Có thể nói John Glass không thích căn hộ cao cấp rộng mênh mông hiện hai vợ chồng ông đang sống, hay đúng hơn là căn hộ vợ ông đang sống vì ông chỉ gặp bà vào buổi tối, ngủ qua đêm và đến sang hôm sau lại đi. Ít nhất thì cũng mình ông nghĩ thế. Với người ngoài, vợ chồng Glass là khuôn mẫu điển hình của cặp vợ chồng ở khu thượng Manhattan, nhờ bà Glass giàu có và thời thượng luôn để ý hoàn thiện đến từng chi tiết nhỏ. Louise làm mọi cách để đảm bảo người ngoài giữ nguyên ấn tượng ấy. Đặc biệt, bà cẩn thận giữ gìn vỏ ngoài của cuộc hôn nhân vì sợ cha, sợ những gì ông sẽ làm nếu con gái để người ta đồn đại không hay về gia đình mình. Ai cũng biết William Mulholland kịch liệt phản đối chuyện ly hôn. Người ta từng nghe ông quy cho con gái mình tội lấy hai chồng với thái độ không phải nửa đùa nửa thật. Dù không ưa gì chàng rể Rubin Sinclair, người chồng đầu tiên của Louise, nhưng Mulholland tỏ ra rất đáng sợ khi nghe Louise tuyên bố hôn nhân của mình không thể cứu vãn và cô định nộp đơn ly dị. Sau này, khi mới yêu Glass, Louise run sợ kể chuyện ấy trên bàn tiệc có champagne và ánh nến lung linh. Không hiểu sao lúc nghe tin ông Mulholland không đôi co với con gái, cũng không la lối hay đe dọa gì. Tuy nhiên, dưới vẻ lạnh lùng của ông là cả một hỏa diêm sơn. Ông cụ gằn giọng bảo:
- Con đã thề rồi cơ mà. Vậy mà giờ con dám phả bỏ lời thề nguyền ấy.
Sau khi thủ tục ly dị hoàn tất mà không gặp trở ngại gì, Louise mang cậu con trai lên mười “chạy” đến Alien, đến dinh thự xây theo lối kiến trúc Georgia tại Connemara để chữa trị vết thương lòng và nghĩ cách làm lại cuộc đời. Tại Alien, bà gặp John Glass lần đầu (Louise đã quên buổi chiều lộng gió giáp mặt chàng phóng viên trẻ tại nhà đạo diễn Huston năm nào). Louise mến Glass vì thấy ông hay trầm tư, không vồ vập, và bà coi đó là thứ dầu gió xoa dịu nỗi đau tinh thần cho mình. Bà thấy John Glass có tất cả những gì Rubin Sinclair không có. Về phần mình, Glass biết nữ thần Định Mệnh tính khí thất thường, dù thế, ông quyết không chậm trễ, nhanh tay nắm lấy nàng tiên xinh đẹp lần thứ hai lạc đến quỹ đạo của mình. Louise vừa ly dị được ba tháng, ông đã cầu hôn ngay. Lúc ấy, bà cười như mếu:
- Trời ơi! Cha em sẽ nói sao đây?
Lần này, không ngờ phản ứng của Bill Lớn rất ôn hòa. Có vẻ ông mến John Glass, vẫn giao du với giới tình báo, ông nhờ bạn bè kiểm tra nhân thân chàng rể tương lai và hài lòng với kết quả: “Con đừng ngại, bệnh nghề nghiệp cũ tái phát ấy mà”. Glass chưa từng lấy vợ và như vậy chưa ly dị lần nào. Ông hài lòng với đạo đức nghề nghiệp của Glass, có vẻ chàng rể tương lai chân thực và lương thiện, đồng thời chắc không phải tay “đào mỏ”. Bill Lớn đau khổ cười nhăn nhó dặn con gái và chàng rể tương lai:
- Cha chỉ yêu cầu một điều. Các con hãy chờ sau vụ ly dị của Louise ít nhất một năm. Cố vá víu vài mảnh thể diện gia đình còn sót lại, con ạ.
Louise đã ôm hôn cha, cách thể hiện tình cảm hiếm có giữa Bill Lớn và con gái.
