Mùa đông trước, Glass gặp Alison O’Keeffe ngoài cửa một quán bar tại Village. Cô đúng là hiện thân của ước mơ trong đầu mọi gã đàn ông nghiện thuốc tuổi trung niên. Đúng lúc Glass đứng nép sát cánh cửa rít thuốc liên miên trong lúc tuyết trắng xóa theo gió mạnh đến quấn quýt dưới chân, Alison từ trong quán đi ra, nhăn mặt nhìn bầu trời xám xịt và châm một điếu Gauloise. Lạy Chúa, thuốc Gauloise kìa! Glass trợn tròn mắt nhìn cô lâu đến nỗi ông ngạc nhiên vì không hiểu sao cô không gọi cảnh sát. Lúc đầu ông tưởng cô là người Pháp nhưng càng nhìn, ông càng hiểu cô là người Alien. Cô người tầm thước, dáng mảnh dẻ, tóc đen nhánh và da trắng khác thường. Nhìn nét mặt, vóc dáng cô, từ “đẹp như tượng” bám riết tâm trí Glass dù cô khác xa một khối đá rắn. Cô như được tạc từ đá cẩm thạch trắng mịn và mềm mại, với những đường nét đáng yêu, xinh xắn. Mắt cô có màu của bầu trời xanh ngắt. Sau này, Glass còn biết thêm rằng bầu trời lồng trong đáy mắt cô càng sâu thẳm hơn những khi sóng tình dâng cao ngất. Cô hút thuốc với một chút nôn nóng, một chút dỗi hờn, cũng như mọi cô gái trên đời bị buộc phải ra khỏi cửa vì lý do tương tự. Cánh tay Alison giơ lên, cùi tay chống vào bàn tay bên kia. Mấy ngón tay xoay xoay điếu thuốc như cô giáo trẻ xoay viên phấn trắng trước khi ghi một dãy công thức lên tấm bảng vô hình. Hôm đó, Alison mặc áo len đen cổ cao và quần da đen. Glass cho rằng chiếc quần là một sai lầm thời trang, nhưng sau khi xét nhiều mặt, ông tạm tha thứ cho sai lầm ấy.
Sau này, Glass nhắc đi nhắc lại rằng ông yêu cô trước cả khi họ trò chuyện với nhau lần đầu.
Glass còn nhớ lúc ấy khoảng năm giờ chiều một ngày tháng mười hai u ám, Alison không hề để ý đến ông, thậm chí không biết có ông đứng đó dù trong khu vực dành cho người hút thuốc ngoài sảnh không còn ai khác ngoài họ. Mục đích ông đến quán bar này là để gặp biên tập viên một tạp chí mới nhưng sáng giá. Người này muốn ông viết bài về hiệp ước hòa bình Bắc Alien. Anh chàng biên tập viên vóc người rắn chắc, mặt mũi sáng láng, hay cười chán nản mới tốt nghiệp trường đại học danh tiếng Yale. Sau hai phút nghe anh ta quảng cáo, Glass quyết định không viết. Kiểu thành thực của anh chàng ấy (dù bản thân ông “dư” thực tâm chẳng kém anh ta) giờ chỉ làm ông thấy mệt mỏi. Thế nên, dù không có cô gái trắng trẻo xinh đẹp ở bên, ông cũng không vội trở vào quán. Hai người không hẳn thân mật chuyện trò, nhưng chỉ cần một khoảnh khắc đứng gần cô cũng đủ khiến Glass say như điếu đổ. Glass tìm cách gây chú ý. Thành phố này có cái lạ là nói một câu thân thiện với người lạ sẽ tạo nên mối hiểm họa to lớn. Có lần trong thang máy, Glass quay sang cô gái đi cùng tấm tắc khen trời đẹp. Lập tức cô ta co rúm người, nép sát vào góc. Nét mặt cực kỳ căng thẳng, cô thông báo trong túi đeo trên vai cô có bình xịt hơi cay! Cô gái mặc quần da bóng loáng hiện đang khó chịu hút thuốc cạnh ông tuy không sẵn sàng nổi đóa nhưng phong thái độc lập, tự tin toát lên từ cô khiến ông ngài ngại. Nhưng giờ đang mùa Giáng sinh. Với Glass, thời gian này trong năm mang đến nhiều cơ hội lạ lùng, hấp dẫn. Thêm vào đó, ông hốt hoảng nghĩ thầm, ngay lúc cô gái kia tắt thuốc, đẩy cửa trở vào quán bar nhộn nhịp, ông sẽ không bao giờ gặp cô nữa. Không thể đặng đừng, ông đánh bạo gợi chuyện:
- Tôi nghĩ thế này, không biết có đúng không?
Thiếu nữ quay sang ông. Có vẻ ông không gây cho nàng chút ấn tượng nào.
