Phòng ngủ lạ. Lạ hoắc. Tôi chẳng biết mình đang ở đâu, làm sao mà đến được đây. Tôi chẳng biết làm thế nào để trở về nhà.
Tôi đã qua đêm ở chốn này. Một giọng phụ nữ đã khiến tôi thức giấc - thoạt tiên tôi ngỡ cô ta nằm chung giường, sau mới nhận ra đó là giọng nữ phát thanh viên đang đọc bản tin còn tôi đang nghe đài kiêm đồng hồ báo thức - và đó là lúc tôi mở mắt thấy mình ở đây. Trong căn phòng chẳng nhận ra nổi này.
Khi mắt đã quen, tôi nhìn quanh quất khắp căn phòng mờ tối. Máng sau lưng cửa tủ áo là một cái váy dài - hợp với một phụ nữ nhiều tuổi hơn tôi - còn trên lưng ghế bàn trang điểm là một cái quần dài màu xanh biển gấp gọn ghẽ, dòm vậy thôi chứ tôi chẳng biết được gì khác nữa. Cái đài kiêm đồng hồ báo thức ngó thật phức tạp, nhưng tôi vẫn tìm ra được nút có vẻ giống nút tắt tiếng nhất. Và nó tắt thật.
Liền đó, có tiếng thở lào phào ngay phía sau lưng khiến tôi nhận ra chẳng phải chỉ có một mình tôi ở trong phòng. Tôi quay ngoắt lại. Một mảng da trần cùng mái tóc đen lốm đốm bạc ập ngay vào mắt tôi. Một gã đàn ông. Trên ngón áp út của bàn tay trái đang thò ra ngoài vỏ chăn của gã là một cái nhẫn vàng. Tôi cố chẹn lại một tiếng rên. Ra là vậy, cái gã đứng tuổi tóc chốm bạc này đã kết hôn. Tôi nghĩ bụng. Không chỉ ăn nằm với kẻ đã có vợ, mình còn làm chuyện ấy ngay trong ngôi nhà có lẽ là nhà của gã và trên cái giường có lẽ là của vợ chồng gã nữa. Tôi lật sấp người lại để trấn tĩnh. Thẹn quá đi mất.
Tôi tự hỏi lúc này cô vợ đang ở đâu. Có cần lo cô ta sẽ xộc về bất chợt? Tôi hình dung ra cảnh cô ta đứng ở mé phòng kia, hét lác, móc mỉa tôi là đồ con gái hư. Thứ Xà ma nữ. Bầy đảng của rắn rết. Tôi tự hỏi phải tự vệ sao đây nếu cô ta xuất hiện, mà cũng chẳng biết là tôi có được cơ hội đó không nữa. Dầu vậy, gã đàn ông trên giường dường như chẳng chút bận tâm. Gã trở mình và ngáy.
Tôi cố nằm im thít. Mọi khi tôi có thể nhớ ra ngay làm sao mà mình lại lâm vào cảnh trớ trêu thế này, nhưng hôm nay thì không. Hẳn là đã có một buổi tiệc tùng hoặc một chuyến đi bar hay tụ bạ ở câu lạc bộ gì đó. Hẳn là tôi đã say bồ đà đứ đừ đến độ chẳng còn nhớ gì hết cả, đứ đừ đến độ theo một gã lưng rậm đã tròng tay vào nhẫn cưới về nhà.
Nhẹ nhàng hết mực, tôi vén ngược tấm chăn ra và ngồi ghé trên mép giường. Phải vào phòng tắm trước đã. Tôi phớt lờ đôi dép lê ở ngay dưới chân - xét cho cùng, làm tình với ông chồng là một nhẽ, còn thọc chân vào giày dép của một người đàn bà khác lại là chuyện tôi chẳng cam tâm - và nhón chân trần xuống đất. Trong tình cảnh đang trần truồng thế này, sợ nhất là mở sai cửa và vấp phải ai đó trong nhà, một thằng nhóc mới lớn chẳng hạn. Tôi thở ra nhẹ nhõm khi thấy cửa phòng tắm khép hờ, bèn lẻn nhanh vào và chốt cửa lại sau lưng.
Sau khi đi vệ sinh và dội nước, tôi quay qua rửa tay. Khi với lấy cục xà bông, tự dưng tôi thấy có gì đó quai quái. Ban đầu tôi chẳng hiểu, đến mãi sau mới nhận ra. Bàn tay nắm cục xà bông chẳng có vẻ gì là tay tôi cả. Trông nó nhăn nheo, lù phù với những cái móng không chuốt mà chỉ như được gặm phớt cho nhanh và, giống hệt gã đàn ông ở trên cái giường tôi vừa rời khỏi kia, nó cũng mang một chiếc nhẫn cưới bằng vàng trơn.
Tôi nhìn sững giây lâu rồi ngọ nguậy mấy ngón tay. Cả mấy ngón đang nắm cục xà bông. Tôi há hốc miệng ra vì kinh ngạc, cục xà bông rơi tuột vào bồn rửa. Tôi ngước mắt ngó thẳng vào gương.
Gương mặt đang nhìn lại tôi kia nào có phải là mặt tôi đâu. Mái tóc thì xác xơ và ngắn ngủn, da má lẫn da cằm đều xệ nhão, cặp môi thì mỏng lét, còn khóe miệng thì trễ nải. Tôi bật khóc, nỗi kinh ngạc khôn tả thoát ra thành tiếng thét sửng sốt, và rồi tôi chú ý đến đôi mắt. Chúng cũng nhăn nữa, vâng, dù có phủ nhận hết mọi thứ khác tôi cũng phải công nhận rằng chúng chính là đôi mắt của tôi. Cái người trong gương kia quả thật là tôi rồi, nhưng tôi chỉ mới ngoài hai mươi tuổi. Hai mươi lăm. Hoặc hơn chút đỉnh thôi mà.
Không thể vậy được. Cả người cứ run bắn lên khiến tôi phải tóm chặt lấy mép bồn rửa. Một tiếng thét khác lại trỗi lên từ lồng ngực và lần này nó ọc ra như một cú nấc nghẹn. Ngay cái lúc bước lùi lại, tránh xa khỏi tấm gương, thì tôi nhìn thấy chúng. Những bức ảnh. Được dán dính vào tường, và vào cả cái gương. Đeo theo những mẩu giấy ghi chú màu vàng, âm ẩm và quăn queo.
Tôi chọn hú họa một bức. Christine, nó ghi thế kèm theo mũi tên chỉ vào một bức ảnh chụp tôi - là cái tôi mới rợi, già chát này đây - trong đó, tôi ngồi cạnh một người đàn ông trên băng ghế ở kè sông. Cái tên nghe quen quen, nhưng bảo nó là tên mình thì tôi vẫn thấy nó xa cách thế nào ấy. Trong hình, hai chúng tôi tay nắm tay, cùng cười trước máy ảnh. Người đàn ông trông thật bảnh bao, hấp dẫn, và khi nhìn thật gần tôi nhận ra đó chính là người mà mình đã ngủ cùng và vừa bỏ lại trên cái giường kia. Cái tên Ben được viết ngay bên dưới, và kế đó là mấy chữ Chồng em.
Tôi hào hển thở và lột vội bức ảnh ra khỏi mặt tường. Không, không phải vậy! Không thể nào... Tôi lướt mắt qua những bức ảnh còn lại. Tất cả đều là ảnh chụp tôi, và gã ta. Một bức chụp tôi đang mở quà trong bộ váy xấu điên, bức khác chụp hai chúng tôi vận áo mưa đôi đứng lơ phơ trước một thác nước, dưới chân là một con chó nhỏ đang hít ngửi. Kế đó là bức ảnh tôi ngồi sát bên người đàn ông kia, nhấm nháp ly nước cam, trên mình là bộ váy vừa thấy hồi nãy trong phòng ngủ kế bên.
Tôi cứ bước thụt lùi mãi đến khi lưng chạm vào những lát gạch lạnh toát. Chính lúc đó một chớp sáng mỏng manh của ký ức vụt lóe lên. Nhưng trước khi trí óc của tôi kịp níu lại, nó đã bay biến, hệt như tro than bị gió thổi bay tan tác. Và tôi nhận ra rằng trong cuộc đời mình có cái gọi là hồi đó, trước đây, dẫu rằng trước cái gì thì tôi chẳng nói được, có cái gọi là bây giờ, và chẳng có gì nối giữa hai điều đó trừ một khoảng rỗng lê thê, quạnh quẽ đã dẫn tôi đến đây, tôi và anh ta, trong căn nhà này.
