Từ trước đến giờ, Glass toàn tìm đến phái đẹp để được an ủi. Hồi bé, người ta hay bảo cậu bé Glass quá gần gũi mẹ. Dì Glass có lần cười khẩy bảo rằng con trai gì mà cứ đeo lấy mẹ như tình nhân vậy. Glass đến với Louise cũng bởi kỳ vọng được yên ổn và chở che. Có lẽ lý do chính khiến ông kết nghĩa tào khang với bà là mong có tấm lá chắn chống đỡ đòn tấn công dồn dập của cuộc đời. về phần mình, bà mong gì ở ông?
Khi Glass dừng trên đường Bleecker, nhấn chuông cửa, tiếng điện thoại nội bộ ọ ọe một chút sau đó Alison O’Keeffe lên tiếng hỏi. Glass bèn xưng danh. Cô gái trẻ chán nản nói giọng buồn buồn:
- Sao em biết chính là anh của em lúc trước? Giờ anh đâu còn như xưa nữa.
Glass nép sát cánh cửa. Hơi thở dồn dập của ông làm mờ tấm lưới kim loại. Tình cảnh này khiến Glass nhớ hôm toát mồ hôi trong phòng xưng tội cách nay đã lâu.
- Anh cần nói chuyện chuyện với em.
Im lặng nặng nề.
- Vậy anh lên đi.
Vừa ra khỏi thang máy, Glass đã thấy Alison đứng chờ trước cửa. Cô mặc áo choàng màu xám ngăn sơn không dính vào quần áo thường. Cô dẫn ông lên căn hộ lạnh lẽo, chật chội. Ngồi xuống ghế bành, Alison châm điếu thuốc hiệu Gauloise và khó chịu phun khói lên trần nhà.
- Nào, có chuyện gì cần trao đổi gấp thế?
Ánh hoàng hôn chiếu qua hai tấm kính cửa sổ trên đầu họ, phủ ánh sáng vàng nhạt lên phía sau lưng ghế Alison đang ngồi. Glass mồi lửa cho điếu thuốc Marlboro.
- Em có biết thuyết lượng tử không? (Alison không trả lời). Anh cũng không biết nhiều về nó. Nhưng các nhà khoa học có làm thí nghiệm bằng cách bắn một hạt nguyên tử nhỏ lên một bề mặt có hai khe hở bé. Kết quả là các dạng thức xen kẽ, như thể hạt nguyên tử biến thành sóng. Nói cách khác, một hạt xuyên qua hai lỗ trong cùng một thời điểm và (ông cười khẽ) tự cản trở mình.
Alison thản nhiên nhìn ông. Khói thuốc xanh nhạt từ hai bên quyện vào nhau bay ra mảng nắng phía sau cô.
- Lạ quá phải không? Nhưng lạ hơn nữa là hạt nguyên tử chỉ biến thành sóng khi nó không bị theo dõi. Nếu em nhìn kỹ hạt nguyên tử, nó sẽ vẫn là nguyên tử; nhưng nếu em quay đi, nó sẽ thành sóng.
Alison chờ xem Glass đưa câu chuyện đến đâu. Vừa rít mạnh điều thuốc, Glass vừa thơ thẩn nhìn khắp phòng. Alison hỏi:
- Anh định nói về chuyện gì thế?
- Ý anh là muốn biết chắc chắn một vấn đề không dễ. Lúc trước anh tưởng mình biết thủ phạm giết Dylan Riley, nhưng hóa ra anh lầm.
Im lặng thật lâu trước khi Alison lên tiếng:
- Còn em tưởng anh lên đây nói chuyện chúng ta. (Cô nhìn lảng đi, cố nén cơn giận). Vậy anh nói đi, ai giết hắn?
Ông nhìn quanh tìm chỗ dập thuốc lá:
- Thôi đừng quan tâm. Anh sai rồi. Chắc anh nên đi thôi.
Alison vẫn không nhìn ông:
- Ừ, anh đi đi.
Glass lang thang ngoài đường mãi. Tà dương tắt lịm nhường chỗ cho hàng triệu bóng đèn trên khắp địa phận Manhattan. Chưa bao giờ ông thấy mình xa lạ với thành phố này như hôm nay. Glass vào quán rượu chui trên đường Broadway ngồi ủ rũ bên ly wishky. Ngọn đèn màu hổ phách và hồng sậm trong quán chỉ sáng mờ. Quanh ông nhiều người chỉ nhìn rõ mặt khi họ cúi xuống ánh đèn sáng trắng hắt lên từ rìa quay bar. Sau khi uống nhanh hớp rượu, họ lại ngả người ra chỗ tối. uống xong ba ly rượu mạnh, Glass xỉa tờ hai mươi đôla lên mặt quầy trước khi bươn bả biến vào màn đêm.
