Khúc ca nào các nàng Sirena từng cất lên, hay cái tên mà Achilles từng mang khi ẩn mình giữa chốn khuê phòng, dẫu là những câu hỏi đầy hóc búa, nhưng chưa phải là không thể phỏng đoán.
—Sir Thomas Browne
Những đặc điểm tâm lý được bàn đến như là năng lực phân tích, tự bản thân chúng, vốn ít chịu sự mổ xẻ của phép phân tích. Chúng ta chỉ có thể đánh giá chúng qua những biểu hiện của chúng. Trong số những điều ta biết về chúng, có một điều chắc chắn rằng: đối với người sở hữu, khi năng lực ấy phát triển quá mức, nó luôn là nguồn suối mang lại niềm vui sướng tột độ. Giống như kẻ lực lưỡng hân hoan trước thể lực của chính mình, lấy làm thích thú với những bài tập huy động các thói cơ bắp hoạt động, nhà phân tích cũng vô cùng tự hào về nguồn năng lực tinh thần chuyên gỡ rối những nút thắt. Ông tìm thấy niềm vui ngay cả trong những công việc tầm thường nhất khi có dịp tung tài nghệ của mình ra. Ông thích những câu đố chữ, những bài thơ trào phúng, những ký hiệu tượng hình; và trong việc giải quyết từng thứ, ông thể hiện một sự sắc sảo nhạy bén khiến người thường phải ngỡ ngàng như thể siêu nhiên. Những kết quả do ông đạt được, vốn xuất phát từ chính cái cốt lõi và linh hồn của phương pháp luận, thực chất lại mang trọn vẹn vẻ tự nhiên như một trực giác thiên bẩm.
Khả năng suy nguyên có lẽ được củng cố rất nhiều nhờ việc học toán, và đặc biệt là qua nhánh cao cấp nhất của nó — thứ mà một cách bất công, chỉ vì các thao tác nghịch đảo của nó, đã được gọi bằng cái tên mang tính đại diện tuyệt đối cho chính môn toán: phân tích. Thế nhưng, tính toán tự bản thân nó chưa phải là phân tích. Lấy ví dụ, một kỳ thủ cờ vua thực hiện thao tác này mà chẳng hề tốn chút công sức nào cho thao tác kia. Từ đó suy ra rằng trò chơi cờ vua, xét về ảnh hưởng của nó đối với đặc tính tâm lý, đã bị hiểu lầm một cách trầm trọng. Giờ đây tôi không viết một bài khảo luận, mà chỉ đang dạo đầu cho một câu chuyện có phần kỳ lạ bằng những quan sát hết sức ngẫu hứng; do đó, tôi xin nhân cơ hội này để khẳng định rằng: những tầng cao thẳm hơn của trí tuệ phản tư lại được tôi luyện một cách quyết liệt và hữu ích hơn bởi trò chơi cờ đam khiêm nhường, chứ không phải bởi tất cả sự phức tạp phù phiếm của cờ vua. Ở trò chơi sau, nơi các quân cờ có những nước đi khác nhau và kỳ quái, với vô vàn giá trị biến đổi, thì cái sự phức tạp đơn thuần lại bị nhầm lẫn (một lỗi không hiếm gặp) với chiều sâu bản chất. Tại đây, sự tập trung được huy động một cách mạnh mẽ. Nếu tâm trí lơ đễnh dù chỉ trong khoảnh khắc, một sơ suất sẽ xảy ra và dẫn đến tổn hại hoặc thất bại. Do các nước đi có thể xảy ra không chỉ đa dạng mà còn rắc rối đan cài, nguy cơ dẫn đến những sơ suất ấy bị nhân lên gấp bội; và mười lần như một, kẻ chiến thắng thường là người có khả năng tập trung cao độ hơn là kẻ có trí tuệ sắc sảo hơn. Ngược lại, trong cờ đam, nơi các nước đi là độc nhất và ít có sự biến hóa, xác suất sơ ý bị giảm đi, và khi sự chú ý thuần túy không bị bắt phải lao động quá nhiều, bất kỳ lợi thế nào mà mỗi bên giành được đều là nhờ vào sự sắc sảo vượt trội. Để bớt phần trừu tượng, hãy giả định một ván cờ đam mà các quân cờ đã bị rút gọn lại thành bốn quân vua, và tất nhiên, chẳng thể kỳ vọng có bất kỳ sơ suất nào xảy ra ở đây. Rõ ràng là trong hoàn cảnh này, chiến thắng chỉ có thể được định đoạt (khi năng lực của hai người chơi tương đương nhau) nhờ một nước đi tinh vi hiếm có nào đó, là thành quả của một nỗ lực tư duy mãnh liệt. Bị tước đi những phương tiện thông thường, nhà phân tích hòa mình vào tâm lý của đối thủ, đồng hóa bản thân với đối phương, và nhờ thế, không ít lần ông nhìn thấy ngay trong chớp mắt những phương pháp duy nhất (đôi khi thực sự giản đơn đến ngớ ngẩn) để dụ dỗ đối phương sập bẫy hoặc đẩy họ vào những phỏng đoán sai lầm.
Trò bài Whist từ lâu đã nổi tiếng với ảnh hưởng của nó đối với cái gọi là năng lực tính toán; và người ta từng ghi nhận những bộ óc lỗi lạc bậc nhất đã tìm thấy niềm vui dường như khó tài nào hiểu nổi ở trò chơi này, trong khi lại xa lánh cờ vua vì cho rằng nó phù phiếm. Không còn nghi ngờ gì nữa, chẳng có môn nào có tính chất tương tự lại đòi hỏi khắt khe năng lực phân tích đến thế. Người chơi cờ vua giỏi nhất trong thế giới Thiên Chúa giáo có lẽ chẳng hơn gì một người chuyên chơi cờ vua xuất sắc; nhưng sự thành thạo trong trò whist lại hàm chứa năng lực vươn tới thành công trong tất cả những trọng trách quan trọng hơn, nơi trí tuệ phải đối đầu với trí tuệ. Khi nói đến sự thành thạo, ý tôi là sự hoàn hảo trong trò chơi này, bao gồm cả việc thấu hiểu mọi nguồn cội có thể đem lại lợi thế hợp pháp. Những nguồn cội ấy không chỉ đa dạng mà còn muôn hình vạn trạng, thường nằm sâu trong những ngóc ngách của tư duy mà sự hiểu biết thông thường hoàn toàn không thể với tới. Quan sát một cách chú tâm chính là ghi nhớ một cách rõ ràng; và xét về điểm này, kỳ thủ cờ vua với khả năng tập trung cao độ sẽ chơi whist khá tốt, trong khi các quy tắc của Hoyle (vốn dựa trên cơ chế thuần túy của trò chơi) lại đủ rõ ràng để đại đa số người hiểu được. Do đó, việc sở hữu một trí nhớ dai dẳng và tiến hành theo “sách vở” thường được xem là tổng hòa của lối chơi giỏi. Thế nhưng, chính ở những vấn đề vượt ra ngoài biên giới của những quy tắc khô khan ấy, kỹ năng của nhà phân tích mới được tỏ rạng. Ông âm thầm đưa ra vô số quan sát và suy luận. Những người bạn đồng hành của ông có lẽ cũng làm vậy; và sự khác biệt về lượng thông tin thu được không nằm nhiều ở tính xác thực của suy luận, mà nằm ở chất lượng của sự quan sát. Kiến thức cần thiết chính là việc biết nên quan sát điều gì. Người chơi của chúng ta không hề tự gò bó mình; và cũng chẳng vì trò chơi là mục tiêu trước mắt mà anh ta chối bỏ những suy luận rút ra từ các yếu tố bên ngoài ván bài. Anh ta quan sát nét mặt của người đồng minh, cẩn trọng so sánh nó với nét mặt của từng đối thủ. Anh ta cân nhắc cách mỗi người sắp xếp những quân bài trên tay; thường thì anh ta đếm từng quân chủ bài, từng quân bài cao thông qua những cái liếc mắt mà chủ nhân của chúng vô tình hướng tới. Anh ta ghi nhận từng sự đổi thay trên nét mặt khi ván bài tiếp diễn, thu nhặt một kho tàng suy nghĩ từ những khác biệt trong biểu cảm của sự chắc chắn, ngạc nhiên, đắc thắng hay phiền muộn. Từ cách thu gom các quân bài trong một lượt đi, anh ta đoán xem người vừa ăn bài có thể giành thêm quân nào nữa trong chất bài đó hay không. Anh ta nhận ra đâu là nước đi được tung ra để đánh lừa, thông qua cung cách chúng được ném lên mặt bàn. Một lời nói bâng quô hoặc vô tình; việc đánh rơi hay lật ngửa một quân bài một cách bất cẩn, kèm theo nỗi lo lắng hoặc thái độ dửng dưng trong việc che giấu nó; việc đếm các vòng bài cùng trật tự sắp xếp chúng; sự lúng túng, ngập ngừng, háo hức hay sợ sệt — tất cả đều mang lại cho nhận thức thoạt trông có vẻ như là trực giác của anh ta những chỉ dấu về tình hình thực tế. Sau khi hai hoặc ba vòng đầu tiên trôi qua, anh ta đã nắm trọn trong tay bài của từng người, và từ đó trở đi, anh ta đánh những quân bài của mình xuống với một mục đích chính xác tuyệt đối, tựa như những người chơi khác đã lật ngửa bài của chính họ ra vậy.
Năng lực phân tích không nên bị đánh đồng với sự tháo vát phong phú; bởi trong khi nhà phân tích chắc chắn phải là người tháo vát, thì kẻ tháo vát lại thường vô cùng bất tài trong việc phân tích. Năng lực kiến tạo hoặc kết hợp — thứ vốn biểu thị cho sự tháo vát, và được các nhà tướng sọ học (tôi tin là đã nhầm lẫn) gán cho một phần não bộ riêng biệt với giả định đây là một năng lực nguyên thủy — thường xuyên được nhìn thấy ở những kẻ mà trí tuệ suýt chút nữa đã chạm ngưỡng đần độn, đến mức nó thu hút sự quan sát chung của các nhà nghiên cứu đạo đức học. Giữa sự tháo vát và năng lực phân tích tồn tại một sự khác biệt lớn hơn rất nhiều so với sự khác biệt giữa óc viển vông và trí tưởng tượng, dẫu chúng mang tính chất rất tương đồng. Thực tế, ta sẽ thấy rằng những kẻ tháo vát luôn bay bổng theo những điều phù phiếm, trong khi những người có trí tưởng tượng thực thụ chưa bao giờ thiếu đi tư duy phân tích.
Câu chuyện tiếp theo đây sẽ hiện lên trước mắt độc giả tựa như một bài bình luận cho những mệnh đề vừa được nêu ra.
Lưu trú tại Paris trong mùa xuân và một phần mùa hè năm 18—, tôi đã có dịp quen biết với một quý ông tên là C. Auguste Dupin. Chàng thanh niên này xuất thân từ một gia đình danh giá, quả thật là dòng dõi hiển hách, nhưng do một chuỗi những biến cố bất hạnh, gia cảnh đã sa sút đến mức năng lượng trong con người anh ta bị bóp nghẹt, khiến anh chẳng còn thiết tha bươn chải với đời hay bận tâm đến việc vực dậy gia tài nữa. Nhờ sự rộng lượng của các chủ nợ, anh vẫn giữ lại được một phần nhỏ gia sản thừa kế; và sống bằng khoản thu nhập phát sinh từ đó, anh xoay sở chi trả cho những nhu cầu thiết yếu của cuộc sống bằng một lối tiết kiệm ngặt nghèo, chẳng mảy may bận tâm đến những thứ xa hoa dư thừa. Sách vở quả thực là niềm xa xỉ duy nhất của anh, và ở Paris thì những thứ đó rất dễ kiếm.
Cuộc gặp gỡ đầu tiên của chúng tôi diễn ra tại một hiệu sách nghèo nàn trên phố Montmartre, nơi sự tình cờ khi cả hai cùng đang tìm kiếm một cuốn sách cực kỳ hiếm và vô cùng đặc sắc đã đưa chúng tôi đến sự gắn bó gần gũi hơn. Chúng tôi gặp lại nhau hết lần này đến lần khác. Tôi vô cùng hứng thú với câu chuyện gia đình nhỏ bé mà anh đã kể cho tôi nghe với tất cả sự cởi mở vốn có của một người Pháp bất cứ khi nào bản thân là chủ đề chính. Tôi cũng kinh ngạc trước vốn hiểu biết uyên bác của anh; và hơn hết thảy, tâm hồn tôi cảm thấy bừng cháy trước sự nhiệt thành cuồng nhiệt cùng nét tươi mới sống động trong trí tưởng tượng của anh. Đang tìm kiếm ở Paris những thứ mà tôi khi ấy hướng tới, tôi cảm thấy rằng bầu bạn với một con người như thế sẽ là món quà vô giá; và tôi đã thành thật thổ lộ cảm xúc ấy với anh. Cuối cùng, chúng tôi sắp xếp để sống chung trong suốt thời gian tôi lưu lại thành phố; và vì hoàn cảnh kinh tế của tôi ít túng quẫn hơn anh đôi chút, tôi được phép chịu chi phí thuê và trang hoàng theo một phong cách hợp với vẻ u sầu có phần kỳ quái trong tính cách chung của chúng tôi — một căn biệt thự mục nát và quái dị, đã bị bỏ hoang từ lâu bởi những điều mê tín mà chúng tôi chẳng màng gặng hỏi, nay đang chìm dần trong mục rữa nằm tại một khu vực vắng vẻ và tiêu điều của ô phố St. Germain.
Giả sử nề nếp sinh hoạt của chúng tôi tại nơi này bị thế giới bên ngoài biết đến, chắc hẳn chúng tôi sẽ bị coi là những kẻ điên — dẫu có lẽ là những kẻ điên vô hại. Sự tách biệt của chúng tôi là tuyệt đối. Chúng tôi không tiếp bất kỳ vị khách nào. Quả thực, vị thế ẩn dật của chúng tôi đã được giữ bí mật cẩn thận với cả những người quen cũ của tôi; và đã nhiều năm trôi qua kể từ khi Dupin cắt đứt mọi liên lạc với thế giới xung quanh tại Paris. Chúng tôi tồn tại trong chính thế giới của riêng mình.