*
* *
Tôi trở lại phòng ngủ, tay cứ giương ra phía trước nắm khư khư tấm hình chụp chung với gã đàn ông mình đã thức dậy cùng.
Nước mắt chảy tràn xuống mặt, tôi hét lên tức tưởi ‘Chuyện này là sao hả? Anh là ai?’. Gã đàn ông ngồi bật dậy trên giường, mắt nhắm mắt mở. ‘Anh là chồng em mà,’ anh ta đáp, gương mặt ngái ngủ chẳng gợn một nét cáu kỉnh nào, thậm chí còn chẳng bận tâm đến thân thể trần trụi của tôi. ‘Chúng ta lấy nhau đã nhiều năm rồi cưng ạ.’
‘Sao chứ? ‘Lấy nhau đã nhiều năm’ là sao?’ tôi hỏi và chỉ chực bỏ chạy nhưng chẳng biết phải chạy đi đâu.
‘Mặc vào đi.’ gã đàn ông đứng lên, đưa cái váy cho tôi, rồi khoác áo và xỏ chân vào cái quần ngủ rộng thùng thình. Nhìn người đàn ông này mà tôi nhớ đến cha mình.
‘Bọn mình lấy nhau năm một-chín-tám-lăm,’ anh ta rủ rỉ. ‘Hai mươi hai năm rồi đó. Em... ‘
‘Cái gì chứ...?’ tôi ngắt ngang, cảm giác như máu đang bốc khỏi mặt, cả căn phòng bắt đầu xoay tít. Đâu đó trong nhà, tiếng tích tắc của đồng hồ nghe cứ choang choảng như búa gõ. ‘Nhưng mà...?’ Gã đàn ông dấn bước về phía tôi. ‘Sao có thể...?’
‘Christine à, em đã bốn mươi bảy tuổi rồi,’ anh ta đáp nhẹ. Tôi nhìn anh ta, người lạ này đang cười với tôi. Tôi không muốn tin anh ta, không cả muốn nghe anh ta nói nữa, nhưng anh ta vẫn tiếp tục. ‘Em đã bị tai nạn, một cú rất nặng khiến đầu óc bị chấn thương và khiến em gặp những vấn đề khi nhớ lại các thứ.’
‘Là những vấn đề nào?’ tôi hỏi, ngầm ý chắc không phải là toàn bộ hai mươi năm qua chứ? ‘Các thứ là thứ gì?’
Gã đàn ông lại dấn bước về phía tôi, dọ dẫm cứ như thể tôi là một con thú đang hoảng sợ. ‘Mọi thứ.’ anh ta nói. ‘Có lúc mốc khởi đầu là hồi em mới hai mươi. Có lúc sớm hơn thế.’
Đầu óc tôi xoay đảo, ù đặc với những ngày tháng và tuổi tác. Tôi ép mình mở miệng hỏi, dù chẳng hề muốn thế. ‘Khi nào... Vụ tai nạn của tôi xảy ra khi nào?’
Gã đàn ông nhìn tôi, thương cảm lẫn e dè hiện ra trên nét mặt.
‘Khi em hai mươi chín...’
Tôi nhắm nghiền mắt lại. Dù muốn chối bỏ nhưng ở đâu đó trong lòng tôi vẫn biết nó là sự thực. Tôi nghe mình bật khóc lần nữa, và anh ta, cái người có tên là Ben ấy, bước đến nơi tôi đang chôn chân đứng, kéo tôi vào lòng và ôm thật chặt rồi đung đưa nhè nhẹ.
‘Anh yêu em, Christine ạ,’ anh ta thì thầm, và dù biết nên đáp lại rằng mình cũng yêu anh ta, tôi chẳng thể nào nói nổi. Làm sao tôi có thể yêu anh ta được chứ? Anh ta là một kẻ xa lạ mà. Có quá nhiều chuyện tôi cần biết nhưng chẳng biết phải hỏi thế nào.
‘Em sợ.’ tôi khẽ nói.
‘Anh biết,’ anh ta đáp lại. ‘Anh biết cả mà, nhưng đừng lo, Chris ạ. Anh sẽ chăm sóc em. Luôn luôn chăm sóc em. Em sẽ ổn mà. Tin anh đi.’
*
* *
‘Đây là phòng làm việc,’ anh ta nói khi mở một cánh cửa lúc đưa tôi đi một vòng quanh nhà.
Trên cái bàn kính trong phòng làm việc có thứ gì đó như là máy tính, dù nó nhỏ dị thường, hệt như đồ chơi. Kế đó là tủ hồ sơ màu xám thép, mảng tường phía trên tủ treo một bảng kế hoạch năm. Tất cả đều gọn gàng, ngăn nắp. ‘Thỉnh thoảng anh làm việc trong đó.’ anh ta nói trước khi chúng tôi sang một phòng khác, có giường, bàn phấn, tủ đồ, trông chẳng khác mấy căn phòng tôi vừa thức dậy. ‘Đôi khi em muốn ngủ ở đây.’ anh ta giảng giải, ‘nhưng thường thì em không thích thức dậy một mình, vì em luôn hoảng sợ khi chẳng tài nào hiểu nổi mình đang ở đâu.’ Tôi gật đầu, thấy mình sao mà giống một người muốn thuê nhà đang được dắt đi xem một căn hộ mới.
Dưới lầu là phòng khách với bộ bàn ghế sofa màu nâu, tivi màn hình phẳng treo tường, phòng ăn và nhà bếp. Chẳng một thứ nào gợi lên cảm giác quen thuộc, ngay cả lúc tôi nhìn thấy một khung hình chụp hai chúng tôi để trên nóc tủ ly. ‘Còn một mảnh vườn nhỏ phía sau nhà nữa.’ anh ta nói và tôi lướt mắt qua khung cửa kính nhà bếp. Đã rạng sáng, bầu trời đêm đen kịt đã nhợt đi, và tôi có thể thấy bóng dáng một cái cây to, một chái nhà ở tít cuối mảnh vườn nhỏ, nhưng cũng chỉ đến vậy thôi. Tôi nhận ra, thậm chí tôi còn không biết mình đang đứng ở đâu trên thế gian này.
‘Chúng ta đang ở đâu đây?’ tôi thốt lên.
Anh ta đứng sau lưng tôi. Bóng hai chúng tôi phản chiếu trong cửa kính. Tôi. Chồng tôi. Trung niên hết cả rồi.
‘Bắc London,’ anh ta đáp. ‘Khu Crouch End.’
Tôi lùi lại. Cơn hoảng loạn trỗi dậy. ‘Chúa ơi,’ tôi rên rỉ. ‘Em thậm chí còn không biết mình đang sống ở cái nơi chết tiệt nào nữa...’
Anh ta nắm lấy tay tôi. ‘Đừng lo. Em sẽ ổn thôi mà.’ Tôi xoay người lại đối mặt với anh ta, chờ anh ta bảo cách làm sao để được ổn thỏa, nhưng anh ta chỉ nhỏ nhẹ đề nghị. ‘Anh làm cho em một tách cà phê nhé?’
Hơi có chút phật ý, nhưng rồi tôi đáp, ‘Vâng, cám ơn anh.’ Anh ta chế nước vô ấm. ‘Cho em cà phê đen,’ tôi thốt lên. ‘Không đường.’
‘Anh biết mà,’ anh ta nói và mỉm cười với tôi. ‘Thêm vài lát bánh mì nướng nhé?’
Tôi đáp vâng. Hẳn là anh ta hiểu tôi lắm - còn hơn tôi hiểu chính mình nữa - dù vậy cái cảm giác lợn cợn giống như buổi sáng sau một tối lang chạ vẫn còn đó - bữa điểm tâm thấp thỏm với một người lạ trong nhà của anh ta, cứ rắp tâm tìm lúc thích hợp để trốn về lại nhà mình.
Nhưng vẫn có chỗ khác. Đây được bảo là nhà của tôi mà.
‘Em vào phòng khách ngồi đi,’ anh ta bảo. ‘Lát nữa anh mang mấy thứ này vào.’
Tôi rời nhà bếp.
Ít phút sau Ben vào, đưa cho tôi một cuốn album bọc nhựa giả da mòn vẹt, cột nơ đỏ. ‘Cái này có thể giúp em đấy. Em coi qua đi, anh sẽ trở vô liền,’ anh ta nói vậy rồi ra khỏi phòng.
Cuốn album nặng trĩu trong lòng.
Tôi tháo nơ buộc và mở hú họa.
Một bức ảnh chụp tôi và Ben trông còn rất trẻ.