Rời thang máy đúng tầng có văn phòng của mình trong tòa nhà Mulholland Tower, Glass không nhìn cửa sổ lớn cuối hàng lang mà tiến thẳng đến phòng. Vì mấy bức tường kính, ông không thể tránh nhìn cảnh thành phố đầy nhà chọc trời vươn tua tủa vừa được cẩn vô vàn viên ngọc quý sáng rực bầu trời đêm. Glass cũng không kịp tránh mặt Louise đang ngồi lặng lẽ trên ghế tựa làm từ chất liệu da và thép. Cũng đúng trên chiếc ghế đó, Dylan Riley từng nửa nằm nửa ngồi trong ngày đầu hắn đến đây, lúc mà toàn bộ chuyện này chưa xảy đến và thế giới khác hẳn bây giờ. Louise không bật đèn. Bóng bà im lìm trông như bức tượng đúc bằng thép đường nét sắc sảo, bóng lộn và bất động.
- Cậu bảo vệ trực ca đêm cho em vào. Hi vọng anh không phiền.
Glass đang hút thuốc. Ông mồi lửa trong thang máy, bất chấp chuông báo cháy. May mà chuông không kêu. Giờ ông phải mò mẫm đến bàn tìm gạt tàn nhưng chợt nhớ mình không có. Ông sờ soạng tìm công tắc đèn bàn. Ánh sáng hình nón chiếu thẳng xuống soi tỏ nửa mặt Louise với một bên tai, một con mắt và nửa khuôn miệng.
- Em đến lâu chưa?
Họ như hai lữ khách ngồi chung phòng chờ ở một nơi rất xa mái ấm gia đình:
- Không lâu lắm. Em cứ đoán già đoán non, không biết giờ này anh ở đâu.
Bà vẫn mặc áo khoác xanh và đội chiếc mũ lạ kiểu ấy. Hai tay buông thõng trong lòng, Louise đăm đăm nhìn thẳng. Glass đến bên cửa sổ nhìn xuống khe hẹp tối đen giữa hai dãy nhà cao vút. Không hiểu sao buổi đêm nhìn đỡ sợ hơn ban ngày.
- Anh không biết phải nói gì với em bây giờ.
Ông nghe tiếng Louise đổi tư thế ngồi sau lưng ông:
- Anh không được tin... (Bà im bặt giây lát). Anh chớ tin những gì anh tưởng là đúng. Thật đấy, anh nhầm lẫn hoàn toàn. (Bà quay sang chồng nhưng Glass vẫn quay lưng lại). Em xin anh hãy ngồi xuống đây đi.
Từ phố phường bên dưới vọng lên tiếng còi xe cảnh sát. Glass nheo mắt nhìn xuống nhưng chỉ thấy đèn giao thông trên đường Bốn mươi tư. Glass đến bên, ngồi sau bàn, vai lom khom, hai khuỷu tay chống lên bàn. Nãy giờ ông phải búng tàn thuốc vào lòng bàn tay. Thốt nhiên, giờ ông phát cáu bèn hất xuống mặt thảm sau ghế. Louise trở về tư thế cũ. Bà ngoảnh đi chỗ khác, đèn chỉ soi sáng nửa mặt hướng về phía chồng. Ông nhớ hồi chiều Alison O’Keeffe cũng ngồi y như thế. Hai người đàn bà của đời ông đều ngoảnh đi, không muốn nhìn ông. Louise cúi gằm, nghẹn ngào:
- Em có nhiều chuyện muốn nói với anh. Đáng lẽ em phải kể từ rất lâu rồi. Em không biết phải bắt đầu thế nào. Charlie... Charlie Varriker...
Glass nói:
- Em yêu anh ấy?