Đó là một trò đùa của trí tưởng tượng nơi người bạn tôi (vì còn biết gọi thế nào cho phải?) khi anh đem lòng say mê màn đêm tự vì bản thân nó; và vào cõi kỳ quái này, cũng như tất cả những nét khác lạ khác của anh, tôi lặng lẽ bước theo, hoàn toàn phó mặc bản thân cho những ngẫu hứng ngông cuồng của anh. Vị nữ thần áo đen ấy tất nhiên không thể lúc nào cũng ở bên chúng tôi; nhưng chúng tôi có thể ngụy tạo sự hiện diện của bà. Ngay khi ánh bình minh ló dạng, chúng tôi đóng sập mọi ô cửa chớp bám đầy bụi bẩn của tòa nhà cổ kính; thắp lên một cặp nến được tẩm nước hoa nồng đậm, chỉ tỏa ra thứ ánh sáng nhợt nhạt và yếu ớt nhất. Dưới sự trợ giúp của những ngọn nến ấy, chúng tôi đắm chìm tâm hồn vào những giấc mơ — đọc sách, viết lách, hoặc trò chuyện, cho đến khi tiếng chuông đồng hồ báo hiệu sự giáng lâm của bóng tối thực sự. Lúc bấy giờ, chúng tôi mới tay trong tay bước ra những con đường phố, tiếp tục bàn luận về các chủ đề trong ngày, hoặc lang thang đi thật xa cho đến tận khuộn giờ, tìm kiếm giữa muôn vàn ánh sáng và bóng tối điên cuồng của thành phố đông đúc thứ năng lượng kích thích tinh thần vô tận mà sự quan sát tĩnh lặng có thể mang lại.
Những lúc như thế, tôi không khỏi để ý và thán phục (dẫu rằng với óc tưởng tượng phong phú của anh, tôi đã chuẩn bị sẵn tinh thần để đón nhận) một năng lực phân tích đặc biệt ở Dupin. Hơn nữa, anh dường như vô cùng thích thú khi được vận dụng nó — nếu không muốn nói là thích trưng bày nó — và chẳng ngần ngại thừa nhận niềm vui sướng có được từ đó. Anh khoe khoang với tôi, kèm theo một tiếng cười khúc khích trầm đục, rằng hầu hết mọi người, khi đứng trước anh, đều đeo những chiếc cửa sổ trước ngực, và thường tiếp nối những lời khẳng định ấy bằng những bằng chứng trực diện và vô cùng sửng sốt về sự thấu hiểu sâu sắc của anh đối với chính bản thân tôi. Thái độ của anh trong những khoảnh khắc đó thật lạnh lùng và xa cách; đôi mắt anh mang biểu cảm vô hồn, trong khi giọng nói của anh, vốn thường là một chất giọng nam trung trầm ấm, lại vút cao thành giọng nữ cao đôi khi nghe có vẻ hờn dỗi nếu như không có sự điềm tĩnh và phát âm rõ ràng rành mạch đến từng chữ. Quan sát anh trong những tâm trạng ấy, tôi thường trầm ngâm suy ngẫm về triết học cổ đại về Thuyết Tâm Hồn Song Phân, và tự giải trí với ý tưởng về một Dupin kép — một kẻ sáng tạo và một kẻ suy nguyên.
Xin chớ vì những gì tôi vừa nói mà cho rằng tôi đang tường thuật bất kỳ điều bí ẩn nào, hay đang viết một cuốn tiểu thuyết lãng mạn. Những gì tôi mô tả ở người đàn ông Pháp ấy đơn giản chỉ là kết quả của một trí tuệ bị kích thích, hoặc có lẽ là đang bệnh hoạn. Tuy nhiên, một ví dụ về những lời lẽ của anh ta trong những khoảng thời gian ấy sẽ truyền đạt lại ý niệm một cách rõ ràng nhất.
Một đêm nọ, chúng tôi đang dạo bước dọc theo một con phố dài và dơ dáy vùng lân cận Palais Royal. Vì cả hai dường như đều chìm đắm trong suy nghĩ, chẳng ai thốt ra dù chỉ một âm tiết trong ít nhất mười lăm phút. Bỗng nhiên, Dupin phá vỡ sự im lặng bằng những lời này:
“Hắn ta thực sự là một tay rất lùn, điều đó hoàn toàn chính xác, và sẽ diễn hợp hơn ở Théâtre des Variétés.”
“Không còn nghi ngờ gì về điều đó nữa,” tôi vô thức đáp lời, và ban đầu không để ý (do mải mê suy ngẫm quá sâu) cách mà người nói vừa hòa nhịp vào dòng suy nghĩ của tôi. Chỉ một khoảnh khắc sau, tôi sực tỉnh, và nỗi kinh ngạc của tôi thật vô bờ bến.
“Dupin,” tôi nói vẻ nghiêm trọng, “chuyện này vượt ngoài tầm hiểu biết của tôi rồi. Tôi không ngần ngại nói rằng mình đang vô cùng sửng sốt và hầu như không thể tin nổi vào tai mình. Làm sao anh có thể biết được tôi đang nghĩ đến ——?” Đến đây tôi khựng lại, để xác định cho chắc chắn xem anh ta có thực sự biết tôi đang nghĩ đến ai không.
“—— về Chantilly,” anh ta nói, “sao anh lại dừng lại? Anh vừa tự nhủ rằng vóc dáng thấp bé của hắn ta hoàn toàn không hợp với bi kịch.”
Đó chính xác là những gì vừa tạo thành chủ đề trong dòng suy ngẫm của tôi. Chantilly từng là một thợ đóng giày trên phố St. Denis, kẻ vì quá mê mẩn sân khấu nên đã cả gan thử sức với vai Xerxes trong vở bi kịch cùng tên của Crébillon, để rồi chuốc lấy những lời chế nhạo cay độc khắp chốn thiên hạ vì sự liều lĩnh đó.
“Vì Chúa, hãy nói cho tôi biết,” tôi thốt lên, “phương pháp — nếu như có phương pháp — nào đã giúp anh thấu thấu tâm can tôi trong chuyện này?” Thực ra tôi còn cảm thấy giật mình hơn cả mức tôi sẵn sàng thổ lộ.
“Chính là người bán trái cây,” người bạn tôi đáp, “đã đưa anh đến kết luận rằng kẻ vá giày kia không đủ chiều cao để vào vai Xerxes et id genus omne.”
“Người bán trái cây! — anh làm tôi kinh ngạc đấy — tôi chẳng quen biết bất kỳ kẻ bán trái cây nào sất.”
“Người đàn ông đã va phải anh lúc chúng ta bước vào phố — có lẽ là cách đây mười lăm phút.”
Bấy giờ tôi mới sực nhớ ra rằng, quả thực, một người bán trái cây đang đội trên đầu một giỏ táo lớn đã suýt làm tôi ngã nhào do bất cẩn khi chúng tôi bước từ phố C—— sang con đường lớn nơi chúng tôi đang đứng; nhưng điều này liên quan thế nào đến Chantilly thì tôi hoàn toàn không tài nào hiểu nổi.
Chẳng hề có chút phảng phất nào của sự bịp bợm ở Dupin. “Tôi sẽ giải thích,” anh ta nói, “và để anh có thể hiểu mọi chuyện một cách tường tận, trước tiên chúng ta sẽ lần ngược lại chuỗi suy ngẫm của anh, từ khoảnh khắc tôi cất lời cho đến lúc cuộc chạm trán với người bán trái cây diễn ra. Những mắt xích lớn trong chuỗi đó lần lượt là — Chantilly, Orion, Tiến sĩ Nichols, Epicurus, phép cắt lát thể tích, những viên đá lát đường, người bán trái cây.”
Có rất ít người chưa từng, vào một giai đoạn nào đó trong đời, tự giải trí bằng cách lần ngược lại những bước đi dẫn đến các kết luận cụ thể trong tâm trí họ. Trò tiêu khiển ấy thường chứa đầy sự thú vị; và kẻ nào lần đầu tiên thử nghiệm nó sẽ phải kinh ngạc trước khoảng cách tưởng chừng vô tận và sự phi logic giữa điểm khởi đầu và cái đích đến. Vậy thì, cảm giác của tôi sẽ ra sao khi nghe người Pháp cất lên những lời vừa rồi, và khi tôi buộc phải thừa nhận rằng anh ta đã nói hoàn toàn sự thật. Anh tiếp lời:
“Chúng ta đã bàn về những con ngựa, nếu tôi nhớ không lầm, ngay trước khi rời phố C——. Đó là chủ đề cuối cùng chúng ta thảo luận. Khi chúng ta bước sang con phố này, một người bán trái cây với chiếc giỏ lớn trên đầu, lướt qua chúng ta thật nhanh, đã đẩy anh ngã vào một đống đá lát đường được tập kết ở một đoạn đang sửa chữa lòng đường. Anh bước lên một trong những viên đá rời, trượt chân, hơi bong gân mắt cá chút đỉnh, tỏ vẻ khó chịu hoặc hờn dỗi, lầm bầm vài từ, quay lại nhìn đống đá, rồi tiếp tục bước đi trong im lặng. Tôi không đặc biệt chú ý đến những gì anh làm; nhưng dạo gần đây, sự quan sát đã trở thành một dạng nhu cầu thiết yếu đối với tôi.
Anh dán mắt xuống mặt đất — liếc nhìn với vẻ mặt hằn học xuống những cái hố và vết lún trên đường (nhờ thế tôi biết anh vẫn đang nghĩ về những viên đá) — cho đến khi chúng ta tới con ngõ nhỏ mang tên Lamartine, nơi đã được lát thử nghiệm bằng những khối đá chồng khít và gài khớp với nhau. Tại đây, nét mặt anh bừng sáng, và nhận thấy đôi môi anh mọng động, tôi không thể nghi ngờ gì nữa khi anh lẩm bẩm từ ‘stereotomy’ (phép cắt lát thể tích), một thuật ngữ được dùng có phần ra vẻ khi áp dụng cho loại mặt đường này. Tôi biết rằng anh không thể tự nói ‘stereotomy’ mà lại không bị dẫn dắt để nghĩ đến các hạt nguyên tử (atomies), và từ đó hướng về các học thuyết của Epicurus; và vì khi chúng ta thảo luận chủ đề này chưa lâu lắm trước đây, tôi từng nhắc với anh rằng những phỏng đoán mơ hồ của vị triết học gia Hy Lạp cao quý ấy đã kỳ lạ thay, lại được minh chứng đầy bất ngờ — dẫu ít ai chú ý — trong vũ trụ học tinh vân thời gian gần đây, tôi cảm thấy anh không thể tránh khỏi việc ngước mắt lên nhìn tinh vân lớn trong chòm sao Orion, và tôi chắc chắn kỳ vọng anh sẽ làm thế. Anh đã ngước nhìn lên; và lúc đó tôi hoàn toàn chắc chắn mình đã theo sát từng bước trong tư duy của anh. Nhưng trong bài chỉ trích cay độc về Chantilly xuất hiện trên tờ ‘Musée’ ngày hôm qua, kẻ châm biếm kia, khi đưa ra những ẩn ý đầy tai tiếng về việc gã thợ giày đổi tên lúc bước lên sân khấu, đã trích dẫn một câu tiếng Latinh mà chúng ta vẫn thường hay bàn luận. Ý tôi là câu
Perdidit antiquum litera prima sonum.
Tôi từng nói với anh rằng câu này nhắc đến chòm sao Orion, trước đây vốn được viết là Urion; và từ một vài điểm sắc sảo liên quan đến lời giải thích này, tôi biết chắc anh không thể quên nó. Do đó, rõ ràng là anh sẽ không thể không liên kết hai ý niệm về Orion và Chantilly lại với nhau. Việc anh đã kết hợp chúng, tôi nhận ra qua nụ cười thoáng qua trên môi anh. Anh đã nghĩ đến sự hy sinh của gã thợ giày tội nghiệp. Cho đến lúc đó, dáng đi của anh hãy còn khom khom; nhưng ngay khoảnh khắc ấy, tôi thấy anh ngẩng cao đầu, duỗi thẳng người hết cỡ. Lúc đó tôi hoàn toàn chắc chắn anh đang suy ngẫm về vóc dáng thấp bé của Chantilly. Ngay tại điểm này, tôi đã cắt ngang dòng suy tưởng của anh để nhận xét rằng, vì thực ra hắn chỉ là một gã tiểu tử — cái tên Chantilly ấy — nên hắn sẽ diễn hợp hơn ở Théâtre des Variétés.”
Chẳng lâu sau sự việc đó, chúng tôi đang xem qua số báo chiều của tờ “Gazette des Tribunaux,” thì những đoạn tin sau đây đã thu hút sự chú ý của chúng tôi.
“Những vụ án mạng ngoại thường. — Sáng nay, vào khoảng ba giờ, cư dân khu Quartier St. Roch đã bị đánh thức khỏi giấc ngủ bởi một loạt tiếng thét kinh hoàng, phát ra dường như từ tầng bốn của một ngôi nhà trên phố Morgue, được biết là do một mình góa phụ L’Espanaye cùng con gái là tiểu thư Camille L’Espanaye sinh sống. Sau một hồi chậm trễ do nỗ lực vô ích nhằm xin vào nhà theo lối thông thường, cánh cổng lớn đã bị phá tung bằng một thanh xà beng, và tám, chín người hàng xóm cùng hai cảnh binh đã bước vào. Tới lúc đó những tiếng kêu la đã dứt; nhưng khi nhóm người lao vụt lên đoạn cầu thang đầu tiên, hai hay nhiều giọng nói thô kệch đang tranh cãi giận dữ đã được phân biệt rõ, có vẻ phát ra từ phần trên của ngôi nhà. Khi đi tới chiếu nghỉ thứ hai, những âm thanh này cũng đã dứt và mọi thứ hoàn toàn tĩnh lặng. Nhóm người tản ra và hối hả lục soát từng căn phòng. Khi đặt chân đến một căn phòng lớn phía sau ở tầng bốn (cánh cửa vốn bị khóa, với chìa khóa cắm ở phía bên trong, đã bị phá tung), một cảnh tượng đập vào mắt khiến tất cả những ai có mặt ở đó bàng hoàng không kém phần kinh ngạc.