Tôi đóng ập lại, tay mân mê gáy sổ, các trang xòe tung ra. Hẳn là mình đã phải làm chuyện này mỗi ngày.
Không thể tưởng tượng nổi chuyện đó. Phải chăng đã có một sự nhầm lẫn khủng khiếp, nhưng chứng cứ rành rành đó mà - trong tấm gương trên lầu, trong những nếp nhăn trên đôi bàn tay đang mân mê cuốn sổ trước mặt tôi. Tôi chẳng phải là cái người tôi tưởng khi thức dậy lúc sáng nay.
Vậy cái người đó là ai? Khi nào thì tôi là người đó, cái người thấy mình thức dậy trên giường lạ và chỉ rắp tâm chạy trốn. Tôi khép mắt, có cảm giác mình như đang trôi, không cách gì níu giữ, biệt vô tăm tích.
Tôi nhắm nghiền mắt, cố tập trung vào một cái gì đó, bất cứ cái gì cũng được, miễn là vững chãi, để neo mình lại. Vô ích. Rất nhiều năm sống của tôi đã trôi đi mất hút.
Cuốn sổ này sẽ bảo cho tôi biết tôi là ai, nhưng tôi chẳng muốn mở nó ra nữa. Không hề. Tôi muốn ngồi đây một lúc, với cái khoảng quá khứ trống rỗng. Tôi sợ phải lật tung quá khứ của mình, chiêm nghiệm những điều được, mất.
Ben trở lại, đặt một cái khay trước mặt tôi. Bánh mì nướng, hai tách cà phê, một bình sữa. ‘Em ổn chứ?’ anh ta hỏi thăm. Tôi gật đầu.
Ben ngồi xuống bên tôi, râu ria nhẵn nhụi, quần áo, cà vạt chỉnh tề, không còn trông giống như cha tôi nữa mà giống công chức ngân hàng hoặc nhân viên văn phòng. Cũng không tệ, tôi nghĩ thầm rồi cố gắng tống khứ ý nghĩ ấy ra khỏi óc.
‘Mọi ngày đều thế này sao?’ tôi thốt lên. Ben đặt một lát bánh lên đĩa rồi phết bơ.
‘Gần như vậy,’ anh ta đáp. ‘Em ăn một chút nhé?’ Tôi lắc đầu. Anh ta cắn một miếng bánh rồi giảng giải. ‘Em chỉ nhớ được những chuyện xảy ra lúc còn thức thôi, còn khi đã ngủ thì mọi thứ liền bay biến. Cà phê ngon không em?’
Tôi đáp rằng ngon, và Ben cầm lấy cuốn sổ từ tay tôi, vừa mở ra vừa nói. ‘Album ảnh tự chế đấy mà. Vụ cháy mấy năm trước thiêu hủy khá nhiều hình ảnh lẫn đồ đạc của chúng ta, may mà còn lại vài thứ ở đây.’ Anh ta chỉ vào trang đầu tiên. ‘Bằng tốt nghiệp của em, hình em ngày tốt nghiệp.’ Tôi dõi theo tay anh ta chỉ; trong cái hình ấy tôi khoác áo thụng đen, đầu đội mũ nỉ có tua vàng, miệng cười, mắt nheo nheo trong nắng. Phía sau tôi là một người đàn ông đeo cà vạt, đóng bộ nghiêm chỉnh, đang ngoảnh đầu đi.
‘Là anh hả?’ tôi dè dặt hỏi.
Ben mỉm cười. ‘Không. Lúc đó anh chưa tốt nghiệp, vẫn còn học. Khoa Hóa.’
Tôi nhìn anh ta soi mói. ‘Chúng ta lấy nhau lúc nào?’
Ben quay sang, nắm lấy tay tôi. Tôi ngỡ ngàng cảm nhận làn da khô cằn thay vì sự mềm mại trẻ trung hằng trông đợi. ‘Sau năm em lấy bằng tiến sĩ. Lúc đó, mình đã hẹn hò vài năm rồi, nhưng em - chúng ta - cả hai đều muốn đợi cho đến khi em học xong.’
Nghe cũng có lý lắm, tôi nghĩ, dù vẫn chẳng thấy sáng sủa hơn tẹo nào. Chẳng biết mình có từng muốn lấy anh ta đến phát cuồng không nhỉ.
Như thể đọc được suy nghĩ của tôi, anh ta bảo ‘Mình đã từng yêu nhau say đắm, và đến giờ vẫn vậy.’
Chẳng biết nói gì hơn cả, tôi đành mỉm cười. Ben nhấp một ngụm cà phê trước khi lật tiếp vài trang sổ.
‘Em học chuyên về Ngữ văn Anh. Sau khi tốt nghiệp em thử qua vài công việc như thư ký văn phòng, nhân viên bán hàng. Anh cũng không chắc là em thật sự muốn theo đuổi công việc nào nữa. Anh lấy bằng cử nhân và làm công việc đào tạo giáo viên, vất vả vài năm rồi anh được thăng cấp và tới giờ thì mình ở đây.’
Tôi đưa mắt nhìn quanh căn phòng khách nhỏ, tiện nghi, mang phong cách trung lưu hiền hòa với một bức vẽ rừng cây được lồng khung, mấy bức tượng gốm đặt kế bên chiếc đồng hồ ngự trên bệ lò sưởi. Chẳng rõ tôi có tham gia vào việc trang trí này không nữa.
Ben tiếp tục. ‘Anh dạy ở một trường trung học gần đây. Giờ thì cũng là trưởng bộ môn rồi.’ anh ta nói, giọng không có vẻ gì là tự hào.
‘Còn em?’ tôi thốt lên, dù đã đoán được câu trả lời. Ben siết chặt tay tôi.
‘Sau tai nạn đó, em không làm gì nữa cả. Em không nhất thiết phải đi làm mà. Hơn nữa, em có trợ cấp rồi. Mình ổn, rất ổn, em ạ.’
Tôi vắt tay lên trán và nhắm nghiền mắt lại. Những thứ này thật quá sức chịu đựng.
Vậy mình làm gì suốt cả ngày? Tôi muốn hỏi lắm, nhưng lại sợ phải nghe câu trả lời nên đành câm nín.
Ăn bánh xong, Ben mang khay vào bếp, rồi trở ra với cái áo khoác đã mặc thêm.
‘Anh phải đi làm đây.’ anh ta thông báo. Bất giác tôi cảm thấy căng thẳng.
‘Đừng lo,’ anh ta nói. ‘Không sao đâu. Anh sẽ gọi cho em, anh hứa đấy. Cứ nhớ là hôm nay cũng không khác mấy những ngày qua là em sẽ ổn thôi mà.’
‘Nhưng...’ tôi mở miệng.
‘Xin lỗi, để anh chỉ cho em vài thứ trước khi đi.’
Ben chỉ cho tôi các ngăn đựng đồ ăn ở trong bếp, cái bảng xóa trên tường, cây bút dạ đen cột toòng teng vào một sợi dây. ‘Đôi khi anh nhắn mấy chữ cho em ở đây.’ anh ta giải thích. Tôi thấy Ben đã viết từ Thứ Sáu bằng kiểu chữ in hoa đều và gọn, dưới đó là mấy từ Giặt ủi? Đi dạo? (Nghe điện thoại!) Xem Tivi? Dưới từ Bữa trưa Ben ghi chú là còn cá hồi trong tủ lạnh và thêm từ Salad? Cuối cùng anh ta đã viết là sẽ về nhà trước sáu giờ. ‘Em cũng có một cuốn lịch ghi nhớ ở trong giỏ xách đấy,’ Ben nói thêm. ‘Sau bìa có ghi vài số điện thoại quan trọng, và địa chỉ của chúng ta, phòng lúc em bị lạc. Và một cái điện thoại di động...’
‘Một cái gì?’ tôi ngỡ ngàng hỏi.
‘Một cái điện thoại,’ anh ta giải thích. ‘Không dây. Em có thể dùng nó ở bất cứ đâu, kể cả ở bên ngoài nhà mình. Nhớ mang nó theo nếu em ra ngoài nhé.’
‘Em sẽ nhớ,’ tôi đáp.
‘Tốt lắm,’ anh ta nhỏ nhẹ. Chúng tôi vô sảnh chờ và Ben cầm lên tay cái cặp da mòn vẹt ở ngay cửa. ‘Anh đi đây.’ ‘Vâng,’ tôi đáp gọn lỏn, chẳng biết phải nói gì khác nữa. Tôi thấy mình giống như một đứa trẻ được phép cúp học, bị bỏ ở nhà một mình trong khi bố mẹ đi làm. Chớ mó tay vào bất cứ thứ gì đấy, tôi tưởng tượng anh ta đang căn dặn. Đừng quên uống thuốc nhé.