Sau buổi thẩm vấn với Ambrose, Glass về nhà. Lúc vào sảnh, ông chạnh nhớ chuyện xưa như trái đất ấy. Glass bực mình vì không nhớ mình nghĩ gì lúc chứng kiến phút thân mật khác thường và sự hòa thuận giữa hai cha con nhà tài phiệt. Nhưng có lẽ ông chẳng nghĩ gì cả. Mọi ký ức về giai đoạn đó đều mờ ảo vì ông quá hạnh phúc. Giờ ngẫm lại, Glass cảm tưởng quá khứ của ông nằm phía sau tấm kính mờ hơi nước do người đứng gần vừa phì cười nhạo báng.
Lincoln, ông già gác cổng, chạm tay lên vành mũ, đoạn ngắm trời thủng thẳng nói:
- Trời sắp ấm lên rồi ông ạ. Lúc ấy, ối người lại mong trời mát lạnh như bây giờ.
Chẳng biết ông cụ định triết lý gì đây.
Glass vào khoang thang máy nhỏ. Dù đây là sản phẩm của một hãng danh tiếng, Glass cũng chưa bao giờ thấy thoải mái khi bị giam trong cỗ máy kỳ cục kêu vi vút này, vì ông thấy mình như bị giam hãm trong lúc buộc phải tham gia một kiểu chuyển động nguy hiểm. Nói chung, nó là biểu tượng hoàn hảo cho cuộc sống của ông hiện nay, một biểu tượng ông chỉ muốn gạt đi và biện minh rằng mình là người tự do, dù hoàn cảnh trước mắt có éo le đến mấy.
Cửa thang máy trực diện với lối đi riêng dẫn đến căn hộ của vợ chồng Glass. Lần đầu đặt chân đến đây, Glass choáng ngợp, sợ hãi đến độ không dám kể với ai. Nhưng hồi này, mỗi khi đi đâu về, ông đã gọi lớn từ cửa:
- Mọi người ơi!
Glass không nhớ lý do lần đầu thông báo mình đã về đến nhà, chỉ biết nó đã thành thói quen. Đâu đó sâu trong căn hộ rộng thênh thang vẳng tới tiếng Louise nói chuyện điện thoại. Glass tìm thấy vợ trong thư viện. Bà ngồi sau bàn làm việc, một chiếc bàn cổ nhiều ngăn kéo có từ thế kỷ mười tám. Mặt bàn có chồng thiệp trang nhã, xấp phong bì và cây viết máy của bà. Louise mặc áo kimono lụa xám, quà tặng của một nhân vật có máu mặt tại Nhật bản nhằm kỷ niệm chuyến công du của bà đến Tokyo trong vai trò đại sứ văn hóa của Liên Hiệp Quốc. Louise chỉ liếc nhanh Glass, cười lơ đãng:
- Anh mới về.
Rồi tiếp tục chăm chú với phong bì và bưu thiếp.
Đứng sau vợ, Glass đón mùi nước hoa từ Louise thoảng tới. Nước hoa hiệu gì nhỉ? Phải rồi, Civet! Cùng một loại nước hoa nhưng khi kết hợp với mùi cơ thể từng người sẽ tạo hương thơm khác biệt. Ít nhất, Glass cũng nghe nói thế. Ông mất tập trung lạ thường, người ở đây mà đầu óc tận đâu đâu. Chắc có lẽ đó là hậu quả sau khi ông vắt kiệt lượng adrenaline trong người ở lần giáp mặt đầy căng thẳng với đại úy Ambrose.
- Cái gì vậy em?
- Thiệp mời cho thứ ba?
- Thứ ba sao?
- Tiệc của Antonini.
- À phải, tay họa sĩ.
Louise nhại giọng thờ ơ của chồng:
- Ừ, tay họa sĩ.
- Anh thấy hắn phải lòng em rồi đấy.
Louise chỉ ngẩng đầu, nhưng không quay lại:
- Thật à?
- Còn hơn thế ấy chứ. Thấy em, hắn cứ đần mặt ra.
- Đừng ăn nói thô thiển thế.