Căn hộ nằm trong tình trạng hỗn loạn tột cùng — đồ đạc bị đập phá và vứt tung tóe khắp mọi hướng. Chỉ có duy nhất một chiếc giường; và tấm đệm trên giường đã bị lôi ra, ném thẳng xuống giữa sàn nhà. Trên một chiếc ghế bành đặt chiếc dao cạo dính đầy máu. Trên lò sưởi có hai hoặc ba lọn tóc người màu xám vừa dày vừa dài, cũng dường như dính đầy máu và có vẻ như đã bị giật đứt ra tận gốc. Trên sàn nhà người ta tìm thấy bốn đồng Napoleon, một chiếc bông tai bằng đá topaz, ba chiếc thìa bạc lớn, ba chiếc nhỏ hơn bằng kim loại métal d’Alger, và hai chiếc túi chứa gần bốn nghìn franc tiền vàng. Các ngăn của một chiếc tủ hộc đứng kê ở góc phòng đều đang mở, và thoạt nhìn có vẻ đã bị lục soát, dẫu vẫn còn rất nhiều vật dụng bên trong. Một chiếc két sắt nhỏ được phát hiện nằm dưới gầm giường (không phải dưới khung giường). Nó đang mở, với chiếc chìa khóa vẫn cắm trên ổ. Bên trong chẳng có gì ngoài vài bức thư cũ và một vài giấy tờ ít quan trọng khác.
Hoàn toàn không thấy bóng dáng của góa phụ L’Espanaye; nhưng vì nhận thấy một lượng bồ hóng bất thường trong lò sưởi, người ta đã tiến hành lục soát ống khói, và (thật kinh hoàng khi kể lại!) thi thể của người con gái đầu cắm xuống dưới đã bị kéo ra ngoài; cái xác đã bị nhét thốc lên qua khe hẹp đó một khoảng cách khá xa. Cơ thể vẫn còn khá ấm. Khi kiểm tra, người ta nhận thấy rất nhiều vết trầy xước, không nghi ngờ gì nữa là do lực bạo liệt khi bị đẩy thét lên và kéo tuột ra. Trên khuôn mặt có nhiều vết cào cấu nghiêm trọng, và ở vùng cổ xuất hiện những vết bầm đen cùng dấu ấn sâu hoắm của nhữngh móng tay, tựa như nạn nhân đã bị bóp cổ đến chết.
Sau một cuộc điều tra kỹ lưỡng từng ngóc ngách trong ngôi nhà mà không thu thêm được phát hiện nào khác, nhóm người tiến ra một khoảng sân nhỏ lát đá ở phía sau tòa nhà, nơi thi thể của bà cụ đang nằm với phần cổ bị cắt đứt sâu đến mức khi có người định nhấc bà lên, chiếc đầu đã rơi rời ra. Thi thể cũng như phần đầu đều bị tàn phá một cách kinh hoàng — phần thân thể bị hủy hoại đến độ hầu như không còn giữ lại chút dáng dấp nào của con người.
Đến thời điểm này, chúng tôi tin rằng vẫn chưa có dù chỉ một manh mối mỏng manh nào cho bí ẩn kinh hoàng này.”
Số báo của ngày hôm sau có thêm những chi tiết bổ sung sau đây.
“Bi kịch trên phố Morgue. — Rất nhiều cá nhân đã được thẩm vấn liên quan đến vụ việc kỳ lạ và kinh hoàng tột độ này” [từ ‘affaire’ cho đến nay ở Pháp vẫn chưa mang sắc thái suồng sã nhẹ nhàng như khi dịch sang tiếng Anh của chúng tôi], “nhưng chẳng có bất cứ điều gì lọt ra để chiếu rọi ánh sáng vào vụ án. Dưới đây chúng tôi xin cung cấp toàn bộ những lời khai quan trọng đã được thu thập.
Pauline Dubourg, thợ giặt là, khai nhận rằng bà đã quen biết cả hai nạn nhân trong ba năm, từng nhận giặt đồ cho họ suốt khoảng thời gian đó. Bà cụ và con gái có vẻ hòa thuận — rất mực yêu thương nhau. Họ trả tiền công cực kỳ sòng phẳng. Không thể nói gì về lối sống hay phương thức mưu sinh của họ. Tin rằng bà L’Espanaye kiếm sống bằng nghề bói toán. Tương truyền là có để dành được một khoản tiền. Chưa từng gặp bất kỳ ai trong nhà khi đến lấy quần áo hoặc đem trả. Khẳng định chắc chắn rằng họ không thuê người hầu nào làm việc cả. Dường như chẳng có đồ đạc ở bất kỳ phần nào của ngôi nhà ngoại trừ tầng bốn.
Pierre Moreau, chủ hiệu bán thuốc lá, khai nhận rằng ông đã có thói quen bán những lượng nhỏ thuốc lá và thuốc hít cho góa phụ L’Espanaye gần bốn năm nay. Sinh ra ở khu phố này, và vẫn luôn sinh sống ở đây. Nạn nhân và con gái đã chiếm giữ ngôi nhà nơi các thi thể được tìm thấy trong hơn sáu năm. Trước đây nó thuộc sở hữu của một thợ kim hoàn, người đã cho thuê lại các phòng phía trên cho nhiều người khác nhau. Ngôi nhà vốn là tài sản của bà L’Espanaye. Bà trở nên bất mãn trước việc người thuê lạm dụng cơ ngơi nên đã tự mình chuyển vào ở, từ chối cho thuê lại bất kỳ phần nào. Bà cụ có biểu hiện lơ đễnh như trẻ con. Nhân chứng đã nhìn thấy người con gái chừng năm hoặc sáu lần trong suốt sáu năm qua. Hai người sống một cuộc đời vô cùng ẩn dật — nổi tiếng là có tiền. Từng nghe người trong xóm bàn tán rằng bà L’Espanaye biết bói toán — nhưng không tin điều đó. Chưa từng thấy bất kỳ ai bước qua cánh cửa ngoài bà cụ và người con gái, một người khuân vác một hoặc hai lần, và một vị y sĩ chừng tám hoặc mười lần.
Rất nhiều người khác, là hàng xóm láng giềng, đã đưa ra lời khai có nội dung tương tự. Không một ai được nhắc đến là kẻ hay lui tới ngôi nhà. Người ta không rõ liệu góa phụ L’Espanaye và con gái có người thân nào còn sống hay không. Các tấm cửa chớp ở cửa sổ mặt tiền hiếm khi được mở. Những chiếc ở phía sau thì luôn đóng kín, ngoại trừ căn phòng lớn ở phía sau tầng bốn. Ngôi nhà là một ngôi nhà tốt — không quá cũ.
Isidore Musèt, cảnh binh, khai nhận rằng ông được gọi đến ngôi nhà vào khoảng ba giờ sáng, và tìm thấy chừng hai mươi hoặc ba mươi người đang tụ tập ở cổng, nỗ lực tìm cách vào trong. Cuối cùng đã phá tung cánh cửa bằng một lưỡi lê — chứ không phải xà beng. Gặp rất ít khó khăn trong việc mở cửa do đây là một cánh cổng đôi hoặc cổng gập, và không chốt ở cả phía dưới lẫn phía trên. Những tiếng thét tiếp diễn cho đến khi cánh cổng bị phá tung — và rồi đột ngột im bặt. Chúng có vẻ là tiếng thét của một ai đó (hoặc những ai đó) đang chịu đựng nỗi thống khổ tột cùng — âm thanh rất lớn và kéo dài, không phải kiểu ngắn và nhanh. Nhân chứng dẫn đầu đi lên lầu. Khi đến chiếu nghỉ thứ nhất, nghe thấy hai giọng nói đang tranh cãi to tiếng và giận dữ — một giọng khàn khàn, giọng kia sắc hơn nhiều — một giọng nói rất kỳ lạ. Có thể phân biệt được vài từ của giọng trước, đó là giọng của một người Pháp. Quả quyết rằng đó không phải là giọng phụ nữ. Có thể phân biệt được các từ ‘sacré’ và ‘diable’. Giọng sắc là giọng của một người nước ngoài. Không thể chắc chắn đó là giọng nam hay nữ. Không thể nghe rõ họ nói gì, nhưng tin rằng ngôn ngữ đó là tiếng Tây Ban Nha. Tình trạng của căn phòng và các thi thể đã được nhân chứng này mô tả lại y hệt như những gì chúng tôi đã tường thuật ngày hôm qua.
Henri Duval, một người hàng xóm, làm nghề thợ bạc, khai nhận rằng ông là một trong số những người đầu tiên bước vào ngôi nhà. Nhìn chung xác nhận lại lời khai của Musèt. Ngay khi họ phá cửa vào được, họ liền đóng sập cửa lại để ngăn dòng người đang tụ tụ lại rất nhanh, bất chấp đêm đã về khuya. Nhân chứng này cho rằng giọng sắc là giọng của một người Ý. Chắc chắn đó không phải tiếng Pháp. Không thể chắc chắn đó là giọng đàn ông. Có lẽ là giọng phụ nữ. Không thông thạo tiếng Ý. Không thể phân biệt rõ các từ ngữ, nhưng bị thuyết phục qua ngữ điệu rằng kẻ nói chuyện là người Ý. Có quen biết bà L’Espanaye và con gái. Từng trò chuyện với cả hai người rất nhiều lần. Khẳng định chắc chắn giọng sắc không phải là của bất kỳ ai trong hai nạn nhân.
—— Odenheimer, chủ nhà hàng. Nhân chứng này tự nguyện đứng ra khai báo. Do không nói được tiếng Pháp, ông được thẩm vấn thông qua một thông dịch viên. Là người gốc Amsterdam. Đang đi ngang qua ngôi nhà vào thời điểm phát ra tiếng thét. Chúng kéo dài trong vài phút — có lẽ là mười phút. Chúng kéo dài và lớn — vô cùng khủng khiếp và đau đớn. Là một trong số những người đã bước vào tòa nhà. Xác nhận lại lời khai trước đó về mọi mặt ngoại trừ một điểm. Quả quyết rằng giọng sắc là giọng của một người đàn ông — của một người Pháp. Không thể phân biệt được các từ được thốt ra. Chúng lớn và nhanh — ngắt quãng — thoạt nhìn có vẻ được thốt ra trong sự sợ hãi cũng như giận dữ. Giọng nói thô ráp — không hẳn là sắc mà là thô ráp. Không thể gọi đó là giọng sắc. Giọng khàn lặp đi lặp lại các từ ‘sacré’, ‘diable’, và có một lần là ‘mon Dieu’.
Jules Mignaud, chủ ngân hàng, thuộc công ty Mignaud et Fils, phố Deloraine. Là ông Mignaud lớn. Góa phụ L’Espanaye có một ít tài sản. Từng mở một tài khoản tại ngân hàng của ông vào mùa xuân năm đó — (tám năm trước). Thường xuyên gửi những khoản tiền nhỏ. Chưa từng rút khoản nào cho đến ngày thứ ba trước khi qua đời, khi chính bà trực tiếp đến rút số tiền 4000 franc. Số tiền này được thanh toán bằng vàng, và một nhân viên đã đi cùng bà về nhà với số tiền đó.
Adolphe Le Bon, nhân viên của Mignaud et Fils, khai nhận rằng vào ngày hôm đó, vào khoảng trưa, anh đã hộ tống góa phụ L’Espanaye về nơi ở của bà với 4000 franc được đựng trong hai chiếc túi. Khi cửa mở ra, tiểu thư L’Espanaye xuất hiện và cầm lấy một trong hai chiếc túi từ tay anh, trong khi bà cụ nhận chiếc còn lại. Anh liền cúi đầu chào và ra đi. Không nhìn thấy bất kỳ ai trên đường vào thời điểm đó. Đó là một con phố nhỏ — vô cùng vắng vẻ.
William Bird, thợ may, khai nhận rằng ông là một trong số những người đã bước vào ngôi nhà. Là người Anh. Đã sống ở Paris được hai năm. Là một trong những người đầu tiên bước lên lầu. Nghe thấy những giọng nói đang tranh cãi. Giọng khàn là giọng của một người Pháp. Có thể nghe rõ vài từ, nhưng hiện tại không thể nhớ hết. Nghe rất rõ các từ ‘sacré’ và ‘mon Dieu’. Vào khoảnh khắc đó có âm thanh tựa như nhiều người đang vật lộn — một tiếng cào cấu và xô xát. Giọng sắc rất lớn — lớn hơn giọng khàn. Chắc chắn đó không phải là giọng của người Anh. Có vẻ là giọng của một người Đức. Có thể là giọng phụ nữ. Không hiểu tiếng Đức.
Bốn trong số các nhân chứng kể trên, khi được triệu tập trở lại, đã khai nhận rằng cánh cửa căn phòng tìm thấy thi thể tiểu thư L’Espanaye đã được khóa từ bên trong khi nhóm người lên tới nơi. Mọi thứ hoàn toàn tĩnh lặng — không có tiếng rên rỉ hay bất kỳ thứ âm thanh nào khác. Khi phá cửa thì chẳng thấy ai. Cả cửa sổ phòng sau lẫn phòng trước đều đóng và được cài chặt từ bên trong. Cánh cửa thông giữa hai phòng khép hờ nhưng không khóa. Cánh cửa dẫn từ phòng trước ra hành lang bị khóa, với chìa khóa cắm ở mặt trong. Một căn phòng nhỏ ở phía trước ngôi nhà, nằm trên tầng bốn ở đầu hành lang đang mở, cánh cửa khép hờ. Căn phòng này chất đầy giường cũ, rạp, v.v.. Chúng đã được cẩn thận dọn ra và lục soát. Không có lấy mộtinch bất kỳ phần nào trong ngôi nhà không được lục soát kỹ càng. Thợ quét ống khói được cử lên xuống qua các ống khói. Ngôi nhà có bốn tầng kèm theo tầng áp mái (mansardes). Một cánh cửa sập trên mái nhà được đóng đinh vô cùng chắc chắn — có vẻ như đã không bị mở ra trong nhiều năm. Khoảng thời gian trôi qua từ lúc nghe thấy những giọng nói tranh cãi cho đến khi phá cửa phòng, được các nhân chứng khai báo khác nhau. Một số người ước tính ngắn chừng ba phút — có người cho là dài tới năm phút. Cánh cửa được mở với không ít khó khăn.
Alfonzo Garcio, thợ mai táng, khai nhận rằng ông cư ngụ tại phố Morgue. Là người gốc Tây Ban Nha. Là một trong số những người bước vào ngôi nhà. Không tiến lên lầu. Là người hay lo lắng, và sợ hãi những hệ lụy từ sự kích động. Nghe thấy những giọng nói tranh cãi. Giọng khàn là giọng của người Pháp. Không thể phân biệt được họ nói gì. Giọng sắc là giọng của người Anh — ông chắc chắn điều này. Không hiểu tiếng Anh, nhưng phán đoán dựa vào ngữ điệu.