Louise gật đầu, mím môi, mắt nhắm nghiền. Tiếng bà nhỏ quá, nghe như tiếng thở dài buồn bã:
- Vâng. Anh ấy... Em không biết phải tả anh ấy thế nào. Charlie... rất toàn diện. (Bà nắm mấy ngón tay giật giật như thể muốn tháo chiếc nhẫn vô hình). Tất nhiên, hồi ấy em trẻ người non dạ và bồng bột lắm. Trời, giờ nghĩ lại mà sợ. Em mới... bao nhiêu nhỉ? Hình như hai mươi hai tuổi. Mà Charlie thì... đẹp trai. Đàn ông hiếm người có nét đẹp như Charlie. Ngoại hình đẹp chỉ là một phần. Không hiểu sao anh ấy như có lửa thắp bên trong nên luôn sôi nổi, rạng rỡ. Anh ấy còn vui tính nữa. Em biết câu “Phụ nữ mê đàn ông làm họ cười” là sáo rỗng, nhưng được cười với Charlie là niềm hạnh phúc vô biên. Em biết anh coi chuyện ấy là vớ vẩn. Ngay cả em cũng thấy mình lẩn thẩn thế nào. Nhưng đúng thế, em hạnh phúc vô cùng. Charlie thường bảo em: “Em biết không, trong sách Phúc âm không hề nhắc đến Chúa Jesus cười, dù là cười thành tiếng hay cười nụ. Thánh không biết cười làm sao thu phục lòng tin của mọi người?”. Charlie thuê một phòng chỉ có em và anh ấy biết. Ngay gần công viên Momingside. Khu ấy ghê lắm. May mà tụi em chưa bị gí dao vào cổ chỉ vì đôi giày đấy. Có điều lạ là sự nghèo khổ càng khiến tình yêu của chúng em đằm thắm hơn, trong sáng hơn. Nghe có vô lý không anh? Thế rồi... (tự nhiên Louise nói nhanh, líu ríu) thế rồi em có thai. Em lo cuống cuồng, không biết phải làm gì vì tuổi đời còn quá trẻ. Tất nhiên, Charlie sướng điên lên và càng yêu em hơn tuy nhiên anh ấy không biết phải giúp em như thế nào. Lúc ấy, Rubin Sinclair đến chơi hoài. Tất nhiên, cha nhất định bắt em lấy Sinclair vì môn đăng hậu đối. Hôn phối sẽ kết hợp hai dòng họ vĩ đại, vân vân và vân vân... Em bảo Charlie: “Đám cưới là lối thoát. Chờ ít lâu sau khi em cưới Rubin, em và anh sẽ tái hợp, thậm chí mình có con với nhau cũng được mà”. Mơ mộng kiểu đó thật ngu xuẩn. Charlie không muốn nghe. Chỉ nghĩ đến chuyện em ở bên Rubin, anh ấy đã không chịu nổi. Charlie bảo, nếu em lấy chồng, anh ấy chết mất...
- Sao em không lấy Charlie?
Louise nóng nảy gạt đi:
- Anh đừng ngây ngô quá thế. Em mà lấy Charlie, cha sẽ làm cho cả hai sống dở chết dở. Ông ganh ghét Charlie vì anh ấy có tài cứu tập đoàn trị giá nhiều triệu mỹ kim cho ông trong lúc ông chịu bó tay. Anh có hình dung cảm giác của cha nếu em lấy anh ấy không? (Bà im lặng, cắm cúi nhặt sợi chỉ tuột từ đường may trên áo). Em mua cho Charlie vé đi Paris. Anh ấy thích Paris, bảo đó là chốn thiêng liêng. Em bảo: “Đi Paris đi anh. Khi anh về, mọi chuyện đã xong xuôi. Thế sẽ bớt đau lòng hơn”. Nhưng Charlie không đi. Anh ấy bảo không thể sống thiếu em được. Charlie là người đàn ông cuối cùng trên đời lãng mạn đến như vậy. Anh ấy lấy súng của cha, vào căn phòng trên đại lộ Momingside khóa trái cửa và tự tử. (Louise dừng lại để thở từng chặp gấp gáp trong lúc tay vẫn mân mê sợi chỉ. Gần tòa nhà có chiếc trực thăng bay lơ lửng giữa trời. Cánh quạt cứ quay đều không ngớt). Em tìm thấy xác anh ấy. Không hiểu sao, một mình em đưa được Charlie lên giường. Tự nhiên em thấy mình có nghĩa vụ phải làm thế, dù không biết lý do. Suốt buổi chiều, em ngồi bên xác Charlie. Cả đời em chưa thấy kiểu im lặng như thế bao giờ. Một tuần sau, em lay Rubin Sinclair. (Bà đưa tay che mắt như thể tránh cái nhìn trừng trừng từ trên cao). Khi David chào đời, em đoán Rubin biết. Tuy chưa bao giờ hé môi, nhưng anh ấy biết hết. Rubin đâu có khờ khạo gì. Anh ấy đối tốt với em theo cách riêng. Anh ấy không lăng mạ em, không yêu cầu cha phạt em bằng roi ngựa. Anh ấy khổ sở chịu đựng cho đến khi hôn nhân ngấm ngầm tan vỡ, không thể hàn gắn được. Thế rồi, em gặp anh.
- Thế cha có biết chuyện không? Về David ấy. Ông cụ có biết ai là cha ruột nó không?
- Em không biết. Có thể lắm. Chuyện gì cha cũng biết, chẳng lẽ chuyện này thì không?
- Em chắc chắn Varriker tự sát chứ?
Louise không nhìn chồng, thì thào:
- Em bắt mình phải tin thế. Mọi khả năng khác đều khủng khiếp, vượt quá sức tưởng tượng. (Bà ngước lên cố chịu đựng ánh mắt dò xét của ông). Em hiểu cha, nhưng em không thể tin cha tàn độc đến mức ấy.
