Choàng tỉnh dậy sau chuỗi giấc mơ náo loạn và sống động ngoài đời thật, John Glass thấy trời vẫn còn sớm. Tuy nhiên, ngay khi mở mắt mọi hình ảnh trong mơ đều tan biến. Ông không còn nhớ chút gì. Nằm trong phòng tối mờ mờ, chân tay ông tê dại vì nỗi sợ hãi còn rơi rớt lại. Vụ sát hại Dylan Riley nhu vải liệm đen chụp lấy toàn thân ông. Hôm qua, sao ông có thể thờ ơ, bình thản đến thế khi nghe tin hắn bị giết và đại úy Ambrose triệu ông lên đồn cảnh sát? Đây không phải lần đầu ông thán phục “biệt tài” của cơ thể người - biết cách ly và tự bảo vệ trước những cú sốc ghê gớm của cuộc đời. Nhắm chặt mắt, Glass vùi mình trong chăn ấm đệm êm ám mùi hôi quen thuộc của cơ thể ông. Chỉ lát nữa thôi, khi mặt trời lên bắt đầu một ngày mới, mọi chuyện sẽ không còn như cũ. Tuy nhiên lúc này ông chỉ mong có cơ thể nồng ấm cạnh bên để ông bám vào đó, tạm quên mọi sự đời. Chết nỗi, cách nay khá lâu, Louise đã đuổi khéo Glass, không cho ông ngủ chung với bà trong phòng ngủ lớn. Thay vào đó, ông phải ngủ trong căn phòng nhỏ xíu cạnh thư viện. Glass cũng thích thế vì nói chung nếu chỉ để ngủ cho hết đêm, ông thích ngủ một mình. Vả lại, cũng khá lâu rồi hoạt động trên giường của ông và Louise không còn gì hơn ngoài chuyện ngủ.
Glass cố ngủ lại nhưng không được. Não bộ ông hoạt động như xe trên đường đua. Tâm trí ông thụ động đón nhận dòng thác ký ức trộn lẫn những tiên đoán về chuyện chẳng lành, những tính toán và phỏng đoán đi kèm tàn dư còn sót lại của những giấc mơ đêm qua. Ông trở mình nằm ngửa, mắt chong chong ngó trần nhà. Hồi này, mỗi lúc đêm khuya hay sáng sớm, Glass hay tự hỏi phải chăng ông đã sai lầm khi rời bỏ Alien đến định cư tại Mỹ. Không, đó không hẳn là sai lầm nhưng cái giá ông phải trả cho quyết định của mình là không nhỏ. Hồi còn ở Alien, cùng chung sống trong dinh thự xây bằng đá xám của ông Mulholland gần núi Ardagh, vợ chồng ông hạnh phúc và hiểu nhau hơn bây giờ nhiều. Bên cạnh đó, họ dành phần lớn thời gian thăm thú nhiều nơi; ông đi thực tế ở nước ngoài lấy tư liệu viết báo còn Louise phát triển hoạt động từ thiện khắp năm châu lục. Glass biết thừa mình sai nhưng không hiểu sao trong thâm tâm, ông coi thường sự nghiệp của vợ (nếu có thể gọi đó là sự nghiệp) và chức vụ đại sứ thiện tâm của bà.
Giá có con, họ sẽ hạnh phúc hơn.
Ông bực bội trở mình, rên rỉ. Cái gối nóng sực. Áo ngủ ướt mồ hôi thít chặt ông chẳng khác gì chiếc áo bó dành cho bệnh nhân tâm thần. Tiếng động trong nhà bếp vẳng tới mách rằng bà Clara đã đậy, đang chuẩn bị phục vụ những nhu cầu đầu ngày mới của bà chủ. Louise quen dậy sớm. Glass không thoải mái khi có người ăn kẻ ở trong nhà. Cha Glass chết sớm nên mẹ ông phải đi làm quản gia cho một luật sư giàu có ở Dublin kiếm tiền nuôi cậu con trai duy nhất ăn học. Glass thở dài khi nhớ hồi tối, ông tự nhận mình thô thiển. Mà thôi, đến giờ phải dậy rồi.
Vụ án Dylan Riley không xuất hiện trên tờ Times, Glass cũng không tìm thấy bất cứ phương tiện truyền thông nào nhắc đến nó. Louise không đặt mua hai tờ Post và Daily News nên Glass phải ra ngoài mua. Mang vào nơi gọi là phòng làm việc riêng dù chưa bao giờ làm việc trong đó, Glass an tọa trên ghế dài bọc nhung mà Louise mua cho ông như một món quà tân gia khi họ mới chuyển về đây sáu tháng trước. Tờ Post chỉ dành hai đoạn ngắn cho vụ án mạng, nhưng trên trang năm tờ News đăng câu chuyện dài hơn với dòng tít: Vụ Sát Hại Thiên Tài Máy Tính Đầy Bí Ẩn. Báo trích dẫn lời đại úy Ambrose của sở cảnh sát New York nói rằng ông và đồng đội đang khẩn trương truy tìm thủ phạm dựa trên một số đầu mối khá rõ ràng. Báo cho đăng hình Terri Taylor, người yêu Dylan Riley đang rời hiện trường vụ án cùng một nữ cảnh sát. Cô ta tóc dài, mặc đồ jean và quay mặt tránh ống kính của phóng viên.