Alberto Montani, thợ làm bánh kẹo, khai nhận rằng ông nằm trong số những người đầu tiên bước lên lầu. Nghe thấy những giọng nói đang được nhắc tới. Giọng khàn là giọng của người Pháp. Phân biệt được một số từ. Người nói có vẻ đang can ngăn. Không thể nghe rõ các từ của giọng sắc. Nói nhanh và ngắt quãng. Cho rằng đó là giọng của một người Nga. Xác nhận lại lời khai chung. Là người Ý. Chưa từng trò chuyện với người bản xứ Nga nào.
Nhiều nhân chứng, khi được triệu tập lại, đã làm chứng rằng ống khói của tất cả các phòng trên tầng bốn quá hẹp để một con người có thể chui qua. Ý của từ ‘sweeps’ ở đây là những chiếc chổi quét hình trụ, loại được dùng bởi những người làm nghề vệ sinh ống khói. Những chiếc chổi này đã được luồn lên xuống qua mọi ống thông gió trong nhà. Không có lối đi phụ nào ở phía sau để bất kỳ ai có thể tẩu thoát trong lúc nhóm người đi lên lầu. Thi thể tiểu thư L’Espanaye bị nêm chặt trong ống khói đến mức không thể kéo xuống cho đến khi bốn hoặc năm người trong nhóm hợp sức lại.
Paul Dumas, y sĩ, khai nhận rằng ông được gọi đến để khám nghiệm các thi thể vào khoảng gần rạng sáng. Cả hai lúc đó đều đang nằm trên tấm đệm của chiếc khung giường trong căn phòng tìm thấy tiểu thư L’Espanaye. Thi thể của người tiểu thư bầm dập và trầy xước rất nhiều. Việc thi thể bị nhét thốc lên ống khói là lời giải thích hoàn toàn thỏa đáng cho những vết tích này. Vùng cổ bị trầy xước nặng nề. Có một số vết cào sâu ngay bên dưới cằm, kèm theo một chuỗi các vết bầm tím rõ ràng là dấu ấn của những ngón tay. Khuôn mặt biến dạng kinh hoàng, và đôi nhãn cầu lồi ra. Lưỡi bị cắn đứt một phần. Một vết bầm lớn được phát hiện ngay trên vùng thượng vị, có vẻ do sức ép của một đầu gối gây ra. Theo quan điểm của bác sĩ Dumas, tiểu thư L’Espanaye đã bị bóp cổ đến chết bởi một hoặc nhiều kẻ chưa rõ danh tính. Thi thể người mẹ bị tàn phá một cách kinh hoàng. Toàn bộ xương ở chân phải và tay phải đều ít nhiều bị dập nát. Xương ống chân trái vỡ vụn thành nhiều mảnh, cùng toàn bộ các xương sườn bên trái. Toàn bộ cơ thể bầm tím và đổi màu khủng khiếp. Không thể xác định những thương tích ấy đã bị gây ra bằng cách nào. Một khúc côn gỗ nặng, hoặc một thanh sắt dẹp — một chiếc ghế — bất kỳ hung khí nào lớn, nặng và có cạnh tù đều có thể tạo ra những hậu quả như thế, nếu vung lên bởi đôi tay của một kẻ cực kỳ khỏe mạnh. Không người phụ nữ nào có thể gây ra những cú đánh đó bằng bất kỳ loại hung khí nào. Phần đầu của nạn nhân, khi được nhân chứng nhìn thấy, đã lìa hoàn toàn khỏi thân thể và cũng bị dập nát nghiêm trọng. Vùng cổ rõ ràng bị cắt bằng một dụng cụ rất bén — có lẽ là dao cạo.
Alexandre Etienne, bác sĩ phẫu thuật, được gọi cùng bác sĩ Dumas đến quan sát các thi thể. Xác nhận lại lời khai và các nhận định của bác sĩ Dumas.
Không có thêm điều gì quan trọng được khai thác thêm, dẫu cho một số cá nhân khác đã được thẩm vấn. Một vụ án mạng đầy bí ẩn và rắc rối trong từng chi tiết chưa từng xảy ra ở Paris trước đây — nếu quả thực đây thực sự là một vụ án mạng. Cảnh sát hoàn toàn bế tắc — một hiện tượng bất thường trong các vụ việc kiểu này. Tuy nhiên, vẫn chưa xuất hiện dù chỉ là cái bóng của một manh mối.”
Số báo phát hành buổi tối cho biết sự xôn xao lớn vẫn tiếp tục bao trùm khu Quartier St. Roch — rằng cơ ngơi nói trên đã được lục soát lại một cách cẩn thận và những cuộc thẩm vấn nhân chứng mới đã được tiến hành, nhưng tất cả đều vô ích. Tuy nhiên, một phần tái bút đề cập rằng Adolphe Le Bon đã bị bắt giữ và tống giam — dẫu chẳng có gì tỏ ra buộc tội anh ta ngoài những chi tiết đã được trình bày.
Dupin tỏ ra vô cùng hứng thú với tiến triển của vụ án này — ít nhất tôi phán đoán vậy qua thái độ của anh, bởi anh không đưa ra bất kỳ lời bình luận nào. Chỉ sau khi có thông báo rằng Le Bon đã bị giam giữ, anh mới hỏi ý kiến của tôi về các vụ án mạng.
Tôi chỉ có thể đồng tình với toàn bộ thành phố Paris khi coi đây là một bí ẩn không thể giải đáp. Tôi không thấy có cách nào để có thể lần ra kẻ sát nhân.
“Chúng ta không được phép đánh giá các phương tiện,” Dupin nói, “thông qua cái lớp vỏ ngoài của cuộc điều tra này. Cảnh sát Paris, những kẻ được ca tụng hết lời về sự sắc sảo, thực ra chỉ láu cá chứ chẳng hơn gì. Chẳng có phương pháp nào trong hành tung của họ, ngoại trừ cái phương pháp tùy cơ ứng biến của từng thời điểm. Họ gióng trống khua chiêng thật lớn về các biện pháp; nhưng không ít lần, những biện pháp ấy lại lạc điệu đến mức khiến ta liên tưởng đến việc Monsieur Jourdain đòi lấy chiếc áo ngủ của mình — pour mieux entendre la musique (để nghe nhạc cho rõ hơn). Những kết quả mà họ đạt được không hiếm khi khiến người ta ngạc nhiên, nhưng phần lớn đều được tạo ra nhờ sự chuyên cần và hoạt bát đơn thuần. Khi những phẩm chất đó trở nên vô dụng, kế sách của họ phá sản. Vidocq chẳng hạn, là một kẻ đoán mò giỏi và là một người kiên trì. Nhưng thiếu đi tư duy được giáo dục bài bản, hắn liên tục phạm sai lầm chính bởi sự cuồng nhiệt trong các cuộc điều tra của mình. Hắn làm tổn hại tầm nhìn của bản thân bằng cách giữ đối tượng quá sát mắt. Hắn có thể nhìn thấy, có lẽ, một hoặc hai điểm với độ rõ nét bất thường, nhưng làm thế, hắn tất yếu đánh mất cái nhìn tổng thể về vấn đề. Thế nên trên đời mới có cái gọi là quá uyên bác. Chân lý không phải lúc nào cũng nằm dưới đáy giếng. Thực ra, xét về những kiến thức quan trọng hơn, tôi thực sự tin rằng nó luôn luôn nằm ở bề mặt. Chiều sâu nằm ở những thung lũng nơi chúng ta tìm kiếm nó, chứ không phải trên những đỉnh núi nơi nó hiện diện. Các phương thức và nguồn cơn của kiểu sai lầm này được minh họa rất rõ qua việc ngắm nhìn các thiên thể. Nhìn một ngôi sao bằng những cái liếc — quan sát nó theo góc chéo, bằng cách hướng phần rìa ngoài của võng mạc (nơi nhạy cảm hơn với những ấn tượng ánh sáng yếu ớt so với phần bên trong) về phía nó — chính là nhìn thấy ngôi sao một cách rõ ràng nhất — chính là có được sự đánh giá tốt nhất về ánh sáng của nó — một thứ ánh sáng sẽ mờ dần đi đúng tỷ lệ thuận với việc chúng ta hướng trọn ánh nhìn vào nó. Một lượng tia sáng thực sự rơi vào mắt nhiều hơn trong trường hợp sau, nhưng ở trường hợp trước, lại có năng lực thấu hiểu tinh tế hơn. Bằng sự uyên bác thái quá, chúng ta làm rối loạn và suy yếu tư duy; và thậm chí người ta có thể khiến cả nữ thần Venus biến mất khỏi bầu trời đêm chỉ bằng một cú săm soi quá kéo dài, quá tập trung, hoặc quá trực diện.
Còn về những vụ án mạng này, hãy tự mình tiến hành một vài cuộc điều tra trước khi đưa ra ý kiến về chúng. Cuộc khảo sát sẽ mang lại cho chúng ta chút niềm vui,” [tôi nghĩ đây là một từ kỳ lạ khi được dùng trong hoàn cảnh này, nhưng không nói gì] “và vả lại, Le Bon từng làm ơn cho tôi một lần mà tôi vẫn ghi lòng tạc dạ. Chúng ta sẽ đến tận nơi và tận mắt chứng kiến hiện trường. Tôi quen G——, viên Tổng giám thị Cảnh sát, và sẽ chẳng gặp chút khó khăn nào trong việc xin giấy phép cần thiết.”
Giấy phép đã được cấp, và chúng tôi lập tức tiến thẳng đến phố Morgue. Đây là một trong những con đường tồi tàn nằm chen giữa phố Richelieu và phố St. Roch. Đã muộn vào buổi chiều khi chúng tôi đến nơi, bởi khu phố này nằm cách xa nơi chúng tôi ở. Ngôi nhà được tìm thấy rất dễ dàng; bởi vẫn còn rất nhiều kẻ đang ngước nhìn lên những khung cửa sổ đóng kín với sự tò mò vô định từ phía bên kia đường. Đó là một ngôi nhà Paris bình thường, có một lối cổng vòm, một bên là bốt gác có kính với ô cửa sổ trượt, biểu thị cho phòng trực của người gác cổng. Trước khi bước vào, chúng tôi đi ngược lên phố, rẽ vào một con hẻm, rồi lại rẽ lần nữa để đi vòng ra phía sau tòa nhà — trong khi Dupin tỉ mỉ quan sát toàn bộ khu vực lân cận cũng như ngôi nhà với sự tập trung chi tiết mà tôi hoàn toàn không hiểu nổi mục đích để làm gì.
Lần ngược lại bước chân, chúng tôi quay lại mặt tiền của ngôi nhà, bấm chuông, và sau khi trình giấy tờ tùy thân, được các đặc vụ đang túc trực ở đó cho phép vào trong. Chúng tôi đi lên lầu — vào căn phòng nơi thi thể tiểu thư L’Espanaye được tìm thấy, và nơi cả hai nạn nhân vẫn đang nằm. Sự hỗn loạn trong phòng, theo lệ thường, vẫn được giữ nguyên trạng. Tôi chẳng thấy gì ngoài những gì đã được nêu trên tờ “Gazette des Tribunaux.” Dupin soi xét từng chi tiết — không ngoại trừ cả thi thể của các nạn nhân. Chúng tôi sau đó đi sang các phòng khác và ra khoảng sân; một cảnh binh đồng hành cùng chúng tôi suốt dọc đường. Cuộc khám xét kéo dài cho đến tận chốc tối, khi chúng tôi cáo lui. Trên đường về nhà, người bạn tôi ghé vào văn phòng của một tờ nhật báo trong chốc lát.
Tôi từng nói rằng những hứng thú bất chợt của người bạn tôi rất đa dạng, và rằng Je les ménageais (tôi luôn dung túng cho chúng): — cụm từ này hoàn toàn không có từ tương đương trong tiếng Anh. Tâm trạng của anh lúc này là từ chối mọi cuộc trò chuyện về chủ đề vụ án mạng cho đến khoảng trưa ngày hôm sau. Khi ấy, anh đột nhiên hỏi tôi có quan sát thấy điều gì kỳ lạ tại hiện trường của vụ tàn sát hay không.
Có một điều gì đó trong cách anh nhấn mạnh từ “kỳ lạ” đã khiến tôi rùng mình, dẫu chẳng hiểu vì sao.
“Không, chẳng có gì kỳ lạ cả,” tôi nói; “chẳng có gì hơn ngoài những gì cả hai chúng ta đã thấy tường thuật trên báo.”
“Tờ ‘Gazette’,” anh đáp, “có lẽ đã không đi sâu vào sự kinh hoàng bất thường của vụ việc. Nhưng hãy dạt bỏ những ý kiến vẩn vơ của ấn phẩm này sang một bên. Dường như bí ẩn này bị coi là không thể giải đáp, chính bởi cái lý do lẽ ra phải khiến nó được nhìn nhận là dễ dàng giải ý — ý tôi là cái tính chất quái đản trong các đặc điểm của nó. Cảnh sát bối rối trước sự vắng bóng hiển nhiên của động cơ — không phải động cơ của vụ án mạng — mà là động cơ của sự tàn bạo trong vụ án. Họ cũng đau đầu trước sự bất khả thi hiển nhiên trong việc dung hòa giữa những giọng nói tranh cãi được nghe thấy, với thực tế rằng chẳng có ai được phát hiện ở tầng lầu nào ngoài tiểu thư L’Espanaye bị ám sát, và rằng chẳng có lối tẩu thoát nào mà không bị nhóm người đi lên lầu phát hiện. Sự hỗn loạn điên cuồng của căn phòng; thi thể bị nhét thốc đầu cắm xuống ống khói; sự tàn phá khủng khiếp trên thi thể bà cụ; những cân nhắc này, cùng với những điều vừa được đề cập và những điểm khác mà tôi không cần kể tên, đã đủ sức làm tê liệt năng lực, đánh gục hoàn toàn sự sắc sảo vốn tự hào của các đặc vụ chính quyền. Họ đã sa vào cái bẫy sơ đẳng nhưng phổ biến là đánh đồng cái bất thường với cái uyên bác. Thế nhưng, chính nhờ những sự chệch hướng khỏi quỹ đạo thông thường này mà lý trí mới dò dẫm tìm đường, nếu có thể, trong cuộc hành trình kiếm tìm chân lý. Trong những cuộc điều tra như chúng ta đang theo đuổi lúc này, câu hỏi đặt ra không phải là ‘điều gì đã xảy ra,’ mà là ‘điều gì đã xảy ra mà chưa từng xảy ra bao giờ trước đây.’ Trên thực tế, sự dễ dàng mà tôi sẽ đạt tới, hoặc đã đạt tới, trong việc giải mã bí ẩn này lại tỷ lệ thuận với mức độ bất khả giải hiển nhiên của nó trong mắt cảnh sát.”
