Terri Taylor không cung cấp cho Glass thêm thông tin nào ngoài cái tên Charles Varriker tiếp tục được nhắc đến khá thường xuyên. Cho đến giờ, Glass vẫn chưa biết Terri đến tìm ông làm gì. Có lẽ với cô, ông là điểm đáng chú ý của Dylan Riley, và cô nhất định phải đến trước khi về cố hương Des Moines. Cô cười héo hon:
- Em không hợp với New York và Des Moines cũng không hẳn hợp với em.
Không thể nói cái chết của Dylan Riley làm Terri đau khổ cùng cực. Nhưng nó khiến cô mệt mỏi, chán chường. Vì còn quá trẻ, chết chóc là quá sức tưởng tượng của cô. Với một cô gái trẻ như Terri, án mạng quá kỳ bí, lạ lùng, chỉ có trong chuyện trinh thám. Glass hình dung Terri của mười năm nữa: lấy chồng làm nhân viên bảo hiểm, vun vén cho chồng con trong ngôi nhà ngoại ô thành phố, gần cánh đồng ngô tràn ngập nắng trải dài đến tận chân trời xa tắp.
- Dylan tôn ông làm người hùng. - Terri nói lại lời của Dylan. - Và rồi hắn bị bắn bể đầu.
Chiều đến, Glass đi bộ đến ngã tư giữa đại lộ Lexington và đường Năm mươi đón xe buýt đường dài Hampton. Một trong những lợi thế đáng kể của việc lấy vợ giàu là Glass không phải chuẩn bị hành trang khi đến căn nhà ở Long Island, bởi mọi thứ ông cần đều chờ sẵn ở đó, từ bàn chải đánh răng đến quần áo ngủ.
Glass ghét đi thế này. Đường thì xa, ngồi xe buýt mệt bã người và ồn ã để rồi khi ông đến nơi, quần áo hôi rình mùi khói bụi và tâm trạng cáu kỉnh. Lần đầu nghe nói đến xe đò Hampton, ông nhớ phim hài Frank Capra có xe buýt cũ móp méo, đầu xe tròn như củ hành, nóc xe chất đầy rương hòm bằng gỗ dán, và hàng ghế trước có cô nàng bắt chước Marilyn Monroe ngồi tô son, đồng thời cố không để lò xo gẫy trồi lên mặt nệm rách làm thủng vớ quần. Nhưng ông buộc phải công nhận thực tế khác hẳn. Ông mong chờ ít nhất cũng được ngắm cảnh biển bởi bề ngang đảo rất hẹp. Nhưng thực tế xe toàn đi qua vùng đất bằng phẳng, chẳng có cảnh đẹp gì đặc sắc. Hai bên đường toàn trạm xăng, quán ăn nhanh và một làng nhỏ xíu không có gì đặc biệt. Nói chung chỉ có Bridgehampton xây theo lối kiến trúc từ thời mới lập quốc là đẹp. Ngoài ra, Silver Barn khá nổi bật với địa thế trên đỉnh đồi thấp nhiều cây cối. Từ đó, khách tham quant ha hồ ngắm thung lũng sâu trồng đầy thông, sồi thấp tè và biển lấp lánh ở chân trời xa tít. Bill Lớn xây nhà đó cho bà vợ ba và chỉ mình ông khăng khăng rằng hiện tại bà vẫn là vợ ông. Đó là Nancy Harrison, một nhà báo thích du lịch khắp năm châu bốn bể. Tính tổng cộng, bà chỉ ở nhà này chừng vài tuần lễ. Ngày xưa, Glass đôi lúc tình cờ gặp bà Nancy khi họ đi thực tế ở những nơi xa xôi hẻo lánh tìm tư liệu viết bài về những cuộc chiến nhỏ lẻ hoặc vài thảm họa thiên nhiên. Họ rủ nhau làm vài ly và cùng cười vui khi kể nhau nghe về Bill Lớn và cách hành xử của ông ta. Khung sườn ngôi nhà này vốn là nhà kho của người Amish mà Bill Lớn tìm thấy ở Pennsylvania. Ông cho tháo rời từng mảnh chở tới Long Island, dựng thành nhà, tất nhiên kèm thêm nhiều chi tiết và gia cố cho thật chắc chắn. Gỗ dát tường xám như tro và lên nước bóng loáng như cán thuổng.