Ben bước tới hôn nhẹ lên má tôi. Tôi không cản, nhưng cũng chẳng hôn trở lại. Lúc sắp mở cửa đột nhiên anh ta dừng lại.
‘Ôi! Suýt nữa anh quên!’ Ben thốt lên, ngoái trở lại phía tôi. Dù cố làm ra vẻ tự nhiên, nhưng giọng anh ta vẫn có phần gượng gạo, rõ ràng là anh ta đã tốn không ít thời gian để chuẩn bị cho điều mình sắp nói.
Rốt cuộc thì nó cũng không quá tệ như tôi đã lo sợ. ‘Tối nay mình sẽ đi chơi. Cuối tuần mà.’ anh ta nói. ‘Có lẽ nên đặt chỗ ở đâu đó để mừng ngày kỷ niệm chứ nhỉ?’
Tôi gật đầu. ‘Cũng được ạ.’
Ben mỉm cười nhẹ nhõm và quay lại mở cửa. ‘Em có thích một chút gió biển không? Lát nữa anh sẽ gọi cho em nhé?’ ‘Vâng,’ tôi đáp. ‘Cứ làm vậy đi.’
‘Anh yêu em, Christine. Đừng quên điều đó.’
Ben thốt lên và khép cánh cửa lại đằng sau mình còn tôi quay lưng, đi trở ngược vào trong nhà.
*
* *
Đâu đó khoảng giữa buổi sáng, khi chén đĩa đã rửa và xếp gọn trên giá, quần áo đang xoay đảo trong máy giặt, tôi thả mình vào một cái ghế bành, đầu óc trống rỗng.
Những gì Ben nói là sự thật. Tôi chẳng có ký ức nào cả. Không hề. Không một thứ nào trong ngôi nhà này gợi cho tôi nhớ là đã từng thấy trước đó. Thậm chí chẳng bức ảnh nào trong những cái dán quanh tấm gương hay trong cuốn album tự chế ở trước mặt, có thể gợi lại cho tôi về lúc nó được chụp, ngay cả một khoảnh khắc nào đó với Ben tôi cũng không thể nhớ ra, những khoảnh khắc trước cái lúc chúng tôi giáp mặt nhau sáng nay.
Tôi nhắm mắt lại, cố tập trung vào một cái gì đó. Bất kể cái gì cũng được. Hôm qua. Giáng sinh. Đám cưới. Nhưng tịnh không một ký ức nào xuất hiện.
Tôi đứng dậy và đi rảo khắp nhà, hết phòng này sang phòng khác. Chậm chạp. Vật vờ. Như một bóng ma. Chạm tay vào những vách tường, bàn ghế, đồ đạc mà lại như chẳng chạm đến bất cứ cái gì. Tôi ngó mấy tấm thảm, đệm chùi chân, tượng gốm trên bệ lò sưởi và những cái đĩa trang trí trên giá chưng trong phòng ăn, cố tự nhủ rằng chúng là của tôi. Tất cả là của tôi. Nhà của tôi, chồng của tôi, cuộc đời của tôi. Nhưng dường như chúng chẳng thuộc về tôi. Chẳng phải là một phần của đời tôi. Tôi mở tủ áo trong phòng ngủ và thấy một dãy quần áo lạ hoắc, hệt như những phiên bản vô hồn của một phụ nữ chưa từng giáp mặt. Một phụ nữ có ngôi nhà mà tôi đang vẩn vơ đi trong đó, có sữa tắm và dầu gội mà tôi đã dùng, đôi dép lê tôi đang mang và cái váy mà tôi đã cởi bỏ. Cô ta giấu mặt nhưng lại hiện diện như ma quỷ, cách biệt và chẳng chạm tới được.
Tôi đã ngồi xuống bàn trang điểm và soi xét thật kỹ gương mặt mình phản chiếu trong gương. Tôi lần theo những vết chân chim, những nếp nhăn trên trán, dưới bầu mắt. Tôi há miệng cười để ngó hàm răng, và ngó những vết nhăn tụm lại nơi khóe miệng. Tôi chú ý đến những vết lốm đốm trên da, giống như những vết thâm không chịu mờ. Tôi tìm mấy món đồ trang điểm và bắt đầu bôi lên mặt chút phấn nhẹ, tí má hồng. Tôi hình dung ra mẹ cũng đã làm một việc tương tự thế này, bà gọi nó lớp sơn xung trận, và sáng nay, khi tôi thấm son môi trên miếng bông trang điểm rồi đóng nút chai mascara, cái từ đó nghe mới thích hợp làm sao. Tôi cảm thấy mình sắp đâm bổ vào một cuộc chiến hoặc một cuộc chiến sắp đâm bổ vào tôi cũng nên.
Tống cổ tôi tới trường. Phết lên lớp hóa trang. Tôi cố nghĩ xem mẹ sẽ làm gì nữa. Gì cũng được. Gì cũng chẳng nhớ ra. Tôi chỉ thấy rõ rành một khoảng trống khổng lồ khuyết vẹt giữa những đảo ký ức tí teo, những tháng năm trống huếch.
Tôi mở các ngăn tủ trong bếp: mì ống, ngũ cốc, đậu tây... Toàn đồ ăn lạ. Tôi chỉ quen ăn phô mai macaroni với bánh mì nướng, sandwich thịt bò muối thôi. Tôi chẳng biết phải nấu nướng mấy món quái quỷ này ra làm sao. Tôi sẽ xoay trở thế nào đây, với tư cách là một bà vợ?
Tôi giương mắt ngó tấm bảng xóa Ben đã chỉ cho tôi trước khi đi. Nó có màu xám bẩn vì bao nhiêu từ đã được nguệch ngoạc trên đó, được xóa, được sửa, được viết mới, mỗi lần để lại một chút ố mờ. Tôi tự hỏi mình sẽ tìm thấy những gì nếu có thể trở lui, khươi lên các lớp chữ, liệu có thể bới vào quá khứ của tôi theo cách đó chăng, nhưng giả dụ là có thể làm vậy đi nữa thì cũng chẳng đi tới đâu cả. Tôi chắc rằng tất cả những gì mình tìm được cũng chỉ là những lời nhắn kèm danh sách các nhu yếu phẩm cần mua, các việc cần làm.
Đời mình chỉ có vậy thôi sao? Tôi ngẫm nghĩ hồi lâu rồi cầm cây bút viết thêm một ghi chú nữa lên bảng. Soạn đồ cho tối nay? Vậy đó. Chẳng ra vẻ nhắc nhở tí nào, nhưng nó là ghi chú của tôi.
Có cái gì đó kêu vống lên om sòm từ trong giỏ xách của tôi. Tôi mở giỏ và dốc hết đồ ra ghế sofa. Nào ví, nào khăn giấy, nào bút, nào son phấn, nào hóa đơn hai tách cà phê. Một cuốn lịch bỏ túi nhỏ, bìa hoa, có lòn theo một cây bút chì trong gáy.
Tôi thấy cái thứ hẳn là cái điện thoại mà Ben đã mô tả - nhỏ nhắn, làm bằng plastic với bàn phím trông giống một món đồ chơi. Nó đang đổ chuông, màn hình nhấp nháy. Tôi nhấn đại vào chỗ hy vọng là nút đúng.
‘A lô?’ tôi dè dặt cất tiếng. Giọng đáp không phải là Ben.
‘Xin chào.’ nó nói. ‘Có phải cô Christine Lucas không ạ?’
Tôi chẳng muốn trả lời tí nào. Cả tên lẫn họ của tôi nghe lạ hoắc như nhau. Có cảm tưởng như bất cứ chút đất cứng nào tôi chạm đến cũng vụt tan biến, thay bằng một vùng cát chảy.
‘Christine? Cô còn ở đó chứ?’
Ai vậy? Ai mà biết cả nơi tôi ở lẫn việc tôi là ai? Nỗi sợ nhói lên. Ngón tay tôi ngập ngừng muốn nhấn vào cái nút kết thúc cuộc gọi.
‘Christine? Là tôi đây mà. Bác sĩ Nash đây. Làm ơn trả lời đi.’
Cái tên đó chẳng có ý nghĩa gì với tôi cả, tuy nhiên tôi vẫn đáp, ‘Ai vậy?’
Giọng nói tiếp tục với một âm sắc mới. Nhẹ nhõm hơn thì phải? ‘Bác sĩ Nash đây mà, bác sĩ của cô.’