Tôi trân trân nhìn người nói trong sự kinh ngạc câm lặng.
“Bây giờ tôi đang chờ đợi,” anh tiếp lời, hướng ánh mắt về phía cửa căn phòng của chúng tôi — “tôi đang chờ đợi một kẻ, dường như có lẽ không phải là thủ phạm của những vụ tàn sát này, nhưng chắc chắn đã dính líu ít nhiều vào hành vi phạm tội đó. Về phần tồi tệ nhất của những tội ác đã được thực hiện, hắn ta có lẽ vô can. Tôi hy vọng phỏng đoán của mình là chính xác; bởi dựa vào đó, tôi đặt kỳ vọng sẽ giải mã được toàn bộ câu đố. Tôi đang tìm kiếm gã đàn ông đó ở đây — ngay căn phòng này — bất cứ khoảnh khắc nào. Đúng là hắn có thể không đến; nhưng xác suất hắn xuất hiện là rất cao. Nếu hắn đến, việc giữ chân hắn lại là điều bắt buộc. Đây là súng ngắn; và cả hai chúng ta đều biết cách sử dụng chúng khi hoàn cảnh đòi hỏi.”
Tôi cầm lấy những khẩu súng, hầu như chẳng biết mình đang làm gì, hay liệu có tin nổi những gì tai đang nghe thấy hay không, trong khi Dupin vẫn tiếp tục nói, tựa như đang độc thoại một mình. Tôi đã từng nhắc đến phong thái xa cách của anh trong những thời điểm như thế. Lời lẽ của anh hướng về phía tôi; nhưng giọng nói của anh, dẫu không hề lớn, lại mang cái ngữ điệu thường được dùng khi trò chuyện với một người ở khoảng cách rất xa. Đôi mắt anh, với biểu cảm vô hồn, chỉ chăm chú nhìn vào bức tường.
“Việc những giọng nói tranh cãi được nhóm người trên cầu thang nghe thấy,” anh nói, “không phải là giọng của chính hai người phụ nữ, đã được chứng minh hoàn toàn qua các lời khai. Điều này giải thoát chúng ta khỏi mọi nghi ngờ xung quanh vấn đề liệu bà cụ có thể đã tiêu diệt con gái trước rồi sau đó tự sát hay không. Tôi nhắc đến điểm này chủ yếu vì mục đích phương pháp luận; bởi sức mạnh của góa phụ L’Espanaye hoàn toàn không đủ để kham nổi nhiệm vụ nhét thi thể con gái lên ống khói như đã được tìm thấy; và bản chất những vết thương trên thân thể chính bà hoàn toàn loại trừ ý tưởng tự sát. Do đó, một vụ án mạng đã được thực hiện bởi một bên thứ ba; và những giọng nói tranh cãi chính là giọng của bên thứ ba đó. Giờ đây, tôi xin chuyển sự chú ý — không phải vào toàn bộ lời khai về những giọng nói ấy — mà vào điểm kỳ lạ trong những lời khai đó. Anh có quan sát thấy điều gì kỳ lạ xung quanh chúng không?”
Tôi nhận xét rằng, trong khi tất cả các nhân chứng đều đồng thuận khi cho rằng giọng khàn là giọng của một người Pháp, thì lại có rất nhiều sự bất đồng liên quan đến giọng sắc, hoặc theo cách gọi của một cá nhân nọ, là giọng thô ráp.
“Đó chính là bản thân lời khai,” Dupin nói, “nhưng nó không phải là điểm kỳ lạ của lời khai. Anh chẳng quan sát thấy điều gì mang tính phân định cả. Thế nhưng, vẫn có điều gì đó đáng để quan sát. Các nhân chứng, như anh nhận xét, đồng thuận về giọng khàn; họ hoàn toàn thống nhất ở điểm này. Nhưng đối với giọng sắc, điểm kỳ lạ không nằm ở việc họ bất đồng — mà là ở chỗ, trong khi một người Ý, một người Anh, một người Tây Ban Nha, một người Hà Lan và một người Pháp cùng cố gắng mô tả nó, thì mỗi người lại nhắc đến nó như là giọng của một người ngoại quốc. Mỗi người đều chắc chắn đó không phải là giọng của đồng hương mình. Mỗi người đều ví von nó — không phải với giọng của một cá nhân thuộc bất kỳ quốc gia nào mà họ thông thạo ngôn ngữ — mà là theo hướng ngược lại. Người Pháp phỏng đoán đó là giọng của một người Tây Ban Nha, và ‘có thể đã phân biệt được vài từ nếu ông ta thông thạo tiếng Tây Ban Nha.’ Người Hà Lan đinh ninh đó là giọng của một người Pháp; nhưng chúng ta thấy có đoạn ghi nhận rằng ‘do không hiểu tiếng Pháp nên nhân chứng này đã được thẩm vấn thông qua thông dịch viên.’ Người Anh nghĩ đó là giọng của một người Đức, và ‘không hiểu tiếng Đức.’ Người Tây Ban Nha ‘chắc chắn’ đó là giọng của một người Anh, nhưng ‘chỉ phán đoán hoàn toàn dựa vào ngữ điệu,’ ‘vì ông ta không có chút kiến thức nào về tiếng Anh.’ Người Ý tin đó là giọng của một người Nga, nhưng ‘chưa từng trò chuyện với một người bản xứ Nga nào.’ Một người Pháp thứ hai, hơn thế nữa, lại bất đồng với người thứ nhất, và quả quyết rằng đó là giọng của một người Ý; nhưng do không thông thạo thứ tiếng đó, cũng giống như người Tây Ban Nha, ông ta ‘bị thuyết phục bởi ngữ điệu.’ Giờ thì, cái giọng nói ấy phải kỳ lạ đến mức nào, để rồi những lời khai thế này có thể được rút ra từ đó! — mà ngay trong âm điệu của nó, những cư dân thuộc năm đại lục của châu Âu chẳng thể nhận ra bất kỳ điều gì quen thuộc! Anh sẽ bảo rằng đó có thể là giọng của một người châu Á — của một người châu Phi. Cả người châu Á lẫn châu Phi đều không phổ biến ở Paris; nhưng không hề phủ nhận suy luận đó, giờ đây tôi chỉ muốn thu hút sự chú ý của anh vào ba điểm. Giọng nói được một nhân chứng gọi là ‘thô ráp thay vì sắc bén.’ Nó được hai nhân chứng khác mô tả là ‘nhanh và ngắt quãng.’ Không một từ ngữ nào — không một âm thanh nào giống như từ ngữ — được bất kỳ nhân chứng nào nhắc đến là có thể phân biệt được.
Tôi không rõ,” Dupin tiếp lời, “mình đã tạo ra ấn tượng gì, cho đến lúc này, trong nhận thức của anh; nhưng tôi không ngần ngại nói rằng những suy luận hợp lý thậm chí chỉ từ phần này của lời khai — phần liên quan đến giọng khàn và giọng sắc — tự bản thân chúng đã đủ sức nảy sinh một sự nghi ngờ dẫn đường cho mọi bước tiến tiếp theo trong cuộc điều tra bí ẩn này. Tôi đã nói ‘những suy luận hợp lý;’ nhưng ý tôi không được diễn đạt đầy đủ như thế. Tôi muốn hàm ý rằng những suy luận đó là những suy luận đúng đắn duy nhất, và rằng sự nghi ngờ nảy sinh một cách tất yếu từ chúng như là kết quả đơn thuần duy nhất. Tuy nhiên, sự nghi ngờ đó là gì, tôi sẽ chưa vội nói ra lúc này. Tôi chỉ muốn anh ghi nhớ rằng, đối với bản thân tôi, nó đủ mạnh mẽ để mang lại một hình thái xác định — một khuynh hướng nhất định — cho các cuộc điều tra của tôi trong căn phòng.
Giờ đây, hãy tưởng tượng chúng ta dịch chuyển bản thân vào căn phòng này. Điều đầu tiên chúng ta sẽ tìm kiếm ở đây là gì? Phương tiện tẩu thoát mà những kẻ sát nhân đã sử dụng. Sẽ không quá lời khi nói rằng không ai trong chúng ta tin vào những sự kiện siêu nhiên. Bà và tiểu thư L’Espanaye không bị tiêu diệt bởi các linh hồn. Những kẻ thực hiện hành vi là những thực thể vật chất, và đã tẩu thoát theo phương thức vật chất. Vậy bằng cách nào? Thật may mắn, chỉ có duy nhất một cách tư duy về điểm này, và cách đó buộc chúng ta phải đi đến một quyết định dứt khoát. Hãy cùng kiểm tra từng khả năng về phương tiện tẩu thoát. Rõ ràng là những kẻ sát nhân đã ở trong căn phòng nơi tìm thấy thi thể tiểu thư L’Espanaye, hoặc ít nhất là ở căn phòng liền kề, khi nhóm người đi lên lầu. Do đó, chỉ từ hai căn phòng này chúng ta mới phải tìm kiếm các lối thoát. Cảnh sát đã lật tung sàn nhà, trần nhà và lớp gạch đá trên tường ở mọi hướng. Không thể có bất kỳ lối thoát bí mật nào lọt lưới sự cảnh giác của họ. Nhưng không đặt trọn niềm tin vào mắt họ, tôi đã tự mình kiểm tra. Và quả thực, không có lối thoát bí mật nào cả. Cả hai cánh cửa dẫn từ các phòng ra hành lang đều được khóa chặt, với chìa khóa cắm ở mặt trong. Hãy chuyển hướng sang các ống khói. Những ống khói này, dẫu có chiều rộng bình thường ở khoảng tám hay mười tính từ lò sưởi lên, nhưng xuyên suốt chiều dài của chúng, không thể lọt qua nổi thi thể của một con mèo lớn. Sự bất khả thi trong việc tẩu thoát bằng những phương tiện đã nêu do đó là tuyệt đối, buộc chúng ta phải dồn sự chú ý vào các cửa sổ. Qua những khung cửa sổ của căn phòng phía trước, không ai có thể tẩu thoát mà không bị đám đông dưới đường phát hiện. Do đó, những kẻ sát nhân hẳn đã tẩu thoát qua những khung cửa sổ của căn phòng phía sau. Giờ đây, khi đã bị đẩy đến kết luận này một cách rạch ròi như vậy, với tư cách là những nhà tư duy, chúng ta không được phép chối bỏ nó chỉ vì những điều có vẻ bất khả thi trước mắt. Việc duy nhất còn lại cho chúng ta là chứng minh rằng những ‘sự bất khả thi’ bề ngoài đó, thực chất lại không phải là như vậy.
Có hai cửa sổ trong căn phòng. Một trong số đó không bị đồ đạc che khuất và hoàn toàn có thể nhìn thấy rõ. Phần dưới của cửa sổ kia bị che khuất khỏi tầm nhìn bởi phần đầu của chiếc giường cồng kềnh được kê sát vào nó. Cửa sổ thứ nhất được tìm thấy đã cài chặt từ bên trong. Nó chống lại mọi nỗ lực tối đa của những kẻ cố gắng kéo nó lên. Một lỗ khoan xoắn ốc lớn đã được khoét vào khung bên trái của nó, và một chiếc đinh rất chắc chắn được tìm thấy gắn chặt trong đó, gần như ngập đến tận đầu đinh. Khi kiểm tra cửa sổ còn lại, một chiếc đinh tương tự cũng được phát hiện được gắn theo cách tương tự; và nỗ lực mạnh mẽ nhằm đẩy khung cửa sổ này lên cũng thất bại. Lúc bấy giờ cảnh sát hoàn toàn chắc chắn rằng không có cuộc tẩu thoát nào diễn ra theo những hướng này. Và vì thế, họ cho rằng việc rút những chiếc đinh ra và mở các cửa sổ là điều thừa thãi.
Cuộc kiểm tra của chính tôi có phần kỹ lưỡng hơn, và lý do cũng chính vì điều tôi vừa nêu — bởi tại đây, tôi biết rằng mọi sự bất khả thi bề ngoài đều phải được chứng minh là thực chất không hề bất khả thi.
Tôi tiến hành suy luận ngược lại — a posteriori. Những kẻ sát nhân thực sự đã tẩu thoát qua một trong những khung cửa sổ này. Đã vậy, chúng không thể tự cài lại các khung cửa sổ từ bên trong theo cách mà người ta tìm thấy chúng; — chính sự cân nhắc này, vì quá hiển nhiên, đã chặn đứng sự soi xét của cảnh sát ở khu vực này. Thế nhưng các khung cửa sổ vẫn bị cài chặt. Vậy thì chúng buộc phải có khả năng tự cài lại. Không thể né tránh kết luận này. Tôi bước đến khung cửa sổ không bị che khuất, rút chiếc đinh ra với chút khó khăn và thử đẩy khung cửa lên. Nó chống lại mọi nỗ lực của tôi, đúng như tôi đã dự đoán. Giờ đây tôi biết rằng phải có một chiếc lò xo ẩn tồn tại; và sự củng cố này cho ý tưởng của tôi đã thuyết phục tôi rằng các tiền đề của mình ít nhất là chính xác, dù cho những tình tiết xung quanh những chiếc đinh trông vẫn có vẻ kỳ bí đến đâu đi nữa.
Một cuộc tìm kiếm cẩn thận nhanh chóng đưa ra ánh sáng chiếc lò xo ẩn giấu. Tôi nhấn vào nó, và hài lòng với phát hiện này, tôi kìm lại không đẩy khung cửa lên nữa.
Giờ đây tôi đặt lại chiếc đinh vào chỗ cũ và chăm chú quan sát nó. Một kẻ trốn ra ngoài qua khung cửa sổ này có thể đã khép nó lại, và chiếc lò xo sẽ tự sập chốt — nhưng chiếc đinh thì không thể được lắp lại như cũ. Kết luận thật rõ ràng, và một lần nữa thu hẹp phạm vi điều tra của tôi. Những kẻ sát nhân hẳn đã tẩu thoát qua khung cửa sổ còn lại. Do đó, giả sử các lò xo trên mỗi khung cửa sổ đều giống nhau, như điều rất có thể xảy ra, thì phải có sự khác biệt giữa những chiếc đinh, hoặc ít nhất là giữa phương thức cố định chúng. Trèo lên tấm đệm giường, tôi tỉ mỉ nhìn qua tấm ván đầu giường để quan sát khung cửa sổ thứ hai. Đưa tay luồn xuống phía sau tấm ván, tôi dễ dàng tìm thấy và nhấn vào chiếc lò xo, vốn dĩ, đúng như tôi dự đoán, có đặc tính y hệt như chiếc bên cạnh. Giờ tôi quan sát chiếc đinh. Nó dày dặn y hệt chiếc kia, và thoạt nhìn được lắp theo cùng một cách — được đóng gần như ngập đến tận đầu đinh.