- Xin lỗi, ông nói sao ạ?
- Tôi đoán chắc em là người Alien.
Glass hình dung nụ cười của mình lúc ấy không giống đàn ông đứng đắn.
Alison nheo mắt, nghiêng đầu thầm đánh giá người lạ:
- Sao ông biết?
Glass ngỡ ngàng vì đã đoán trúng. Trong một thoáng, ông như người hụt hơi. Ông cười hào hển:
- Tự nhiên tôi biết, thế thôi. Em mới từ Alien đến hay em là người Mỹ có bà cố từ Alien di cư sang?
Cô gái vẫn nhìn ông dò xét:
- Tôi mới từ Alien đến, chỉ có điều bà tôi là dân New York chính gốc.
Nói đoạn, cô dụi thuốc, đẩy cửa quán bar bước vào trong sau khi “ném” cho Glass nụ cười lạnh lùng, thoáng qua.
Hôm nay đây, giữa tiết trời tháng tư ẩm ướt, ông đến quán bar khác cũng ở Village và mang cảm giác lo lắng có phần giống (tuy lý do khác hẳn) hôm ông lẵng nhẵng bám theo Alison đến quán rượu chui trên đường Houston trong chiều cuối năm tuyết rơi trắng xóa, với quyết tâm rằng ông phải có cô trong đời. Alison đứng chống khuỷu tay lên quầy, tay cầm ly đồ uống màu đỏ sậm:
- Có chuyện gì thế anh? Trông mặt anh tái mét kìa.
Alison là họa sĩ. Dù mặc áo choàng, loại các họa sĩ hay mặc để tránh sơn dính quần áo, và từ xưởng vẽ trên đường Bleecker đến thẳng đây, áo cô vẫn không dính chút màu nào. Cô không giống những nghệ sĩ hoặc cẩu thả, hoặc thích làm dính màu vẽ lên trang phục. Đôi tất cổ cao có sọc ngang đen và xám của cô không hiểu sao khiến Glass nhớ đến nhà thờ Siena.
Nghe ông gọi rượu martini xong, Alison nhướng mày:
- Sao uống thứ ấy sớm thế? Có việc gì à, bị bố vợ gạch tên khỏi di chúc rồi sao?
Với Alison, mốt quan hệ giữa Glass và Mulholland luôn là tấm vé mời cho những câu chế giễu vui vẻ, tếu táo. Alison có óc hài hước và hay chú tâm đến những sắp đặt trớ trêu trong cuộc song. Glass không biết Alison nghĩ gì về hôn nhân của ông với Louise bởi cô không bao giờ đả động tới. Điều này làm ông dễ chịu. Sở trường của cô là vẽ tranh trừu tượng khổ lớn bang acrylic tông màu sáng. Glass đánh giá chúng không quá xuất sắc. Alison biết Glass nghĩ gì về tác phẩm của mình nhưng không lấy thế làm phiền. Họa sĩ có cách suy nghĩ như Alison không hiếm.
Ngại ngần nhìn ly đồ uống đỏ như máu trong tay người tình, Glass hỏi cô uống gì. Cô nói đó là thứ rượu có tên Đức Mẹ Đồng Trinh. Glass nhấm nháp ly rượu đắng. Alison im lặng chờ xem chuyện gì khiến ông quá thúc ép, quá bí ẩn khi trao đổi qua điện thoại lúc trước. Kiên nhẫn là một trong những đức tính nổi bật của cô. Có điều lạ là lắm lúc sự kiên nhẫn ấy tạo nên cảm giác ghê ghê, là lạ như the Alison bình tĩnh chờ cái việc cô đã đoán trước từ lâu.
- Hình như anh vừa chuốc họa vào thân thì phải. - Glass nói.
Alison bật cười:
- Lại nữa.
Glass trầm ngâm uống tiếp. Ông cố nhớ lại khoảnh khắc hình thành quyết định thuê người thu thập thông tin giúp ông viết tiểu sử của William Pius Mulholland. Lúc ấy, có vẻ đó là việc đơn giản, vô hại nhất trên đời.
- Gần đây có ai gọi điện cho em không?
Alison vờ suy nghĩ rất lung:
- Hôm kia, mẹ em vừa gọi điện hỏi em dạo này thế nào, và đã “đá” anh chưa. Mẹ giục em bỏ anh suốt. Ngoài ra, còn một gã buôn tranh trên đường Bảy mươi tư gọi đến. Tuy nhiên gã nghĩ đến chuyện trưng bày tranh của em thì ít, chuyện lên giường với em thì nhiều. Còn nữa, em có gọi thợ đến sửa ống nước bị rỉ...
Glass ngắt lời:
- Anh muốn hỏi người lạ kìa. Có ai em không quen gọi đến hỏi han này nọ không?
- Theo anh người ta sẽ hỏi gì?