Glass bật chiếc tivi nhỏ xíu đặt ngay góc bàn làm việc. Mẩu tin nhỏ trên kênh Fox 5 News chỉ đưa tin, không bình luận gì. Kênh New York 1 của phóng viên đến hiện trường ghi lại đoạn băng ngắn có Terri Taylor đứng bên lề đường phía ngoài nhà kho. Cô gái xanh xao, trông biết ngay không phải con nhà gia giáo. Khuôn mặt Terri nhọn, cặp mắt thẫn thờ. Có vẻ cái chết của người yêu không đến nỗi làm cô ta đau khổ vật vã; thực ra, vẻ mặt ấy là của một người khó chịu và hoang mang, như thể cô đang ngạc nhiên tự hỏi sao mình lại dính vào chuyện lộn xộn này. Nhóm quay phim cố kéo đại úy Ambrose ra một góc để phỏng vấn. Trên tivi, trông ông càng giống vị thánh chịu nạn trong bộ vest nâu và đôi giày đen to tướng. Lần này, đại úy cũng nhắc đến những “đầu mối rõ ràng” rồi nhanh chóng tránh xa ống kính với dáng người lom khom như quân trinh sát da đỏ xưa. Cũng như các bản tin về án mạng khác, người làm tin này cho khán giả cảm giác không hẳn họ thờ ơ mà chỉ quan tâm nửa vời pha chút nôn nóng, như thể ai cũng thấy không nên phí thời gian cho nó trong lúc còn nhiều tin quan trọng hơn đang chờ lên sóng. Glass biết thế có nghĩa không ai kỳ vọng cảnh sát phá vụ án này. Theo tờ Daily News, Dylan Riley tứ cố vô thân, thế nên sẽ chẳng ai thúc ép cảnh sát hành động khẩn trương để mau chóng bắt hung thủ đền tội. Glass có thể thấy rõ ngay cả Terri Taylor cũng nhanh chóng rời hiện trường nhanh nhất có thể trên đôi chân gầy khẳng khiu.
Glass vào bếp định pha tách cà phê, nướng miếng bánh mì lót dạ. Nhưng Clara ở đó và tất nhiên bà nhất định đòi làm cho ông. Đứng dựa tủ lạnh, Glass vờ đọc trang thể thao trên tờ Daily News. Louise đã dùng điểm tâm và đi từ nãy. Bà đến trụ sở Liên Hiệp Quốc gặp một nhân vật thuộc tổ chức UNESCO. Glass vẩn vơ đoán không biết có bao giờ Louise gặp gỡ với thường dân hay không. Glass kín đáo quan sát Clara lăng xăng trong căn bếp không có cửa sổ. Ông chẳng biết tí tẹo gì về bà. Quê bà ở vùng Caribê, hình như Puerto Rico hay Cộng hòa Dominic thì phải. Ông nghe Louise nói Clara cũng có bạn tình nhưng cho đến lúc này ông chưa bao giờ thấy mặt. Glass tự hỏi không biết tối tối, khi xong việc bếp núc, Clara thường làm gì? Chắc xem tivi. Không biết bà có đọc sách báo gì không; nếu có, bà sẽ thích thể loại nào? Glass chịu, không tài nào đoán ra. Bất chợt, Glass ngạc nhiên vì trên cương vị nhà báo, ông hiểu rất ít về con người, về tư tưởng và cảm xúc của họ. Dylan Riley là ví dụ điển hình: ông biết gì về hắn, ngoài việc thấy hắn giống loài vượn cáo “kém tắm”? Chắc vì vốn kiến thức cơ bản về con người quá hạn hẹp nên ông bỏ nghề báo. Ông chỉ quan tâm đến sự kiện, không phải người tham gia hoặc tạo nên chúng.
Clara đưa cà phê cho ông.
- Đặc lắm, thưa ông. Đúng như ông thích ạ.
Bà cười để lộ hàm răng trắng bóng. Bánh mì nướng hơi xém, vàng ruộm và giòn tan.
