàng, mũ cao bồi và súng nhựa. Adam đã lớn thêm vài tuổi, mặt gầy hơn, tóc bắt đầu sậm màu, bận sơ mi cài nút đến tận cổ, và đeo một cái nơ trẻ con.

‘Tấm đó chụp ở trường.’ Ben giải thích. ‘Một bức chân dung hẳn hoi nhé.’ Anh ta chỉ vào tấm ảnh và bật cười. ‘Coi kìa. Kỳ cục quá đi...’

Cái dây cột nơ không được dém kỹ dưới cổ áo, phơi ra rõ ràng. Tôi rà tay trên tấm ảnh. Chẳng kỳ cục tí nào, tôi nghĩ. Rất tuyệt là đằng khác.

Tôi cố nhớ ra cậu con trai, cố mường tượng cảnh mình quỳ gối trước nó với cái nơ cột dây thun, hoặc đang chải tóc cho nó, hoặc đang lau máu khô từ một cái đầu gối trầy xước.

Chẳng có gì đến cả. Cậu bé trong hình có cái miệng đầy đặn giống tôi, và cặp mắt nhang nhác giống mẹ tôi, còn thì gần như người xa lạ.

Ben lấy ra một tấm ảnh khác và đưa cho tôi. Trong đó Adam chừng năm, sáu tuổi, bận quần soóc, áo thun trắng cổ tròn, tay ôm một trái bóng, tóc tai ngắn ngủn và lấm tấm mồ hôi. ‘Em có nghĩ là thằng bé giống anh không?’ anh ta hỏi.

‘Hơi hơi,’ tôi đáp.

Ben mỉm cười, và chúng tôi cùng nhau xem tiếp. Hầu hết là ảnh tôi và Adam, chắc là do Ben chụp phần lớn. Vài tấm chụp thằng bé với bạn bè, đôi tấm chụp nó đi dự tiệc, mặc trang phục cướp biển, mang kiếm bằng giấy bồi hoặc ẵm một con chó đen bé xíu.

Trong đám ảnh có lẫn một bức thư gửi ông già Noel viết bằng bút chì xanh. Những con chữ vụng về tung tẩy khắp trang giấy. Thằng bé muốn một chiếc xe đạp, nó viết, hoặc một chú chó con, và hứa sẽ ngoan ngoãn. Nó ký tên và ghi thêm tuổi của mình. Bốn tuổi.

Chẳng hiểu tại sao khi đọc nó xong, nỗi buồn nổ toang lồng ngực tôi như trái phá. ‘Em xin lỗi,’ tôi nói, trả xấp ảnh lại cho Ben. ‘Em không thể. Không phải lúc này.’

Ben ôm tôi và bảo tôi đừng lo lắng, rằng tôi sẽ ổn thôi, rằng anh ta luôn ở đây vì tôi, rằng sẽ luôn như thế. Tôi cảm thấy chết lặng và chỉ muốn được rời khỏi căn phòng đang ngồi. Tôi ngó Ben lấy nước cho tôi uống, ngó anh ta đóng cái hộp chứa hình, nét mặt vừa bối rối lẫn cam chịu, có lẽ vậy, hoặc chấp nhận, chứ không hề sửng sốt.

Tôi rùng mình nhận ra Ben đã đối mặt với chuyện này trước đó rồi. Nỗi buồn của anh ta không hề mới mẻ. Chỉ có nỗi buồn của tôi là mới rợi, mỗi ngày.

Tôi xin lỗi rồi lên lầu, vào phòng ngủ, lục lọi tủ áo và lại viết tiếp.

*

* *

Tôi cảm thấy phát sốt. Từ ngữ tràn ngập người tôi, tuôn lẹ làng ra những trang giấy, gần như không cần suy nghĩ, chẳng biết có giống như khi tôi viết cuốn tiểu thuyết đầu tay của mình không nữa, hay là lúc đó nó đổ ra chậm rãi, nhiều cân nhắc hơn? Tôi ước gì mình nhớ được...