- Về anh và em.
Alison bật cười to hơn khi nãy:
- Khắp New York có ai biết chuyện chúng mình chứ?
Mỗi lần gặp nhau, vẻ đẹp ấn tượng của Alison hớp hồn ông theo một cách hoàn toàn mới lạ, đồng thời nó cũng khiến ông mềm yếu hẳn. Một mai nếu phải mất cô, làm sao ông chịu đựng nổi đây? Đương nhiên, không sớm thì muộn, phút chia ly rồi cũng đến. Cái chiều mưa tuyết mịt mù bám theo Alison vào quán ấy, sau một hồi tìm kiếm, ông thấy cô uống rượu mừng Giáng sinh với mấy cô bạn: toàn những cô mạnh bạo và cách họ nhìn ông mới khiếp làm sao! Glass bịa rằng ông muốn phỏng van Alison để viết bài về người Alien ở New York. Alison nghiêm trang ngước nhìn ông, trông giống hệt người cố nhịn để không cười phá lên. Cách cô cầm danh thiếp của ông trông như cô sắp sửa búng nó ra xa. Tuy nhiên, trước sự ngạc nhiên của ông, cô giữ tấm danh thiếp, gọi cho ông vào sáng hôm sau và hẹn gặp nhau ở quảng trường Washington vào giờ trưa. Đúng như Glass đoán, Alison là đồng hương với ông. Họ cùng là người Dublin. Cô có người cha đã về với Chúa, người mẹ đêm ngày chỉ biết lo cho con gái, người anh bạc bẽo làm ngành ngân hàng. Mới đến New York một năm, hiện cô ở căn hộ một phòng lạnh cóng trên đường Bleecker, món quà duy nhất mà người cha giàu nứt đố đổ vách để lại cho cô theo chúc thư. Cô mới chia tay người yêu vốn là nghệ sĩ điêu khắc người Ý chưa có thẻ xanh vì phát hiện anh ta yêu cô chỉ vì tấm hộ chiếu Mỹ cô thừa hưởng từ người cha sinh quán Brooklyn.
Cô bộc bạch tất cả khi họ tản bộ trong công viên nhỏ cây cối trụi lá trong một ngày đông sương giá. Khi ông định nói đôi lời về mình, cô gạt đi:
- Không cần đâu. Em biết ông mà. Em tìm đọc bài của ông từ lâu lắm rồi.
Glass nghe mặt nóng bừng.
Chuyện tình họ kéo dài bốn tháng và đã nhuốm màu buồn bã, chán chường. Glass không hiểu nguyên do vì đâu. Ông yêu cô theo cách riêng và tin cô cũng yêu ông theo cách riêng. Thế nhưng không hiểu sao sợi dây tình yêu giữa họ vẫn mong manh. Thứ họ mong muốn luôn lẩn tránh họ. Có lẽ yêu “theo cách riêng” chưa hẳn hết lòng hết dạ vì nhau nên dường như họ cứ dần xa từng chút. Glass buộc cô phải giữ kín quan hệ giữa họ vì sợ bố vợ và Louise biết. Có lần ông trót dùng từ “trăng hoa” để mô tả những gì có giữa hai người khiến cô không bao giờ quên, không bao giờ tha thứ cho ông. Thực ra, đây không phải lần đầu ông không chung thủy với vợ. Louise cũng không phải mẫu mực của sự trung trinh. Giữa vợ chồng ông có luật bất thành văn và rõ là rất nể mặt nhau nên Glass muốn giữ như thế. Ngoài ra, họ có một số nguyên tắc cần tuân thủ, và đứng đầu danh sách là nguyên tắc mỗi người được tuyệt đối làm theo ý mình. Louise không muốn biết Glass có bao nhiêu người đàn bà bên ngoài, và nhấn mạnh rằng không mối quan hệ ngoài hôn nhân nào được coi là tình yêu, ngoài quan hệ giữa họ.
Alison vui vẻ giục:
- Thôi nào, kể em nghe đi.
Glass cho rang Alison yêu ông vì ông luôn thua thiệt khi đối mặt với khốn khó trong đời. Nó làm ông khó nghĩ, và dù không nói ra, nó làm ông thấy khó chịu bởi ông luôn cho rằng mình khá giỏi giang, hoặc trên mức giỏi giang là khác. Khi nghe ông kể hết về Dylan Riley, cô lắc đầu cười:
- Sao anh gọi hắn là Vượn Cáo? Nhân tiện, loài vượn cáo không thuộc bộ gặm nhấm đâu nhé.
- Sao em biết?
- Hồi bé, em ước sau này thành nhà động vật học mà. Cái tên “vượn cáo” có gốc La tinh là “lemure”, nghĩa là hồn ma hoặc bóng ma.