Một thoáng sợ hãi khác lại nhói lên. ‘Bác sĩ của tôi ư?’ tôi thốt lên. Tôi muốn bảo là mình đâu có bệnh tật gì, nhưng tôi thậm chí còn chẳng biết mình có bệnh gì không nữa. Đầu óc tôi bắt đầu quay cuồng.
‘Đúng vậy,’ cái giọng đó xác nhận. ‘Nhưng đừng lo quá. Chúng ta vừa mới tiến hành vài việc liên quan đến trí nhớ của cô. Không có gì nghiêm trọng đâu.’
Vừa mới đây ư? ‘Loại việc gì vậy?’ tôi thắc mắc.
‘Tôi đang cố gắng giúp cô nhớ lại một số thứ, cố gắng tìm ra đâu là nguyên nhân gây ra những vấn đề về trí nhớ của cô... Chúng ta vẫn gặp nhau, trò chuyện, trao đổi đôi lần một tuần hàng tháng nay...’
Nghe cũng có lý lắm, nhưng sao sáng nay Ben lại không nhắc tới vị bác sĩ này trước khi rời khỏi nhà nhỉ? Nhưng tôi đã gặp anh bao giờ đâu, anh có thể là một kẻ ất ơ nào đó. Tôi muốn nói vậy rồi lại thôi. Câu đó cũng có thể nói với người đàn ông tôi thức dậy cùng sáng nay, trong khi hóa ra anh ta lại là chồng tôi.
‘Tôi chẳng nhớ gì cả.’ cuối cùng tôi cũng mở miệng. ‘Đừng lo. Tôi hiểu mà.’ Cái giọng đó mềm mỏng giải thích rằng buổi hẹn tiếp theo trong lịch của chúng tôi chính là hôm nay.
‘Hôm nay sao?’ tôi ngỡ ngàng hỏi, đầu óc nghĩ tới những gì Ben dặn sáng nay, tới danh sách những công việc được viết trên cái bảng trong bếp. ‘Nhưng chồng tôi chẳng nói gì về chuyện này cả.’ Tôi nhận ra đây là lần đầu tiên tôi nhắc đến cái người mà tôi thức dậy cùng theo kiểu này.
Im lặng một chút rồi bác sĩ Nash trả lời, ‘Tôi không chắc là Ben biết cô đang gặp tôi.’
Tôi để ý thấy người đàn ông này biết cả tên chồng tôi, nhưng vẫn nói, ‘Nghe chướng hết sức! Sao Ben lại có thể không biết được? Nếu biết, nhất định Ben đã bảo tôi rồi!’
Có tiếng thở dài. ‘Cô nên tin tôi. Khi chúng ta gặp nhau, tôi có thể giải thích mọi chuyện. Công việc của chúng ta thật sự đang có tiến triển.’
Ý nghĩ sẽ đi ra ngoài mà không có Ben, không cho anh ta biết tôi ở đâu hay đi với ai, khiến tôi khiếp hãi.
‘Xin lỗi.’ tôi nói. ‘Tôi không thể.’
‘Christine.’ cái giọng đó năn nỉ. ‘Chuyện này quan trọng lắm. Nếu xem lại lịch ghi nhớ cô sẽ thấy những gì tôi đang nói là sự thật. Có lẽ cuốn lịch ở trong giỏ xách của cô.’
Tôi nhặt cuốn sổ bìa hoa rơi trên ghế sofa lên và bàng hoàng khi thấy con số chỉ năm in nhũ vàng ở bìa trước. Hai ngàn không trăm lẻ bảy. Sau cả hai mươi năm rồi.
‘Hãy nhìn ngày tháng hôm nay,’ giọng nói chỉ dẫn. ‘Ngày ba mươi tháng Mười một. Cô thấy lịch hẹn của chúng ta chứ?’
Tôi lướt mắt qua các trang giấy mỏng, đến ngày tháng hôm nay. Ở đó, kẹp giữa các trang là một mẩu giấy, trên có ghi mấy chữ viết tay là lạ, rằng 30 tháng Mười một - gặp bác sĩ Nash. Bên dưới là mấy chữ, Đừng nói với Ben.
Những ngày khác để trống. Không tiệc tùng, chơi bời hay sinh nhật gì ráo. Cái này có thật sự mô tả cuộc đời tôi không nhỉ?
‘Thôi được.’ tôi chấp nhận. Bác sĩ Nash bảo sẽ đến đón tôi trong vòng một giờ nữa.
‘Nhưng chồng tôi...’ tôi ngập ngừng nói.
‘Không sao đâu. Chúng ta sẽ có mặt ở nhà trước khi anh ấy đi làm về. Tôi hứa chắc đấy.’
Tôi liếc mắt ngó qua chiếc đồng hồ ngự trên bệ lò sưởi đang thả chuông điểm giờ. Kiểu dáng của nó xưa rồi, mặt đồng hồ bự chảng ẩn trong hộp gỗ, được viền quanh bằng những chữ số La Mã. Nó đang chỉ mười một giờ ba mươi. Kế bên nó là một chiếc chìa khóa bạc dùng để lên giây cót, thứ mà tôi cho là Ben luôn nhớ làm mỗi tối. Chiếc đồng hồ này ngó bộ đã đủ xưa để trở thành một món đồ cổ rồi, và chẳng hiểu làm cách nào mà chúng tôi lại sở hữu được nó. Có lẽ nó chỉ đơn giản là thứ mà chúng tôi đã tình cờ ngó thấy, trong một cửa hàng hay khu chợ nào đó, và một trong hai chúng tôi tự dưng thấy thích nó. Chắc là Ben rồi, chứ tôi thì chẳng thích tí nào.
Mình sẽ gặp bác sĩ Nash chỉ một lần này thôi, tôi nghĩ vậy, và tối nay sẽ kể hết với Ben. Khó mà tin nổi là tôi đang giấu Ben một thứ đại loại như vậy, khi đang dựa dẫm hoàn toàn vào anh ta.
Trong giọng nói của bác sĩ Nash có sự quen thuộc rất khó giải thích, chẳng hoàn toàn xa lạ giống như Ben. Nói là tôi đã gặp anh ta trước đây còn thấy dễ tin hơn là đã gặp chồng mình.
‘Thôi được,’ tôi quả quyết. ‘Đến đi.’
*
* *
Lúc bác sĩ Nash đến tôi đang ở trong phòng ngủ. Tôi quan sát cậu ta đậu xe, khóa xe, chỉnh sửa quần áo, đầu tóc... Trông cậu ta còn quá trẻ để được gọi là bác sĩ, nhất là trong bộ áo khoác thể thao và quần nhung kẻ màu xám.
‘Chắc là có quán cà phê trong công viên ở cuối đường này. Chúng ta đến đó nhé?’ Bác sĩ Nash đề nghị.
Trời lạnh như cắt và tôi phải quấn chặt khăn quanh cổ trong lúc dạo bộ cùng cậu ta. Tôi thấy mừng là đã bỏ trong giỏ xách cái điện thoại di động mà Ben đã cho. Mừng nữa là bác sĩ Nash không đề nghị lái xe đi đâu đó. Một phần nào đó trong tôi tin người đàn ông này, nhưng phần khác, lớn hơn, lại bảo tôi rằng cậu ta là một kẻ lạ.
Với trí óc đã bị tổn thương, dù có là một người trưởng thành thì tôi cũng rất dễ bị xâm hại, rất dễ cho người đàn ông này mang tôi đi đâu đó...
Lúc đợi sang đường để qua công viên phía đối diện, tự dưng tôi mở miệng. ‘Chuyên môn của anh là gì? Làm cách nào mà anh tìm ra tôi?’
‘Tôi là một nhà thần kinh học, chuyên về các bệnh nhân rối loạn trí não,’ bác sĩ Nash ngó sượt qua tôi và mỉm cười. Không biết tôi có hỏi cậu ta cùng câu hỏi này mỗi lần gặp mặt không nhỉ. ‘Tôi quan tâm đặc biệt về những kỹ thuật tạo ảnh thần kinh chức năng mới, về các chức năng và tiến trình tạo lập trí nhớ. Tôi biết cô qua tài liệu về đề tài này. Lần theo tung tích của cô cũng không quá khó đâu. Tôi đã tiếp xúc với nơi cô điều trị trước khi về nhà sống...’
Một chiếc xe lượn theo khúc quanh ở phía trên đại lộ và hướng về phía chúng tôi.
‘Vì lẽ gì mà anh muốn tìm tôi cho bằng được?’