Bên ngoài, không khí trong lành và gió thổi mạnh. Nắng sớm có màu vàng giống trái chanh. Glass đón taxi đến đường Bốn mươi tư để xem có thư từ gì chăng. Như mọi khi, thùng thư trống trơn. Gác chân lên bàn, Glass chắp tay kê dưới gáy nhìn trời, hay nói đúng hơn là mảnh trời giữa hai dãy nhà cao vút. Glass cho rằng ông đang nhìn thấy gió tạo thành đường kẻ sọc mờ như sọc dài của bầu trời xanh bị tẩy trắng. Giá ông biết được thông tin chính xác và chắc chắn về vụ sát hại Dylan Riley, chẳng hạn hắn bị giết do hung thủ căm giận, uất ức hoặc thậm chí chỉ vì tò mò. Thế nhưng, đầu óc ông chỉ quanh quẩn với suy nghĩ rang Riley đã chết và liệu người ta tìm được hung thủ có phương hại gì đến ông chăng?
Glass sực nhớ một chuyện, bèn lục ví tìm danh thiếp của đại úy Ambrose và quay số.
Nghe Glass xưng danh, viên đại úy không hề tỏ vẻ ngạc nhiên. Phải chăng ông ta cũng đang ngắm bầu trời xanh ngắt?
- Dylan Riley còn gọi cho ai nữa? ?Ý tôi là trước lúc hắn gọi cho tôi ấy?
Có tiếng thở trong máy, nghe như tiếng cười khẽ:
- Nhiều lắm ông ạ. Ông có tên cụ thể không?
- Thế ông đã kiểm tra mọi số trên điện thoại của hắn chưa? Để tìm danh tánh chủ nhân những số ấy?
- Có chứ. Đó là người yêu hắn, nha sĩ riêng và mẹ hắn ở quận Cam, tận Florida. Và ông nữa.
- Không có ai là người nhà của tôi ư? Bố vợ tôi chẳng hạn?
- Ngài Mulholland ư? Không. Theo ông, Riley sẽ gọi cho ngài Mulholland để thu thập thông tin theo lệnh của ông ư?
- Tôi đã dặn hắn không được gọi.
- Tôi nhớ lúc trước ông bảo ngài Mulholland không biết ông thuê người kiểm tra lí lịch ông ấy.
Glass nhắm mắt một thoáng và tì trán lên đầu ngón tay:
- Tôi đã nói tôi chưa quyết định có nên thuê Riley hay không.
- À phải, tôi nhớ rồi.
Im lặng nặng nề. Tai Glass ong ong.
- Trước khi chết, hắn gọi cho ông những hai lần. Chính vì thế tôi mới mạo muội mời ông lên đồn trao đổi. Chỉ mình ông được miễn giải thích, không như người yêu, mẹ hay nha sĩ của hắn. (Lại im lặng). Ông gọi cho tôi chắc có chuyện muốn nói? Về ngài Mulholland chẳng hạn?
Glass thở hắt ra:
- Không. Chỉ là tò mò thôi mà.
- Và lo lắng nữa, nhỉ?
- Lo ư?
- Ông ngại Riley mách với bố vợ chuyện ông thuê, hoặc nghĩ đến chuyện thuê hắn rình mò ông cụ.
Glass cố giữ giọng đều đều:
- Không, tôi không ngại điểm ấy. (Glass đoán đầu dây bên kia, viên đại úy đang suy nghĩ rất lung). Ngài Mulholland và tôi hiểu tính nhau. Ông ấy tin tưởng tôi.
Trong ống nghe lại có tiếng thở chứng tỏ Ambrose đang nhịn cười:
- Nhưng ông không báo với bố vợ chuyện thuê Riley.
Glass vẫn kiên trì giữ giọng đều đều:
- Nếu tôi và Riley đi đến thỏa thuận, tôi sẽ báo ngay. Chỉ hiềm nỗi hắn chết trước mất rồi.
- Phải, chắc thế rồi.
Sau khi cúp máy, Glass ngồi nhịp ngón tay trên mặt bàn, mắt trân trân nhìn phía trước cố tập trung suy nghĩ nhưng không được. Sau một đêm mộng mị, tâm trí ông như có làn sương mù che phủ mãi không chịu tan. Ông lại với điện thoại rủ Alison O’Keeffe dùng bữa trưa sớm. Đúng như Glass dự đoán, dù đang bận làm việc nhưng nghe ông nài nỉ, cuối cùng cô nhượng bộ. Glass gọi điện đặt bàn tại Pisces, nhà hàng hải sản gần quảng trường Thống nhất, chốn ưa thích của họ từ ngày đầu gắn bó. Giống nhà hàng Mario’s, nơi này ngày càng đông người ái mộ. Glass chỉ lo có ngày Louise cùng một vị tai to mặt lớn nào đến cửa sẽ thấy ông và Alison nép sát nhau bên bàn ăn ấm cúng trong góc phòng. Ông sẽ không biết ăn làm sao, nói làm sao cho phải.