‘Em có phải là một bà mẹ tốt không?’ tôi hỏi, lúc đưa tách trà cho Ben.

‘Christine...’

‘Em cần phải biết.’ tôi nói chen. ‘Ý em là biết mình đã xoay xở’ ra sao? Với một đứa trẻ? Thằng bé hẳn còn rất nhỏ khi em...’

‘…bị tai nạn?’ Ben ngắt lời. ‘Lúc đó nó hai tuổi. Em là một bà mẹ tuyệt vời, cho tới lúc ấy. Sau đó, ừm...’

Ben bỏ lửng câu nói và quay đi.

Dẩu vậy tôi đủ biết để điền vào khoảng trống. Tôi có thể tưởng tượng ra cảnh tôi được nhắc nhở mỗi ngày rằng tôi đã kết hôn và là một bà mẹ, rằng chồng và con trai tôi sắp sửa đến thăm. Hẳn là tôi đã chào đón hai người bọn họ mỗi ngày như chưa hề gặp cả hai trước đó. Tôi có thể mường tượng ra nỗi đau chúng tôi phải gánh chịu. Cả ba người chúng tôi.

‘Không sao mà,’ tôi nói. ‘Em hiểu rồi.’

‘Em còn không thể tự chăm sóc mình mà. Bệnh của em nặng đến độ anh không thể chăm sóc em tại nhà, không thể để em một mình, dù chỉ trong vài phút. Em thường quên chuyện mình đang làm và bỏ đi thơ thẩn. Anh lo em có thể tự mở nước tắm rồi để nước chảy hoài, hoặc thử tự nấu món gì đó cho mình và quên khuấy chuyện mình đã bắt đầu nấu nó. Chuyện đó thật quá phức tạp với anh. Vì vậy mà anh ở nhà và chăm sóc Adam, có mẹ anh giúp nữa. Rồi mỗi buổi tối cả nhà đến thăm em và...’

Tôi cầm tay Ben.

‘Xin lỗi,’ anh ta nói. ‘Nghĩ về thời gian đó anh thấy thật khó khăn.’

‘Em hiểu mà. Còn mẹ em thì sao? Bà có giúp không;? Bà có vui thích khi được là bà ngoại không?’ Ben gật đầu và trông như định cất giọng. ‘Bà đã mất rồi, phải không?’ tôi hỏi.

Ben nắm tay tôi. ‘Bà đã mất cách đây vài năm. Anh rất tiếc.’

Tôi đã đúng. Trí óc tôi bắt đầu khép chặt lại, như chẳng muốn xử lý thêm một nỗi buồn nào nữa từ cái quá khứ rối tinh này, nhưng chỉ cần thức dậy vào sáng mai thôi là tôi sẽ chẳng còn nhớ bất cứ điều gì của tất cả những chuyện này.

Biết viết gì vào nhật ký để tôi sẽ hiểu được tôi qua cả ngày mai, ngày mốt và những ngày sau đó nữa?

Một hình ảnh chợt nổi lên trước mật tôi. Cô gái tóc đỏ. Một cái tên tự dưng chợt đến. Claire sẽ nghĩ gì?

Chính nó đó. Tên cô bạn của tôi. Claire.

‘Còn Claire?’ tôi thốt lên. ‘Bạn em, Claire. Cô ấy vẫn còn sống chứ?’

‘Claire?’ Ben hỏi lại, mặt biến sắc. ‘Em nhớ ra Claire à?’

‘Vâng,’ tôi đáp. ‘Chúng em là bạn bè mà. Chuyện gì đã xảy ra với cồ ấy?’

Ben nhìn tôi vẻ buồn bã, và trong tích tắc tôi cảm thấy ớn lạnh vì lo sợ đến một điều tệ hại. ‘Cô ấy chuyển đi lâu rồi.’ anh ta nói chậm rãi. ‘Chắc cũng gần hai mươi năm. Hai, ba năm sau khi mình lấy nhau.’

‘Đi đâu?’