Bác sĩ Nash mỉm cười. ‘Vì tôi nghĩ mình có thể giúp cô. Tôi đã có một số ý tưởng về cách tác động lên những tiến trình và muốn thử nghiệm vài điều trong số đó.’ Cậu ta ngập ngừng. ‘Hơn nữa, tôi cũng đang làm nghiên cứu về trường hợp của cô. Có thể nói là một nghiên cứu có trọng lượng đấy. Trường hợp của cô hơi lạ. Tôi tin là chúng ta có thể khám phá ra rất nhiều điều về cách thức mà trí nhớ làm việc hơn tất cả những gì đã biết.’
Chiếc xe chạy ngang qua và chúng tôi sang đường. Tôi cố hít thở, thả lỏng, nhưng vẫn thấy bồn chồn, lo lắng. Ngay lúc này, có đến hai cái tôi trong cùng một cơ thể; đằng là một phụ nữ bốn mươi bảy tuổi, điềm tĩnh, lịch thiệp, đằng là cô gái tuổi hai mươi đang gào thét. Và tôi chẳng thể nào quyết được đâu mới thật là mình.
Sang tới bên kia đường tôi dừng lại tra vấn, ‘Chuyện quái quỷ gì đang xảy ra vậy? Sáng nay tôi thức dậy ở một nơi lạ hoắc nhưng hóa ra lại là nơi tôi trú ngụ lâu rồi, nằm cạnh một người tôi chưa từng gặp nhưng lại cả quyết là tôi đã lấy anh ta nhiều năm. Còn anh thì dường như biết quá nhiều về tôi hơn cả tôi biết về chính mình.’
Bác sĩ Nash gật đầu chậm rãi. ‘Cô bị mất trí nhớ khá lâu rồi,’ cậu ta vừa nói vừa nắm lấy cánh tay tôi. ‘Do không thể lưu giữ các ký ức mới, nên cô quên rất nhiều thứ đã xảy ra với mình trong hầu hết thời gian trưởng thành. Hàng ngày cô thức dậy với tâm thức mình là một thiếu nữ, đôi khi lại ngỡ mình là một đứa trẻ.’
‘Thật vậy sao?’
‘Tôi e là vậy. Người đàn ông ở nhà chính là chồng cô. Ben. Anh ấy đã chăm sóc cô kể từ khi bệnh mất trí nhớ của cô bộc phát, vào năm một chín chín mươi. Hoặc là từ khi cô đủ khỏe để chuyển về sống với anh ấy, ít nhất là vậy.’
Cạnh lối đi nhỏ lượn quanh rìa công viên là một sân chơi trẻ em, kế đó là một cái chòi nơi người ta xuất hiện với những món đồ uống bốc khói trên tay. Chúng tôi nhắm thẳng tới đó. Tôi chọn chỗ ngồi ở một trong những cái bàn formica cong vểnh trong khi bác sĩ Nash đi lấy đồ uống. Cà phê đen cho tôi, cà phê sữa cho cậu ta. Bác sĩ Nash thêm đường cho mình từ cái chén trên bàn, nhưng chẳng cho chút đường nào vào ly của tôi cả, và chính điều đó, hơn bất cứ thứ gì khác, thuyết phục tôi rằng chúng tôi đã từng gặp nhau trước đây. Cậu ta ngước lên và hỏi xem trán tôi đau thế nào.
‘Sao...?’ tôi buột miệng định hỏi nhưng rồi nhớ ra vết thâm tím đã thấy sáng nay. Lớp trang điểm của tôi rõ ràng đã không che nổi nó. ‘Chỗ đó à? Chắc không sao. Nó không còn đau nữa.’
Bác sĩ Nash không nói gì, chỉ khuấy nhẹ ly cà phê của mình.
‘Anh nói là Ben đã chăm sóc tôi từ khi tôi bị thế này sao?’ tôi hỏi.
Bác sĩ Nash ngước lên. ‘Đúng vậy. Ban đầu tình trạng của cô trầm trọng đến mức phải chăm sóc 24/24 giờ. Khi cô bắt đầu khá hơn Ben mới có thể chăm sóc cô một mình, nhưng nó cũng chẳng khác gì một công việc toàn thời gian cực nhọc.’
‘Anh ấy hẳn yêu tôi nhiều lắm,’ tôi nói nhỏ, như để cho chính mình nghe thôi.
Chúng tôi cùng nhấm nháp món đồ uống của mình. Im lặng. Bác sĩ Nash gật đầu. ‘Đúng vậy. Tôi nghĩ Ben yêu cô rất nhiều.’
Tôi cười, mắt ngó xuống đôi tay mình đang ấp quanh món đồ uống nóng hổi, ngó chiếc nhẫn cưới bằng vàng trơn, những móng tay ngắn ngủn, đôi chân đang vắt chéo nhau đầy khép nép. Tôi vẫn chẳng muốn thừa nhận thân thể này.
‘Tại sao chồng tôi không biết rằng tôi đang gặp anh?’ tôi thắc mắc.
Bác sĩ Nash thở dài, mắt nhắm lại, hai tay đan vào nhau và ngả người trong ghế. ‘Ngay từ đầu tôi đã đề nghị cô không nói cho Ben biết rằng cô đang gặp tôi.’
Một nỗi sợ điếng hồn lan khắp người tôi.
‘Kể tiếp đi,’ tôi giục.
‘Không ít bác sĩ, chuyên gia tâm thần học... đã tiếp cận cô và Ben trước đây, nhưng Ben đã rất miễn cưỡng với những việc như thế. Ben tuyên bố dứt khoát rằng cô đã được chữa trị quá đủ trước đó rồi, và theo anh ấy thì nó chẳng đem lại kết quả gì, chỉ tổ khiến cô thêm rối loạn...’
Dĩ nhiên rồi; Ben chẳng muốn tôi nuôi hy vọng hão huyền. ‘Vì vậy anh đã thuyết phục tôi gặp anh mà không cho anh ấy biết?’
‘Phải. Lúc đầu tôi đã nói chuyện với Ben trên điện thoại, thậm chí đã xin được gặp để có thể giải thích về những liệu pháp đề nghị, nhưng anh ấy đã từ chối. Vì vậy tôi đã trực tiếp liên lạc với cô.’
Lại một cú điếng hồn nữa trồi lên. ‘Bằng cách nào?’ tôi hỏi.
‘Tôi đợi cho đến khi cô ra khỏi nhà, rồi tiếp cận và tự giới thiệu mình.’
‘Rồi tôi cứ thế mà đồng ý gặp anh à?’
‘Lúc đầu thì không. Tôi đã phải thuyết phục cô nhiều. Tôi đã đề nghị chúng ta nên gặp nhau một lần, chỉ là để phục vụ cho một hội thảo. Rằng, sau cuộc viếng thăm đầu tiên đó cô sẽ quyết định nói cho Ben biết hay không, và nếu cô chọn không nói, tôi sẽ gọi điện thoại cho cô để chắc chắn là cô nhớ đến cuộc hẹn gặp của chúng ta, vân vân và vân vân.’
‘Vậy là tôi đã chọn không nói.’
‘Vâng. Cô bảo là muốn đợi cho đến khi công việc của chúng ta có nhiều tiến triển hơn...’
‘Và chúng ta đã làm được?’
Bác sĩ Nash nhấp thêm mấy ngụm cà phê rồi đặt ly xuống bàn. ‘Tôi tin là vậy. Dù rằng sự tiến triển là một cái gì đó rất khó định lượng. Nhưng dường như đã có kha khá các mảnh ký ức trở lại với cô trong mấy tuần qua. Ví dụ, bây giờ có đôi khi cô thức dậy và nhớ là mình đã kết hôn. Và... và... ừm, cô trở nên độc lập, tôi nghĩ vậy.’
‘Độc lập?’
‘Phải. Cô không lệ thuộc vào Ben nhiều như trước. Cả vào tôi nữa.’
Ra vậy, hóa ra đó là thứ tiến triển mà cậu ta nói đến. Độc lập. Có lẽ cậu ta muốn ám chỉ rằng tôi có thể tự tới cửa hàng hay thư viện mà không cần vú em đi kèm. Nói gì đi nữa thì tôi vẫn chưa đủ tiến triển để phô phang nó một cách tự hào trước mặt chồng tôi. Thậm chí chẳng đủ cho tôi lúc thức dậy còn nhớ ra là mình có một ông chồng.
‘Chỉ có vậy thôi sao?’
‘Đừng coi nhẹ điều đó, Christine.’