- Anh là vậy. Khó thay đổi lắm.
Glass thầm khen nét chữ của vợ: tự tin, nhanh nhẹn, rắn rỏi. Riêng ông đã không dùng bút máy từ hồi học tiểu học.
Cô ấy quên hay sao mà không thấy hỏi về đại úy Ambrose nhỉ?
Đen bên chiếc sofa trắng thấp lọt thỏm giữa ba bức tường có kệ sách cao đến trần nhà, Glass chợt nhớ ông chưa từng lấy cuốn nào từ kệ xuống kể từ khi... từ khi nào chẳng nhớ nổi. Ba mặt kệ sừng sững đứng đó với vô số sách quý được sắp xếp, phân loại cẩn thận loại như ba tấm bia lớn khắc lời quở trách. Cuốn sách ông đang viết dở dang không biết bao giờ mới hoàn tất. Ông chán nản vì trong đó toàn lời sáo rỗng.
Louise nói, vẫn không quay lại:
- À này, anh đến chỗ cảnh sát chưa?
- Rồi.
- Thực ra là chuyện gì thế? Có người bị giết thật à?
- Ừ.
Đen đây, Louise quay lại, gác khuỷu tay lên lưng ghế thoáng mỉm cười như thắc mắc. Đoạn bà nhẹ nhàng hỏi, giống kiểu hỏi cho có chuyện:
- Có phải người quen không anh?
Glass tựa đầu lên lưng ghế êm ngắm góc trần nhà này sang góc trần nhà khác.
- Không.
Thấy ông không nói gì thêm, Louise lúc lắc đầu như thể hết kiên nhẫn nổi và nói bằng giọng quyền uy như nữ hoàng Victoria:
- Vậy là ai?
Glass cúi xuống nhìn xoáy Louise. Mắt vợ ông sáng rực. Son bóng trên môi bà bắt ánh đèn chùm sáng lấp lánh. Sao Louise kích động thế nhỉ? Glass đoán vì tình cảm thầm kín vợ dành riêng cho Antonini. Ông chán nản quay lại trần nhà.
- Dylan Riley, trẻ, thạo công nghệ thông tin, bị nghi theo dõi, do thám người khác và chuyên thu thập thông tin.
- Thế cảnh sát gọi anh lên làm gì?
- Riley có gọi điện cho anh.
- Vậy sao?
- Ừ. Hắn gọi cho anh lúc sáng thì chiều bị giết. Hung thủ bắn xuyên qua mắt hắn.
Giọng Louise nghe giống bực tức, không giống ngạc nhiên:
- Trời ơi. Nhưng sao gã gọi cho anh? Cái gã... anh vừa nói gã tên gì nhỉ?
- Riley. Dylan Riley. Đọc lên nghe là lạ, nhỉ? Bình thường người ta đâu có đặt tên như vậy?
Cầm tờ The New Yorker trên bàn thấp, Glass chỉ thấy vài thứ: tranh biếm họa, cảnh công viên trung tâm, lộc non trên cành xuân và hình con chó bé xíu.
Louise giục:
- Sao? Anh có định giải thích không đây? Toàn bộ chuyện này là thế nào?
- Có gì cần giải thích đâu. Tưởng Riley có khả năng cung cấp thông tin cho cuốn sách nên anh mới liên hệ với hắn. Hắn gọi lại cho anh. Hóa ra số của anh là số cuối cùng Riley gọi trước khi bị giết. Vì thế, cảnh sát mới gọi anh lên hỏi cho ra lẽ.
Louise vẫn ngồi quay ra sau nhìn Glass. Cánh tay bà vẫn tì lên lưng ghế, ngón tay kẹp chặt cây viết máy. Glass nhắc:
- Coi chừng đầu bút khô mất. Anh còn nhớ phải rửa đầu bút bị khô bằng nước sạch, sau đó nhúng lại vào hũ mực mới viết được.
- Hũ mực ư? Sao nghe giống trong chuyện của Dickens thế không biết.
- Anh cổ lỗ sĩ mà. Thế nên em mới lấy anh.