Hai vợ chồng nhìn nhau một lúc thật lâu. Lát sau, bà thở dài tựa hẳn vào lưng ghế:
- Em tưởng mọi việc kết thúc ở đó, không còn dây dưa gì nữa. Ai dè, cách nay ít lâu, gã trai trẻ ấy gọi điện đến nhà mình.
- Em trả lời điện thoại ư?
- Tất nhiên... còn ai vào đây nữa?
- Sao hắn biết Varriker chết và tất cả chuyện cũ?
- Hắn không nói. Hồi đó em cũng tâm sự với vài người, tạm gọi là bạn đi. Em đoán chắc hắn lần đến họ hỏi han. Em không biết. Và tất nhiên, em không thể ngồi yên. Nếu hắn đến gặp cha, tất cả sẽ tan thành mây khói, nào quỹ ủy thác, nào tương lai của David, tất tật. Em bèn bảo muốn gặp hắn. Em đi lấy súng. Em...
- Thôi đi. Anh muốn nghe sự thật.
- Thì em đang nói thật đây.
Bà móc túi áo khoác lấy một vật nhỏ đen bóng đặt lên bàn trước mặt chồng. Glass thấy rõ nhà sản xuất ghi trên báng súng ngắn và tròn.
- Đây. Không tin anh cứ việc kiểm tra.
Glass cầm khẩu Beretta lên tay:
- Em lấy súng này ở đâu?
Louise không nói. Trực thăng đi mất. Căn phòng im phăng phắc. Ông đặt khẩu súng trước mặt cả hai:
- Sao nó biết chuyện?
- Nó nào? Anh nói gì vậy?
- David. Sao thằng bé biết Riley? Lúc Riley gọi cho em, David có nhà không? (Glass đấm mạnh xuống mặt bàn làm khẩu súng nảy lên). Có hay không?
Chưa bao giờ Glass thấy thần sắc vợ biến đổi nhường ấy: hoang mang, tuyệt vọng, ngơ ngác... Louise như già đi mấy tuổi. Bà đăm đăm nhìn khẩu súng trên bàn, đờ đẫn gật đầu. Bà nói nhỏ câu gì đó thật nhanh làm Glass phải hỏi lại. Louise đằng hắng:
- David nói đúng. Tay anh, em, mọi người trong nhà đã nhúng chàm. Ai bóp cò khẩu súng này có quan trọng gì.
- Quan trọng chứ. Nói thật anh nghe xem nào.
Louise co rúm, hai tay trong túi áo cố co kéo cho vạt áo sát vào người như thể bà đang lạnh cóng.
- Phải, lúc Dylan Riley gọi, David đứng gần đó. Thấy em tái mặt cầm ống nghe, con bắt em kể hết cho nó. Con nói sẽ đi gặp Riley nói chuyện phải quấy. Nếu cần chi ít tiền để hắn câm miệng. Em không biết... (bà giơ tay như muốn níu lấy ông nhưng không được, đành bám cạnh bàn) em không biết con toan tính gì trong đầu. Anh ơi, con em tội lắm. Hết Rubin xử tệ với nó lại đến anh hắt hủi nó... Em không nói sai cho anh đâu, anh đừng phủ nhận. Giá anh cố gắng một chút, có thể nó đã coi anh như cha.
Lời nói của bà làm không khí giữa họ nặng nề thêm. Những chỗ ánh đèn không chiếu đến dường như càng tối thêm. Glass hỏi:
- Như vậy David biết anh Varriker? (Louise gật đầu). Em nói với con khi nào?
- Lâu rồi. Đáng lẽ em không nên cho con hay. Hồi ấy em cứ nghĩ mình làm đúng, rằng con có quyền được biết cha nó là ai.
- Vậy ra viên đạn trong mắt Dylan Riley là để tưởng nhớ cha David?
- Kìa anh, David có khác nào trẻ con nghịch dại đâu.
- Có phải em vừa nói tất cả chúng ta đều góp tay trong tội ác này? (Ông nhìn ra bầu trời đêm rực rỡ ánh đèn màu). Giờ ít nhất anh cũng biết ai là gã khờ trong phòng này.
- Anh bảo sao cơ?
- Không có gì. Anh chỉ ôn lại câu nói của một người quen từ lâu lắm rồi.
Louise chậm chạp đứng dậy, lề rề như người mắc bệnh trầm kha:
- Giờ em đi đây. Anh hãy quyết định nước cờ kế tiếp. (Bà cười khẽ) Giờ anh đã có “tư liệu” viết bài rồi nhé. (Ánh mắt bà nhìn ông gần như thương cảm). Nhưng có cho đăng hay không, hoàn toàn tùy thuộc vào anh. Em xin lỗi, nhưng anh phải tự mình quyết định lấy.
HẾT