Taxi vừa trờ tới cửa nhà xây theo lối kiến trúc thời thuộc địa, Louise đã ra tận xe đón chồng. Hôm nay bà mặc trang phục của nhà tạo mẫu Jean Seberg: quần đen, áo đen sọc trắng và khăn quàng cổ kiểu ngắn bằng lụa đỏ. Louise cột tóc gọn ra sau và không trang điểm. Hình như chưa bao giờ Glass thấy vợ ăn mặc không hợp người, hợp cảnh. Ông nghĩ nếu Louise có đứng trên tàu Titanic, thể nào bà cũng mặc váy xanh lá cây của nhà tạo mẫu Wellies, áo gió của Burberry và trùm khăn kín đầu. Một thời, Glass cũng yêu Louise say đắm. Ông phải công nhận hồi ấy bà hấp dẫn ông bởi sự thanh lịch và điềm tĩnh.
Đặt nhẹ đầu ngón tay lên vai Glass, Louise hôn phớt lên má ông:
- Xe cộ đường xá thế nào anh?
- Vẫn thế, ghê chết được.
- Cha vừa xuống trực thăng. Anh vào chào cha đi.
- Trời, đi trực thăng cơ à?
Louise lùi lại, mím môi gận dữ nhìn ông như bà mẹ nghiêm khắc nhìn cậu con trai hỗn láo, cứng đầu:
- Thế ra gia đình em không được phép hưởng xa hoa theo cách riêng chỉ vì cả nhà em không phải... (Glass biết vợ cố kiềm chế nhưng không được) phóng viên xuất sắc?
Glass mệt mỏi:
- Thôi nào em, đừng gây sự nữa.
Dù mùa xuân đã chiếm lĩnh cả thành phố, nhưng ở góc lãnh thố phía đông xa xôi này, nàng xuân vẫn chưa về. Vòm trời màu xám trắng đang xà xuống thấp. Glass ngửi thấy hơi hướng của cơn mưa sắp ập tới.
- Hai cha con định uống vài ly. Chắc anh cũng nên vào góp vui. Uống một ly thôi cũng được.
Glass theo vợ vào trong. Ông Bill đã sang tên cho Louise căn nhà với mục đích chính là trốn thuế. Dù trên giấy tờ đây là nhà họ, nhưng Glass luôn cảm thấy mình là khách. Tuy nhiên, ông thích nơi này lắm. Không gian yên tĩnh ấm áp trong những bức tường gỗ đánh bóng là di sản còn lại của những người giữ nếp sống bình dị. Chính họ đã chặt cây, bào nhẵn những súc gỗ này hơn trăm năm về trước.
Louise dẫn chồng đi xuyên qua nhà, ra hiên sau bằng gỗ bài trí hai xích đu nhỏ có nệm màu vàng rơm và chiếc bàn dài thấp loang lổ vết đáy cốc đồ uống lạnh. Bill Lớn nửa nằm nửa ngồi đọc tờ The Wall Street Journal trên xích đu, hai chấn bắt chéo nơi mắt cá gác lên bàn. Glass lấy làm lạ vì người giàu ở Mỹ hay đọc tờ Journal dù báo viết toàn thứ họ biết rõ mười mươi. Trên đời làm gì còn chi tiết nào rắc rối, nhơ bẩn hơn hiện thực của chính họ? Hôm nay, ông cụ mặc áo tàu và áo gilê bằng lụa casơmia không tay màu be nhạt, chân không đi tất xỏ trong giày cỡ lớn. Ngay cả mắt cá chân ông cũng rám nắng. Thấy Glass, ông cụ gấp tờ báo lại:
- Kìa John! Đi đường thế nào con?
Louise đỡ lời:
- Nhà con ghét xe đò.