Clara, bà giúp việc vóc người nhỏ bé vào báo bữa tối đã xong. Glass chú ý đến màu da đen sẫm lạ lùng của bà. Mỗi lần thấy Clara, Glass nghĩ vẩn vơ, không biết chạm tay vào làn da giống satanh đen kia sẽ cho cảm giác thế nào. Theo yêu cầu của Louise, bà mặc quần áo may sẵn màu trắng, đi giày đế cao su cũng màu trắng trông giống y tá trong bệnh viện. Chờ bà Clara lui ra, Louise bảo nhỏ chồng:
- Anh nhớ phải khen chị ấy. Mới học làm trứng rán phồng, chị ấy mừng lắm.
Louise đang dạy người làm nấu nướng. May mà Clara sáng dạ bởi nếu không thì giờ chị ta đã không còn ở đây. Louise không thích thất bại.
Đèn điện trong phòng ăn chỉ ở mức tối mờ. Ánh nến trên bàn phản chiếu đồ dùng bằng bạc và pha lê sáng lấp lánh. Glass phải công nhận lúc nãy mình thô thiển thật nếu so với cách Louise chuẩn bị cho nơi này: bàn ăn trang nhã, ánh sáng dìu dịu, rượu ngon, thức ăn chế biến cầu kỳ, đồ nội thất đơn giản mà trang nhã, búp bê của nhà điêu khắc Thụy Sĩ Giacometti, tranh của Balthus, sách quý bọc bìa da, người hầu gái mặc đồ trắng tinh tươm và nhạc của Glenn Gould êm dịu văng vẳng làm nền cho bữa tối thịnh soạn. Louise đã dày công tạo dựng cuộc sống giàu sang, tĩnh lặng, lịch lãm cho cả hai. Phải, ông không phù hợp với nơi này dù đã cố hết sức. Glass bụng bảo dạ, thầm hỏi sao Louise chịu đựng ông lâu như vậy và đến giờ vẫn tiếp tục chịu đựng. Phải chăng bà sợ ly hôn lần nữa sẽ làm cha nổi giận? Chắc chắn thế rồi. Nếu muốn, Bill Lớn hoàn toàn có khả năng tước quyền thừa kế của con gái. Nếu bấy nhiêu triệu mỹ kim vuột khỏi tay, bà và cậu con trai David Sinclair sẽ thiệt thòi. Đó là chưa kể đến dinh thự ở Hamptons, villa trên nóc tòa nhà toàn căn hộ cao cấp ở Georges V tại Paris, tài khoản tại ngân hàng lớn ở Luân Đôn và quan trọng nhất là quyền kiểm soát Quỹ ủy thác Mulholland. Đó là niềm tự hào lớn nhất, là tương lai của Louise.
Món trứng rán phồng ăn kèm rau bina của Clara tuyệt ngon. Glass không quên vợ dặn nên tấm tắc khen khiến bà Clara ngượng ngập, luống cuống lui về bếp. Đặt nĩa xuống bàn, Louise nghiêm trang nhìn ông:
- Đôi lúc anh có duyên ghê.
- Chỉ “đôi lúc” thôi sao?
- Phải. Tuy ít ỏi nhưng dù sao cũng cảm ơn anh.
- Không dám.
Vẫn nhìn ông, Louise vừa cau mày vừa mỉm cười:
- Đúng là anh đang mưu toan chuyện gì rồi. Nhìn mắt anh em biết ngay.
- Theo em thì chuyện gì?
Ánh nến chiếu bóng khuôn mặt nhìn nghiêng của Louise lên cửa sổ gần chỗ bà ngồi. Bên ngoài trời tối hẳn. Bóng to lù lù của những cây cổ thụ ngoài công viên tắm mình trong ánh sáng bàng bạc, ma quái.
- Làm sao em biết được. Chuyện anh làm có liên quan đến nạn nhân của vụ sát hại không?
- Cái gì? Em nghi anh giết hắn ư?
- Tất nhiên là không rồi. Sau anh phải giết hắn chứ?
Sự im lặng căng thẳng bất ngờ ụp xuống họ, như thể cả hai đều hãi hùng viễn cảnh sắp đến. Họ lặng lẽ dùng bữa. Glass rót rượu. Mãi sau, ông bảo:
- Chắc anh không viết nổi quá.