- Thôi bỏ đi. Hắn ta cao, dáng điệu nhâng nháo với cái cổ cao và gầy nhang, hai mắt đen nhánh giống hệt mắt thằng con riêng của vợ anh.
Alison lạnh nhạt:
- Anh quên là em chưa có cơ hội biết con ghẻ của anh, nên sẽ không biết dù là mắt hay bộ phận nào khác trên người nó.
Glass không đáp. Sao Alison có thể nghĩ có lúc ông sẽ giới thiệu cô với David Sinclair chứ? Trong quán bar, sát cạnh họ là hai gã môi giới chứng khoán phố Wall, bộ dạng xấu xí đang lớn tiếng bàn bạc về các mánh thu lời bất chính. Một trong hai người có dây đeo quần màu đỏ, kiểu lỗi mốt từ lâu và đầu trông như miếng sườn cừu chặt vuông vức.
- Em này, anh nghĩ hắn biết chuyện chúng mình. Em chắc hắn không gọi cho em chứ?
- Nếu hắn có gọi, anh tưởng em quên được sao?
Glass đăm đăm nhìn ly rượu:
- Biết đâu em không muốn nói vì sợ anh lo.
Alison cười hồ nghi:
- Không đâu. Nếu anh nghĩ thế thì em xin nói rõ, hắn không gọi và em cũng không sợ anh lo. (Cô uống nốt ly của mình. Gã môi giới chứng khoán đầu vuông đứng cạnh nhìn cô chòng chọc). Thôi, em phải về làm việc đây.
Trên xe taxi phóng như bay về khu thượng Manhattan, trông Glass như đang ngắm phố phường nhưng thực ra ông chẳng nhìn thấy gì. Cơn đói nhắc ông nhớ trong quán bar, ông chẳng đưa gì vào bụng ngoài hai ly martini đắng nghét, bữa trưa dạng lỏng nổi tiếng của người New York. Glass định dừng tại quán Ngựa Hoang nhưng lại thôi vì ông không thể chịu được khung cảnh nhộn nhạo và cách viên quản lý nhìn ông.
Tuy chưa bao giờ thú nhận nhưng Glass sợ bố vợ lắm. Ông sợ phong thái lừ đừ, thói quen hay lục đục lúc ba bốn giờ sáng và tính cách gai góc của ông cụ. Nỗi sợ thường trực ấy luôn đeo bám ông như người già sợ chết. Ai cũng biết Bill Lớn coi trọng lời thề đám cưới vô cùng. Sau khi bà Claire, người vợ hai chết thảm vì ngã ngựa, ông đã tìm cách để tòa thánh Vatican bãi bỏ lời thề trong cuộc hôn nhân ngắn ngủi nhưng hạnh phúc của mình. Trong khi đó, ông vẫn coi mình là chồng chính thức của bà Nancy Harrison, người đã bỏ ông hơn hai mươi năm trước. Nếu biết con rể ngoại tình, không ai biết ông sẽ tức giận đến đâu. Với sự đồng tình của người vợ khắt khe, Glass đã cố che giấu nhiều tì vết nhở trong dĩ vãng. Nhưng ông chắc chắn Alison O’Keeffe là chuyện hoàn toàn khác. Vậy ông phải làm gì bây giờ?
Mới bước một chân khỏi khoang thang máy lên tầng ba mươi chín, Glass đã nghe điện thoại reo trong phòng làm việc. Luống cuống tra chìa vào ổ, lật đật đến bên bàn làm việc, ông nhấc ống nghe lên. Ông tự hỏi tiếng chuông điện thoại có cái gì mà lúc nào nghe cũng cấp bách, khẩn trương thế.
Giọng Louise vang lên:
- Trời ơi! Anh đi đâu về thế?
Glass lẩm bẩm bịa rằng ông đi ăn trưa. Lập tức, chút rượu mạnh trong bao tử trừng phạt ông bằng cơn trào ngược axít từ bao tử lên cuống họng.
- Có người gọi cho anh, ít nhất là hai lần cơ.
- Ai thế?
- Một ông lạ hoắc tự xưng là đại úy Ambrose.
Glass khó chịu nhíu mày nhìn qua bức tường trong suốt cố nhìn đường phố sâu hun hút phía dưới. Bên quân đội gọi ông làm gì nhỉ? Đen lúc ấy ông mới ngớ người: chắc chắn là cảnh sát. cầu Chúa cứu con!
- Ông ta muốn gì chứ?
- Hình như có án mạng.
Tít đằng xa, chiếc trực thăng nhỏ bằng con muỗi chuẩn bị đáp xuống nóc một tòa nhà chọc trời. Dưới bụng nó có dây cáp hay thang dây gì đó rất căng đang lắc lư giống cái vòi. Glass hụt hơi:
- Gì cơ?
- Án mạng, có người bị giết. Anh làm gì để cảnh sát đến tìm vậy?