‘New Zealand.’

‘Chúng em có liên lạc với nhau không?’

‘Em có liên lạc một thời gian rồi thôi. Không liên lạc gì nữa.’

Có gì đó dường như không ổn lắm. Cô ấy là bạn thân nhất của mình mà...

‘Chúng em cãi nhau sao?’

Ben ngần ngừ. Tôi nhận ra rằng đương nhiên là Ben biết điều gì sẽ khiến tôi khó chịu. Anh ta đã có nhiều năm để biết tôi sẽ chấp nhận được chuyện gì và mảnh đất nào là nguy hiểm không nên đặt chân tới. Sau rốt, đây chẳng phải là lần đầu tiên anh ta dính vào cuộc đối thoại kiểu này. Anh ta đã có cơ hội để tìm ra các lối đi len lỏi giữa những cụm bối cảnh của đời tôi mà không làm tổn hại chúng và đẩy tôi té nhào đâu đó.

‘Không,’ Ben đáp. ‘Tụi em không cãi cọ. Anh nghĩ tụi em chỉ là xa dần khỏi nhau thôi, và đến lúc Claire kết hôn thì họ chuyển đi.’

Một hình ảnh chợt ùa đến. Claire và tôi đã từng tuyên bố là sẽ chẳng bao giờ lấy chồng. ‘Hôn nhân chỉ dành cho những kẻ thua cuộc!’ Cô ấy nói thế lúc nâng chai vang đỏ chạm môi, và tôi tán thưởng ngay, dù cùng lúc đó đã biếc rằng sẽ tới một ngày tôi làm phù dâu cho cô ấy, và cô ấy làm phù dâu cho tôi, và chúng tôi sẽ ngồi trong những phòng thay đồ ở khách sạn, diện váy cưới, nhấm nháp rượu champagne bằng ống hút trong khi có người làm tóc cho mình.

‘Chúng ta có đi dự đám cưới cô ấy không?’ tôi hỏi.

‘Có,’ Ben gật đầu, mở cái hộp trong lòng và xới tung nó. ‘Có vài tấm hình ở đây.’

Mấy tấm hình hơi tối, có vẻ như được chụp bởi một tay máy nghiệp dư. Chắc là Ben chụp rồi. Tôi ngắm kỹ tấm ảnh đầu tiên.

Claire giống như tôi đã tưởng tượng. Cao, mảnh mai và có điều xinh đẹp hơn. Cô đang đứng trên đỉnh một vách đá, bộ váy mỏng bay trong gió nhẹ, ánh mặt trời lấp lóa trên mặt biển phía sau. Thật xinh. Tôi đặt tấm hình xuống và lướt mắt qua những tấm còn lại. Vài tấm hình chụp Claire và chồng cô ấy - một người đàn ông lạ hoắc - vài tấm khác có thêm tôi nữa, váy lụa xanh nhạt, kém lộng lẫy hơn một chút. Phải vậy thôi, tôi là phù dâu mà.

‘Có tấm nào chụp đám cưới của chúng ta không;’ tôi hỏi.

Ben lắc đầu. ‘Chúng nằm trong một cuốn album riêng và đã bị cháy mất rồi.’

Tôi trả lại những bức ảnh cho Ben, cảm thấy như thể mình vừa ngắm một cuộc đời nào đó khác chứ chẳng phải là cuộc đời của chính mình. Tôi chợt muốn lên lầu ghê gớm, để được viết về những điều mình vừa phát hiện.

‘Em thấy mệt,’ tôi nói. ‘Em muốn nằm nghỉ.’

‘Được mà, nào, cất vào đây.’ Ben nói, cầm xấp ảnh tôi đưa và bỏ chúng vào lại trong hộp. ‘Anh sẽ giữ chúng thật an toàn.’ anh ta nói lúc đóng nắp hộp.

*

* *

Đã nửa đêm rồi. Tôi đang ở một mình trên giường, cố hiểu mọi chuyện đã xảy ra trong hôm nay.