Tôi nhấp một ngụm cà phê và nhìn quanh quán cà phê. Nó gần như vắng tanh rồi. Từ căn bếp nhỏ sau quán vọng lại tiếng lục bục ngắt quãng của một ấm nước đang sôi lẫn trong mấy giọng nói lào xào... Thật khó tin rằng tôi chẳng có chút ý niệm nào về việc đã từng ở đây trước đó.
‘Vậy cái mà chúng ta vẫn đang làm trong suốt mấy tuần qua là gì thế?’ tôi hỏi bác sĩ Nash.
‘Cô có nhớ gì về những buổi làm việc trước của chúng ta không? Gì cũng được?’
‘Không,’ tôi đáp sẵng. Theo tôi biết thì hôm nay là lần đầu tiên tôi gặp anh.’
‘Tha lỗi cho tôi vì đã tọc mạch,’ cậu ta phân trần. ‘Như đã nói, đôi khi trong cô lóe lên những chớp sáng của ký ức. Dường như có vài ngày cô biết nhiều thứ hơn những ngày khác.’
‘Tôi chẳng hiểu gì hết. Tôi chẳng hề nhớ là đã gặp anh trước đây, hoặc chuyện gì đã xảy ra hôm qua, hay ngày trước đó. Dù vậy tôi vẫn có thể nhớ được vài chuyện từ nhiều năm trước. Thời thơ ấu của tôi. Mẹ của tôi. Tôi nhớ chuyện ở đại học như thể vừa mới đây. Tôi chẳng hiểu sao những ký ức cũ này vẫn có thể tồn tại khi mà mọi thứ khác đã bị tẩy sạch.’
Bác sĩ Nash cứ gật đầu trong suốt đoạn độc thoại của tôi. Không còn nghi ngờ gì nữa, hẳn là cậu ta đã nghe điều này trước đây rồi. Có lẽ tuần nào tôi cũng hỏi cùng cái chuyện đó.
‘Ký ức là một thứ rất phức tạp,’ cậu ta giải thích. ‘Trí nhớ ngắn hạn dùng để lưu giữ những thông tin và sự kiện xảy ra trong một phút trước đó hoặc hơn, còn trí nhớ dài hạn có thể lưu giữ những lượng thông tin khổng lồ, trong một thời gian dài không xác định. Hai chức năng nói trên dường như được những phần trí não khác nhau điều khiển, thông qua những liên kết nơ-ron. Có một phần trí não dường như chịu trách nhiệm đem những ký ức ngắn hạn mã hóa chúng thành ký ức dài hạn nhằm mục đích sử dụng về sau. Bệnh nhân mất trí nhớ có hai dạng cơ bản. Dạng thông thường nhất là không thể nhớ lại những sự kiện đã qua, nên các việc vừa mới xảy ra gần đó cũng bị tác động nghiêm trọng. Ví dụ, nếu bệnh nhân bị tai nạn xe hơi, họ có thể chẳng nhớ gì về tai nạn đó, hay về những ngày hoặc những tuần trước đó, nhưng lại có thể nhớ mọi thứ trong khoảng, ừm, sáu tháng trước tai nạn một cách chi tiết.’
Tôi gật đầu. ‘Còn dạng kia?’
‘Dạng kia thì hiếm hơn. Đôi khi có một nỗ lực bất thành trong việc chuyển ký ức từ lưu giữ ngắn hạn sang lưu giữ dài hạn, nên người mắc chứng này chỉ có thể nhớ lại chuyện vừa xảy ra ngay tức thì, và chỉ trong một khoảng thời gian rất ngắn.’
Bác sĩ Nash ngưng nói, như thể đợi tôi phát biểu gì đó. Như thể mỗi chúng tôi đều có lời thoại riêng, và chúng tôi đã diễn tập cuộc đối thoại này khá thường.
‘Tôi mắc cả hai chứng đó à?’ tôi thăm dò. ‘Đánh mất những ký ức đã có, cộng thêm việc không thể hình thành ký ức mới?’
Cậu ta dọn giọng. ‘Vâng, thật đáng tiếc. Dầu vậy, điều không bình thường trong trường hợp của cô là kiểu quên. Cô xử lý các ký ức mới theo cách mà tôi chưa bao giờ gặp trước đây. Nếu bây giờ tôi rời nơi này và trở lại sau đó hai phút thì phần lớn những người mất trí nhớ dạng hiếm kia sẽ chẳng còn nhớ là vừa mới gặp tôi xong. Còn cô thì lại nhớ được các việc xảy ra trong vòng hai mươi bốn giờ trước khi đánh mất chúng. Nó cho thấy rằng cô có thể chuyển các ký ức từ ngắn hạn sang dài hạn khá tốt. Nhưng chẳng hiểu tại sao cô lại không nhớ được chúng.’
‘Cái gì đã khiến nó ra nông nỗi ấy?’ tôi hỏi, lòng tự nhủ rằng dù đang phải kéo lê một cuộc đời tan vỡ, nhưng cũng còn may là nó đã vỡ thành những mảnh đủ lớn để tôi còn giữ được cái vẻ ngoài độc lập.
Căn chòi yên ắng. Không khí như quéo lại và ẩm ướt. Khi bác sĩ Nash cất giọng, lời lẽ của cậu ta cứ như dội ngược lại từ những bức tường. ‘Bệnh tật, khủng hoảng tinh thần, hút chích... có thể làm hư hại đến ký ức, dài hạn hoặc ngắn hạn. Trạng thái hư hại cụ thể dường như không giống nhau, tùy thuộc vào phần trí não bị tác động.’
‘Nhưng cái gì đã gây ra tình trạng của tôi?’
‘Ben đã nói gì với cô?’
‘Chẳng có gì đặc biệt. Anh ấy chỉ nói là tôi đã bị một tai nạn.’
Bác sĩ Nash với tay xuống cái cặp để dưới bàn, lấy ra một cuốn sổ và đưa nó cho tôi. ‘Bệnh mất trí nhớ của cô là do khủng hoảng tinh thần mà ra. Đó là sự thật, ít nhất thì cũng là một phần nào đó. Cô đọc đi. Nó sẽ giải thích mọi chuyện tốt hơn tôi đấy. Đặc biệt là về thứ đã gây ra tình trạng của cô. Cả về những chuyện khác nữa...’
Cuốn sổ được đóng bìa da màu nâu, quấn trong dải băng thun. Tôi gỡ dải băng và mở hú họa. Giấy dày và có đường kẻ mờ, lề đỏ, các trang đầy chữ viết tay đặc nghẹt. ‘Cái gì thế này?’ tôi thốt lên.
‘Một cuốn nhật ký,’ bác sĩ Nash trả lời. Thứ mà cô vốn đang viết suốt mấy tuần qua.’
‘Một cuốn nhật ký ư?’ tôi sửng sốt và lấy làm lạ rằng tại sao cậu ta lại có nó.
‘Phải. Tôi đã đề nghị cô ghi nó. Chúng ta đang làm nhiều việc nhằm nỗ lực tìm ra cách mà ký ức của cô vận hành. Tôi nghĩ có thể hữu ích nếu cô ghi chép về những việc chúng ta đang thực hiện.’
Tôi nhìn cuốn sổ trước mặt. ‘Vậy là tôi đã viết cái này sao?’ ‘Đúng vậy. Tôi đã bảo cô viết bất cứ cái gì cô thích vào đó. Nhiều bệnh nhân mất trí nhớ đã thử làm những điều tương tự, nhưng thường thì không mấy hiệu quả vì họ có khoảng ký ức quá ngắn. Còn cô lại có thể nhớ được nhiều thứ trong cả một ngày trời. Tôi cho là việc viết ra vài ghi chép nhỏ vào cuối ngày có thể giúp cô thiết lập một mạch ký ức từ ngày này sang ngày khác. Hơn nữa, tôi cảm thấy rằng ký ức có lẽ cũng giống như cơ bắp, biết đâu một phần nào đó có thể trở nên mạnh mẽ hơn nhờ luyện tập.’
‘Và anh vẫn đang đọc nó, khi chúng ta tiến hành các cuộc gặp?’
‘Không. Cô vẫn viết nó một cách riêng tư.’
‘Nhưng sao có thể...?’ tôi ngập ngừng mở lời, rồi nói tiếp, ‘Ben nhắc tôi viết nó ư?’
Bác sĩ Nash lắc đầu. ‘Tôi đã đề nghị cô giữ bí mật. Cô vốn đang giấu nó, ở nhà. Tôi thường gọi điện thoại để bảo cô nơi nó được cất giấu.’
‘Mỗi ngày ư?’