Anh sẽ bảo rằng tôi đang bối rối; nhưng nếu anh nghĩ vậy, hẳn anh đã hiểu lầm bản chất của các phép quy nạp. Dùng một thành ngữ thể thao, tôi chưa từng bị ‘mất dấu’ lần nào cả. Vết dấu chưa bao giờ bị mất dù chỉ trong khoảnh khắc. Không có chút sơ hở nào trong bất kỳ mắt xích nào của chuỗi suy luận. Tôi đã lần theo bí ẩn cho đến kết quả cuối cùng của nó — và kết quả đó chính là chiếc đinh. Tôi xin nhắc lại, nó mang trọn vẹn vẻ bề ngoài của chiếc đinh đồng hành bên cửa sổ kia; nhưng thực tế này hoàn toàn vô nghĩa (dù nó có vẻ thuyết phục đến đâu) khi so sánh với cân nhắc rằng tại đây, chính tại điểm này, manh mối đã chấm dứt. ‘Phải có điều gì đó bất ổn,’ tôi tự nhủ, ‘về chiếc đinh.’ Tôi chạm vào nó; và phần đầu đinh, cùng với khoảng một phần tư inch phần thân đinh, đã tuột ra trong những ngón tay tôi. Phần thân còn lại vẫn nằm trong lỗ khoan nơi nó bị gãy đứt. Vết gãy là một vết gãy cũ (vì các rìa của nó đã bám đầy rỉ sét), và rõ ràng đã được thực hiện bằng một cú búa, thứ đã đóng ngập một phần phần đầu đinh vào đỉnh của khung cửa sổ dưới. Giờ đây tôi cẩn thận đặt lại phần đầu đinh vào cái vết lõm nơi tôi vừa lấy nó ra, và sự giống nhau với một chiếc đinh hoàn hảo là tuyệt đối — khe nứt hoàn toàn vô hình. Nhấn vào chiếc lò xo, tôi nhẹ nhàng đẩy khung cửa sổ lên vài inch; phần đầu đinh đi theo nó lên trên, vẫn nằm chắc chắn trong chiếc giường của nó. Tôi đóng cửa sổ lại, và hình dạng của toàn bộ chiếc đinh lại hoàn hảo như trước.
Đến đây, câu đố đã được giải đáp. Kẻ sát nhân đã tẩu thoát qua khung cửa sổ nhìn ra chiếc giường. Tự động sập xuống khi hắn tẩu thoát (hoặc có lẽ được cố tình khép lại), nó đã tự cài chốt nhờ chiếc lò xo; và chính sự tồn tại của chiếc chốt lò xo này đã bị cảnh sát nhầm tưởng là do chiếc đinh — do đó mọi cuộc điều tra xa hơn bị cho là không cần thiết.
Câu hỏi tiếp theo là phương thức trèo xuống. Về điểm này, tôi đã cảm thấy thỏa mãn trong buổi dạo bước cùng anh quanh tòa nhà. Cách khung cửa sổ đang xét chừng năm thước rưỡi có một đường dây thu lôi vắt qua. Từ đường dây này, sẽ là bất khả thi đối với bất kỳ ai để với tới bản thân khung cửa sổ, chưa nói đến chuyện chui vào trong. Tuy nhiên, tôi quan sát thấy các tấm cửa chớp ở tầng bốn thuộc loại đặc biệt được các thợ mộc Paris gọi là ferrades — một loại hiếm khi được sử dụng ngày nay, nhưng thường được nhìn thấy trên các dinh thự rất cổ ở Lyons và Bordeaux. Chúng có hình dáng của một cánh cửa thông thường (một cánh đơn, không phải cửa gập), ngoại trừ việc nửa phía dưới được đan ô lưới hoặc làm bằng các thanh đan hở — nhờ thế cung cấp chỗ bám tuyệt vời cho đôi tay. Trong trường hợp hiện tại, những tấm cửa chớp này rộng tới ba thước rưỡi. Khi chúng ta nhìn thấy chúng từ phía sau ngôi nhà, cả hai đều ở trạng thái mở một nửa — nghĩa là chúng vuông góc với bức tường. Rất có thể cảnh sát, cũng như tôi, đã kiểm tra mặt sau của tòa nhà; nhưng nếu vậy, khi nhìn vào những chiếc ferrades này theo chiều dọc của bề rộng (điều mà họ chắc chắn đã làm), họ đã không nhận ra bề rộng lớn đó, hoặc bằng cách nào đó, đã không đưa nó vào sự cân nhắc đúng mức. Thực tế, một khi đã tự thuyết phục bản thân rằng không có lối tẩu thoát nào được thực hiện từ hướng này, họ tự nhiên sẽ chỉ dành cho nơi đây một cuộc kiểm tra vô cùng hời hợt. Tuy nhiên, đối với tôi, rõ ràng là tấm cửa chớp thuộc về khung cửa sổ ngay đầu giường, nếu được đẩy mở sát hoàn toàn vào tường, sẽ vươn tới khoảng cách chỉ cách đường dây thu lôi hai thước. Cũng hiển nhiên rằng, bằng việc vận dụng một mức độ hoạt bát và dũng cảm phi thường, việc đột nhập vào cửa sổ từ đường dây đó hoàn toàn có thể thực hiện được theo cách này. Bằng cách với tới khoảng cách hai thước rưỡi (giờ chúng ta giả định tấm cửa chớp mở hết cỡ), một tên trộm có thể bám thật chắc vào cấu trúc ô lưới. Sau đó, buông tay bám khỏi đường dây, tì chặt đôi chân vào tường và tung người nhảy mạnh từ đó, hắn có thể vung tấm cửa chớp lại để đóng nó vào, và nếu ta tưởng tượng cửa sổ lúc đó đang mở, thậm chí hắn có thể vung cả thân mình vào trong phòng.
Tôi muốn anh ghi nhớ đặc biệt rằng tôi đã nhắc đến một mức độ hoạt bát vô cùng phi thường là điều kiện cần thiết để thành công trong một kỳ tích mạo hiểm và khó khăn đến thế. Mục đích của tôi là cho anh thấy, trước tiên, rằng sự việc hoàn toàn có thể đã được thực hiện: — nhưng thứ hai và quan trọng hơn hết, tôi muốn khắc sâu vào nhận thức của anh tính chất vô cùng phi thường — gần như mang tầm vóc siêu nhiên — của sự dẻo dai đã có thể thực hiện được điều đó.
Không nghi ngờ gì nữa, anh sẽ dùng ngôn từ của luật pháp để bảo rằng ‘để chứng minh cho quan điểm của mình,’ tôi nên đánh giá thấp thay vì khăng khăng đòi ước tính đầy đủ về mức độ hoạt bát được yêu cầu trong vấn đề này. Đó có thể là thông lệ trong pháp luật, nhưng không phải là quy tắc của lý trí. Mục tiêu tối hậu của tôi chỉ là chân lý. Mục đích trước mắt của tôi là dẫn dắt anh đặt song song cái mức độ hoạt bát phi thường mà tôi vừa nhắc đến với cái giọng sắc (hoặc thô ráp) vô cùng kỳ lạ và ngắt quãng đó, thứ giọng mà không thể tìm thấy hai người nào đồng ý với nhau về quốc tịch của nó, và trong cách phát âm của nó không thể dò ra bất kỳ âm tiết nào.
Trước những lời này, một ý niệm mơ hồ và hình thành một nửa về ý nghĩa của Dupin lướt qua tâm trí tôi. Tôi cảm thấy mình đang đứng bên bờ vực của sự thấu hiểu nhưng lại không đủ sức để thấu hiểu — giống như con người ta đôi khi tự thấy mình đang ở mép ranh giới của ký ức nhưng rốt cuộc chẳng tài nào nhớ nổi. Người bạn tôi tiếp tục câu chuyện.
“Anh sẽ thấy,” anh nói, “rằng tôi đã chuyển dịch câu hỏi từ phương thức tẩu thoát sang phương thức đột nhập. Ý định của tôi là truyền đạt ý tưởng rằng cả hai đều được thực hiện theo cùng một phương thức, tại cùng một điểm. Giờ đây, hãy quay trở lại phần nội thất của căn phòng. Hãy quan sát những hiện tượng ở đây. Các ngăn của chiếc tủ hộc đứng, theo lời kể, đã bị lục soát, dẫu cho rất nhiều món đồ trang phục vẫn còn lại bên trong. Kết luận ở đây thật ngớ ngẩn. Đó chỉ là một phỏng đoán thuần túy — một phỏng đoán ngớ ngẩn — chứ chẳng hơn gì. Làm sao chúng ta biết rằng những món đồ được tìm thấy trong các ngăn kéo không phải là tất cả những gì những ngăn kéo này vốn chứa đựng từ đầu? Góa phụ L’Espanaye và con gái sống một cuộc đời vô cùng ẩn dật — không tiếp khách — hiếm khi ra ngoài — có rất ít nhu cầu về những bộ trang phục phong phú. Những món đồ được tìm thấy ít nhất cũng có chất lượng tương đương bất kỳ thứ gì có khả năng được sở hữu bởi những quý bà này. Nếu một tên trộm lấy đi vài món, tại sao hắn không lấy những món đẹp nhất — tại sao hắn không lấy tất cả? Nói một cách ngắn gọn, tại sao hắn lại bỏ lại bốn nghìn franc tiền vàng để chuốc lấy sự vướng víu với một bọc vải lanh? Số vàng đã bị bỏ lại. Hầu như toàn bộ số tiền được nhắc tới bởi Monsieur Mignaud, chủ ngân hàng, đã được phát hiện nằm trong những chiếc túi trên sàn nhà. Do đó, tôi muốn anh loại bỏ khỏi tâm trí mình cái ý tưởng ngốc nghếch về động cơ, vốn nảy sinh trong bộ óc của cảnh sát bởi phần lời nhắc đến số tiền được giao tận cửa nhà. Những sự trùng hợp ngẫu nhiên lớn gấp mười lần thế này (việc giao số tiền, và vụ án mạng xảy ra chỉ trong vòng ba ngày đối với người nhận nó), vẫn xảy ra với tất cả chúng ta mỗi giờ trong đời, mà chẳng thu hút lấy dù chỉ một khoảnh khắc chú ý. Nhìn chung, những sự trùng hợp luôn là những vật cản lớn ngáng đường tầng lớp những nhà tư duy chưa từng được giáo dục để hiểu biết gì về lý thuyết xác suất — lý thuyết mà những đối tượng vinh quang nhất của nghiên cứu nhân loại phải mang ơn sâu sắc nhất để có được những minh họa rực rỡ nhất. Trong trường hợp hiện tại, giả sử số vàng đã biến mất, thực tế về việc nó được giao ba ngày trước đó sẽ cấu thành một thứ vượt lên trên cả sự trùng hợp ngẫu nhiên. Nó sẽ mang tính củng cố cho ý tưởng về động cơ này. Nhưng dưới những tình tiết thực tế của vụ án, nếu chúng ta giả định vàng là động cơ của sự phẫn nộ này, chúng ta cũng buộc phải tưởng tượng kẻ thủ ác là một tên đần độn dao động đến mức vứt bỏ cả vàng lẫn động cơ của mình cùng một lúc.
Giờ đây, khi vẫn giữ vững trong tâm trí những điểm tôi vừa thu hút sự chú ý của anh — cái giọng nói kỳ lạ đó, sự dẻo dai phi thường đó, và sự vắng bóng động cơ đáng sửng sốt trong một vụ án mạng kỳ lạ và tàn bạo đến thế này — chúng ta hãy liếc nhìn chính hành vi tàn sát đó. Ở đây có một người phụ nữ bị bóp cổ đến chết bởi sức mạnh thể xác, và bị nhét thốc lên ống khói với phần đầu cắm xuống dưới. Những tên sát nhân thông thường không sử dụng những phương thức giết người như thế này. Hơn hết thảy, chúng không hề xử lý nạn nhân theo cách đó. Trong cách nhét thi thể lên ống khói, anh sẽ phải thừa nhận rằng có điều gì đó vô cùng quái đản — điều gì đó hoàn toàn không thể dung hòa với những quan niệm thông thường của chúng ta về hành động của con người, ngay cả khi ta giả định những kẻ thực hiện là những con người đồi bại nhất. Hãy thử nghĩ xem, sức mạnh lớn đến nhường nào mới có thể nhét thi thể lên qua một cái khe hẹp như thế với lực mạnh đến mức sự hợp lực của nhiều người mới vừa đủ để kéo nó xuống!
Giờ hãy chuyển hướng sang những chỉ dấu khác về việc sử dụng một sức mạnh vô cùng kỳ diệu. Trên lò sưởi có những lọn tóc dày — những lọn tóc rất dày — màu xám của con người. Chúng đã bị giật đứt ra tận gốc. Anh thừa biết sức mạnh lớn đến nhường nào mới có thể giật ra khỏi đầu dù chỉ hai mươi hoặc ba mươi sợi tóc cùng lúc. Anh đã nhìn thấy những lọn tóc đó cũng như tôi. Chân tóc của chúng (một cảnh tượng kinh hoàng!) bết dính những mảnh thịt da đầu — bằng chứng chắc chắn về thứ quyền năng phi thường đã được vận dụng để nhổ bật gốc có lẽ nửa triệu sợi tóc trong một lần. Cổ của bà cụ không chỉ bị cắt, mà phần đầu còn bị chém đứt hoàn toàn khỏi thân thể: hung khí chỉ là một cây dao cạo đơn thuần. Tôi cũng muốn anh nhìn vào sự tàn bạo dã man của những hành động này. Tôi không nhắc đến những vết bầm trên cơ thể góa phụ L’Espanaye. Bác sĩ Dumas và vị cộng sự đáng kính của ông, bác sĩ Etienne, đã tuyên bố rằng chúng bị gây ra bởi một hung khí cùn; và xét về điểm này, các vị ấy hoàn toàn chính xác. Hung khí cùn đó rõ ràng chính là mặt sân lát đá bên dưới, nơi nạn nhân đã rơi xuống từ khung cửa sổ nhìn ra chiếc giường. Ý tưởng này, dù thoạt trông có vẻ đơn giản, đã qua mặt cảnh sát cũng chính bởi cái lý do khiến bề rộng của những cánh cửa chớp qua mặt họ — bởi vì qua vụ việc của những chiếc đinh, nhận thức của họ đã bị bịt kín hoàn toàn trước khả năng những cánh cửa sổ từng có thể mở ra.