Louise chăm chú nhìn đĩa trước mặt:
- Ôi, sao vậy?
- Anh chợt nhớ mình là nhà báo, không phải tay chuyên viết tiểu sử.
- Khối nhà báo vẫn viết tiểu sử đó thôi.
- Nhưng họ không viết tiểu sử cho bố vợ.
- Cha Billuns hứa không can thiệp vào chuyện viết lách của anh mà.
Billuns là tên thân mật mà người trong nhà hay gọi Bill Lớn. Nó khiến Glass sởn gai ốc, nhất là khi được thốt ra từ chính miệng vợ ông. Vừa ngắm ngọn cây bên ngoài, Glass vừa nhấm nháp chút rượu cay. Đêm tháng tư cô tịch quá.
- Theo em, sao cha muốn anh viết sách này? Sao cha chọn anh nhỉ?
- Chính cha bảo vì tin tưởng anh mà.
- Liệu “tin tưởng” có thể hiểu là ông cụ cho rằng ông có quyền với anh thông qua em?
Louise cười, hai khóe môi hơi trễ:
- “Cho rằng” ư? Chẳng lẽ bố vợ không có chút quyền gì với con rể?
Dưới ánh nến nhập nhoạng, Glass quan sát kỹ Louise. Ồng không hiểu vì sao tối nay vợ dịu dàng với mình đến thế. Louise tỏ ra yếu mềm đến mức gần như giả dối. Cung cách ấy nhắc ông nhớ tuần trăng mật năm xưa, sau trận “mây mưa” suốt buổi sáng, Louise mỉm cười ngồi đối diện ông bên chiếc bàn nhỏ kê ngoài ban công căn phòng của khách sạn Eden Roc ở Cap d’Antibes, cũng kiểu cười nũng nịu, vui vẻ như hôm nay. Bà tháo giày, ôm cổ chân ông bằng hai bàn chân mát lạnh. Giờ đây, những lúc tắm mình trong ánh nến leo lét như lúc này, Glass biết nỗi buồn man mác thuở còn yêu say đắm đã biến thành nỗi phiền muộn. Glass hắng giọng:
- Kể anh nghe về Charles Varriker đi nào.
Ánh mắt Louise thoáng biến đổi, như thể bà vừa thấy ánh chóp lòe ở rất xa:
- Charles ư? Sao tự nhiên anh lại hỏi?
- Cũng chẳng biết nữa. Anh ta có quan hệ mật thiết... với bố em.
Thái độ Louise thay đổi hoàn toàn: bà khó chịu, gần như tức tối:
- Charles chết hơn hai mươi năm rồi, anh còn hỏi làm gì?
- Quan hệ giữa hai người thân hay sơ? Em biết những gì về Charles?
Louise bỏ dao nĩa xuống. Bà vẫn cúi nhưng hơi nghiêng đầu, dấu hiệu cho thấy hoặc bà đang suy tính, hoặc đang bực bội. Bà nói khẽ bằng giọng run rẩy hiếm gặp:
- Nếu để anh viết sách, em sẽ phải chịu mãi cảnh này sao? Cứ tối tối, anh lại thẩm vấn em bên bàn ăn chứ gì? Ngày nào em cũng đào bới quá khứ để cung cấp thông tin cho anh? Giờ Riley chết rồi, anh quay sang vặn vẹo em phải không?
Không thèm nhìn ông, bà đứng bật dậy, giẫm lên chiếc khăn ăn vừa rơi xuống.
- Quỷ sứ!
Louise bực bội, gằn giọng đá văng chiếc khăn vào góc tối và bỏ đi. Vạt áo kimono sột soạt theo từng bước chân bà. Glass định gọi với theo nhưng lại thôi. Bầu không khí im lặng như khẽ run rẩy.
Dylan Riley phát hiện được những gì? Tại sao hắn bị giết? Phát hiện của hắn có liên quan đến án mạng, đúng như Glass nghĩ không? Ông lại nhìn cửa sổ nhưng giờ chỉ thấy mỗi bóng mình in trên đó.