Tôi mở vòi nước nóng và phòng tắm bắt đầu tràn ngập hơi nước. Dưới lầu vẳng lên bảng lảng tiếng nhạc jazz phát ra từ radio, chen lẫn với tiếng dao thớt. Ben hẳn đang bằm cà rốt, củ hành, hạt tiêu để làm bữa tối, như thể đây chỉ là một ngày rất bình thường.

Phải vậy rồi. Tôi nghẹn ứ nỗi buồn, còn anh ta thì không.

Tôi chẳng trách Ben đã không nói cho tôi, mỗi ngày, về Adam, về mẹ tôi, về Claire. Ở vị trí của Ben chắc tôi cũng làm vậy. Nếu có thể qua trọn một ngày mà không phải nhớ đến những chuyện bi thương này thì tôi né được nỗi xót xa, còn anh ta thì khỏi đau lòng vì đã gợi ra chuyện đó. Ben hẳn đã phải rất kiềm chế để giữ kín chuyện, và cuộc sống thật chẳng dễ dàng với anh ta, khi biết tôi luôn tha theo bên mình những mảnh nhọn lởm chởm này của ký ức, giống như đeo một đống bom nhỏ xíu, mà bất cứ lúc nào một mảnh nhọn ấy cũng có thể xuyên thủng vỏ bọc và ép tôi chạy thốc qua nỗi đau như thể lần đầu, lôi cả anh ta theo nữa.

Tôi chậm rãi cởi quần áo, gấp chúng lại và đật trên cái ghế cạnh bồn tắm. Tôi đứng trần trụi trước gương và lom lom ngó cơ thể xa lạ của mình.

Chúng ở đó, ngang qua bụng, qua hồng, qua ngực tôi. Những vệt mảnh màu trắng bạc, những vết răng cưa ghi những chuyện đã qua.

Hình ảnh trong gương của tôi bắt đầu mờ đi vì hơi nước. Mình thật may mắn, tôi nghĩ. May mắn được có Ben chăm chút, ở đây, trong cái gọi là nhà của mình này, ngay cả khi tôi chẳng nhớ ra nó là như thế. Tôi chẳng phải là người duy nhất chịu đau khổ. Ben đã chịu đựng qua cái điều mà tôi khám phá hôm nay, rồi đi ngủ mà biết rõ rằng có thể ngày mai anh ta lại phải trải qua nó lần nữa. Một ông chồng khác hẳn đã chẳng thể nào chịu đựng nổi. Một ông chồng khác hẳn đã rời bỏ tôi rồi. Tôi ngó chăm chăm vào mặt mình, như thể đang cố khắc sâu hình ảnh đó vào trí nhớ, bỏ nó ở gần bề mặt ký ức nhất sao cho sáng mai thức dậy nó sẽ chẳng quá lạ lẫm, chẳng gây sốc với tôi nữa. Khi hình ảnh gương mặt đã hoàn toàn bị hơi nước phủ mờ, tôi mới nhúng người vào bồn nước rồi ngủ thiếp đi.

Tôi đã không mơ - hoặc ít nhất đã không nghĩ là mình mơ -     nhưng khi tỉnh giấc tôi thấy mình đang ở trong một phòng tắm khác, nước vẫn còn ấm và ngoài cửa có tiếng gõ nhẹ. Tấm gương trơn nhẵn, chẳng đính bất cứ thứ gì trên đó, bắt vít vào những viên gạch lát tường màu trắng chứ không phải xanh dương.

Tôi nghe một giọng nói cất lên ‘Ra ngay đây,’ và nhận ra đó chính là giọng mình. Tôi nhỏm lên khỏi bồn tắm và phóng mắt nhìn cánh cửa chốt chặt. Hai bộ đồ ngủ máng trên móc gắn ở bức tường đối diện, cả hai đều màu trắng, có mấy chữ NKR. thêu lồng vào nhau. Tôi đứng hẳn dậy.