Nếu giờ đây, ngoài tất cả những điều này, anh đã suy ngẫm thấu đáo về sự hỗn loạn kỳ quặc của căn phòng, chúng ta đã tiến xa đến mức kết hợp được các ý niệm: một sự dẻo dai kinh ngạc, một sức mạnh siêu phàm, một sự tàn bạo dã man, một cuộc tàn sát không có động cơ, một sự quái gở trong nỗi kinh hoàng hoàn toàn xa lạ với loài người, và một giọng nói mang âm điệu xa lạ đối với tai của con người thuộc nhiều quốc gia, hoàn toàn trống rỗng không có lấy một âm tiết rõ ràng hay dễ hiểu nào. Vậy kết quả cuối cùng là gì? Tôi đã tạo ra ấn tượng gì trong trí tưởng tượng của anh?”
Tôi cảm thấy da gà da cóc nổi lên khi Dupin đặt câu hỏi cho tôi. “Một kẻ điên,” tôi nói, “đã thực hiện hành vi này — một tên cuồng phong điên loạn nào đó, trốn thoát khỏi một Maison de Santé (trại tâm thần) gần đây.”
“Ở một số khía cạnh,” anh đáp, “ý tưởng của anh không phải là không liên quan. Nhưng giọng nói của những kẻ điên, ngay cả trong những cơn cuồng nộ dữ dội nhất của chúng, chưa bao giờ khớp với cái giọng kỳ lạ được nghe thấy trên cầu thang. Kẻ điên nào cũng thuộc về một quốc gia nào đó, và ngôn ngữ của chúng, dẫu các từ ngữ có bất luân thế nào đi nữa, vẫn luôn mang tính mạch lạc của các âm tiết. Hơn thế nữa, mái tóc của một kẻ điên không phải là thứ tôi đang cầm trên tay lúc này đây. Tôi đã gỡ lọn tóc nhỏ này ra từ những ngón tay đang co quắp cứng đờ của góa phụ L’Espanaye. Hãy nói cho tôi nghe anh có thể rút ra điều gì từ nó.”
“Dupin!” tôi thốt lên, hoàn toàn suy sụp tinh thần; “mái tóc này thật vô cùng bất thường — đây không phải là tóc người.”
“Tôi đâu có khẳng định nó là tóc người,” anh nói; “nhưng trước khi chúng ta quyết định điểm này, tôi muốn anh liếc nhìn bức phác thảo nhỏ mà tôi đã vẽ trên tờ giấy này. Đây là bản vẽ sao chép chính xác của thứ được mô tả trong một phần của lời khai là ‘những vết bầm đen, và những dấu ấn sâu hoắm của móng tay,’ trên cổ tiểu thư L’Espanaye, và ở phần khác (bởi các ngài Dumas và Etienne) là ‘một chuỗi các vết bầm, hiển nhiên là dấu ấn của những ngón tay.’
Anh sẽ nhận ra,” người bạn tôi tiếp lời, trải rộng tờ giấy lên chiếc bàn trước mặt chúng ta, “rằng bức vẽ này mang lại ý niệm về một cái bám chắc chắn và cố định. Không hề có biểu hiện của sự trượt ngã. Mỗi ngón tay đều giữ nguyên — có lẽ cho đến khi nạn nhân chết đi — cái nắm tay kinh hoàng mà qua đó nó đã ban đầu ấn sâu vào. Giờ đây, hãy thử đặt tất cả các ngón tay của anh, cùng một lúc, vào các vết hằn tương ứng như anh đang nhìn thấy trên hình.”
Tôi làm theo nhưng vô ích.
“Có lẽ chúng ta đang không áp dụng thử nghiệm này một cách công bằng,” anh nói. “Tờ giấy được trải phẳng trên một bề mặt phẳng; nhưng cổ con người lại có hình trụ. Đây là một khúc gỗ, có chu vi xấp xỉ cổ của nạn nhân. Hãy quấn bản vẽ quanh nó và thử lại thí nghiệm xem sao.”
Tôi đã làm vậy; nhưng sự khó khăn thậm chí còn rõ ràng hơn trước. “Thứ này,” tôi nói, “không phải là dấu vết của bất kỳ bàn tay con người nào.”
“Giờ thì hãy đọc,” Dupin đáp, “đoạn văn này từ Cuvier.”
Đó là một bản mô tả giải phẫu chi tiết và khái quát về loài vượn Đười ươi (Ourang-Outang) màu vàng sẫm lớn ở các đảo thuộc Đông Ấn. Vóc dáng khổng lồ, sức mạnh và sự dẻo dai phi thường, tính hung dữ dã man và bản năng bắt chước của loài động vật có vú này vốn đã đủ nổi tiếng với tất cả mọi người. Ngay lập tức, tôi thấu hiểu toàn bộ sự kinh hoàng của vụ án mạng.
“Bản mô tả về các ngón,” tôi nói khi đọc xong đoạn văn, “hoàn toàn trùng khớp với bản vẽ này. Tôi nhận ra rằng không có loài động vật nào ngoài một con Đười ươi, thuộc loài được nhắc tới ở đây, lại có thể để lại những vết hằn như anh đã phác thảo. Lọn tóc có sắc hung vàng này cũng có đặc tính y hệt như lông của con mãnh thú trong sách của Cuvier. Thế nhưng tôi hoàn toàn không tài nào hiểu nổi các chi tiết của bí ẩn kinh hoàng này. Hơn nữa, có tới hai giọng nói tranh cãi được nghe thấy, và một trong số đó không còn nghi ngờ gì nữa là giọng của một người Pháp.”
“Đúng thế; và anh sẽ nhớ lại một biểu cảm được quy kết gần như đồng thuận bởi các lời khai cho giọng nói này, — biểu cảm ‘mon Dieu!’. Trong hoàn cảnh đó, nó đã được mô tả một cách chính xác bởi một trong các nhân chứng (Montani, thợ làm bánh kẹo) là một biểu cảm phản đối hoặc can ngăn. Do đó, chính vào hai từ này, tôi đã xây dựng phần lớn hy vọng của mình về một lời giải đáp trọn vẹn cho câu đố. Một người Pháp đã hay biết về vụ án mạng. Rất có thể — quả thực là còn hơn thế nữa, là rất có khả năng — hắn vô can trong tất cả những hành vi đẫm máu đã diễn ra. Con Đười ươi có thể đã xổng chuồng khỏi tay hắn. Hắn có thể đã lần theo nó đến tận căn phòng; nhưng dưới những tình tiết đầy kích động sau đó, hắn không bao giờ có thể bắt lại nó được nữa. Nó vẫn đang nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật. Tôi sẽ không theo đuổi những phỏng đoán này — bởi tôi không có quyền gọi chúng hơn thế — vì những sắc thái phản tư làm nền tảng cho chúng hầu như không đủ độ sâu để có thể nhận thức được bởi chính trí tuệ của tôi, và vì tôi không thể giả vờ làm cho chúng trở nên dễ hiểu đối với nhận thức của người khác. Vậy chúng ta hãy gọi chúng là những phỏng đoán, và bàn về chúng như vậy. Nếu người đàn ông Pháp trong câu hỏi thực sự, đúng như tôi phỏng đoán, vô can trong sự tàn bạo này, thì tấm cáo thị mà tôi đã để lại tối qua, trên đường về nhà, tại văn phòng của tờ ‘Le Monde’ (một tờ báo chuyên về ngành hàng hải và được các thủy thủ rất săn đón), sẽ đưa hắn đến với căn hộ của chúng ta.”
Anh đưa cho tôi một mảnh giấy, và tôi đọc những dòng sau:
BẮT ĐƯỢC — Tại Bois de Boulogne, vào sáng sớm ngày —— tháng này, (buổi sáng xảy ra vụ án mạng), một con Đười ươi lớn, màu vàng sẫm thuộc giống loài vùng Borneo. Chủ nhân của nó (được xác định là một thủy thủ thuộc một con tàu xứ Malta) có thể nhận lại con vật, sau khi xác minh nó một cách thỏa đáng và chi trả một vài khoản phí phát sinh từ việc bắt giữ và nuôi dưỡng nó. Hãy ghé số ——, phố ——, Faubourg St. Germain — lầu ba.
“Làm sao anh có thể biết được,” tôi hỏi, “rằng gã đàn ông đó là một thủy thủ, và thuộc một con tàu xứ Malta?”
“Tôi không biết điều đó,” Dupin đáp. “Tôi không chắc chắn về nó. Tuy nhiên, đây là một đoạn ruy băng nhỏ, qua hình dáng và vẻ bóng dầu của nó, rõ ràng đã được dùng để buộc tóc thành một trong những chiếc đuôi sam dài mà các thủy thủ rất ưa chuộng. Hơn thế nữa, nút thắt này là thứ mà ít ai ngoài các thủy thủ có thể thắt được, và mang đặc trưng của người Malta. Tôi nhặt được chiếc ruy băng này dưới chân đường dây thu lôi. Nó không thể thuộc về bất kỳ ai trong hai nạn nhân. Giờ thì, nếu xét cho cùng, tôi suy luận sai từ chiếc ruy băng này rằng người đàn ông Pháp đó là một thủy thủ thuộc tàu Malta, thì tôi cũng chẳng gây ra tác hại gì khi nói những điều tôi đã viết trong cáo thị. Nếu tôi sai, hắn sẽ chỉ cho rằng tôi đã bị đánh lừa bởi một tình tiết nào đó mà hắn sẽ không buồn bận tâm gặng hỏi. Nhưng nếu tôi đúng, một điểm cực kỳ quan trọng đã đạt được. Dẫu hay biết nhưng vô can trong vụ án mạng, người đàn ông Pháp đó tự nhiên sẽ ngần ngại khi đáp lại cáo thị — khi đòi lại con Đười ươi. Hắn sẽ suy luận thế này: — ‘Mình vô can; mình nghèo; con Đười ươi của mình rất có giá trị — đối với hoàn cảnh của mình thì đó là một gia tài — tại sao mình lại phải đánh mất nó chỉ vì những nỗi lo sợ vẩn vơ về hiểm họa? Nó đây rồi, nằm trong tầm tay mình. Nó được tìm thấy ở Bois de Boulogne — ở một khoảng cách vô cùng lớn so với hiện trường của vụ tàn sát đó. Làm sao có thể ngờ rằng một con thú hoang lại thực hiện hành vi đó cơ chứ? Cảnh sát đang bế tắc — họ thất bại trong việc thu thập dù chỉ một manh mối nhỏ nhất. Ngay cả khi họ lần ra con vật, cũng sẽ là bất khả thi để chứng minh mình hay biết về vụ án mạng, hay liên đới mình vào tội ác chỉ vì sự hay biết đó. Hơn hết thảy, danh tính của mình đã bị lộ. Kẻ đăng cáo thị chỉ định mình là chủ sở hữu của con thú. Mình không chắc kiến thức của hắn ta kéo dài đến mức độ nào. Nếu mình tránh né việc nhận lại một tài sản có giá trị lớn nhường này, thứ mà người ta đã biết là mình sở hữu, mình sẽ khiến con vật ít nhất rơi vào sự nghi ngờ. Không phải chiến lược của mình khi thu hút sự chú ý vào bản thân hay con thú. Mình sẽ trả lời cáo thị, đón con Đười ươi về, và giấu kín nó cho đến khi chuyện này lắng xuống.’”
Vào khoảnh khắc đó, chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân vang lên trên cầu thang.
“Hãy sẵn sàng,” Dupin nói, “với những khẩu súng của anh, nhưng tuyệt đối không sử dụng cũng như không trưng chúng ra cho đến khi có tín hiệu từ tôi.”
Cửa trước của ngôi nhà đã được để ngỏ, và vị khách đã bước vào mà không bấm chuông, tiến lên vài bước trên cầu thang. Tuy nhiên, đến đây hắn dường như ngập ngừng. Chẳng mấy chốc chúng tôi nghe thấy tiếng hắn đang đi xuống. Dupin đang bước nhanh về phía cửa, thì chúng tôi lại nghe tiếng hắn quay ngược lên trở lại. Hắn không quay đầu lần thứ hai nữa, mà bước lên một cách dứt khoát, rồi gõ cửa căn phòng của chúng tôi.
“Mời vào,” Dupin cất tiếng bằng một giọng vui vẻ và đon đả.
Một người đàn ông bước vào. Rõ ràng hắn là một thủy thủ — một kẻ cao lớn, vạm vỡ và mang vóc dáng lực lưỡng, với một biểu cảm liều lĩnh nhất định trên khuôn mặt, nhìn chung không đến nỗi khó ưa. Khuôn mặt sạm nắng của hắn bị che khuất hơn một nửa bởi hàng ria mép và râu quai nón. Hắn mang theo một khúc côn bằng sồi khổng lồ, nhưng thoạt trông không có vẻ mang theo vũ khí nào khác. Hắn cúi đầu lúng túng và chào chúng tôi “chào buổi tối” bằng ngữ điệu tiếng Pháp, dù phảng phất chút âm sắc Neuchâtel, nhưng vẫn đủ để chỉ ra gốc gác Paris của hắn.
“Ngồi xuống đi, bạn tôi,” Dupin nói. “Tôi đoán là anh đến vì vụ con Đười ươi. Phải nói thật là tôi gần như ghen tị với anh vì quyền sở hữu nó; một con vật cực kỳ đẹp và chắc chắn là rất có giá trị. Anh đoán nó được mấy tuổi rồi?”
Gã thủy thủ hít một hơi thật dài, với phong thái của một người vừa trút bỏ được gánh nặng không tài nào chịu nổi, rồi đáp lại bằng một giọng đầy quả quyết:
“Tôi chẳng có cách nào biết được — nhưng nó không thể quá bốn hoặc năm tuổi. Các ngài giữ nó ở đây à?”
“Ồ không, chúng tôi làm gì có tiện nghi để nuôi giữ nó ở đây. Nó đang ở một chuồng ngựa cho thuê trên phố Dubourg, ngay gần đây thôi. Anh có thể đón nó vào buổi sáng. Tất nhiên là anh đã chuẩn bị để xác minh quyền sở hữu tài sản rồi chứ?”