Suốt từ hôm qua đến giờ, Glass chưa có dịp trao đổi với Alison. Glass không thích cô phải dây dưa đến vụ ám sát Dylan Riley và hối tiếc vì trót nói với cô ngay từ đầu. Cho đến giờ, ông vẫn không chắc Riley có khả năng lần ra chuyện của họ. Có lẽ ông quá ngây thơ nên tin rằng New York quá lớn, người New York không quan tâm đến nhau nên ông cứ thoải mái cặp kè với Alison mà không ai hay biết.
Vào nhà hàng, Glass chọn chỗ sát tường, mặt trông ra cửa, bụng thầm khó chịu vì thấy mình hốt hoảng hơn ngày thường. Cứ cho Louise bắt gặp ông ngồi cạnh Alison thì đã sao nào? Họ đâu còn trẻ mỏ gì nữa, người này quá rành cuộc sống của người kia rồi. Nếu có xuất hiện ở cửa kia, Louise vẫn sẽ xử trí mau lẹ như bình thường. Thoáng nhìn chồng âu yếm ngồi sát bên tình nhân, bà sẽ yêu cầu đổi một bàn càng xa chỗ họ càng tốt.
Muốn giữ thể diện cho Glass, Alison đã thay áo khoác che vết bẩn bằng váy rời và sơmi lụa xanh da trời. Lúc họ hôn nhau, Glass thoáng thấy mùi thuốc vẽ bị mùi nước hoa át đi. Mùi ấy luôn nhắc ông nhớ những món đồ chơi Giáng sinh còn mới nguyên. Glass chờ Alison nhắc đến Riley nhưng cô không đả động gì đến hắn. Có lẽ cô không xem tin thời sự có nói về vụ án mạng ấy. Chải hết tóc ra sau gáy, Alison cột chặt bằng sợi dây thun. Chạm tay ông, cô hỏi họ định ăn mừng chuyện gì.
- Chẳng có gì mới. Ăn mừng chuyện hai chúng mình thôi.
Alison e lệ nhìn xuống và bẽn lẽn gật đầu. Cô biết tính Glass hay ngẫu hứng.
Họ dùng món cá vược biển Chilê và rau trộn. Glass gọi một chai rượu Tocai của xứ Friuli dù Alison bảo chiều cô bận làm nên chỉ uống nước thường. Glass tợp hai hơi, ly đã cạn tới đáy và nhanh tay nắm cổ chai trước khi gã hầu bàn đáng ghét kịp giằng nó khỏi tay ông. Alison nhíu mày:
- Anh buồn chuyện gì mà uống dữ vậy? Chỉ nháy mắt anh sẽ xỉn không biết trời đất gì cho xem. Em phải dìu anh về với vợ thì chán lắm đấy.
Alison chí lí: hơi men đã xộc thẳng lên đầu Glass. Ông ngước nhìn người yêu. So với đám đông sau lưng làm nền, người yêu ông nổi bật hẳn lên. Một cô gái nồng nàn, sống động mặc áo xanh da trời đang ngồi trước mặt ông đây. Giờ ông mới nhìn kỹ đôi vành tai trắng trẻo, xinh xắn, có vòng xoắn ngộ nghĩnh ở hai bên khuôn mặt đẹp như tượng của Alison. Ông chỉ chực với tay qua bàn, chạm vào cô. Ông thích ôm đầu người yêu như nâng niu trái trứng tròn trịa và cúi xuống hôn cô, nói ông yêu cô biết nhường nào. Hai mắt ông cay sè, cổ nghẹn đắng. Ông vừa hạnh phúc, vừa thấy mình kỳ cục quá thể. Giờ ngồi đây, giữa tiếng cười nói xôn xao của một trưa mùa xuân đẹp trời, bên cô gái của mình, ông thấy yêu đời hơn, ham sống hơn.
- À này, anh có quen ai tên Cleaver không?
Glass chớp mắt lia lịa:
- Gì cơ? Không, anh không quen.
Alison vừa cau mày vừa cười theo thói quen khiến sống mũi cô hơi chun lại:
- Cleaver. Wilson Cleaver, tên gì nghe lạ thế.
Thình lình, Glass như nghẹt thở:
- Là ai thế?
- Em không biết.
- Em nói không biết là sao?
- Hình như là phóng viên thì phải. Phóng viên, nhà báo gì gì đó. Hôm qua, em vừa nghe điện của anh thì anh ta gọi đến, bảo muốn gặp anh. Em thấy lạ quá.
Glass chết sững, nhìn cô đăm đăm. Cảm giác phởn phơ nhất thời bởi hơi men tan biến hoàn toàn:
- Sao gã có số của em?
- Theo em đoán gã quen anh chàng anh kể với em hôm trước. Tên anh ta là gì nhỉ? Dylan phải không? Dylan... Gì nữa kìa.
- Riley.
- Chính xác. Dylan Riley. Anh nói hắn giống con gì nhỉ?
- Con vượn cáo.