‘Vâng. Gần như vậy.’
‘Không phải Ben sao?’
‘Không. Ben vẫn chưa đọc nó.’
Chẳng biết cuốn nhật ký này có thể chứa những gì mà tôi lại không muốn chồng mình đọc. Tôi có thể có những bí mật nào nhí? Những bí mật của chính mình mà thậm chí đến tôi còn không biết.
‘Nhưng anh đã đọc nó?’
‘Lần gặp trước cô đã để nó lại cho tôi. Cô nói là muốn tôi đọc nó. Rằng đã đến lúc.’
Tôi ngó cuốn sổ đầy kích động. Một cuốn nhật ký. Một gạch nối trở lại với quá khứ đã mất, dẫu chỉ mới gần đây. ‘Anh đã đọc hết cả rồi chứ?’
‘Vâng, tôi nghĩ mình đã đọc hết mọi thứ quan trọng, ít nhất là vậy.’ Cậu ta ngưng lại và ngoảnh sang chỗ khác, tay cào nhẹ sau gáy vẻ như đang bối rối. ‘Tôi đã không ép cô cho tôi đọc nó. Tôi muốn cô biết thế.’
Tôi gật đầu và im lặng dùng nốt phần đồ uống còn lại của mình. Mặt bìa trong của cuốn nhật ký ghi chi chít ngày tháng. ‘Những ngày tháng này là sao?’ tôi hỏi.
‘Đó là những ngày chúng ta đã gặp,’ bác sĩ Nash trả lời. ‘Và cả những ngày dự kiến. Tôi vẫn thường gọi để nhắc và đề nghị cô coi qua nhật ký.’
Tôi nghĩ tới mẩu giấy ghi chú màu vàng nhét giữa những trang lịch ghi nhớ của mình. ‘Nhưng còn hôm nay?’
‘Vì hôm nay tôi đang giữ cuốn nhật ký của cô, thế nên thay vào đó chúng ta đã viết một mẩu ghi chú.’
Tôi lướt qua phần còn lại của cuốn sổ đặc nghẹt chữ viết tay. Trang này tiếp trang kia. Sản phẩm của nhiều ngày liên tiếp.
Vừa tự hỏi mình đào đâu ra thời gian để viết, tôi chợt nhớ đến tấm bảng trong bếp và câu trả lời đã rõ rành; tôi chẳng có mấy việc phải làm.
Tôi đặt cuốn sổ xuống bàn. Một anh chàng trẻ tuổi bận quần jeans và áo thun ngắn tay bước vào, liếc qua chỗ chúng tôi trước khi gọi đồ uống và ngồi xuống một cái bàn đọc báo. Anh ta không thèm ngước nhìn tôi lần nào nữa, và tôi-hai-mươi-tuổi thấy khó chịu làm sao. Tôi có cảm giác mình giống như một kẻ vô hình.
‘Đi thôi chứ?’ tôi đề nghị.
Chúng tôi trở ngược lại con đường đã đến. Mây giăng đầy trời và một màn sương mỏng lơ lửng trong không trung. Bàn chân đi trên mặt đất sũng sĩnh nước như thể đang lội trên cát trượt.
‘Chúng ta không thường gặp nhau ở đây chứ?’ tôi hỏi, khi đã ra đến đường lớn. ‘Ý tôi là trong quán cà phê ấy?’
‘Không. Thường là tại văn phòng của tôi. Để làm các bài trắc nghiệm và nhiều thứ đại loại thế.’
‘Vậy sao hôm nay lại ở đây?’
‘Tôi chỉ muốn đưa lại cho cô cuốn nhật ký. Tôi lo vì cô không có nó bên cạnh.’
‘Tôi đã tới mức phụ thuộc vào nó à?’ tôi ngỡ ngàng hỏi.
‘Theo một cách nào đó thì là vậy.’
Chúng tôi băng qua đường, trở lại ngôi nhà tôi chia sẻ với Ben. Chiếc xe của bác sĩ Nash vẫn còn đậu bên ngoài mảnh vườn nhỏ xíu của nhà chúng tôi. Tôi hãy còn chưa thật tin đây là nơi sống của mình.
‘Anh có muốn vào uống chút gì đó không?’ tôi hỏi.
Bác sĩ Nash lắc đầu. ‘Không. Xin cám ơn. Tôi phải đi rồi. Julie và tôi đã có vài kế hoạch cho tối nay.’
Mái tóc cắt ngắn, rẽ ngôi gọn gàng của bác sĩ Nash và cái cách cậu ta mặc áo sơ mi sọc đứng chỏi với cái áo len sọc ngang chui đầu khiến tôi nhận ra rằng cậu ta chỉ lớn hơn cái con người trẻ trung mà tôi đã ngỡ là mình khi thức dậy sáng nay. ‘Julie là vợ anh à?’
Cậu ta mỉm cười và lắc đầu. ‘Không, là bạn gái. Đúng ra là vị hôn thê của tôi. Chúng tôi đã đính hôn rồi mà. Tôi cứ quên mất...’
Tôi mỉm cười lại với cậu ta. Đây là những chi tiết nên nhớ, tôi nghĩ vậy. Có lẽ những câu chuyện tầm phào kiểu này tôi đã viết đầy trong cuốn sổ kia, những cái móc nho nhỏ này treo cả một đời người lên đó.
‘Chúc mừng nhé,’ tôi nói và ước gì có thể hỏi thêm nhiều câu hơn, bày tỏ nhiều quan tâm hơn, nhưng có ít manh mối quá. Mà bây giờ cậu ta có kể gì đi nữa thì tôi cũng sẽ quên sạch trước khi thức dậy vào sáng mai thôi. Chỉ mỗi hôm nay là tất cả những gì tôi có. ‘Tôi cũng phải vào nhà đây, chúng tôi sắp đi chơi cuối tuần. Ra biển. Tôi cần soạn đồ liền...’
‘Tạm biệt cô, Christine,’ bác sĩ Nash mỉm cừờị và quay lưng đi, rồi đột nhiên ngoảnh lại bảo tôi. ‘Trong cuốn nhật ký của cô có ghi số điện thoại của tôi đó. Ở phía trước ấy. Hãy gọi tôi, nếu cô muốn gặp tôi lần nữa. Ý tôi là để tiếp tục việc điều trị của cô. Đồng ý chứ?’
‘Nếu à?’ tôi thắc mắc. Tôi nhớ lại những cuộc hẹn đã ghi bằng bút chì trong cuốn nhật ký cho khoảng thời gian từ đây đến cuối năm. ‘Tôi tưởng chúng ta đã định sẵn các cuộc gặp rồi?’
‘Cô sẽ hiểu khi đọc nhật ký của mình. Nó sẽ giải thích rõ mọi chuyện.’
‘Được rồi.’ tôi nói rồi nhận ra mình tin tưởng cậu ta, và thấy mừng vì không phải chỉ có một mình ông chồng để dựa dẫm.
Tôi pha một tách cà phê rồi mang vào phòng khách. Chùm âm thanh hỗn độn của tiếng huýt sáo, tiếng khoan lỗ nặng nề và thỉnh thoảng là một tràng cười khùng khục ở bên ngoài nhà lùi xa thành những tiếng ì à nho nhỏ khi tôi ngồi lún vào ghế bành. Mặt trời thảy những tia sáng yếu ớt qua màn cửa lưới, phả trên cánh tay và bắp đùi tôi một làn hơi âm ấm.
Tôi lấy cuốn nhật ký ra khỏi giỏ xách, lòng cảm thấy bồn chồn, không biết cuốn sổ này chứa đựng những bất ngờ hay bí ẩn nào nữa. Tôi nhìn cuốn album nằm trên bàn cà phê. Trong đó có một phiên bản quá khứ của tôi, nhưng là một phiên bản do Ben chọn lựa. Liệu cuốn sổ tôi đang cầm có chứa một phiên bản khác?
Trang đầu tiên của cuốn nhật ký không có dòng kẻ. Tôi đã viết tên mình bằng mực đen ngang qua giữa trang. Christine Lucas. Cũng lạ là tôi đã không viết bên dưới nó mấy chữ Riêng tư! Hoặc Đừng tọc mạch!
Nhưng có thứ đã được thêm vào. Một thứ rất bất ngờ và đáng sợ. Đáng sợ hơn bất cứ gì khác tôi đã gặp hôm nay. Ở đó, ngay dưới tên tôi, bằng mực xanh và chữ in hoa, là ba từ.
ĐỪNG TIN BEN.
Tôi lật trang giấy và bắt đầu đọc quá khứ của mình.