- Tội nghiệp. Thế con đã thử loại xe du lịch đời mới có ghế nệm bọc da chưa?
Glass trả lời:
- Con ghét nó còn hơn loại cũ.
Bố vợ ông cười ha hả:
- Người Alien mình là thế. Chỉ thích khổ, không thích sướng.
Manuela, cô giúp việc người gốc Philipine, mang đến bình nước chanh mới pha và ba chiếc ly thủy tinh cao. Đặt khay lên bàn, cô lùi bước, vuốt vuốt tạp dề, mỉm cười với nền nhà. Trong nhà hay nói đùa rằng Manuela dành hết tình yêu tuyệt vọng cho John Glass nhưng ông toàn nhầm cô với Clara, người hầu gái thân tín của Louise ở Manhattan. Giờ nghe Glass yêu cầu mang rượu gin và tonic cho mình, Manuela làm thinh gật đầu và lẹ làng đi ra. Louise rót nước chanh cho hai cha con. Glass đến sát lan can gỗ bao quanh hiên châm thuốc hút. Phía dưới chỗ ông đứng, bãi cỏ xanh rờn chạy đến tận chân hàng cây sồi làm ranh giới của khu vườn. Ngoài rặng cây văng tới tiếng cười nói pha lẫn tiếng cụng ly lanh canh. Winner, đại diện cho các nhà văn, sở hữu căn bên cạnh. Ông ta nôi tiếng hay tiệc tùng. Mang đồ uổng cho Glass xong, Manuela quày quả bỏ đi ngay.
Bill Lớn áp bàn tay lên tờ báo trên bàn:
- Báo có nói Ulster là môi trường kinh doanh tiềm năng. Chỉ cần chiến lược phát triển đúng đắn, triển vọng phát triển kinh tế sẽ rất sáng sủa. (Ông cúi xuống nghiêng đầu đọc báo). Đồng bảng Alien gây sức ép với đồng Euro. Con thấy ghê chưa?
- Lòng tin của người Thiên Chúa giáo chắc chắn bị bào mòn.
Bill Lớn thoáng cười độ lượng:
- Trước tiên, tín đồ Tin Lành phải độc lập với người Anh đã.
Từ đầu kia của xích đu, Louise vừa nâng ly nước chanh vừa cười nhẹ:
- Nếu vậy thì mệt rồi, phải không ạ?
Người cha lắc đầu:
- Luật thuế của Anh bóp nghẹt doanh nghiệp. (Ông quay sang Glass). Chính vì thế, người dân thuộc cộng hòa Alien như Glass đây hiểu rõ cần phải cắt giảm thuế cho các công ty. Cha nhớ...
Nhấp nháp chút rượu cay, Glass trầm ngâm ngắm bức tường kết dày cây cối cuối bãi cỏ. Trong đầu ông có thứ gì tựa chiếc xe bò đang chậm chạp lăn bánh. Ông gần như nghe tiếng bánh xe kêu cót két. Ông sợ sự buồn chán hơn bất kỳ trạng thái tinh thần nào. Bố vợ ông đang ôn lại câu chuyện mà ông đã nghe không biết bao nhiêu lần: cách nay hai mươi lăm năm, ông cụ đã triệu tập cuộc họp bí mật giữa cách nhà lãnh đạo Bắc Alien ở đảo Man, giúp họ nhìn ra tương lai của tổ quốc họ, một quốc gia nhỏ bé nhưng chịu nhiều thiệt thòi nhất. Đen đây, Glass ngắt lời ông nhạc:
- Trong sự kiện lịch sử đó, Charles Varriker có đi cùng cha không ạ?
Lạ thay, người sửng sốt hơn cả lại là Louise, không phải cha bà. Bà trừng mắt nhìn chồng, môi dưới thoáng run rẩy:
- John, sao anh hỏi thế?