‘Nào!’ một giọng nói vang lên ngoài cửa. Cùng lúc, nó nghe giống Ben, nhưng lại chẳng phải Ben. Nó vang lên như hát. ‘Nào! Nao, náo, nào!’

‘Ai vậy?’ tôi bật hỏi, nhưng cái giọng đó vẫn không ngưng. Tôi bước ra khỏi bồn tắm. Sàn nhà ướt choẹt lát chéo những viên gạch trắng đen. Tôi cảm thấy người mình nhao đi, chân cẳng chúi nhủi. Tôi ngã ụp xuống sàn, giật luôn cả tấm màn tắm theo mình. Đầu tôi va vào bồn rửa. Tôi thét lên. ‘Cứu tôi!’

Rồi, tôi tỉnh giấc thực sự, khi một giọng nói khác hẳn, đang gọi tôi. ‘Christine! Chris! Em có sao không?’ Tôi thở phào nhận ra đó là giọng Ben và hóa ra là tôi đang mơ. Tôi mở mắt ra. Tôi đang nằm trong bồn tắm, quần áo gấp gọn đặt trên cái ghế bên cạnh, những bức ảnh của đời tôi dán trên những viên gạch lát tường màu xanh dương phía trên bồn rửa.

‘Vâng.’ tôi đáp. ‘Em ổn mà. Em vừa có một giấc mơ tệ quá.’

Tắm xong, tôi ăn tối rồi lên giường. Tôi muốn viết xuống hết mọi thứ vừa biết được trước khi chúng biến mất, nhưng không chắc mình có đủ thời gian để làm vậy không trước khi Ben lên ngủ.

Hôm nay mình đã dùng quá nhiều thời gian vào việc viết lách, tôi nghĩ. Chắc chắn Ben sẽ nghi ngờ, sẽ tự hỏi tôi cứ lui cui làm gì một mình trên lầu mãi thế. Tôi đã bảo Ben là mình mệt, cần nghỉ ngơi, và anh ta đã tin thế.

Tôi nghe thấy Ben đi rón rén trong nhà, mở, đóng những cánh cửa thật nhẹ nhàng để không làm tôi thức giấc, trong khi tôi khom người trên cuốn nhật ký, phóng bút viết như phát điên. Còn lựa chọn nào khác nữa đâu. Nếu không ghi lại những chuyện này, tôi sẽ mất chúng mãi mãi. Tôi phải tìm cớ để được ở bên cuốn sổ của mình.

‘Có lẽ tối nay em nên ngủ trong phòng dành cho khách.’ lúc tối tôi đã nói thế đấy. ‘Em có việc khó nghĩ. Anh thông cảm nhé?’

Ben đồng ý, và bảo sẽ hỏi thăm tôi vào giấc sáng trước khi anh ta đi làm, rồi hôn tôi chúc ngủ ngon.

Tôi chẳng tin là trong vài tháng tới, khi ngủ thiếp đi, tôi sẽ quên tất cả về con trai mình lần nữa. Những ký ức về thằng bé đã dường như - và hãy còn thế - rất thật, rất sống động. Và tôi vẫn nhớ được nó ngay cả sau khi ngủ lơ mơ trong bồn tắm. Dường như không hợp lý khi cho rằng một giấc ngủ dài hơn sẽ tẩy sạch mọi thứ, trong khi cả Ben và bác sĩ Nash đều bảo tôi đó chính xác là điều sẽ xảy ra.

Tôi có dám hy vọng rằng họ sai? Tôi đang nhớ lại nhiều hơn từng ngày, thức dậy vẫn biết nhiều hơn về việc mình là ai. Có lẽ mọi thứ đang đi đúng hướng, việc viết cuốn nhật ký này đang lôi các ký ức của tôi lên bề mặt trí não.

Giờ thì tôi mệt rồi. Ngủ thôi, cầu sao sáng mai thức dậy tôi vẫn có thể nhớ ra con trai mình.

BEFORE I GO TO SLEEP - Nguyễn Lê Minh Hoàn dịch
Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 10 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.