“Chắc chắn rồi, thưa ngài.”
“Tôi sẽ thấy tiếc khi phải chia tay nó,” Dupin nói.
“Tôi không có ý bắt các ngài tốn ngần ấy công sức vô ích đâu, thưa ngài,” người đàn ông nói. “Chẳng thể mong thế được. Tôi rất sẵn lòng trả tiền thù lao cho việc tìm thấy con vật — ý tôi là, bất kỳ khoản nào hợp lý thôi.”
“Được rồi,” người bạn tôi đáp, “điều đó hoàn toàn công bằng rồi. Để tôi suy nghĩ xem! — tôi nên đòi gì nhỉ? Ồ! Tôi sẽ nói cho anh nghe. Tiền thù lao của tôi sẽ là thế này. Anh phải cung cấp cho tôi tất cả thông tin trong khả năng của mình về những vụ án mạng trên phố Morgue.”
Dupin thốt lên những từ cuối bằng một giọng vô cùng trầm và rất khẽ. Cũng khẽ khàng không kém, anh bước về phía cửa, khóa lại và đút chìa khóa vào túi. Sau đó, anh rút một khẩu súng ngắn từ trong ngực áo ra và đặt nó lên bàn mà không hề lộ chút hoảng hốt nào.
Khuôn mặt gã thủy thủ đỏ bừng lên như thể hắn đang vật lộn với cơn ngạt thở. Hắn chồm dậy và với lấy khúc côn, nhưng ngay khoảnh khắc tiếp theo, hắn ngã khuỵu trở lại ghế, run lẩy bẩy với sắc diện tái mét như chết. Hắn không thốt nổi một lời. Tôi cảm thấy thương hại hắn từ tận đáy lòng.
“Bạn tôi,” Dupin cất giọng ôn tồn, “anh đang tự làm mình hoảng sợ không cần thiết đấy — thực sự là vậy. Chúng tôi hoàn toàn không có ý định làm hại gì anh. Tôi lấy danh dự của một quý ông và một người Pháp ra để bảo đảm rằng chúng tôi không hề có ý định tổn hại đến anh. Tôi thừa biết rằng anh hoàn toàn vô can trong những hành vi tàn bạo trên phố Morgue. Tuy nhiên, sẽ chẳng ích gì nếu chối bay chối biến rằng anh có dính líu ít nhiều vào chúng. Từ những gì tôi đã nói, hẳn anh phải biết rằng tôi có trong tay những phương tiện thông tin về vấn đề này — những phương tiện mà anh chưa từng dám mơ tới. Giờ thì sự việc đứng thế này. Anh chẳng làm điều gì mà mình có thể tránh được — chắc chắn không có điều gì khiến anh phải mang tội. Thậm chí anh còn chẳng phạm tội trộm cắp, khi mà anh hoàn toàn có thể trộm cắp mà không sợ bị trừng phạt. Anh chẳng có gì phải che giấu cả. Anh không có lý do gì để phải che giấu. Ngược lại, anh bị ràng buộc bởi mọi nguyên tắc danh dự để thú nhận tất cả những gì mình biết. Một người vô an hiện đang bị giam cầm, bị buộc tội chính cái tội ác mà anh có thể chỉ ra thủ phạm.”
Gã thủy thủ đã lấy lại phần lớn sự bình tĩnh trong lúc Dupin thốt ra những lời này; nhưng sự bạo mạnh vốn có ban đầu của hắn đã biến đi đằng nào hết.
“Xin Chúa phù hộ tôi!” hắn nói sau một khoảng lặng ngắn ngủi, “tôi sẽ kể cho các ngài tất cả những gì tôi biết về vụ việc này; — nhưng tôi không mong các ngài tin lấy một nửa những gì tôi nói — tôi đúng là kẻ ngốc nếu kỳ vọng điều đó. Dù sao đi nữa, tôi vô tội, và tôi sẽ khai sạch tâm can dù có phải chết vì nó.”
Những gì hắn trình bày, về mặt bản chất, là thế này. Hắn vừa thực hiện một chuyến hải trình đến Quần đảo Ấn Độ Dương. Một nhóm người, trong đó có hắn, đã đổ bộ lên đảo Borneo và đi sâu vào nội địa trong một chuyến du ngoạn giải trí. Hắn cùng một người bạn đồng hành đã bắt được con Đười ươi. Người bạn đồng hành đó qua đời, con vật rơi vào quyền sở hữu độc quyền của riêng hắn. Sau vô vàn rắc rối do tính hung dữ bất kham của con vật trong suốt chuyến hải trình trở về nhà, cuối cùng hắn cũng thành công trong việc đưa nó an toàn về nơi ở của mình tại Paris, nơi để tránh thu hút sự tò mò khó chịu từ hàng xóm, hắn giữ nó trong sự cô lập cẩn thận cho đến khi nó bình phục vết thương ở chân, do một mảnh dăm gỗ trên tàu găm phải. Mục đích cuối cùng của hắn là bán nó đi.
Trở về nhà sau một cuộc vui chơi của thủy thủ vào đêm, hoặc đúng hơn là vào rạng sáng xảy ra vụ án mạng, hắn phát hiện con mãnh thú đang chiếm giữ phòng ngủ của chính mình, nơi nó đã phá tung cửa tủ quần áo liền kề — nơi nó vốn được cho là đã bị nhốt an toàn. Tay cầm dao cạo, bọt xà phòng đầy mặt, nó đang ngồi trước gương, bắt chước thao tác cạo râu mà chắc chắn nó đã từng lén quan sát chủ nhân qua lỗ khóa của chiếc tủ. Hoảng sợ trước sự hiện diện của một thứ vũ khí nguy hiểm nhường này trong tay một con vật quá đỗi hung dữ và lại thừa khả năng sử dụng nó, gã đàn ông trong vài khoảnh khắc đã bối rối không biết phải làm gì. Tuy nhiên, hắn vốn quen thuần hóa sinh vật này, ngay cả trong những cơn cuồng nộ dữ dội nhất của nó, bằng cách sử dụng một chiếc roi da, và hắn đã nhờ cậy đến nó lúc này. Vừa nhìn thấy chiếc roi, con Đười ươi lập tức lao vút qua cửa phòng, chạy thục mạng xuống cầu thang, rồi từ đó qua một khung cửa sổ không may để mở, lao thẳng ra đường.
Gã người Pháp tuyệt vọng đuổi theo; con vượn, tay vẫn cầm dao cạo, thỉnh thoảng dừng lại ngoái đầu nhìn và làm trò khỉ chế nhạo kẻ đuổi theo, cho đến khi hắn suýt đuổi kịp nó. Nó lại tiếp tục bỏ chạy. Cuộc rượt đuổi cứ thế kéo dài trong một khoảng thời gian dài. Đường phố hoàn toàn tĩnh lặng, vì lúc đó đã gần ba giờ sáng. Khi đi qua một con hẻm phía sau phố Morgue, sự chú ý của kẻ trốn chạy bị thu hút bởi ánh sáng chiếu rọi từ khung cửa sổ đang mở của căn phòng góa phụ L’Espanaye, nằm ở tầng bốn của ngôi nhà bà. Lao vụt đến tòa nhà, nó nhìn thấy đường dây thu lôi, leo vút lên với sự linh hoạt không tài nào tưởng tượng nổi, bám lấy tấm cửa chớp đang mở sát vào tường, và nhờ đó, vung thẳng thân mình lên tấm ván đầu giường. Toàn bộ kỳ tích ấy diễn ra chưa đầy một phút. Tấm cửa chớp bị con Đười ươi đạp tung ra khi nó lao vào phòng.
Trong khi đó, gã thủy thủ vừa mừng rỡ vừa bối rối. Hắn nhen nhóm hy vọng lớn lao là sẽ tóm lại được con quái thú, vì nó khó lòng thoát khỏi cái bẫy mà nó vừa xông vào, trừ phi qua đường dây thu lôi, nơi nó có thể bị chặn đầu khi leo xuống. Mặt khác, có rất nhiều lý do để lo lắng về những gì nó có thể gây ra trong ngôi nhà. Chính suy nghĩ sau đó đã thúc giục hắn tiếp tục bám theo kẻ trốn chạy. Leo lên đường dây thu lôi thì chẳng có gì khó khăn, nhất là với một thủy thủ; nhưng khi hắn leo lên đến độ cao ngang khung cửa sổ, vốn nằm lệch hẳn về phía bên trái của hắn, hành trình của hắn đã bị chặn đứng; điều tối đa hắn có thể làm là rướn người sang để thoáng nhìn thấy nội thất bên trong căn phòng. Chỉ một cái liếc nhìn đó thôi đã khiến hắn suýt ngã quỵ khỏi chỗ bám vì quá kinh hoàng. Chính vào lúc đó, những tiếng thét kinh hoàng đã vang lên trong màn đêm, đánh thức khỏi giấc ngủ cư dân trên phố Morgue. Góa phụ L’Espanaye và con gái, mặc đồ ngủ, dường như đang bận rộn sắp xếp một số giấy tờ trong chiếc rương sắt đã được nhắc tới, thứ đã được đẩy ra giữa phòng. Nó đang mở, và những món đồ bên trong nằm vương vãi ngay bên cạnh trên sàn. Các nạn nhân hẳn đã ngồi quay lưng về phía cửa sổ; và từ khoảng thời gian trôi qua giữa lúc con thú đột nhập và những tiếng thét, có vẻ như nó không bị phát hiện ngay lập tức. Tiếng tấm cửa chớp sập vào tự nhiên sẽ bị quy cho là do gió.
Khi gã thủy thủ nhìn vào, con mãnh thú khổng lồ đã túm lấy mái tóc của góa phụ L’Espanaye (vốn đang xõa tung vì bà đang chải tóc), và đang vung vẩy con dao cạo trước mặt bà, bắt chước những động tác của một thợ cạo. Người con gái nằm bất động dưới sàn; cô đã ngất lịm. Những tiếng thét và sự giằng co của bà cụ (trong lúc mái tóc bị giật đứt khỏi đầu) đã gây ra hiệu ứng biến đổi mục đích có lẽ là hòa bình ban đầu của con Đười ươi thành sự phẫn nộ. Với một nhát vung quyết đoán từ cánh tay vạm vỡ, nó suýt chém đứt đầu bà cụ khỏi thân thể. Cảnh tượng máu me kích động cơn giận dữ của nó lên đến đỉnh điểm điên cuồng. G nghiến răng, mắt tóe lửa, nó lao vào cơ thể cô gái, cắm sâu những chiếc móng vuốt kinh hoàng vào cổ cô, giữ chặt cái siết cho đến khi cô tắt thở. Những cái liếc mắt lang thang và điên cuồng của nó vào khoảnh khắc đó rơi đúng vào thành đầu giường, nơi khuôn mặt chủ nhân của nó, cứng đờ vì kinh hoàng, vừa vặn có thể nhìn thấy được. Cơn cuồng nộ của con thú, vốn dĩ chắc chắn vẫn hằn in nỗi sợ chiếc roi da đáng sợ, ngay lập tức chuyển thành nỗi sợ hãi. Nhận thức được việc mình vừa gây ra tội lỗi, nó có vẻ muốn che giấu những hành vi đẫm máu và nhảy nhót khắp căn phòng trong nỗi thống khổ của sự kích động thần kinh; xô ngã và đập phá đồ đạc khi di chuyển, đồng thời lôi tấm đệm khỏi khung giường. Cuối cùng, nó chộp lấy thi thể người con gái trước, nhét thốc lên ống khói như người ta đã tìm thấy; rồi đến thi thể bà cụ, nó lập tức ném thẳng đầu cắm xuống qua cửa sổ.
Khi con vượn tiến đến khung cửa sổ cùng gánh nặng tàn phế của nó, gã thủy thủ kinh hoàng lùi lại bám vào đường dây thu lôi, và thay vì trèo xuống, hắn trượt tuột xuống một mạch, vội vã chạy thẳng về nhà — sợ hãi trước hậu quả của vụ tàn sát, và trong cơn hoảng loạn, hân hoan rũ bỏ mọi bận tâm về số phận của con Đười ươi. Những từ ngữ bị nhóm người trên cầu thang nghe thấy chính là những tiếng thét kinh hoàng và hoảng sợ của gã người Pháp, hòa quyện với những âm thanh lải nhải quỷ quái của con mãnh thú.
Tôi hầu như chẳng còn gì để bổ sung thêm. Con Đười ươi hẳn đã tẩu thoát khỏi căn phòng qua đường dây thu lôi, ngay trước thời điểm cánh cửa bị phá tung. Nó hẳn đã khép cửa sổ lại khi chuồn qua đó. Sau đó, nó đã bị chính chủ nhân bắt lại, người đã thu về một khoản tiền rất lớn cho nó tại Jardin des Plantes. Le Bon lập tức được trả tự do, sau khi chúng tôi thuật lại toàn bộ các tình tiết (kèm theo một vài bình luận từ phía Dupin) tại văn phòng của Tổng giám thị Cảnh sát. Viên chức này, dẫu rất có thiện cảm với người bạn của tôi, vẫn không tài nào che giấu trọn vẹn sự bực bội trước bước ngoặt của sự việc, và đành phải thốt ra vài câu châm biếm về sự khôn ngoan khi mỗi người biết lo chuyện bao đồng của chính mình.
“Cứ để hắn nói,” Dupin lên tiếng, người vốn chẳng thấy việc đáp trả là cần thiết. “Cứ để hắn bàn luận; điều đó sẽ làm thanh thản lương tâm hắn. Tôi mãn nguyện vì đã đánh bại hắn ngay trong thành lũy của chính hắn. Tuy nhiên, việc hắn thất bại trong việc giải mã bí ẩn này không hề là điều kỳ diệu như hắn tưởng; bởi thực ra, người bạn Tổng giám thị của chúng ta hơi quá láu cá để mà có thể uyên bác. Trong sự khôn ngoan của hắn chẳng có lấy một gốc rễ vững chãi. Nó toàn là đầu mà chẳng có thân, tựa như những bức họa về Nữ thần Laverna — hoặc tệ nhất là toàn đầu với vai, giống như một con cá tuyết. Nhưng suy cho cùng hắn vẫn là một sinh vật tốt tính. Tôi đặc biệt thích hắn ở một đòn chí mạng mang tính ngụy biện, nhờ đó hắn đạt được danh tiếng về sự tháo vates. Ý tôi là cách hắn ‘de nier ce qui est, et d’expliquer ce qui n’est pas.’” (*)
(*) Rousseau — Nouvelle Héloïse.