Louise thì thầm như thể bà sắp lớn tiếng văng tục vào mặt chồng. Ông Bill lúng túng, hết nhìn con rể lại nhìn con gái. Trông ông hệt như người ngã ngựa lập cập cố trèo lại lên lưng con vật bất kham. Thốt nhiên, mắt ông mờ hẳn đi, nếp nhăn như dày thêm:
- Charlie ư? Ồ không! Cậu ấy chết trước thời điểm đó rồi. Sao tự nhiên con hỏi vậy? (Ông quay sang con gái càu nhàu). Sao chồng con đem chuyện Charlie ra hỏi cha thế?
Louise đã lấy lại thăng bằng. Không trả lời câu hỏi của cha, bà đặt mạnh ly nước chanh xuống bàn và đứng dậy:
- Con phải tìm Manuela hỏi xem bữa tối chuẩn bị đến đâu rồi.
Dứt lời, bà chậm rãi vào nhà, lưng vươn thẳng như thể cố kiềm chế không guồng chân chạy biến đi.
Sau lưng bà, hai người đàn ông im lặng khá lâu. Ông Bill ngó nghiêng mãi sàn gỗ quanh chân mình như thể vừa đánh rơi thứ gì. Glass dùng ngay mẩu thuốc cũ cháy đến đầu lọc để châm điếu mới. Ông thấy nôn nao khi ngồi nấp trong bóng tối bao trùm, lòng hoang mang do nhận thức rõ vốn hiểu biết ít ỏi của mình.
Giọng ông Bill vừa khinh khỉnh vừa dè dặt:
- Cha có may mắn được quen biết Charlie Varriker, một người tài ba bậc nhất. Cha đánh giá Charlie lỗi lạc bởi cậu ấy là người tốt. (Ông ngước lên nhìn Glass bằng ánh nhìn dữ dội). Cha nói thế, con có hiểu không? Con có chút khái niệm nào về nhận xét vừa rồi không? Trong thời buổi đảo điên này, lòng tốt là phẩm chất không được người đời nâng niu, quý trọng. Họ coi thứ ấy lỗi thời rồi. Nhưng Charlie là người tốt và bị coi là lỗi thời. Cậu ấy trọng danh dự và trung nghĩa với bạn bè. Lúc cha sắp bị thương trường ăn tươi nuốt sống, Charlie đã khôi phục khả năng tài chính của tập đoàn Mulholland Cable mà không hề đòi hỏi một lời cảm ơn. Charlie là thế, vĩ đại và tốt bụng. Cha quý cậu ấy vô cùng.
Ông đứng dậy, cau mặt như thể vừa đau nhói trong lòng. Cặp mắt nhìn xa xăm tận góc vườn xa tít giờ không còn sáng rực như lúc nãy mà mờ đục, giống tấm kính cửa sổ mờ vì sương sớm:
- Phải, có thể nói như vậy. Cha rất quý cậu ấy.
Ông quay lưng đi thẳng vào nhà, giống con gái khi nãy. Đứng tựa lan can gỗ, Glass hút nốt điếu thuốc và búng đầu mẩu ra bãi cỏ. Trong không gian xuất hiện tiếng rì rào rất nhỏ. Glass nhìn trời, mưa phùn bắt đầu rơi.
Đến bữa tối chỉ có hai vợ chồng bên bàn ăn. Tuy không nói gì, nhưng Manuela đứng gần đó chú ý từng nhất cử nhất động của ông bà chủ để phục vụ kịp thời. Họ ngồi trong căn phòng bài trí theo lối Ấn Độ. Trên tường treo vài bức tranh gốc của danh họa Edward Curtis, còn mấy chiếc bình gốm của Hopi làm theo đơn đặt hàng riêng được bày thành hàng trên giá. Mưa thì thầm ngoài khung cửa bên cạnh họ; bóng đèn xanh tỏa sáng nửa căn phòng. Chờ cha đi nghỉ, Louise mới bảo chồng:
- Giá anh đừng nhắc đến Charles Varriker thì hay biết mấy. Mỗi lần nhớ lại chuyện ấy, cha không vui đâu.
- Ừ, quá rõ rồi còn gì.
Louise cắt nhánh măng tây hấp thành bốn đoạn bằng nhau chằn chặn.
- Lúc em vào nhà rồi, cha nói gì về Charlie thế?
- Ông nói ông rất quý anh ấy.
Tiếng cười khẽ của Louise nghe rất lạ tai:
- Quý ư? Ghét thì có. Tất nhiên, cha còn nghĩ mình mang tội nữa.
- Tại sao?
- Sao cái gì?
- Sao ông cụ ghét Charlie và thấy có lỗi với anh ấy?
Louise ngừng ăn, ngẩng lên, tay vẫn lăm lăm dao nĩa.
- Em tưởng với đầu óc đen tối của cánh nhà báo, anh sẽ biết cha Billuns chắc chắn phải thấy có lỗi, nếu không với người này thì với người kia chứ.
- Anh vái trời để em đừng gọi cha bằng cái tên kỳ cục ấy nữa.
Louise nheo mắt bực tức nhưng Glass nhanh nhẩu:
- Nếu theo em, cha không phải hối hận điều gì, thì sao trong việc này, ông cho rằng mình có lỗi?
- Em biết người Alien lắm. Họ nghĩ thiên hạ không ai thanh thản đến độ tin mình không có tội dù cả đời hoàn toàn thánh thiện.
- Làm gì có ai hoàn toàn thánh thiện!
Câu nói khinh miệt của Louise giống cái tát bất thần vụt xuống mặt Glass:
- Anh làm ơn thôi đi. Tưởng anh phải khá hơn chứ.
- Đã thế em phải giải thích tại sao cha tự nhận mình có tội. Nhất định phải có lý do.
- Cha thấy mình có lỗi vì ông vừa căm ghét vừa yêu quý Charlie Varriker, vì Charlie đã cứu Mulholland Cable khỏi thảm họa và vì anh ấy tự sát. Anh không hiểu tí gì về tính cách con người à?
Họ trừng trừng nhìn nhau giây lát rồi quay xuống đĩa. Bên ngoài ngày đã tàn, hoàng hôn tối thẫm bao trùm khu vườn xanh ngắt. Manuela châm hai cây nến cao ở hai đầu bàn rồi bỏ đi.
- Kể anh nghe chuyện đã xảy ra giữa Varriker và cha đi.
- Chẳng có chuyện gì cả. Họ là đối tác làm ăn, hay chí ít Charlie nghĩ thế. Em chắc chắn anh biết cha không bao giờ muốn làm đối tác với ai hết. Ông điều hành tập đoàn Mulholland Cable như quản lý ban bệ của CIA, hoặc theo nguyên tắc bưng bít thông tin. Có nghĩa là không ai biết gì ngoài lĩnh vực cỏn con của họ, mình Billuns biết tuốt. Kiểu ngạo mạn ấy, kiểu bưng bít thông tin ấy gây tai họa. Cha coi nhân viên như gián điệp, chiến binh hoặc sát thủ nhưng thương trường không phải chiến trường hay lĩnh vực tình báo, dù nhiều người hay cường điệu quá lắm. Khi rắc rối nảy sinh, cha không biết cách giải quyết. Chính vì thế ông đưa Charlie Varriker vào cải tổ bộ máy. Cha chọn Charlie vì anh ấy có tài mê hoặc lòng người và tuyệt đối hấp dẫn. Charlie đưa guồng máy kinh doanh hoạt động trở lại, khắc phục mọi điểm yếu kém. Thế rồi...
Louise im bặt, đăm chiêu nhìn màn mưa và khung trời nhập nhoạng. Glass đỡ lời:
- Thế rồi anh ấy tự tử.
Hai vợ chồng giật mình nghe tiếng ông Mulholland ngay ngoài cửa:
- Đúng vậy.
Khi ông cụ bước vào, quầng sáng từ nến trộn ánh hoàng hôn tím hắt qua cửa sổ. Mặt ông hốc hác, tái xám.
- Thằng trời đánh ấy khờ đến độ lấy khẩu Beretta của cha, tự bắn vào ngay đây. (Ông xỉa ngón tay lên). Viên đạn xuyên thủng một bên mắt.